2021
Ngu dốt mới tin có Thiên Chúa?
Ngu dốt mới tin có Thiên Chúa?
Ở thời đại nầy mà còn có những người ngây ngô, kém hiểu biết phát biểu như sau:
-Điều gì mắt ta thấy mới có, không thấy không có !
-Chỉ những người ít học, ngu dốt, nghèo đói mới tin có Thiên Chúa !
-Thiên Chúa chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, có thấy Thiên Chúa đâu mà có!.[1]
1.Thị lực lúc bình thường của mắt là 20/20, nghĩa là một vật thể ở cách xa mắt một khoảng cách 6m thì mắt vẫn có thể nhìn thấy rõ ràng[2]. Với khoảng cách đó, bạn có khả năng nhìn thấy hết mọi vật được không ? Trả lời đi. Viễn vọng kính tối tân nhất hiện nay có khả năng thấy được khoảng cách hơn 13 tỉ năm ánh sáng. Một năm ánh sáng tương đương với 9,5 nghìn tỷ km. Khoảng cách xa nhất của một hành tinh Nasa mới phát hiện cách xa trái đất nhất từ trước tới nay là 13.000 năm ánh sáng. Tiểu hành tinh nầy trong hệ mặt trời, còn vô số tiểu hành tinh trong cũng như ngoài hệ mặt trời mà khoa học chưa nhìn thấy[3]. Thế những gì con người chưa nhìn thấy, thì nó có hiện hữu trước không hay khi nào người con người nhìn thấy nó mới có? Vô số những chứng nghiệm thực tế trong đời sống chúng ta mà không cần trưng dẫn ra, cho thấy phát biểu: cái gì thấy mới có là một phát biểu quá kém! Chỉ nên có ở những người mù chữ mà thôi.
- Auguste Comte là một nhà triết học và xã hội học người Pháp[4], theo chủ nghĩa thực nghiệm. Theo ông thì cuối cùng, giai đoạn khoa học sẽ thắng thế và thay cho giai đoạn thần học cũng như siêu hình là giai đoạn phát sinh những sản phẩm tôn giáo. Khoa học sẽ loại bỏ những sản phẩm của óc tưởng tượng và của sự tha hoá. Con người dựa trên lý trí mà phê phán về mọi sự vật. Như thế, chỉ những gì thuộc phạm vi kinh nghiệm, thực nghiệm mới có thật. Do đó theo ông, con người có tôn giáo là con người sống trong giả tưởng, trong giai đoạn ấu trĩ của nhân loại, chưa biết gì về ánh sáng khoa học. Comte đã thất bại khi chủ trương như vậy, vì không phù hợp với thực tế, chính ông mới bị ảo tưởng về chủ trương của mình!
Theo thống kê năm 1992 của Giáo Hội Công giáo, năm đó số tín hữu là 950 triệu, chưa kể những giáo hội Kitô khác, trong đó: Châu Âu chiếm 80% dân số; Châu Mỹ chiếm 85% dân số; Châu Úc chiếm 80% dân số; Châu Á chiếm 7% dân số; Châu Phi chiếm 25% dân số.
Theo thống kê năm 2019, có 10 quốc gia đông tín hữu nhất thế giới: Brazil; Mexico; Philippines; Mỹ; Ý; Pháp; Colombia; Balan; Tây Ban Nha; Cộng Hoà Dân Chủ Congo.
Nhìn vào những thống kê nầy, ta có thể kết luận được theo lập luận của A.Comte là Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc là những châu dốt nát, nghèo nàn hơn Châu Á, Châu Phi không?
Mười nước đông tín hữu nhất thế giới có phải là những nước kém trình độ nhất không?
3.Tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn nhau, đối kháng nhau hoặc tôn giáo không ngăn cản sự phát triển của khoa học hoặc đà tiến bộ của con người; bởi vì tôn giáo không phải là đối tượng của khoa học, nghĩa là khoa học tự bản chất không có khả năng nói rằng có hay không có Thiên Chúa. Có biết bao nhiêu điều khoa học không thể quan sát, thực nghiệm được, nhưng vẫn có thực như: tư tưởng, ý chí, ký ức… huống chi là linh hồn, là Thiên Chúa. Nó cũng cho thấy rằng tôn giáo không chỉ là của những kẻ ngu dốt, nghèo đói, nhưng là của tất cả những ai thành tâm thiện chí và được ơn trên soi sáng. Những thống kê sau đây làm chứng:
*Nhà bác học A.Eynieu đã công bố bản thông kê của ông trong cuốn “La part des croyants dans les progrès de la science”[5]: Trong số 432 nhà bác học thuộc thế kỷ 19, có 34 người không có lập trường tôn giáo, còn lại 398 người phân chia như sau: 15 dửng dưng, 16 vô thần, 367 có tín ngưỡng, tức là 92%.
*Bác học Dennert ngừơi Đức cũng công bố bản điều tra của ông về tôn giáo của 300 nhà bác học lỗi lạc thuộc bốn thế kỷ vừa qua: 38 vị không rõ quan điểm, còn lại 262 vị thì 20 vị dửng dưng hay vô thần, 242 vị tin Thiên Chúa, tức là 92%.
*Trong một công trình độc lập tại Đại Học Chicago Mỹ mới công bố, 76% các bác sĩ nói họ tin vào Chúa, và 59% tin vào sự tồn tại của thế giới bên kia[6].
4.Phát biểu của một số nhà bác học nổi tiếng về Thiên Chúa[7]:
-Nhà bác học Louis Pasteur[8]: “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế”; “Mỉa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết hoặc chết là trở về với hư vô”.
-Bác học Isaac Newton[9]: “sở dĩ các thiên thể chuyển động nhịp nhàng được là nhờ cái hích đầu tiên của Thiên Chúa”; “Tôi thấy Thiên Chúa qua viễn vọng kính”.
-Abert Einstein[10], nhà vật lý học được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đã phát biểu: “khoa học không có tôn giáo là mù loà…”; “Tôi chưa gặp điều gì trong khoa học của tôi mà lại đi ngược với tôn giáo”.
-Giáo sư James Simpson[11], người phát minh ra phương pháp gây mê: “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu”.
-Bác học Michel Eugène Chevreul[12]: “Tôi không thấy Thiên Chua, vì Người thiêng liêng, nhưngtôi thấy công trình tạo dựng của Người”[13].
-Diderot[14]: “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần”.
-Nhà thiên văn Johannes Kepler[15]: “Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Người vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn…”.
-Nicolaus Copernicus[16]: “Ai có thể sống cận kề với một trật tự hoàn bị nhất và trí năng siêu vượt của Thiên Chúa mà không cảm thấy dâng trào những cảm hứng cao quý?”.
-Alexandro Volta[17]: “Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin nầy, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”.
-André-Marie Ampère[18]: “Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh”.
*Người Việt Nam cũng tin có Trời, như là Đấng làm chủ mưa nắng:
Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày, Cho đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp…
***
Không kể hết được những chứng nhân về Thiên Chúa trong giới bác học, nhưng thiết nghĩ chừng đó cũng đủ để kết luận được rồi. Ấy thế mà trên đời nầy lại có những kẻ học hành chẳng bao nhiêu, sống chưa từng trải, mà lại dám hiên ngang công khai đưa ra những phát biểu kém cỏi, chứng tỏ sự ngu dốt của mình, giống như một anh nông dân chưa thạo cày bừa mà lại lên lớp cho một kỹ sư cơ khí về việc sửa chữa máy móc. Thật là nực cười!
(Vinh An, mùa dịch 21)
Lm.Anphong Nguyễn Công Vinh
*Xin chia sẻ cho người khác
[1] X. Lm.Anphong Nguyễn Công Vinh, Tìm Về Sự Thật, số 2, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2006.
[2] https//www.vinmec.com < tin-tuc
[3] https://khoahọc.tv>phat-hien-hanh
[4] 1978-1857
[5] Số những người có đức tin góp phần trong tiến bộ khoa học.
[6] Vnexpress.net/ theo LiveScience.
[7] Nguontinhyeu.com
[8] 1882-1895, nhà sinh học, vi sinh vật học, nhà hoá học
[9] Người phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ.
[10] 1879-1955.
[11] 1811-1870.
[12] 1786-1889, nhà hoá học.
[13] 1786-1889.
[14] 1713-1784,nhà văn nổi tiếng và nhà triết học.
[15] 1571-1630, môt trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất.
[16] 1473-1543, nhà thiên văn học và là người xướng xuất thuyết nhật tâm.
[17] 1745-1827, người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện.
[18] 1775-1836, nhà vật lý phát mình ra điện từ trường.
2021
Tâm sự với người đã khuất…
Tâm sự với người đã khuất…
Sau khi chiếc quan tài của bạn lạnh lùng được hạ sâu xuống lòng đất xong, mọi người ra về mà lòng không khỏi bùi ngùi, xót xa và thương tiếc. Bởi đó là cuộc chia tay vĩnh viễn, để không bao giờ có thể nhìn thấy bạn nữa!…
Chúng tôi không thể hiểu được tại sao ngày hôm trước mới gặp nhau nhưng rồi ngày hôm sau bạn đã âm thầm lặng lẽ ra đi. Hình ảnh đau xót nhất có lẽ là khi chúng tôi phải chứng kiến cảnh tượng bạn nằm đó mà nghìn trùng xa cách…
Xưa nay mọi người vẫn thường tự hỏi “Không lẽ kiếp người lại bi đát đến thế sao?”. Vâng, sự ra đi của bạn hiển nhiên là một quy luật bất di bất dịch của kiếp nhân sinh. “Sinh, bệnh, lão, tử”.
Nhưng hôm nay chính sự ra đi của bạn đã phục sinh tâm trạng và ý nghĩ của chúng tôi – những người đang còn “lang thang cõi trần” – về số phận của mình.
Bạn ra đi nhưng bạn vẫn còn đó. Chúng tôi tin như thế. Bạn nhắm mắt xuôi tay nhưng đó không phải là sự khép lại của cuộc sống, mà chính là sự chấm dứt của hữu hạn để mở ra vô hạn. Cái chết được nhìn nhận như một bản lề của cuộc sống. Sự im lặng của bạn chính là sự thăng hoa đã đạt đến tột đỉnh. Bạn đã về nhà Cha, ở chốn cao hơn, xa hơn…
Chúng tôi chạnh lòng nghĩ đến một nghịch lý này, đó là trong khi chúng tôi đang than khóc, tiếc nuối cho bạn thì bạn lại đang thương xót cho chúng tôi. “Sinh ký tử quy”, bạn đã đến được chỗ phải đến, đã kết thúc cuộc hành trình “Một cõi đi về”. Ngày hôm nay, sở dĩ bạn im lặng là vì cuộc sống và con người của bạn đã biến đổi. Bạn đã vượt qua không gian và thời gian để đi vào thực tại mênh mông diệu vợi của vĩnh cửu, của vô tận.
Bạn đang cao hơn, xa hơn…là chúng tôi tưởng!
Chính vì bạn cao hơn, xa hơn, kỳ diệu hơn nên chúng ta không thể “nói với nhau” bằng những cách thông thường. Nhưng bạn vẫn có “tín hiệu” đấy chứ? Trong im lặng thẳm sâu của lòng mình, chúng tôi đã nghe được “tín hiệu” của bạn. Bạn không còn sử dụng những hoạt động bình thường như nói, nghe, suy nghĩ, cười, khóc…nữa mà duy nhất giữa chúng ta hiện hữu một sự “giao cảm” đặc biệt. Đó cũng là một sự thông hiệp kỳ diệu, gần gũi và sâu xa vô cùng.
Trong sự thông hiệp này, điều cần thiết và quan trọng là chúng tôi không “nói” gì mà trái lại cần “nghe” bạn nhiều hơn. Lý do chính là vì bạn đã quá hiểu cuộc sống này rồi. Phần chúng tôi, chúng tôi hoàn toàn chưa có một chút kinh nghiệm nào về cuộc-sống-sau–cái-chết cả!
Bởi vậy, bắt được “tín hiệu” của bạn để “nghe” bạn “nói”, quả thực, là một điều hấp dẫn và thú vị vô cùng. Vì bạn là một Kitô hữu đích thực nên chúng tôi tin rằng bạn đang hiện hữu và hiện diện như Đức Kitô, bởi vì bạn đã ở trong Ngài, đã thuộc về Ngài. Mà Đức Kitô thì hằng sống. Vậy bạn cũng đang sống, đang hoạt động với Ngài, nhờ Ngài và trong Ngài.
Thông điệp của bạn không gì khác hơn là sứ điệp của Đấng Phục Sinh và của Thiên Chúa.
Bạn sẽ nhắc bảo chúng tôi rằng: “Về Thiên Chúa chỉ có một điều cần và đủ để nói, đó là YÊU THƯƠNG”. Bí mật của Thiên Chúa mà bạn muốn thông chia cho chúng tôi cũng là lời mạc khải của thánh Gio-an: “Thiên Chúa là Tình Yêu”(1Ga 4, 16).
Thật là đơn giản nhưng chắc chắn bạn đang hạnh phúc tràn đầy với “thực tại đơn giản” ấy. Hiện tại, chúng tôi chỉ có thể chạm vào sự thật đơn giản ấy bằng lòng tin yêu và hy vọng, còn bạn, bạn đã “sở hữu” được rồi. Thiên Chúa như thế nào, bạn đã “xem thấy” như vậy.
Đôi lúc, vì còn trong thân xác, nên chúng tôi không hiểu rằng sở dĩ bạn “im lặng”, có khi đến lạnh lùng, chỉ vì bạn đã ở trong cõi vĩnh hằng của Thiên Chúa. Bạn vô hạn còn chúng tôi hữu hạn. Bạn tuyệt đối còn chúng tôi tương đối. Bạn bất tử còn chúng tôi đang hành trình vượt qua.
Hiện tại, khoảng cách giữa bạn và chúng tôi, xa mà gần, gần mà xa. Nhưng có một điều chắc chắn là bạn đang hút chúng tôi về với bạn. Bởi vì bạn muốn chúng tôi cùng chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với bạn. “Phúc cho những ai đã chết, mà chết trong Chúa” (Kh 14,13) ./.
Aug. Trần Cao Khải
2021
Bổn phận của người còn sống
Bổn phận của người còn sống
Hàng năm, giáo hội dành riêng tháng 11 để cầu nguyện cho các đẳng Linh hồn, là những người đã qua đời trong ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng hiện nay vẫn đang phải chịu giam giữ nơi luyện ngục, vì những thiếu xót mà họ làm chưa tốt khi còn sống nơi trần gian.
Bây giờ, người đã qua đời không còn tự mình lập công được nữa nên chỉ trông mong vào lời cầu nguyện của những người còn sống. Vì thế, cầu nguyện cho các linh hồn không chỉ là một việc làm bác ái mà còn là một bổn phận của chúng ta, những người còn đang sống nơi trần thế này, như thánh Gioan Vianey nhắc nhở “Mọi tín hữu phải cầu nguyện thật nhiều cho các linh hồn nơi luyện ngục, để các linh hồn mau về hưởng hạnh phúc trên nước Thiên đàng”.
Ý thức được bổn phận của người còn sống đối những người đã khuất, nên các cha xứ đã mời gọi người giáo dân, ngoài việc trang trí phần mộ cho người thân nơi đất thánh, còn kêu gọi họ tham dự thánh lễ hàng ngày trong tháng 11 để cấu nguyện cho người thân đã qua đời. Cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện hình cũng là dịp để chúng ta nhớ đến thân phận của mình. Mai sau, khi đến lượt chúng ta nhắm mắt lìa đời, chúng ta cũng sẽ vào Luyện Hình để chịu sự thanh luyện của Thiên Chúa. Do vậy mỗi khi cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta được mời gọi sống tốt và sống thánh thiện hơn trong cuộc sống hiện tại của người Kitô hữu, hầu sau này khi chết, chúng ta cũng sẽ được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Chúa..
Không chỉ kêu gọi giáo dân cầu nguyện cho các linh hồn, các cha xứ còn khuyến khích và tập cho thế hệ trẻ trong giáo xứ có lòng thảo kính đối với những người đã qua đời, làm những việc hy sinh để cầu nguyện cho các ngài. Khi thánh lễ được tổ chức tại đất thánh, giới trẻ được phân công làm công tác chuẩn bị cho thánh lễ như dọn nghĩa trang, bàn thờ, phụng vụ thánh lễ, âm thanh, ánh sáng… là để nhắc nhở họ có bổn phận hy sinh làm công việc này vì các linh hồn. Sự hy sinh kết hợp với thánh lễ và lời cầu nguyện thì chắc chắn linh hồn những người thân của chúng ta sẽ sớm được hưởng nhan thánh Chúa.
Ngoài ra, Cha xứ còn tập cho các em thiếu nhi có lòng hiếu thảo với những người đã qua đời, như hướng dẫn các em xưng tội, tham dự thánh lễ, rước lễ mỗi ngày và làm việc ân xá để cầu nguyện cho các linh hồn, đồng thời khuyến khích các em trong tháng cầu hồn biết siêng đọc kinh mân côi và viếng đất thánh sau thánh lễ hoặc sau lớp học giáo lý để cầu nguyện cho các linh hồn người đã khuất được cứu thoát khỏi luyện ngục.
Ở gia đình, cha mẹ cũng có bổn phận nhắc nhở con cái phải có lòng thảo kính với Ông bà tổ tiên, ngoài việc đọc kinh, viếng nghĩa trang, dâng thánh lề cầu nguyện cho linh hồn người thân, còn khuyên họ luôn nhớ xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn có thể hàng tuần, hàng tháng hay một năm mấy lần tùy theo khả năng. Khi chúng ta cho ai điều gì đó là lúc chúng ta cũng được nhận lại, vì mọi thứ sẽ không mất đi. Cũng vậy, khi chúng ta cầu nguyện cho các đẳng linh hồn,thì các ngài nơi luyện ngục luôn nhớ tới những người nơi trần thế và hằng cầu bầu trước mặt Chúa cho chúng ta.
Thực vậy, khi cầu nguyện cho các đằng linh hồn không những giúp các ngài mau hưởng hạnh phúc Thiên Đàng mà chúng ta còn được thêm ơn ích nữa. Đó là chúng ta sẽ có tương quan gần gũi với Thiên Chúa, cảm nhận được tình thương của Chúa, để từ đó chúng ta biết sống yêu thương, biết quan tâm nghĩ đến người khác, biết sống quảng đại tha thứ và không ích kỷ. Đặc biệt chúng ta sẽ cảm nhận những gì chúng ta đang làm nơi trần thế này sẽ được Chúa chúc phúc để sinh ich cho người còn sống cũng như người đã qua đời.
Sr. Nguyễn, op
2021
Được phép buồn
Hãy để cho người rao giảng nói, bạn được phép buồn!
Trong quyển sách Khi người pha rượu vặn nhỏ đèn (When the Bartender Dims the Lights), Ron Evans đã viết:
“Tôi tình cờ gặp được câu này trong suy tư của một mục sư: Vào một sáng chúa nhật, nhiều người ngồi trước mặt bạn là những người đầy tổn thương, và bạn phải cho họ được quyền buồn. Trong một thế giới bị ám ảnh bởi hạnh phúc, khi mà sự tuyệt vời là tất cả, hãy để người rao giảng nói: bạn được phép buồn. Trong một thế giới mà tuổi già trở thành những năm tháng vàng son, nơi mọi vấn đề đều có thể được khắc phục và mọi bệnh tật đều được chữa lành, hãy nghe lời người rao giảng: bạn được phép buồn. Trong một thế giới quá bận tâm về tuổi thọ, nơi mà cái chết là từ cấm kỵ, bạn hãy nghe người rao giảng nói: bạn được phép buồn. Và hãy để người rao giảng nói: bạn được phép sống trong ký ức của người đơn độc”.
Ngày nay, cả nền văn hóa lẫn các giáo hội của chúng ta đều không cho chúng ta đủ quyền để buồn. Nhiều lúc, khi một người thân thương qua đời hoặc khi một thảm kịch xảy đến, chúng ta được phép buồn, được phép trầm lắng, rơi lệ, thay vì vui vẻ yêu đời. Nhưng có quá nhiều dịp và hoàn cảnh trong cuộc đời chúng ta mà linh hồn chúng ta hoàn toàn được phép buồn, thế nhưng nền văn hóa, giáo hội và cái tôi của chúng ta lại không để cho chúng ta được phép cảm nhận cảm xúc thật sự của mình – của nỗi buồn. Khi trường hợp đó xảy ra, và thường là như thế, chúng ta có thể phủ nhận cảm xúc của mình và chuyển sang vui vẻ yêu đời, hoặc chúng ta có thể nhường chỗ cho nỗi buồn, nhưng với cái giá phải trả là thấy có gì đó không ổn, chúng ta không nên cảm nhận theo cách này. Cả hai cách đều không tốt.
Nỗi buồn là một phần không thể tránh khỏi trong cuộc sống, và tự nó không phải là một điều tiêu cực. Trong nỗi buồn, có tiếng khóc mà chúng ta thường bịt tai không nghe. Trong nỗi buồn, tâm hồn chúng ta có cơ hội để nói và tiếng nói của nó nói với chúng ta rằng, nỗi thất vọng, mất mát, cái chết, sự bất xứng, sai lầm về đạo đức, hoặc một hoàn cảnh cụ thể nào đó của cuộc đời chúng ta là những thứ rất thật, cay đắng và không thể nào thay đổi được. Chúng ta có một cách là chấp nhận, kèm theo cái giá là nỗi buồn. Khi tiếng nói đó không được lắng nghe, thì sự lành mạnh và tỉnh táo của chúng ta bị kìm kẹp.
Ví dụ như, trong quyển sách đầy thách thức, “Tự tử và Linh hồn” (Suicide and the Soul), tác giả James Hillman đã nói, đôi lúc trong chuyện tự tử, tâm hồn đó quá chán nản và tổn thương đến nỗi giết luôn thể xác. Vì nhiều lý do quá phức tạp và khó để nhiều người biết được, tâm hồn đó không thể làm cho người khác lắng nghe mình và không bao giờ được phép cảm nhận cái nó thật sự đang cảm nhận. Và đến mức cực độ, chuyện này có thể giết chết thân xác.
Chúng ta thấy chuyện này trong một hiện tượng ít cực độ hơn, là chứng tình trạng biếng ăn của các cô gái trẻ. Có một áp lực không thể cưỡng lại từ nền văn hóa (thường đi đôi với sự bắt nạt có thật trên mạng xã hội) thúc đẩy chúng ta phải có cơ thể hoàn hảo. Đáng buồn là, đâu dễ để có cơ thể hoàn hảo. Do đó, các cô gái này cần được phép chấp nhận những giới hạn của cơ thể mình và chấp nhận với nỗi buồn đi kèm với chuyện này. Đáng buồn là, chuyện chẳng như thế, hoặc ít nhất là gần như không thể như thế, cho nên thay vì chấp nhận nỗi buồn vì không có cơ thể như mong muốn, các cô gái trẻ này lại bị thúc ép phải cố gắng làm cho bằng được với bất kỳ giá nào. Chúng ta đã thấy những tác hại đáng buồn của nó.
Các nhà tâm lý trị liệu, những người làm việc với khách hàng về giấc mơ, họ nói khi chúng ta gặp ác mộng, thường là vì linh hồn đang giận dữ với chúng ta. Vì ban ngày linh hồn không được chúng ta lắng nghe, nên khi đêm đến, lúc chúng ta không thể nào kìm nén được nữa, linh hồn bắt chúng ta phải lắng nghe nó.
Có nhiều lý do chính đáng để buồn. Một số người trong chúng ta sinh ra đã có “tâm hồn già nua”, những nhà thơ quá nhạy cảm với những tình tiết cảm động trong cuộc sống. Có người có sức khỏe thể chất kém, có người lại có sức khỏe tâm thần kém. Có người chưa hề được yêu thương và tôn trọng đủ, có người đã tan nát tâm hồn vì bị phụ bạc, vì bị không chung tình. Có người bị tan nát cuộc đời vì từng bị lạm dụng, cưỡng hiếp, bạo hành, có người đơn giản là vô vọng, mong muốn trong bất lực với những ước mơ bị vùi dập, cứ mãi hoài niệm trong đau khổ. Hơn nữa, tất cả chúng ta dù ít hay nhiều, đều có người thân yêu đã ra đi, đã từng suy sụp đủ kiểu, đã nếm những giai đoạn u sầu. Có vô số lý do chính đáng để buồn.
Và điều này cần được đề cao trong Phép Thánh Thể và các buổi họp trong nhà thờ. Nhà thờ không phải chỉ là nơi mừng các lễ lạc. Mà còn là nơi an toàn để chúng ta có thể tuôn trào cảm xúc. Phụng vụ cũng phải cho chúng ta quyền được buồn.
Nhà văn D.H. Lawrence từng viết những câu trứ danh:
Cảm xúc tôi không có thì tôi không có.
Cảm xúc tôi không có, tôi sẽ không nói rằng tôi có.
Cảm xúc bạn nói mình có, bạn không có.
Cảm xúc bạn muốn cả hai chúng ta đều có, thì chỉ một trong hai có mà thôi.
Chúng ta cần sống thật với linh hồn bằng cách chân thực với cảm xúc của nó.
J.B. Thái Hòa dịch
