2022
Người Công-giáo nhìn trận chiến “phá thai” tại Mỹ
Người Công-giáo nhìn trận chiến “phá thai” tại Mỹ
Phá thai là một tệ nạn xã hội ở khắp nơi trên thế giới này nhưng sao chỉ ồn ào tại Mỹ, nhất là trong mùa bầu cử này. Vấn nạn phá thai đã bị chính trị hóa. Nhiều người bị cuốn hút vào vong tranh chấp: Hoặc bênh vực hoặc phê bình lên án.
Chúng tôi nghĩ rằng: Sau mùa bầu cử thì cơn lốc chính trị sẽ giảm đi và ta mới có thể bình tâm để suy luận trung thực hơn. Chúng tôi xin chia vấn đề này ra làm hai mặt:
- Hiệu quả của việc phê bình, lên án:Phá thai là giết người, là trọng tội. Mọi người biết thế nhưng việc lên án nặng nhẹ khác nhau tùy theo quan điểm mỗi người, mỗi nhóm, tùy theo mức độ đạo đức hoặc văn hóa.
Xin mở ngoặc: Có lý luận rằng: Thai nhi cũng là một con người có giá trị như mọi người, và giết một thai nhi cũng không khác gì giết người lớn. Nhưng chúng tôi nghĩ đó là kiểu lý luận thuần túy tôn giáo và trên thực tế thì không thể như vậy. Ví dụ một thai nhi bị chết vi phá thai hay bị xảy thai thì nguời ta không thể có xúc cảm thương đau như khi đứng trước một người lớn qua đời.
Hoặc lý luận mơ hồ rằng khi phá thai thì thai nhi cũng đau đớn và biết khóc. Hoặc mọi giúp đỡ cho việc phá thai là tiêu tiền thuế của dân chúng.
Khi nghe những lý luận trên đây, chúng tôi có cảm nhận rằng: Vì e mình không đủ tự tin là mình đang nắm vững được ”Lẽ phải”, cho nên mình phải vơ vét thêm những lý lẽ có tính khích động đến tình cảm và túi tiền người khác. Các cách này thì nhà chính trị vẫn làm nhưng nhà đạo đức thì không thể.
Phê bình chỉ trích là đúng nhưng chưa đủ vì nó chỉ là một vế của phương trình. Vì bao năm nay, việc phê bình chỉ trích chẳng làm thay đổi gì cả.
- Vậy phải tìm xem nguyên nhân nào đã gây nên nạn phá thai để tìm cách sửa chữa:
Nhiều thống kê cho rằng phần lớn các vụ phá thai là do khó khăn về tài chánh và khủng hoảng tâm lý khi biết mình có thai, nhất là người ở tình trạng có thai ngoài hôn nhân, sợ xã hội chê cười, gia đình ghét bỏ. Vào thời kỳ này, đương sự rất cần được sự giúp đỡ: Nâng đỡ tinh thần và cả vật chất.
Khi qua được mấy tháng đầu thì những người nghèo lại lo đến một tương lai dài hạn hơn, là làm sao nuôi con tới ngày khôn lớn, phải nghỉ việc, lấy đâu ra tiền để sống cho toàn thể gia đình…
Nếu ta cảm thông được hoàn cảnh của họ thì ta sẽ dễ dàng thương cảm hơn là lên án.
Có vài cơ cấu tôn giáo đã có những chương trình giúp đỡ họ, ví dụ cung cấp cho một số người nơi ăn ở cho tới ngày sinh nở. Trường hợp này rất ít vì chỉ áp dụng cho những người nhất thời không nơi ăn ở. Cần nhiều cơ sở giúp đỡ họ tại nhà của họ, Không chỉ ở thời kỳ đầu, mà cả thời kỳ nuôi con sau này. Đây mới là chương trình lớn mà Xã-hội và các Giáo-hội vẫn chưa làm gì đáng kể.
Một chuyện mới đây, đó là Công-an tại Vietnam đã bắt được mấy nhóm người buôn bán trẻ sơ sinh.
Họ tổ chức nuôi ăn ở cho một số người mang thai để sau khi sanh thì bán đứa nhỏ cho cha mẹ nuôi…
Nhìn vào hai trường hợp là phá thai và bán con trên đây thì ta thấy có cùng một nguyên nhân, đó là vì nghèo không nuôi nổi con.
Cả hai trường hợp đều có tội, nhưng nếu người mẹ không bán con mà là cho không thì lại không bị tội hoặc trường hợp người “hiến nội tạng” thì lại đáng khen! Nhưng nếu người nhận con nuôi hay nhận nội tạng, rồi sau đó, muốn trả ơn người đã hiến tặng, bằng cách biếu lại quà cáp “đáng giá” gì đó thì ta lại thấy đó là chuyện tự nhiên?
Mỗi người chúng ta có thể có cái nhìn khác nhau và có thể sai lầm ít nhiều chăng!
Và một chuyện nữa là một người vợ vì không có khả năng mang thai nên nhờ một bà khác mang thai giùm mấy tháng đầu rồi sau đó sẽ chuyển cái thai vào bào thai của người vợ. Họ làm theo lời khuyên của bác sĩ. Vậy câu hỏi là: Mang thai giùm có tội không? Mấy ai hiểu được nỗi đau khổ của những người không thể có thai hoặc bị sảy thai nhiều lần, chạy chữa rất tốn phí mà vẫn không được!
Ngày nay, sống đạo theo các tiêu chuẩn cổ truyền thì rất khó khăn. Ví dụ: Phá thai thì đương nhiên là có tội, nên chọn cach ngừa thai, nhưng ngừa thai cũng có tội. Vậy không muốn có thai thì vợ chồng chỉ còn cách là đừng gần nhau, vì giáo lý dạy rằng: khi vợ chồng muốn gần nhau thì phải chấp nhận có con. Và cách độc nhất được Giáo-hội cho phép đó là phải theo phương pháp Oginô (do bác sĩ Ogino người Nhật và được ĐGH Pio X áp dụng), nhưng vẫn có rủi ro. Vậy nếu vợ chồng đi làm xa, lâu lâu mới gặp nhau thì phải làm sao?
Và cuối cùng là giới trẻ ngày nay đã sống xa đạo. hoặc bỏ đạo, Họ có tội không?
Chúng tôi nhớ lại rằng: cách đây vài chục năm, cha Lom-bac-đô, phát ngôn viên của Tòa-thánh đã trả lời rằng: Giáo-hội chưa hề có văn thư nào chính thức về việc cấm ngừa thai.
Chúng tôi cũng lại biết rằng: Trong Hội-nghị Giám-mục thế giới về gia đình, năm 2015-2016, thì các Nghị-phụ cũng đã bất đồng ý về nhiều vấn đề gia đình, với chỉ số ngang ngửa 50/50.
Vậy xin các Đấng nên hợp Ý lại để con cái Giáo-hội khỏi sống trong mặc cảm tội lỗi và rồi sống xa đạo.
Chúng tôi xin mạo muội trình bày rằng: Ngày nay, nhiều tin tức nội bộ Giáo-hội cũng cho thấy có những sự khác biệt giữa các Đấng bậc trong Giáo-hội. Một số các Đấng vẫn còn muốn trung thành với truyền thống cũ, kể cả chối bỏ Công-đồng Vatican II, mà khi khai mạc cộng đồng này, ĐGH Gioan XXIII đã phát biểu rằng Giáo-hội phải mở cửa để thông với thế giới bên ngoài.
Những suy nghĩ của chúng tôi có thể sai sót nhưng đây là lòng thành của chúng tôi khi lo lắng cho đám con cháu và bạn bè của chúng.
Chúng tôi cầu xin các Đấng nhìn đến đám con cái với tình cảm của bậc cha mẹ là biết lắng nghe con cái và chia sẻ sự khắc khoải, khó khăn trong cuộc sống đạo của chúng.
Kết luận: “Nghèo đói sinh đạo tặc”. Vậy nếu giảm được đói nghèo thì tội ác sẽ giảm theo và nạn phá thai vì nghèo đói cũng sẽ giảm bớt chăng?
Và cuối cùng, ta hãy nhìn tổng quát đến nhiều vấn nạn trong xã hội hôm nay, đó là biết bao loại tội lỗi khác như bắn giết hằng ngày, tham nhũng, bất công khắp nơi… Đây là những nguyên nhân gây nên sự nghèo đói. Vậy cần phải có chương trình cải tạo và sửa đổi những nguyên nhân này.
Nguyễn Thất-Khê
2022
Truyền Giáo: Thao thức của Chúa và sứ mạng ngàn năm của Hội Thánh
Truyền Giáo: Thao thức của Chúa và sứ mạng ngàn năm của Hội Thánh
“Truyền giáo”. Chúng ta phải hiểu chính xác đó là công cuộc truyền bá đức tin và gieo đức tin cho anh chị em của mình. Và nếu là gieo đức tin vào lòng người, đó là gieo cả một công trình của đời sống, của cảm nghiệm, của một sự thấm thía về một kinh nghiệm sống tận chiều sâu nội tâm.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI gọi việc loan báo Tin Mừng là Phúc Âm hóa. Đức Gioan Phaolô II cũng dựa trên khái niệm “Phúc Âm hóa” và mở rộng thêm: “Tái Phúc âm hóa”, “Tân Phúc Âm hóa”. Tân Phúc Âm hóa là quay về với chính cảm nghiệm nội tâm về chính Chúa Kitô nhằm chia sẻ những cảm nhận về chính Chúa Kitô cho anh chị em của mình.
Ngay số 1 của Tông Huấn Niềm vui Tin Mừng, Đức Phanxicô nhắc lại cảm nghiệm cá nhân với Chúa Kitô, không khác giáo huấn Tân Phúc Âm hóa mà Đức Gioan Phaolô II từng dạy: “NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG đổ đầy trái tim và cuộc sống của tất cả những ai gặp Chúa Giêsu. Những ai chấp nhận đề nghị cứu độ của Người đều được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn phiền, trống rỗng nội tâm và cô đơn. Với Đức Kitô, niềm vui luôn luôn được tái sinh”.
Bởi tầm quan trọng của ơn gọi gieo vãi đức tin, mỗi Kitô hữu hãy luôn thâm tín và sẵn sàng dấn thân mọi nơi, mọi lúc cho sự thâm tín này, đó là: Ơn gọi truyền giáo không phải là một thứ thêm vào có cũng được mà không có cũng không sao, nhưng TRUYỀN GIÁO LÀ BỔN PHẬN KHÔNG THỂ BỎ QUA CỦA KITÔ HỮU.
- TRUYỀN GIÁO LÀ LỆNH TRUYỀN CỦA CHÚA GIÊSU.
Truyền giáo là mệnh lệnh tuyệt đối của Chúa Giêsu. Ngay trước khi về trời, Chúa không để lại giáo huấn nào khác ngoài đòi buộc phải truyền giáo: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 16-20).
Mệnh lệnh truyền giáo cũng chính là thao thức của Chúa. Hiểu được sứ mạng truyền giáo là điều quan trọng đến vậy, chúng ta phải luôn tâm niệm: Không việc nào quan trọng bằng loan báo Tin Mừng của Chúa. Không hành động nào lớn bằng hành động loan báo Tin Mừng của Chúa. Không đam mê nào ngang hàng đam mê ra đi loan Tin Mừng của Chúa. Không thúc bách nào mạnh mẽ bằng thúc bách xả thân vì Lời của Chúa. Không tình yêu nào cao cả bằng tình yêu được sống chết cho Lời của Chúa…
Chúng ta may mắn được nhận biết và tin vào Chúa Kitô. Niềm vui này cần phải được chia sẻ cho người khác để họ cũng có cơ hội để nhận biết và tin vào Chúa Kitô như chúng ta.
- TRUYỀN GIÁO LÀ KINH NGHIỆM HÀNG NGÀN NĂM CỦA ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH CÔNG GIÁO.
Tiếp nối bước chân truyền giáo của Chúa Giêsu, Hội Thánh không ngừng đề cao việc rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Không chỉ nhấn mạnh trách nhiệm của mình, của mọi người con trong Hội Thánh, mà Hội Thánh còn quay nhìn cả bề dày của truyền thống lịch sử cứu độ để càng nhấn mạnh, càng soi rọi, càng đề cao trách nhiệm loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.
“Các sách Cựu Ước báo trước niềm vui cứu độ sẽ ngập tràn vào thời thiên sai. Ngôn sứ Isaia hoan hỉ chào đón Đấng Mêsia từng được trông đợi: “Chúa đã làm cho dân nên đông số, đã cho dân chan chứa niềm vui” (Is 9, 3)…
Hướng về Ngày của Đức Chúa, ngôn sứ Dacaria kêu mời dân chúng tung hô Đức Vua ngự đến “khiêm tốn ngồi trên lưng một con lừa”: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Ðấng Chính Trực, Ðấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.” (Dac 9, 9)…”(Tông huấn Niềm vui Tin Mừng số 4).
Đặc biệt, những trang Tân Ước càng như ngập tràn ý thức loan bao Tin Mừng: “Các môn đệ “vui mừng” (Ga 20, 20) khi nhìn thấy Chúa Kitô phục sinh. Trong sách Công Vụ Tông Đồ, chúng ta thấy các Kitô hữu tiên khởi “dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (2, 46). Bất kể các môn đệ đi đến đâu,“ở đó, người ta rất vui mừng” (8, 8); ngay cả giữa cơn bách hại, họ vẫn “ngập tràn niềm vui” (13, 52). Viên quan thái giám vừa mới được rửa tội “tiếp tục lên đường, lòng đầy hoan hỉ” (8, 39), trong khi người cai ngục của Phaolô “và cả nhà vui mừng vì đã tin Thiên Chúa” (16, 34). Thế thì tại sao chúng ta lại không đi vào cùng dòng suối niềm vui ấy?” (Tông huấn Niềm vui Tin Mừng số 5).
Việc gieo đức tin vào thế giới không dành riêng cho bất kỳ giới nào, thân phận nào, nhưng là ơn gọi cao quý của tất cả mọi tín hữu. Hội Thánh luôn khẳng định, mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ.
Trong thực tế, anh chị em ngoài Kitô giáo nhận ra khuôn mặt nhân ái và dễ thương của Chúa Giêsu qua những hành động yêu thương, bác ái, chia sẻ, những gương lành, những cử chỉ tha thứ và khoan dung của từng Kitô Hữu. Vì thế, để có thể gieo đức tin vào Chúa Kitô nơi lòng anh chị em, mỗi người cần ra sức thực thi tình yêu theo gương mẫu tình yêu của Chúa Kitô.
Từng người phải ý thức mình không mang danh Kitô hữu, nhưng phải Tin Mừng hóa bản thân bằng nghe, suy niệm, sống Lời Chúa, nội tâm hóa các giá trị Tin Mừng, thực hành Lời Chúa, để trở thành Kitô hữu đích thực và chính danh, đượm chất Tin Mừng.
Hãy nhớ, Hội Thánh sống ơn gọi truyền giáo bằng cả bề dày hàng ngàn năm. Đến phiên mình, chúng ta không bao giờ được phép lơ là trách vụ thực hiện ơn gọi truyền giáo mà Hội Thánh tiếp tục nhân danh Chúa Kitô trao cho.
Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG
2022
Chúa có cho tôi bất cứ điều gì tôi xin không?
Chúa có cho tôi bất cứ điều gì tôi xin không?
Kinh thánh nói: “Ai xin thì nhận được” (Mt 7:8). Vậy tại sao Thiên Chúa lại không ban cho chúng ta bất cứ những gì chúng ta muốn từ nơi Ngài, miễn là chúng ta xin Ngài?
Các sách Tin mừng chứa đựng một số phát biểu đáng chú ý về sự cầu nguyện. Các phát biểu ấy đặc biệt được tìm thấy trong Tin mừng Mátthêu, mặc dù có những điểm tương đồng trong Máccô và Luca.
Những câu nói này nghe có vẻ rất tích cực — như thể bạn có thể cầu xin Chúa bất cứ điều gì bạn muốn, và Ngài sẽ ban cho bạn chừng nào bạn còn tin.
Khi mọi người đọc những đoạn này một cách riêng rẽ — ngoài những điều khác mà Tân Ước nói — họ có thể phát triển một thứ thần học sai lầm về sự cầu nguyện.
Trong giới Tin lành, có một phong trào được gọi là thần học thịnh vượng (còn được gọi là Tin mừng thịnh vượng hoặc Tin mừng sức khỏe và sự giàu có), theo đó Thiên Chúa muốn tất cả dân tộc của mình được khỏe mạnh, giàu có và thành công vượt bậc. Nếu một kitô hữu không có những phúc lành này, thì hoặc là người ấy đã không xin chúng hoặc người ấy đã không xin chúng trong đức tin. Dù thế nào thì người ấy cũng có lỗi.
Nhưng đọc kỹ Tân ước cho thấy quan điểm này bị bóp méo.
Một bản văn cầu nguyện khích lệ được tìm thấy trong Bài giảng trên núi:
“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7: 7-8).
Chúa Giêsu không đề cập đến giới hạn về những gì bạn có thể xin, và bạn có thể cho rằng bạn hoàn toàn có thể xin bất cứ điều gì và nhận được điều đó.
Nhưng Chúa Giêsu cũng không đưa ra ví dụ. Chúa Giêsu không nói, “Hãy xin giàu có, sức khỏe và thành công tuyệt vời, và những điều đó sẽ là của bạn.”
Vì vậy, trong tâm trí của Chúa Giêsu có thể có một điều gì đó khiêm tốn hơn, và khi nói như vậy có thể Ngài có ý nói là trước hết hãy xin những phúc lành về tinh thần hơn là vật chất.
Trong cả Mátthêu và Luca, Chúa Giêsu ngay lập tức đưa ra một phép loại suy dựa trên việc người cha cho con cái ăn. Trong Mátthêu, Chúa Giêsu kết luận rằng Thiên Chúa sẽ ban “những của tốt lành” cho con cái ngài (7:11), và trong Luca, Ngài nói rằng Thiên Chúa sẽ ban cho họ “Thánh Thần” (11:13) — gợi ra rằng đoạn văn này có thể chủ yếu nói về “những điều tốt đẹp” thuộc tâm linh.
Khi xem phần còn lại của Bài giảng trên núi, chúng ta không thấy Chúa Giêsu khuyến khích những ước mơ về một lối sống xa hoa.
Trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” (Mt 6:11), gợi lên sự cậy trông hằng ngày vào Thiên Chúa — chứ không phải sự giàu có xa hoa.
Chúa Giêsu tiếp tục tuyên bố một cách rõ ràng:
“Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (6: 19-21).
Do đó, Ngài chỉ ra rằng những của cải trên trần thế có thể đưa tới một sự quên lãng thiêng liêng khỏi Thiên Chúa, và chúng ta không nên đặt cõi lòng mình vào những của cải như thế. Chúa Giêsu cũng nói:
“Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (6:24).
Ngài cũng nói với chúng ta:
“Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho” (6: 31-33).
Do đó, Chúa Giêsu muốn chúng ta tập trung “trước hết” vào các giá trị tinh thần và coi nhu cầu vật chất là thứ yếu. Thay vì khuyến khích mọi người “mơ ước lớn” về những gì Chúa có thể ban cho họ, Ngài khuyến khích sự tin cậy khiêm tốn, liên tục — xin Chúa những gì chúng ta cần chứ không phải những gì chúng ta mơ ước.
Chúa Giêsu chắc chắn không khuyến khích chúng ta tưởng tượng về một cuộc sống đầy thành công và không gặp rắc rối khi nói rằng, “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (6:34). Một lần nữa, mục tiêu là sống một cuộc sống tâm linh, tin cậy — chứ không phải là một cuộc sống thành công dễ dàng.
Một đoạn văn cầu nguyện khích lệ khác xảy ra khi các môn đệ hỏi tại sao họ không đuổi được quỷ ra khỏi một cậu bé, Chúa Giêsu nói đó là:
“Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia! ” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (17:20).
Điều này có vẻ nghịch lý. Chúa Giêsu nói rằng các môn đệ có “đức tin nhỏ bé” nhưng sau đó lại nói rằng nếu họ có “đức tin như hạt cải”, họ sẽ có thể làm được những phép lạ đáng kinh ngạc. Nếu vậy, niềm tin nhỏ bé của họ chẳng phải đã đủ rồi hay sao?
Giải pháp được tìm ra bằng cách xem xét ai thực sự là người làm phép lạ — chính Thiên Chúa — và nhớ rằng quyền năng của Thiên Chúa là vô hạn. Do đó, rốt cuộc niềm tin của bạn lớn đến đâu không quan trọng, bởi vì Thiên Chúa mới là Đấng thực hiện phép lạ.
Lý do khiến các môn đồ thất bại là họ có đức tin không đầy đủ và không tin cậy đúng mức vào Thiên Chúa. Có lẽ họ nghĩ rằng họ đã được trời phú cho những khả năng pháp thuật trừ tà ma và không còn nhìn thấy Chúa khi sử dụng những khả năng đó.
Một văn bản khác trong chương tiếp theo cho thấy rõ ràng dễ xảy ra sự lạm dụng:
“Một lần nữa Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (18:19).
Nghe có vẻ tốt lành, phải không? Hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, xin Chúa ban điều đó, và điều đó sẽ được thực hiện.
Nhưng không nhanh như vậy đâu. Câu nói này được giới thiệu bằng từ “một lần nữa”, cho chúng ta biết rằng chúng ta cần xem xét bối cảnh, bởi vì Chúa Giêsu đang trình bày lại một suy nghĩ mà Ngài đã khám phá.
Khi xem xét bối cảnh, chúng ta thấy rằng đó không phải là chuyện tích lũy tài sản cho bản thân, mà là kỷ cương của Giáo hội. Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ cách đối xử với một người đồng đạo phạm tội. Ngài nói rằng nếu người vi phạm không nghe lời người khác, hãy đưa người ấy đến cộng đoàn giáo hội, và nếu anh ta không nghe lời cộng đoàn giáo hội, hãy trục xuất người ấy. Sau đó Ngài nói:
“Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (18:18).
Lời tuyên bố về việc hợp ý “trên trái đất” là nằm trong bối cảnh thực hiện năng quyền cầm buộc và tháo cởi, liên quan đến các vấn đề về kỷ cương tinh thần – chứ không phải là sự thịnh vượng vật chất.
Khi Chúa Giêsu đảm bảo với các môn đệ “một lần nữa” về những gì sẽ xảy ra khi họ hợp ý, thì Ngài đảm bảo với họ về năng quyền cầm buộc và tháo cởi.
Đoạn cuối cùng mà chúng ta nên xem xét xảy ra khi các môn đệ hỏi làm thế nào mà cây vả lại héo nhanh như vậy. Chúa Giêsu trả lời,
“Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: “Dời chỗ đi, nhào xuống biển! “, thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.” (Mt 21: 21-21; xem Mc 11: 22-24, Lc 17: 6).
Về cơ bản, đây chính là điểm mà chúng ta đã thấy với cuộc trừ quỷ thất bại: kích cỡ lớn nhỏ của những gì bạn đang xin không quan trọng, bởi vì Thiên Chúa có quyền năng làm bất cứ điều gì. Và Chúa Giêsu đặt vấn đề một cách tích cực khi nói rằng “bất cứ điều gì bạn xin” thì sẽ được.
Nhưng có một giả thiết không được nói ra ở đây mà Chúa Giêsu mong chúng ta hiểu — rằng những gì chúng ta xin phải phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa.
Người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất biết rằng không phải mọi lời xin khi cầu nguyện đều là ý Chúa muốn, và ý Chúa muốn mới là yếu tố quyết định.
Chính Chúa Giêsu đã làm chứng cho điều này trong vườn Cây dầu khi Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (26:39).
Nếu chính Con Thiên Chúa thừa nhận rằng ý Chúa muốn không phải là ban cho mọi thứ người ta cầu xin, thì chúng ta cũng nên thừa nhận điều đó!
Chúa Giêsu muốn khuyến khích chúng ta cầu nguyện, và không phải lúc nào Ngài cũng có thể đề cập đến ngoại lệ này, nhưng Ngài mong chúng ta thừa nhận điều đó.
Điều đó chắc chắn được tìm thấy ở những nơi khác trong Tân Ước. Thánh Giacôbê cảnh báo rằng những ai khoe khoang kế hoạch kinh doanh của mình cần phải tính đến ý Chúa muốn: “Thay vì nói: “Nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ sống và làm điều nọ điều kia”, thì các người lại tự phụ vì những chuyện khoác lác của mình. Mọi thứ tự phụ như thế đều xấu” (4: 15).
Ngài cũng xác định một trong những nguyên nhân cầu nguyện mà không được đáp lại: “Anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (4: 3).
Xin giàu có và thành công bất tận đúng là kiểu cầu nguyện sẽ không được đáp ứng.
Và điều đó lại có thể là một điều tốt lành, vì Chúa Giêsu cũng nói, “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19:24).
Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung
từ catholic.com/magazine.
2022
Vị trí của tôi trước mặt Thiên Chúa: Người đầy tớ vô dụng
Vị trí của tôi trước mặt Thiên Chúa: Người đầy tớ vô dụng
Đây là một mệnh lệnh không dễ sống. Thông thường, khi chúng ta đã làm tốt một việc gì và hoàn thành nhiệm vụ của mình, chúng ta muốn được công nhận và khen ngợi. Chúng ta muốn được chú ý. Và mặc dù đây có thể là một phản ứng “bình thường” nơi mọi người, nhưng lại không phải là phản ứng khiêm tốn nhất. Sự khiêm tốn có nhiều mức độ, và đoạn văn Tin mừng hôm nay cần được đọc với mức độ khiêm tốn sâu sắc nhất thì mới có thể cho phép người đọc nắm được trọn vẹn ý nghĩa của nó.
Trước tiên, chúng ta phải nhận ra rằng ý muốn của Thiên Chúa là tốt lành cho chúng ta. Ý muốn của Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta sống yêu thương như một bổn phận. Sau khi đã thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta nên cảm nhận niềm vui với thành quả đó một mình trước mặt Thiên Chúa, không nhất thiết cần một ai khác biết đến, vì Thiên Chúa đã biết rõ thành quả đó, và hơn nữa tự thành quả đó đã là ơn lành từ Thiên Chúa. Bằng cách đó, việc thực hiện ý muốn của Thiên Chúa trở thành nguồn vui của chúng ta, chứ không cần phải chờ đợi sự công nhận của người nào khác.
Do đó, bài học ở đây là biết vị trí của mình trước mặt Thiên Chúa, một vị trí của người tôi tớ khiêm hạ. Các đầy tớ được thuê để đi cày ruộng, cho gia súc ăn, chuẩn bị và phục vụ bữa ăn tối cho chủ của điền trang. Làm như vậy là bổn phận của họ, là công việc của họ, vì họ sẽ được trả lương. Do đó, họ không có đặc quyền nào ngoài việc nhận lương và một bữa ăn. Ðầy tớ là người làm tất cả những gì chủ yêu cầu, đầy tớ là người hoàn toàn làm theo ý của chủ. Họ thậm chí không có quyền yêu cầu chủ nhân nói lời “cảm ơn” với họ. Không chủ nhân nào mắc nợ lời cảm ơn với các đầy tớ: “Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?” (Lc 17: 9). Dĩ nhiên, ở đây, Chúa Giêsu không có ý đề cao quan hệ chủ tớ trong xã hội. Ngài không coi tương quan giữa Thiên Chúa và con người là một tương quan chủ tớ; vì Ngài đã chẳng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như một người Cha và mời gọi chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha đó sao? “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Ábba! Cha ơi!” (Rm 8: 15), và “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Ábba, Cha ơi!” (Gal 4: 6).
Như vậy, ở đây, Chúa Giêsu chỉ muốn dùng hình ảnh người đầy tớ vốn có trong xã hội Do thái thời Ngài để nói lên tương quan đích thực giữa con người và Thiên Chúa, đó là con người chỉ là mình thực sự khi họ sống theo ý của Thiên Chúa. Càng sống cho riêng mình, càng tìm kiếm lợi lộc, vinh quang bản thân, con người càng đánh mất chính mình; trái lại, càng sống theo ý của Thiên Chúa, càng tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa, con người càng lớn lên và trở nên chính mình: “Ai theo Chúa Kitô, Con Người hoàn hảo, kẻ ấy sẽ được trở nên người hơn” [1]; giá trị đích thực của con người như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống chính là phục vụ một cách vô vị lợi như Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes đã viết: “Cũng thế, khi có nơi nào cần, chính Giáo Hội có thể và phải phát động tùy theo hoàn cảnh thời gian và nơi chốn, những công cuộc nhằm phục vụ mọi người.” [2]
Tuy nhiên, cũng là việc tốt đẹp khi chúng ta biết nhận ra lòng tốt nơi người khác và công nhận lòng tốt đó. Chúng ta làm điều này không phải để làm cho cái tôi của họ thỏa mãn nhưng là để ngợi khen Thiên Chúa về điều tốt đã được làm nơi bất cứ ai. Và khi những người khác nhìn thấy và công nhận ý muốn của Thiên Chúa đã hoàn thành trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng nên đón nhận lời khen ngợi của họ, không phải là lý do để chúng ta tự hào nhưng để khuyến khích nhau công nhận chân thành rằng Thiên Chúa thì tốt lành và ý muốn của Ngài đang được thực hiện. Chúng ta biết ơn Thiên Chúa vì chúng ta đã có thể làm theo ý Chúa, vốn dĩ là nghĩa vụ chúng ta phải làm: “chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17: 10).
Coi bản thân mình là “vô dụng” khi làm những việc mà chúng ta có bổn phận phải làm là đúng theo luật tự nhiên của Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa. Các thụ tạo của Thiên Chúa vâng lời Ngài là điều tất nhiên. Tuy nhiên, trong mọi thụ tạo trần thế, con người lại có thể từ chối sự vâng phục này, bởi vì họ được tạo dựng với một ý chí tự do. Nếu sự tuân phục không dựa vào ơn thánh – vốn chỉ có thể có được nhờ đức tin vào Chúa Kitô – thì nó cũng không ích lợi gì cho phần thưởng siêu nhiên. Bổn phận của con người là tuân theo quy luật tự nhiên cùng với suy tư theo ánh sáng của lý trí, là những ơn Thiên Chúa ban. Tất nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên thì sẽ có lợi cho phần tự nhiên; tuy thế con người được tạo ra không chỉ để ăn uống và hưởng thụ trần thế, vốn là thành quả mà Thiên Chúa ban cho như phần thưởng của lao động chân tay hoặc trí tuệ và công bằng xã hội, nhưng còn là để con người sẽ có được sự hưởng kiến thiện hảo và sự sống đời đời trong vinh quang Thiên Chúa.
Việc coi trọng ý của Thiên Chúa như một “bổn phận” thánh thiêng cũng giúp con người thực hiện ý muốn đó một cách trọn vẹn hơn. Khi chúng ta tự hãnh trước mặt người khác về những gì ta đã làm theo ý Chúa, chúng ta không thực hiện ý Chúa một cách xứng đáng. Nhưng khi việc đó được coi là bổn phận yêu thương của chúng ta và là hành động bình thường mà chúng ta cần thực hiện, thì chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận và thực thi ý Chúa một cách trọn vẹn hơn như Thánh Phaolô Tông đồ nói với Titô: “Vì chưng, ân sủng của Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta. Ngài đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Ngài, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện” (Tt 2: 11-14).
Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng Đức Maria nhắc nhở chúng ta về bí quyết cho cuộc hành trình từ cuộc sống trần gian lên Thiên đàng của chúng ta chính là “khiêm nhường”. Đức Thánh Cha đề cao lòng khiêm nhường của Mẹ Maria. Chính sự khiêm nhường của Mẹ đã thu hút ánh nhìn của Thiên Chúa. Bởi sự khiêm nhường, Mẹ biết mình cần Thiên Chúa và để Thiên Chúa lấp đầy. Đức Thánh Cha nhắc rằng Thiên Chúa không nâng cao chúng ta vì sự giàu sang, trổi vượt của chúng ta, nhưng vì sự khiêm nhường phục vụ của chúng ta. Mẹ Maria cũng là niềm hy vọng cho tất cả chúng ta, vì dù những ngày sống của chúng ta có vẻ đều đặn tẻ nhạt, hay vất vả khó khăn, chúng ta biết rằng mình được Thiên Chúa mời gọi hưởng vinh phúc Thiên đàng như Mẹ.
Đức Thánh Cha Phanxicô nêu các câu hỏi cho mọi người: “Vậy thì hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi tự thâm tâm mình: tôi đang khiêm tốn thế nào? Tôi có tìm cách để được người khác công nhận, để khẳng định bản thân và được khen ngợi, hay tôi nghĩ về việc phục vụ? Tôi có biết cách lắng nghe, giống như Mẹ Maria, hay tôi chỉ muốn nói và nhận được sự chú ý? Tôi có biết cách giữ im lặng như Mẹ Maria, hay nói luôn miệng? Tôi có biết cách lùi lại một bước, xoa dịu những cuộc cãi vã và tranh luận, hay tôi luôn muốn trở nên nổi trội?” [3]
Suy ngẫm về việc phục vụ trong khiêm tốn này. “chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17: 10), chúng ta được mời gọi tập nói lời này một cách chân thành để lời đó trở nên nền tảng của chúng ta trong việc thực hiện ý muốn Thiên Chúa hàng ngày theo mẫu gương Mẹ Maria: “Này tôi là tôi tớ Chúa…” (Lc 1: 38), và theo tâm tình của Thánh Phaolô: “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1Cr 4: 7) và “Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi…Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Kitô ở mãi trong tôi” (2Cr 11: 30, 12: 9). Chỉ khi làm như vậy chúng ta mới có thể bước vào “con đường cao tốc” hướng tới sự thánh thiện.
Cùng Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta cầu nguyện:
“Xin Mẹ đồng hành cùng chúng con trong cuộc hành trình dẫn từ Trần thế đến Thiên đàng. Xin Mẹ nhắc nhở chúng con rằng bí quyết của cuộc hành trình được chứa đựng trong từ khiêm tốn. Xin giúp chúng con đừng quên từ này và xin Mẹ luôn nhắc nhở chúng con rằng sự khiêm hạ và phục vụ đó là bí quyết để đạt được mục tiêu thiên đàng vinh quang. Amen.” [4]
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes – 07/12/1965, số 41.
[2] Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes – 07/12/1965, số 42.
[3] [4] Buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật Lễ trọng Đức Trinh Nữ Maria Hồn xác lên trời, ngày 15 tháng 8 năm 2021, tại quảng trường thánh Phêrô, Vatican, Rôma.
