2022
Chúa có cho tôi bất cứ điều gì tôi xin không?
Chúa có cho tôi bất cứ điều gì tôi xin không?
Kinh thánh nói: “Ai xin thì nhận được” (Mt 7:8). Vậy tại sao Thiên Chúa lại không ban cho chúng ta bất cứ những gì chúng ta muốn từ nơi Ngài, miễn là chúng ta xin Ngài?
Các sách Tin mừng chứa đựng một số phát biểu đáng chú ý về sự cầu nguyện. Các phát biểu ấy đặc biệt được tìm thấy trong Tin mừng Mátthêu, mặc dù có những điểm tương đồng trong Máccô và Luca.
Những câu nói này nghe có vẻ rất tích cực — như thể bạn có thể cầu xin Chúa bất cứ điều gì bạn muốn, và Ngài sẽ ban cho bạn chừng nào bạn còn tin.
Khi mọi người đọc những đoạn này một cách riêng rẽ — ngoài những điều khác mà Tân Ước nói — họ có thể phát triển một thứ thần học sai lầm về sự cầu nguyện.
Trong giới Tin lành, có một phong trào được gọi là thần học thịnh vượng (còn được gọi là Tin mừng thịnh vượng hoặc Tin mừng sức khỏe và sự giàu có), theo đó Thiên Chúa muốn tất cả dân tộc của mình được khỏe mạnh, giàu có và thành công vượt bậc. Nếu một kitô hữu không có những phúc lành này, thì hoặc là người ấy đã không xin chúng hoặc người ấy đã không xin chúng trong đức tin. Dù thế nào thì người ấy cũng có lỗi.
Nhưng đọc kỹ Tân ước cho thấy quan điểm này bị bóp méo.
Một bản văn cầu nguyện khích lệ được tìm thấy trong Bài giảng trên núi:
“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7: 7-8).
Chúa Giêsu không đề cập đến giới hạn về những gì bạn có thể xin, và bạn có thể cho rằng bạn hoàn toàn có thể xin bất cứ điều gì và nhận được điều đó.
Nhưng Chúa Giêsu cũng không đưa ra ví dụ. Chúa Giêsu không nói, “Hãy xin giàu có, sức khỏe và thành công tuyệt vời, và những điều đó sẽ là của bạn.”
Vì vậy, trong tâm trí của Chúa Giêsu có thể có một điều gì đó khiêm tốn hơn, và khi nói như vậy có thể Ngài có ý nói là trước hết hãy xin những phúc lành về tinh thần hơn là vật chất.
Trong cả Mátthêu và Luca, Chúa Giêsu ngay lập tức đưa ra một phép loại suy dựa trên việc người cha cho con cái ăn. Trong Mátthêu, Chúa Giêsu kết luận rằng Thiên Chúa sẽ ban “những của tốt lành” cho con cái ngài (7:11), và trong Luca, Ngài nói rằng Thiên Chúa sẽ ban cho họ “Thánh Thần” (11:13) — gợi ra rằng đoạn văn này có thể chủ yếu nói về “những điều tốt đẹp” thuộc tâm linh.
Khi xem phần còn lại của Bài giảng trên núi, chúng ta không thấy Chúa Giêsu khuyến khích những ước mơ về một lối sống xa hoa.
Trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” (Mt 6:11), gợi lên sự cậy trông hằng ngày vào Thiên Chúa — chứ không phải sự giàu có xa hoa.
Chúa Giêsu tiếp tục tuyên bố một cách rõ ràng:
“Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (6: 19-21).
Do đó, Ngài chỉ ra rằng những của cải trên trần thế có thể đưa tới một sự quên lãng thiêng liêng khỏi Thiên Chúa, và chúng ta không nên đặt cõi lòng mình vào những của cải như thế. Chúa Giêsu cũng nói:
“Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (6:24).
Ngài cũng nói với chúng ta:
“Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho” (6: 31-33).
Do đó, Chúa Giêsu muốn chúng ta tập trung “trước hết” vào các giá trị tinh thần và coi nhu cầu vật chất là thứ yếu. Thay vì khuyến khích mọi người “mơ ước lớn” về những gì Chúa có thể ban cho họ, Ngài khuyến khích sự tin cậy khiêm tốn, liên tục — xin Chúa những gì chúng ta cần chứ không phải những gì chúng ta mơ ước.
Chúa Giêsu chắc chắn không khuyến khích chúng ta tưởng tượng về một cuộc sống đầy thành công và không gặp rắc rối khi nói rằng, “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (6:34). Một lần nữa, mục tiêu là sống một cuộc sống tâm linh, tin cậy — chứ không phải là một cuộc sống thành công dễ dàng.
Một đoạn văn cầu nguyện khích lệ khác xảy ra khi các môn đệ hỏi tại sao họ không đuổi được quỷ ra khỏi một cậu bé, Chúa Giêsu nói đó là:
“Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia! ” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (17:20).
Điều này có vẻ nghịch lý. Chúa Giêsu nói rằng các môn đệ có “đức tin nhỏ bé” nhưng sau đó lại nói rằng nếu họ có “đức tin như hạt cải”, họ sẽ có thể làm được những phép lạ đáng kinh ngạc. Nếu vậy, niềm tin nhỏ bé của họ chẳng phải đã đủ rồi hay sao?
Giải pháp được tìm ra bằng cách xem xét ai thực sự là người làm phép lạ — chính Thiên Chúa — và nhớ rằng quyền năng của Thiên Chúa là vô hạn. Do đó, rốt cuộc niềm tin của bạn lớn đến đâu không quan trọng, bởi vì Thiên Chúa mới là Đấng thực hiện phép lạ.
Lý do khiến các môn đồ thất bại là họ có đức tin không đầy đủ và không tin cậy đúng mức vào Thiên Chúa. Có lẽ họ nghĩ rằng họ đã được trời phú cho những khả năng pháp thuật trừ tà ma và không còn nhìn thấy Chúa khi sử dụng những khả năng đó.
Một văn bản khác trong chương tiếp theo cho thấy rõ ràng dễ xảy ra sự lạm dụng:
“Một lần nữa Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (18:19).
Nghe có vẻ tốt lành, phải không? Hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, xin Chúa ban điều đó, và điều đó sẽ được thực hiện.
Nhưng không nhanh như vậy đâu. Câu nói này được giới thiệu bằng từ “một lần nữa”, cho chúng ta biết rằng chúng ta cần xem xét bối cảnh, bởi vì Chúa Giêsu đang trình bày lại một suy nghĩ mà Ngài đã khám phá.
Khi xem xét bối cảnh, chúng ta thấy rằng đó không phải là chuyện tích lũy tài sản cho bản thân, mà là kỷ cương của Giáo hội. Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ cách đối xử với một người đồng đạo phạm tội. Ngài nói rằng nếu người vi phạm không nghe lời người khác, hãy đưa người ấy đến cộng đoàn giáo hội, và nếu anh ta không nghe lời cộng đoàn giáo hội, hãy trục xuất người ấy. Sau đó Ngài nói:
“Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (18:18).
Lời tuyên bố về việc hợp ý “trên trái đất” là nằm trong bối cảnh thực hiện năng quyền cầm buộc và tháo cởi, liên quan đến các vấn đề về kỷ cương tinh thần – chứ không phải là sự thịnh vượng vật chất.
Khi Chúa Giêsu đảm bảo với các môn đệ “một lần nữa” về những gì sẽ xảy ra khi họ hợp ý, thì Ngài đảm bảo với họ về năng quyền cầm buộc và tháo cởi.
Đoạn cuối cùng mà chúng ta nên xem xét xảy ra khi các môn đệ hỏi làm thế nào mà cây vả lại héo nhanh như vậy. Chúa Giêsu trả lời,
“Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: “Dời chỗ đi, nhào xuống biển! “, thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.” (Mt 21: 21-21; xem Mc 11: 22-24, Lc 17: 6).
Về cơ bản, đây chính là điểm mà chúng ta đã thấy với cuộc trừ quỷ thất bại: kích cỡ lớn nhỏ của những gì bạn đang xin không quan trọng, bởi vì Thiên Chúa có quyền năng làm bất cứ điều gì. Và Chúa Giêsu đặt vấn đề một cách tích cực khi nói rằng “bất cứ điều gì bạn xin” thì sẽ được.
Nhưng có một giả thiết không được nói ra ở đây mà Chúa Giêsu mong chúng ta hiểu — rằng những gì chúng ta xin phải phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa.
Người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất biết rằng không phải mọi lời xin khi cầu nguyện đều là ý Chúa muốn, và ý Chúa muốn mới là yếu tố quyết định.
Chính Chúa Giêsu đã làm chứng cho điều này trong vườn Cây dầu khi Ngài cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (26:39).
Nếu chính Con Thiên Chúa thừa nhận rằng ý Chúa muốn không phải là ban cho mọi thứ người ta cầu xin, thì chúng ta cũng nên thừa nhận điều đó!
Chúa Giêsu muốn khuyến khích chúng ta cầu nguyện, và không phải lúc nào Ngài cũng có thể đề cập đến ngoại lệ này, nhưng Ngài mong chúng ta thừa nhận điều đó.
Điều đó chắc chắn được tìm thấy ở những nơi khác trong Tân Ước. Thánh Giacôbê cảnh báo rằng những ai khoe khoang kế hoạch kinh doanh của mình cần phải tính đến ý Chúa muốn: “Thay vì nói: “Nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ sống và làm điều nọ điều kia”, thì các người lại tự phụ vì những chuyện khoác lác của mình. Mọi thứ tự phụ như thế đều xấu” (4: 15).
Ngài cũng xác định một trong những nguyên nhân cầu nguyện mà không được đáp lại: “Anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (4: 3).
Xin giàu có và thành công bất tận đúng là kiểu cầu nguyện sẽ không được đáp ứng.
Và điều đó lại có thể là một điều tốt lành, vì Chúa Giêsu cũng nói, “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19:24).
Tác giả: Jimmy Akin
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung
từ catholic.com/magazine.
2022
Vị trí của tôi trước mặt Thiên Chúa: Người đầy tớ vô dụng
Vị trí của tôi trước mặt Thiên Chúa: Người đầy tớ vô dụng
Đây là một mệnh lệnh không dễ sống. Thông thường, khi chúng ta đã làm tốt một việc gì và hoàn thành nhiệm vụ của mình, chúng ta muốn được công nhận và khen ngợi. Chúng ta muốn được chú ý. Và mặc dù đây có thể là một phản ứng “bình thường” nơi mọi người, nhưng lại không phải là phản ứng khiêm tốn nhất. Sự khiêm tốn có nhiều mức độ, và đoạn văn Tin mừng hôm nay cần được đọc với mức độ khiêm tốn sâu sắc nhất thì mới có thể cho phép người đọc nắm được trọn vẹn ý nghĩa của nó.
Trước tiên, chúng ta phải nhận ra rằng ý muốn của Thiên Chúa là tốt lành cho chúng ta. Ý muốn của Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta sống yêu thương như một bổn phận. Sau khi đã thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, chúng ta nên cảm nhận niềm vui với thành quả đó một mình trước mặt Thiên Chúa, không nhất thiết cần một ai khác biết đến, vì Thiên Chúa đã biết rõ thành quả đó, và hơn nữa tự thành quả đó đã là ơn lành từ Thiên Chúa. Bằng cách đó, việc thực hiện ý muốn của Thiên Chúa trở thành nguồn vui của chúng ta, chứ không cần phải chờ đợi sự công nhận của người nào khác.
Do đó, bài học ở đây là biết vị trí của mình trước mặt Thiên Chúa, một vị trí của người tôi tớ khiêm hạ. Các đầy tớ được thuê để đi cày ruộng, cho gia súc ăn, chuẩn bị và phục vụ bữa ăn tối cho chủ của điền trang. Làm như vậy là bổn phận của họ, là công việc của họ, vì họ sẽ được trả lương. Do đó, họ không có đặc quyền nào ngoài việc nhận lương và một bữa ăn. Ðầy tớ là người làm tất cả những gì chủ yêu cầu, đầy tớ là người hoàn toàn làm theo ý của chủ. Họ thậm chí không có quyền yêu cầu chủ nhân nói lời “cảm ơn” với họ. Không chủ nhân nào mắc nợ lời cảm ơn với các đầy tớ: “Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?” (Lc 17: 9). Dĩ nhiên, ở đây, Chúa Giêsu không có ý đề cao quan hệ chủ tớ trong xã hội. Ngài không coi tương quan giữa Thiên Chúa và con người là một tương quan chủ tớ; vì Ngài đã chẳng mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa như một người Cha và mời gọi chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha đó sao? “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Ábba! Cha ơi!” (Rm 8: 15), và “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Ábba, Cha ơi!” (Gal 4: 6).
Như vậy, ở đây, Chúa Giêsu chỉ muốn dùng hình ảnh người đầy tớ vốn có trong xã hội Do thái thời Ngài để nói lên tương quan đích thực giữa con người và Thiên Chúa, đó là con người chỉ là mình thực sự khi họ sống theo ý của Thiên Chúa. Càng sống cho riêng mình, càng tìm kiếm lợi lộc, vinh quang bản thân, con người càng đánh mất chính mình; trái lại, càng sống theo ý của Thiên Chúa, càng tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa, con người càng lớn lên và trở nên chính mình: “Ai theo Chúa Kitô, Con Người hoàn hảo, kẻ ấy sẽ được trở nên người hơn” [1]; giá trị đích thực của con người như Chúa Giêsu đã dạy và đã sống chính là phục vụ một cách vô vị lợi như Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes đã viết: “Cũng thế, khi có nơi nào cần, chính Giáo Hội có thể và phải phát động tùy theo hoàn cảnh thời gian và nơi chốn, những công cuộc nhằm phục vụ mọi người.” [2]
Tuy nhiên, cũng là việc tốt đẹp khi chúng ta biết nhận ra lòng tốt nơi người khác và công nhận lòng tốt đó. Chúng ta làm điều này không phải để làm cho cái tôi của họ thỏa mãn nhưng là để ngợi khen Thiên Chúa về điều tốt đã được làm nơi bất cứ ai. Và khi những người khác nhìn thấy và công nhận ý muốn của Thiên Chúa đã hoàn thành trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng nên đón nhận lời khen ngợi của họ, không phải là lý do để chúng ta tự hào nhưng để khuyến khích nhau công nhận chân thành rằng Thiên Chúa thì tốt lành và ý muốn của Ngài đang được thực hiện. Chúng ta biết ơn Thiên Chúa vì chúng ta đã có thể làm theo ý Chúa, vốn dĩ là nghĩa vụ chúng ta phải làm: “chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17: 10).
Coi bản thân mình là “vô dụng” khi làm những việc mà chúng ta có bổn phận phải làm là đúng theo luật tự nhiên của Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa. Các thụ tạo của Thiên Chúa vâng lời Ngài là điều tất nhiên. Tuy nhiên, trong mọi thụ tạo trần thế, con người lại có thể từ chối sự vâng phục này, bởi vì họ được tạo dựng với một ý chí tự do. Nếu sự tuân phục không dựa vào ơn thánh – vốn chỉ có thể có được nhờ đức tin vào Chúa Kitô – thì nó cũng không ích lợi gì cho phần thưởng siêu nhiên. Bổn phận của con người là tuân theo quy luật tự nhiên cùng với suy tư theo ánh sáng của lý trí, là những ơn Thiên Chúa ban. Tất nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên thì sẽ có lợi cho phần tự nhiên; tuy thế con người được tạo ra không chỉ để ăn uống và hưởng thụ trần thế, vốn là thành quả mà Thiên Chúa ban cho như phần thưởng của lao động chân tay hoặc trí tuệ và công bằng xã hội, nhưng còn là để con người sẽ có được sự hưởng kiến thiện hảo và sự sống đời đời trong vinh quang Thiên Chúa.
Việc coi trọng ý của Thiên Chúa như một “bổn phận” thánh thiêng cũng giúp con người thực hiện ý muốn đó một cách trọn vẹn hơn. Khi chúng ta tự hãnh trước mặt người khác về những gì ta đã làm theo ý Chúa, chúng ta không thực hiện ý Chúa một cách xứng đáng. Nhưng khi việc đó được coi là bổn phận yêu thương của chúng ta và là hành động bình thường mà chúng ta cần thực hiện, thì chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận và thực thi ý Chúa một cách trọn vẹn hơn như Thánh Phaolô Tông đồ nói với Titô: “Vì chưng, ân sủng của Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta. Ngài đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Ngài, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện” (Tt 2: 11-14).
Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng Đức Maria nhắc nhở chúng ta về bí quyết cho cuộc hành trình từ cuộc sống trần gian lên Thiên đàng của chúng ta chính là “khiêm nhường”. Đức Thánh Cha đề cao lòng khiêm nhường của Mẹ Maria. Chính sự khiêm nhường của Mẹ đã thu hút ánh nhìn của Thiên Chúa. Bởi sự khiêm nhường, Mẹ biết mình cần Thiên Chúa và để Thiên Chúa lấp đầy. Đức Thánh Cha nhắc rằng Thiên Chúa không nâng cao chúng ta vì sự giàu sang, trổi vượt của chúng ta, nhưng vì sự khiêm nhường phục vụ của chúng ta. Mẹ Maria cũng là niềm hy vọng cho tất cả chúng ta, vì dù những ngày sống của chúng ta có vẻ đều đặn tẻ nhạt, hay vất vả khó khăn, chúng ta biết rằng mình được Thiên Chúa mời gọi hưởng vinh phúc Thiên đàng như Mẹ.
Đức Thánh Cha Phanxicô nêu các câu hỏi cho mọi người: “Vậy thì hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi tự thâm tâm mình: tôi đang khiêm tốn thế nào? Tôi có tìm cách để được người khác công nhận, để khẳng định bản thân và được khen ngợi, hay tôi nghĩ về việc phục vụ? Tôi có biết cách lắng nghe, giống như Mẹ Maria, hay tôi chỉ muốn nói và nhận được sự chú ý? Tôi có biết cách giữ im lặng như Mẹ Maria, hay nói luôn miệng? Tôi có biết cách lùi lại một bước, xoa dịu những cuộc cãi vã và tranh luận, hay tôi luôn muốn trở nên nổi trội?” [3]
Suy ngẫm về việc phục vụ trong khiêm tốn này. “chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17: 10), chúng ta được mời gọi tập nói lời này một cách chân thành để lời đó trở nên nền tảng của chúng ta trong việc thực hiện ý muốn Thiên Chúa hàng ngày theo mẫu gương Mẹ Maria: “Này tôi là tôi tớ Chúa…” (Lc 1: 38), và theo tâm tình của Thánh Phaolô: “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1Cr 4: 7) và “Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi…Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Kitô ở mãi trong tôi” (2Cr 11: 30, 12: 9). Chỉ khi làm như vậy chúng ta mới có thể bước vào “con đường cao tốc” hướng tới sự thánh thiện.
Cùng Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta cầu nguyện:
“Xin Mẹ đồng hành cùng chúng con trong cuộc hành trình dẫn từ Trần thế đến Thiên đàng. Xin Mẹ nhắc nhở chúng con rằng bí quyết của cuộc hành trình được chứa đựng trong từ khiêm tốn. Xin giúp chúng con đừng quên từ này và xin Mẹ luôn nhắc nhở chúng con rằng sự khiêm hạ và phục vụ đó là bí quyết để đạt được mục tiêu thiên đàng vinh quang. Amen.” [4]
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes – 07/12/1965, số 41.
[2] Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay – Gaudium Et Spes – 07/12/1965, số 42.
[3] [4] Buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật Lễ trọng Đức Trinh Nữ Maria Hồn xác lên trời, ngày 15 tháng 8 năm 2021, tại quảng trường thánh Phêrô, Vatican, Rôma.
2022
Vài đóng góp của tự điển Béhaine trong văn hoá ngôn ngữ Việt Nam
Vài đóng góp của tự điển Béhaine trong văn hoá ngôn ngữ Việt Nam
Bài viết này bàn về tự điển chép tay của LM Pigneau de Béhaine (viết tắt là TVL). Người viết ghi lại kinh nghiệm đọc tài liệu này cũng như vài kết quả thú vị về tiếng Việt.
TVL có thể đọc trên mạng thoải mái (không cần dùng kính lúp[1]!) như từ trang này chẳng hạn archive.org …v.v… Ngoài giá trị về tự điển tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ khá ổn định vào cuối TK 18 và đầu TK 19, ít người biết TVL là một nguồn tra cứu về ca dao và thành ngữ phong phú. Ngay trong mục đàm, TVL đã ghi cách dùng “tục ngữ hằng đàm[2] 俗語恆談”, phản ánh phần nào một đường hướng biên soạn tài liệu này, như các thí dụ ghi nhận trong bài này. Ngoài ra từ ngày có hệ thống nối mạng toàn cầu Internet, vấn đề tham khảo tài liệu không phải cực nhọc như trước đây nữa: td. các tài liệu tham khảo chính của bài viết này có thể tìm đọc trên mạng (td. xem mục 3 bên dưới). Một trường hợp khác là liên hệ rất lâu đời giữa hai ngôn ngữ và văn hoá Việt và Hán – một gợi ý qua bài viết này – từng được cụ Phan Khôi bộc bạch cách đây hơn nửa thế kỉ “Người VN chúng ta về sau phải sang Trung Quốc ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được cái dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc Trung Quốc từ đời thượng cổ. Tôi tuy chưa được nghiên cứu chứ cũng có thấy trong đó một vài tia sáng, rồi đây tôi sẽ viết ra để nêu lên vấn đề” – trích từ trang 34 Việt Ngữ Nghiên Cứu (sđd). Các chữ viết tắt khác là VBL (tự điển Việt Bồ La), NCT (Nguyễn Cung Thông), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716). Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt hay Hán).
- Vài trường hợp ca dao tục ngữ
1.1 Giả mù pha mưa: từ nhỏ người viết (NCT) thường nghe tục ngữ giả mù sa mưa hay quá mù ra mưa, nhưng khi tra TVL thì lại là giả mù pha mưa 假𩂟葩𩄎. Câu này hàm ý giả vờ không biết làm gì, khác với các dị bản là giả mù sa mưa, quá mù sa mưa, quá mù ra mưa (Việt Nam Tự Điển, sđd) …v.v… Ít người biết thành ngữ giả mù pha mưa của TK 18, với pha viết chữ Nôm là ba 葩 (từ HV còn có nghĩa là hoa). Pha có một dạng chữ Nôm khác là ba/pha 坡 như trong Truyện Kiều (câu 140)
𦹵坡味襖染𡽫䏧𡗶
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời …v.v…
Pha có các dị bản là sa, ra. Không thấy LM Theurel ghi cách dùng này (Đàng Ngoài)! Học giả Huỳnh Tịnh Của (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, 1895 sđd) giải thích chi tiết như sau:
Đại Nam Quấc Âm Tự Vị – trang 359
1.2 Chí công mài sắt chầy ngày nên kim: bây giờ thì thường nghe là “có công mài sắt có ngày nên kim”. Chí công mài sắt chầy ngày nên kim viết chữ Nôm (TVL) là 志功埋鉄迡𣈜年針. Tự điển Taberd ghi lại hoàn toàn chữ quốc ngữ, chữ Nôm hơi khác ở chữ chầy[3] dùng trì HV 遲 (15 nét) so với dạng chầy trong TVL 迡 (5 nét, cả hai dạng đều hiện diện trong TVL). Chữ Nôm trong cuốn Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục (khoảng năm 1914) khác với chữ Nôm trong TVL (khoảng 1772/1773) như mài chữ Nôm là 𪿥 (bộ thạch hợp với chữ mai, dạng này hiện diện trong Truyện Kiều/Lý Hạng Ca Dao), so với dạng chữ Nôm trong TVL là mai HV 埋 (bộ thổ). Nên chữ Nôm là 𢧚 (chữ niên hợp với chữ thành biểu ý). Tự điển Theurel (1877), phản ánh ngôn ngữ Đàng Ngoài, tuy dựa vào công trình của LM Taberd (1838), đã dùng dị bản “có công mài sắt có ngày nên kim” và đây là dạng phổ thông cho đến ngày nay. Trong bản Nôm và chữ quốc ngữ (Đàng Ngoài, khoảng 1914 – Quan Văn Đường tàng bản) “Nam Quốc Phương Ngôn Tục Ngữ Bị Lục” cũng ghi “có công mài sắt có ngày nên kim”: chữ kim ghi bằng châm 針 (viết tắt bộ kim) – xem hình chụp bên dưới. Nên chữ Nôm thời TVL dùng chữ niên HV 年 cũng như trong các tài liệu Nôm cổ như Cư Trần Lạc Đạo Phú, Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh … Chữ Nôm hậu kì thường thêm chữ thành HV 成 biểu ý vào thanh phù niên để cho rõ nghĩa hơn.
Béhaine (1772/1773, sđd)
Taberd (1838, sđd)
Theurel (1877, sđd)
Ở Đàng Trong, cụ Huỳnh Tịnh Của vẫn giữ nguyên bản gốc[4]:
Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895, sđd)
` Trích từ Nam Quốc Phương Ngôn Tục Ngữ Bị Lục, trang này itrithuc.vn
1.3 Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
Mục trồng của TVL ghi “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” so với bây giờ tiếng Việt đa phần dùng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” – chữ Nôm viết là 咹 (果吏}[5] 汝几櫳核 – LM Béhaine ghi trồng chữ Nôm là 槞. Không thấy ghi câu này trong tự điển Theurel – có lẽ không thông dụng ở Đàng Ngoài vào thời này so với Đàng Trong. Câu tục ngữ này cho thấy trái đã thông dụng hơn so với quả, cũng phù hợp với ghi nhận trong VBL với 9 mục ghi trái (< blái) so với 3 lần dùng quả (trái quả, hoa quả, hàng quả) so với TVL có 22 mục trái và 3 mục quả. Sau này trái lại thông dụng ở Đàng Trong so với quả ở Đàng Ngoài[6] (phương ngữ). Điều này cho thấy Đàng Trong (thành hình từ các đợt di dân từ Đàng Ngoài và cộng cư với dân bản địa) có khả năng bảo lưu một số dấu vết của tiếng Việt cổ. Trái là một trường hợp đáng chú ý: tiếng Mường Bi) là tlái, hay plaj (thổ ngữ Mường) – môt dạng proto-Vietic là *k-la:i?, proto-MonKhme là *klaj(ʔ) – VBL ghi trái là blái. An Nam Dịch Ngữ còn ghi quả viên là vườn trái (*blái) 菓園文拜. Các dạng chữ Nôm[7] cổ cũng cho thấy tổ hợp phụ âm bl- như trong Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh (5a):
敬礼菩蕯 割𠌊𪮏麻助[𢃊]吒
Kính lạy Bồ Tát, cắt trái tay mà trợ [cứu] vua cha
Chữ Nôm trái viết bằng chữ ba 巴 hợp với chữ lai 來 bên trái – hoàn toàn phù hợp với dạng blái của chữ quốc ngữ trong VBL.
Hay trong Cư Trần Lạc Đạo Phú (23a):
咹蒌咹𢁑 業𠱄庄嫌所䔲荄
Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chăng (chẳng) hiềm (hèm) thửa đắng cay
Chữ Nôm trái viết bằng chữ ba 巴 hợp với chữ lại 賴 ở dưới, hoàn toàn phù hợp với dạng blái của VBL. Một điểm đáng nhắc ở đây là đọc các tài liệu chép tay của cụ Philiphê Bỉnh (1759-1833) thì trái luôn viết là blái, như vậy cùng thời với TVL thì Đàng Ngoài vẫn còn dạng blái thời VBL, so với Đàng Trong đã dung dạng trái (cho đến ngày nay).
Thành ra câu tục ngữ ăn trái nhớ kẻ trồng cây không những cho ta một bài học đạo đức của xã hội truyền thống, mà còn để lại dấu ấn của tiếng Việt cổ đại (trái) so với ảnh hưởng của phương Bắc (quả HV 果 đồng nghĩa) không nhỏ trong ngôn ngữ đại chúng.
1.4 Con công chẳng giống lông thì giống cánh
Con công trong câu tục ngữ này đã ‘nhân cách hoá’ và ‘tổng quát hoá’ thành con nhà tông để cho ra dạng phổ thông hiện nay là con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Từ sự quan sát chi tiết và cụ thể của loài công, tiền nhân ta đã để lại kí ức tập thể trên qua câu tục ngữ này: loài công (đực) có một bộ cánh rất sặc sỡ và óng ánh, các thế hệ sau của loài chim này cũng mang theo đặc tính này[8] (gen di truyền từ đời này sang đời kia).
Chim công đang bay – trích từ trang a-z-animals.com
Dân tộc khác cũng có những quan sát tế nhị như trên, như người Đức còn có ngạn ngữ “này các con công, hãy nhìn lại hai chân của chính mình (tạm dịch/NCT – Pfauen, schaut auf eure Füße)” (hàm ý thực tế thì không hoàn toàn đẹp đẽ và hoành tráng như cánh/lông mình khoa trương). Vài điểm đáng chú ý là từ phủ định chẳng[9] trong TVL đã hay bằng không trong tiếng Việt hiện đại, ngoài ra con công gọi là chim công[10] vào thời Việt Bồ La (1651). Con công chẳng giống lông thì giống cánh viết bằng chữ Nôm vào thời TVL và Taberd là 昆公庄種 (竜羽) 時種𦑃: chữ công là kí âm trực tiếp bằng chữ công[11] HV 公 (nghĩa HV là chung, đực/trống, tước công …) cũng như dạng chữ Nôm trong Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa. Chữ Nôm hậu kì thường thêm vào thanh phù công bộ điểu 鳥 để cho rõ nghĩa hơn (như trong Lý Hạng Ca Dao, Giai Cú …). Con công có lý hơn trong tục ngữ này vì lông và cánh khó mà liên hệ đến loài người được (“con nhà tông”) tuy tông có cùng vần với công và lông.
Taberd
Theurel
1.5 Xa cừ
Xa cừ là vỏ của loài ốc biển (gọi là ốc xa cừ, ốc mặt trăng, ốc mắt ngọc) dùng làm trang trí cũng như một hải sản có giá trị kinh tế cao. TVL ghi rõ là xa cừ 車渠 (LM Taberd ghi lại y như TVL). Xa là đọc đúng theo âm HV: chữ xa 硨 (thanh mẫu xương 昌 vận bộ ma 麻 khai khẩu tam đẳng, bình thanh) có các cách đọc theo phiên thiết
尺遮切 xích già thiết (NT, QV, TTTH) – Bác Nhã 博雅 ghi xa cừ xuất phát từ Thiên Trúc (Ấn Độ). Các tài liệu đều ghi chữ xa (bộ thạch) chỉ dùng trong cụm danh từ xa cừ 硨磲. KH ghi thêm xa cừ còn viết là 車渠.
昌遮切 xương già thiết (TV, LT, VH, CV)
音車 âm xa (LKTG, CV)
CV ghi cùng vần/bình thanh xa 車 硨
Giọng BK bây giờ là chē (theo pinyin) so với giọng Quảng Đông ce1 và các giọng Mân Nam 客家话:[客英字典] cha1 [台湾四县腔] ca1 [梅县腔] cha1 [海陆丰腔] cha1 潮州话:cia1, tiếng Nhật sha và tiếng Hàn cha.
Tuy nhiên, LM Theurel (Đàng Ngoài, 1877) lại ghi là xà cừ và cũng là cách dùng thông dụng trong tiếng Việt ngày nay – tuy phần giải thích bằng tiếng La Tinh thì chép lại y như tự điển Taberd – xem các hình chụp bên dưới:
Béhaine (1772/1773, sđd)
Taberd (1838, sđd)
Trong quyển Nhật Dụng Thường Đàm, tác giả Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) viết “xa cừ là ốc xa cừ” (xem hình chụp bên dưới) – cũng như tác giả Nguyễn Văn San trong Đại Nam Quốc Ngữ viết “xa cừ ốc xa cừ” với chữ xa viết là xa HV 車, tuy nhiên ngay sau đó lại viết xa bộ ngọc (như Nhật Dụng Thường Đàm, xem hình chụp bên dưới). Các dữ kiện bằng chữ Nôm này cũng cho thấy xa cừ là cách đọc vào cuối TK 18 và đầu TK 19. Khuynh hướng đọc xa cừ thành xà cừ có thể là kết quả của quá trình điều hoà thanh điệu, hay là đồng hoá thanh điệu (tone assimilation/A) trong ngôn ngữ. Một trường hợp nữa ghi trong mục lư của TVL là lư đừ > lừ đừ (tiếng Việt bây giờ, cùng âm điệu). So sánh các kết quả điều hoà thanh điệu như sau
Khiếu[12] nại > kêu nài > kèo nài (cùng âm điệu)
Hắc yên[13] > hắc *in > hắc ín (~ nhựa đường, ín cùng âm điệu với hắc)
Kí Hoà > Kì Hoà (địa danh miền Nam)
câu đáng > câu đang (câu đương)
Huyền Tráng/Tảng > Huyền Trang (pháp sư TQ)
Chúng cư > chung cư (trong cách dùng quần chúng, dân chúng, chúng sinh …)
điền kính[14] > điền kinh (nhưng vẫn dùng đường kính)
Cá *đuôi > cá đuối (cá có đặc điểm là đuôi dài …)
Nước *miệng > nước miếng …v.v…
Nhật Dụng Thường Đàm (sđd) chữ Nôm: xa cừ là ốc xa cừ
Theurel (1877, sđd)
Vallot (Đàng Ngoài, 1898)
Génibrel (Đàng Trong, 1898)
Một điểm đáng chú ý là trong Tam Thiên Tự[15] (Khoảng cuối TK 18) thì ghi xa cừ với chữ Nôm xa viết bằng bộ ngọc hợp với chữ xa 車, còn Ngũ Thiên Tự [16] (khoảng đầu TK 20) ghi xà cừ 蛇渠 cho thấy âm xa đã trở thành xà ngay trong cách dùng chữ Nôm. Điều này phù hợp với các dữ kiện chữ quốc ngữ bên trên.
1.6 Cúng/cung dưỡng
Béhaine (1772/1773, sđd)
Cúng[17] dưỡng đã hiện diện trong TVL (mục dưỡng – xem hình chụp bên trên) và giữ nguyên dạng này trong tự điển của các LM Taberd và Theurel. Cúng dưỡng liên hệ đến cung dưỡng HV 供養, hàm ý phụng dưỡng nuôi nấng đã hiện diện trong các tài liệu Hán cổ như Chiến Quốc Sách, Lễ Kí (Nguyệt Lệnh), sau này mới dùng đặc biệt cho Phật Giáo[18] (td. trong Kinh Hoa Nghiêm) để chỉ hoạt động cúng bái Phật/Pháp/Tăng như hoa quả, ẩm thực …v.v… Bây giờ thì dạng cúng dường phổ thông trong tiếng Việt so với các dạng khác là cúng dàng[19] (Việt Nam Tự Điển, sđd). Dạng cúng dường đã xuất hiện trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895, sđd) của học giả Huỳnh Tịnh Của.
Các biến âm như dàng, dường từ âm HV dưỡng – so với các cách đọc chữ dưỡng HV 養 (thanh mẫu dĩ 以 vận mẫu dương 陽 thượng/khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết
餘兩切 dư lưỡng thiết (TVGT, QV)
余掌切 dư chưởng thiết (NT, TTTH)
餘掌反 dư chưởng phản (NTLQ 玉篇零卷)
以兩切 dĩ lưỡng thiết (TV, LT, VH, CV) – TV ghi thượng thanh
餘亮切 dư lượng thiết (QV, CV)
弋亮切, 音恙 dặc lượng thiết, âm dạng (TV, LT) – TV ghi khứ thanh
TNAV ghi vận bộ/thượng thanh và khứ thanh 江陽 (giang, dương)
CV ghi cùng vần/thượng thanh 養 懩 瀁 癢 (dưỡng)
CV cũng ghi cùng vần/khứ thanh 漾 瀁 羕 恙 養 煬 颺 㨾 (dạng dượng)
Giọng BK bây giờ là yǎng (theo pinyin) so với các giọng Mân Nam 客家话:[沙头角腔] jong1 [梅县腔] jong1 [客英字典] jong3 [陆丰腔] jong1 [海陆丰腔] rong1 rong3 [东莞腔] jong1 [台湾四县腔] jong1 jong3 [宝安腔] jong1 [客语拼音字汇] yong, tiếng Nhật yō và tiếng Hàn yang.
Điều quan trọng từ các dữ kiện ngữ âm trên là dưỡng HV không có khi nào là bình thanh (td. dường, dàng).
Tóm lại, TVL là một nguồn dữ liệu quan trọng cho ta biết ca dao tục ngữ qua dạng chữ quốc ngữ đầu tiên trong tiếng Việt. Ít người biết câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” vào giữa TK 18 lại là “Chí công mài sắt chầy ngày nên kim” (khác biệt[20] khoảng 37.5%), “giả mù sa/ra mưa” từng là “giả mù pha mưa” (khác biệt 25%), “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” từng là “Con công chẳng giống lông thì giống cánh” (khác biệt 44.4%), “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” từng là “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây” (khác biệt 17%) và “xà cừ” từng có dạng nguyên thuỷ là “xa cừ”, “cúng dường” từng có gốc HV là “cung/cúng dưỡng” (khác biệt thanh điệu). Nhờ vào TVL mà ta có các dữ kiện để tra cứu nguồn gốc cách dùng và âm vận một cách chính xác hơn. Đây chỉ là vài trường hợp điển hình cho ta biết được phần nào quá trình biên soạn TVL, phản ánh qua câu “tục ngữ hằng đàm” (mục đàm, TVL) được ghi lại trong chính tài liệu này. TVL là một kết quả giao thoa giữa hai khái niệm tự điển và từ điển. Không những thế, so sánh tiếng Việt trong TVL và các tài liệu sau đó viết bởi LM Béhaine như “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” và tự điển Taberd cho ta thấy sự thay đổi trong cách dùng liên tục (td. ngày Du Minh > ngày Chúa nhật > chủ nhật). LM Taberd cũng thêm các câu tục ngữ vào nguyên bản TVL khi cập nhật như thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi …v.v… Cũng dựa vào TVL, so sánh tiếng Việt trong tự điển Taberd Đàng Trong và Theurel Đàng Ngoài cũng cho thấy khác biệt trong phương ngữ các miền. Ngay cả vào thời LM Béhaine và Taberd, Đàng Trong có câu quen dái dạ, lạ dái áo[21] (TVL mục dái) thì Đàng Ngoài – qua ngòi bút của cụ Philiuphê Bỉnh trong Sách Sổ Sang Chép Các Việc (sđd, trang 159) – có một dạng là quen thì dái dạ, lạ thì dái áo. Hi vọng bài viết nhỏ này gợi ý cho người đọc tìm hiểu và khám phá thêm nhiều kết quả thú vị trong TVL, cũng như cho thấy các đóng góp của tài liệu này – không những từ lăng kính cấu trúc chữ quốc ngữ (khá ổn định từ thời TVL đến nay) – mà từ những góc cạnh khác hơn như văn hoá ngôn ngữ VN vào TK 18/19 – cụ thể là qua các câu ca dao tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt trong TVL. Tuy soạn giả là người CG và do đó có nhiều thuật ngữ CG cổ như sinh thì (qua đời, thuật ngữ CG cổ), Đức Thánh Pha Pha (bây giờ gọi là Đức Giáo Hoàng), Lâm Bô … Nhưng cũng hiện diện nhiều cách dùng PG như A Di Đà Phật, cúng dưỡng, Tây Phương Phật trong TVL… Thành ra, TVL đã cung cấp nhiều dữ kiên quý báo cho lịch sử tiếng Việt cách đây khoảng vài ba thế kỉ.
- Tài liệu tham khảo chính
1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) – Bá Đa Lộc Bỉ Nhu “Dictionarium Annamitico-Latinum” Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM – 1999). Có thể tham khảo bản chép tay trên mạng như archive.org …
“Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” 聖教要理國語 (khoảng 1774) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như pdfcoffee.com …v.v…
2) Philiphê Bỉnh (1822) “Sách Sổ Sang Chép Các Việc” NXB Viện Đại Học Đà Lạt, 1968.
(1822) “Phép Giảng Tám Ngày”, “Truyện nước Anam Đàng trong quyển nhị” … Các tài liệu viết tay của chính tác giả còn lưu trữ trong thư viện tòa thánh La Mã.
3) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” Tome I, II – Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d’Adran (SaiGon) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như vi.wikisource.org …v.v…
4) J. F. M. Génibrel (1898) “Dictionnaire annamite français” Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như archive.org
5) Phạm Đình Hổ (1827) Nhật dụng thường đàm (日用常談) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như nomfoundation.org …v.v…
6) Hội Khai Trí Tiến Đức – ban văn học (1931/1954) “Việt Nam Tự Điển” NXB Trung Bắc Tân Văn (Hà Nội) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như vietnamtudien.org …v.v…
7) Nguyễn Quang Hồng (2015) “Tự điển chữ Nôm dẫn giải” Tập 1 và 2 – NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như nomfoundation.org …
8) Phan Khôi (1954) “Việt ngữ nghiên cứu” NXB Đà Nẵng in lại.
9) Josepho Maria Morrone (khoảng đầu TK 19) “Lexicon Cochin-sinense Latinum” đăng trong cuốn “A Dissertation on the nature and character of the Chinese system of writing” viết bởi nhà ngôn ngữ Mỹ Peter Stephen Du Ponceau (1838), in lại bởi NXB Kessinger Publishing. Kèm thêm bảng từ vựng căn bản có 333 chữ Nôm và chữ quốc ngữ với giải thích về cấu trúc và nghĩa – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như archive.org …v.v…
10) Alexandre de Rhodes (1651) “Phép Giảng Tám Ngày” – Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 – Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như commons.wikimedia.org …v.v…
(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính – NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như books.google.fr …v.v…
“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).
“Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646” dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên – Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).
11) Jean Louis Taberd (1838) – tên Việt là cố Từ – “Dictionarium Annamitico-Latinum” Serampore (Bengale) và cuốn tự điển La Tinh – Việt (1838) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như nomfoundation.org …
12) J. S. Theurel (1877) “Dictionarum Anamitico-Latinum” LM Theurel ghi nhận LM Taberd khởi thảo và ông cố tình ‘bổ sung’ ngay trong cách giới thiệu trang đầu, (td. hàm ý các cách dùng Đàng Ngoài khác với Đàng Trong/NCT) – Ninh Phú (Đàng Ngoài) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như books.google.com.au …v.v…
13) Nguyễn Cung Thông (2021) loạt bài viết như 1. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 1) – Tản mạn về tiếng Việt”, 2. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 2) – Huyền Tráng, Huyền Tảng hay Huyền Trang?” 3. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 3) – tẩm liệm hay tấn/tẫn/tẩn liệm?” 4. “Hiện tượng đồng hoá âm thanh (phần 4) – phong phanh hay phong thanh?” – có thể tham khảo trên trang conggiao.info hay thuvienhoasen.org; “Tiếng Việt thời LM de Rhodes – cách dùng con và cái (phần 14)” – xem bài viết trên mạng như daophatngaynay.com …v.v…
14) Pierre-Gabriel Vallot (1898) “Dictionnaire franco-tonkinois illustré” NXB F.H. Schneider (Hà Nội) – có thể tham khảo tài liệu này trên mạng như archive.org ..
(1905) “Grammaire Annamite à l’Usage Des Français de l’Annam Et Du Tonkin” Imprimeur-Éditeur F. H. Schneider, HaNoi.
Phụ Trương
TVL còn cho ta nhiều dữ kiện về cấu trúc và cách đọc chữ Nôm vào TK 18/19: một trường hợp điển hình cho thấy giặnglà một dạng đọc chữ Nôm của trang HV 庄 – khả năng ngạc hoá của thanh phù công 工, giải thích được phần nào liên hệ giữa không HV 空 và chăng (< *giăng). Xem chi tiết trong bài viết “Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng” (phần 35)” – có thể tham khảo toàn bài trên trang này nghiencuulichsu.com …
Phần Mục Lục (Index) TVL
TVL (Béhaine (1772/1773, sđd)
TVL (Béhaine (1772/1773, sđd)
Nguyễn Cung Thông[22]
[1] Nhất là khi tra các dạng chữ Nôm, chữ quốc ngữ cổ chụp lại không được rõ ràng …v.v… Thành ra nếu đọc được trên màn ảnh (computer screen) có sẵn thì tiện lợi biết bao, đặc biệt là khi phải phóng ra lớn để nhìn các nét viết từ các tài liệu cổ, nét chữ mờ hay phẩm chất kém với thời gian …
[2] Tục ngữ là những câu nói còn lưu truyền trong dân gian (tiếng La Tinh là proverbium ~ lời ví, ngạn ngữ, lời khôn/Taberd), hằng đàm là thường được nói – câu này có ý lặp đi lặp lại (thừa).
[3] chầy có thể liên hệ đến trì HV 遲 cũng như tương quan chỉ – giấy, thị – thấy, thì – giây, thi – thây, phi – bay, quy – quay, si -say, vi – vây (bao vây), khỉ/khởi – gây/gầy (dựng) trì – chầy …v.v… VBL còn ghi cách dùng bao chầy là bao lâu (quandiù La Tinh). Nghĩa của chầy còn vết tích trong thành ngữ chẳng chóng (kíp) thì chầy …
[4] Câu tục ngữ này có thể liên hệ đến thành ngữ HV thiết xử thành châm 鐵杵成針 (tạm dịch/NCT mài sắt thành kim), tương truyền rằng đại thi hào đời Đường Lý Bạch (701-762) bản tính ham chơi, nhân một ngày đi dạo (thật ra là trốn học) ra suối gặp một bà lão đang mài thanh sắt. Ông mới hỏi làm sao và khi nào thì mài thanh sắt trở thành cây kim cho được! Bà lão mới từ tốn trả lời nếu từ từ kiên nhẫn mài thì thanh sắt có ngày sẽ trở thành cây kim. Về nhà suy nghĩ sâu xa hơn, Lý Bạch mới tỉnh ngộ và sau đó học hành chăm chỉ so với trước (ông xuất thân là con nhà khá giả ham làm thơ và ngao du đây đó). Sau nhiều đời tuyền tụng, câu chuyện trên trở thành tục ngữ nổi tiếng thiết xử thành châm. Có tài liệu ghi câu này là thiết xử thành châm 鐵杵成針 và có xuất xứ từ thời nhà Minh, tác giả Trịnh Chi Trân 鄭之珍 (1518-1595) trong tác phẩm Mục Liên Cứu Mẫu … Tham khảo thêm chi tiết trên các trang này chẳng hạn baike.baidu.hk hay dict.idioms.moe.edu.tw …v.v…
[5] Trái chữ Nôm có nhiều dạng, LM Béhaine và Taberd dùng chữ quả 果 hợp với chữ lại 吏 hài thanh, đây là những dạng chữ Nôm hậu kì như trong Dương Từ Hà Mậu, Nhị Độ Mai, Chinh Phụ Ngâm …v.v…
[6] Mục trái của tự điển Theurel Đàng Ngoài chỉ có 4 mục trái (trái cầu, trái cù, trái phá, trái găng).
[7] Trích từ “Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải” (Nguyễn Quang Hồng, 2015 sđd).
[8] Cũng chính đặc điểm này của con công đã làm nhà bác học Charles Darwin mất ăn mất ngủ: tại sao lông/cánh con công ngăn cản hoạt động như chạy hay bay của loài này, nhưng chúng vẫn còn sống cho đến ngày nay? Darwin đề nghị một cách lý giải dựa vào sự chọn lọc tình dục (sexual selection – con mái thích con trống khoe lông/cánh khi xoè ra) thêm vào sự chọn lọc tự nhiên của loài mạnh nhất trong việc đấu tranh sinh tồn.
[9] Xem thêm chi tiết về thể phủ định tiếng Việt trong bài viết (cùng tác giả/NCT) “Tiếng Việt từ TK 17: cách dùng đừng, chẳng khi nào đừng, chẳng có khi đừng (phần 35)” trên trang này chẳng hạn vanviet.info …v.v…
[10] Để ý thêm cách dùng cái chim công như “Khổng tước thật là hiệu cái chim công” trang 173 “Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa” Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải – NXB Văn Học (2016, Hà Nội); “Khổng tước chim công” (Đại Nam Quốc Ngữ, sđd). Điều này cho thấy tục ngữ “con công chẳng giống lông thì giống cánh” qua cách dùng con công có khả năng xuất hiện sau thời Chỉ Nam Ngọc Âm và Việt Bồ La.
[11] Để ý chí công viết chữ Nôm là 志功 chứ không phải là 至公 (chí công ~ rất công bình, cũng như chí thân, chí lý, chí khổ, chí ác …). Đây là một khuyết điểm của chữ quốc ngữ dựa vào các mẫu tự La Tinh/Bồ mang tính chất độc đoán cao (arbitrariness/A).
[12] Khiếu HV 叫 đọc là 吉弔切 cát điếu thiết (ĐV, CV) hay cổ điếu thiết 古弔切 (TV, VH) luôn là thượng thanh.
[13] Yên HV 煙 đọc là ô tiền thiết 烏前切 (ĐV), nhân liên thiêt 因蓮切 (TV, VH) luôn là bình thanh.
[14] 徑 có thể đọc là kính (古定切 cổ định thiết/TV) hay kinh (堅靈切 kiên linh thiết/TV).
[15] “Tam Thiên Tự” Đoàn Trung Còn biên soạn, NXB Văn Hoá Thông Tin (2003, Thành Phố HCM).
[16] “Ngũ Thiên Tự” Vũ Văn Kính, Khổng Đức biên soạn – NXB Văn Hoá Thông Tin (2001 – Thành Phố HCM).
[17]Chữ 供 đọc là cung (居容切 cư dung thiết/TV/VH) nhưng cũng đọc là cúng (居用切 cư dụng thiết/TV/VH).
[18] Tham khảo chi tiết nghĩa của cung dưỡng theo Phật Giáo từ Từ Điển Phật Quang chẳng hạn anphat.org …
[19] Thượng toạ Thích Chân Tính còn cho biết các dạng khác của cúng dường như cúng vườn, cúng giường – xem chi tiết trong bài viết chuahoangphap.com.vn .
[20] Đương nhiên có những cách dùng bây giờ hoàn toàn giống như thời TVL như “tay làm hàm nhai” (mục nhai trong TVL), “gần mực thì đen gần đèn thì sáng” (mục đen trong TVL), “ngựa quen đường cũ” (mục quen) … Hay có những cách dùng không còn thấy ai nhắc tới nữa như “lửa xe nước gáo” (mục lửa) “thần tỉnh mô khán”..
[21] Dái là sợ, e – VBL đã từng ghi nét nghĩa này (timeo La Tinh) cùng với nét nghĩa hòn dái. Nét nghĩa thứ nhất đã không còn dùng nữa trong tiếng Việt hiện đại (chỉ còn bảo lưu qua tục ngữ quen dái dạ, lạ dái áo) so với nét nghĩa thứ nhì.
[22] Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập (Melbourne, Australia) – địa chỉ nguyencungthong@gmaịlcom
2022
Chân lý sẽ giải thoát chúng ta
CHÂN LÝ SẼ GIẢI THOÁT CHÚNG TA
(Bài phát biểu đầu năm học 2022-2003, Đại Chủng Viện Thánh Phanxicô Xaviê)
Năm nay, Ban Đào tạo chọn câu “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8,32) làm châm ngôn sống trong bối cảnh sự giả dối lên ngôi trên mạng, ngoài xã hội và trong lòng người. Chúng ta sẽ khai triển chủ đề này xuyên suốt năm học dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong khuôn khổ ở đây, xin được gợi ý một vài suy tư về châm ngôn liên quan đến nhận thức luận và việc đào tạo linh mục.
Từ những ngụ ngôn
Trong tác phẩm “Cộng Hoà”, Platon có một ngụ ngôn nổi tiếng nhất trong triết học: “The Allegory of the Cave – Ngụ ngôn về cái hang”. Trong đó, có nhiều người sống với nhau và họ không biết gì về thế giới bên ngoài. Họ bị xiềng chân và cổ, nên chỉ có thể nhìn thấy bóng và nghe tiếng con người bên ngoài dội lại từ bức tường. Họ cho rằng những cái bóng đó là thực tại. Cho đến một ngày, có một người đã ra khỏi hang. Lần đầu tiên, anh nhìn thấy trực tiếp vẻ đẹp của vạn vật trong hình dạng đích thực của chúng. Vì lòng trắc ẩn, anh quay trở lại hang động để giúp các bạn mình ra khỏi sai lầm và ngộ nhận. Nhưng họ lại châm chọc anh, rồi nổi giận và cuối cùng âm mưu giết chết anh.
Theo Platon, dân cư trong hang là loài người trước khi biết đến triết học. Chúng ta ít nhiều đều sống trong bóng tối sai lầm, ngộ nhận về chính mình và thế giới. Cuộc sống có nhiều những thứ phù phiếm như những bóng ma, những giá trị ảo mà con người lại theo đuổi, chứ không phải là chân lý khách quan và giá trị thật.
Ở Đông Phương, chúng ta cũng có một ngụ ngôn không kém phần thâm thuý như thế, đó là chuyện “Thầy bói xem voi.” Truyện kể về 5 ông thầy bói rủ nhau xem con voi có hình thù như thế nào. Mỗi ông xem một bộ phận. Ông xem vòi thì bảo con voi sun sun như con đỉa, ông xem ngà bảo con voi giống như cái đòn càn, ông xem tai thì bảo nó giống như cái quạt thóc, ông xem chân bảo nó sừng sững như cái cột đình, còn ông xem đuôi thì bảo nó tun tủn như cái chổi sề cùn. Năm ông cãi nhau, không ông nào chịu nhường ông nào, cuối cùng đánh nhau toạc đầu, chảy máu. Cả năm ông đều sai nhưng lại cho mình là đúng và bác bỏ ý kiến của người khác. Đó chính là thái độ chủ quan, phiến diện và sai lầm trong nhận thức.
Cả hai câu chuyện giúp ta rút ra bài học là: sự vật, hiện tượng bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. Nếu chỉ mới biết một khía cạnh mà đã cho rằng đó là toàn bộ sự vật thì sẽ là sai lầm lớn. Muốn kết luận về một sự vật, thì phải nhìn tổng thể, toàn diện và cần phải lắng nghe ý kiến của người khác, kết hợp với phân tích, đánh giá, tổng hợp để có cái nhìn chính xác và đầy đủ nhất về chân lý.
Vậy chân lý là gì?
Theo Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, đây là một câu hỏi quan trọng, trong đó xoay quanh số phận của cả nhân loại. Chúng ta có thể nhận ra chân lý hay không? Chân lý có thể trở thành tiêu chuẩn cho suy tư và ý chí của chúng ta hay không, dù đó là cá nhân hay trong đời sống xã hội? Đức Bênêđictô XVI than phiền rằng “ngày nay chỉ có chân lý chức năng (functional truth) về con người là được quan tâm và khám phá (như mã di truyền chẳng hạn). Còn chân lý về chính con người: Con người là ai? Từ đâu tới? Điều gì đúng, điều gì sai, thì con người thường tránh né, không muốn giáp mặt như chân lý chức năng.”
Về phương diện nhận thức luận, Thánh Tôma Aquinô có một định nghĩa trở thành quy chuẩn kinh điển từ xưa tới nay: “Chân lý là sự tương hợp giữa hiểu biết và thực tại – adaequatio intellectus et rei.”[1] Nếu lý trí con người phản ánh một sự vật đúng như nó là, lúc ấy con người tìm được chân lý. Nếu chỉ có một phần điều hiện hữu thật sự – thì không phải là chân lý tròn đầy và trọn vẹn.[2] Bởi thế, người ta thường nói: Nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng nửa sự thật thì không phải là sự thật.
Một xác quyết khác của Thánh Tôma có thể giúp chúng ta tiếp cận ý hướng mạc khải của Chúa Giêsu: “Chân lý trong lý trí của Thiên Chúa mang ý nghĩa đích thực và tiên khởi; còn chân lý trong lý trí con người cũng đích thực nhưng thứ yếu. Từ đó giúp chúng ta đi đến công thức cuối cùng: Thiên Chúa là “ipsa summa et prima veritas – là chân lý tối thượng và đầu tiên.”[3]
Nhưng chưa dừng ở đó, Kitô giáo mang đến một sự mới mẻ về phạm trù chân lý. Theo đó, chân lý không chỉ là một ý tưởng, nhưng là một Con Người. Đó là sự mới mẻ đến mức không thể tin nổi, nên dù có đối diện với Chân Lý ấy, Philato vẫn thắc mắc: “Chân lý là gì?” (Ga 18,38). Chân lý ấy là Con Thiên Chúa, nhập thể làm người trong Đức Giêsu Kitô thành Nadarét. Người “là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Người là Chân Lý toàn vẹn về Thiên Chúa và về con người. Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn mạc khải: Chúa Cha sẽ ban Thánh Thần, “Người sẽ dẫn anh em tới Chân Lý toàn vẹn” (Ga 16,13). Vì thế, Đức Bênêđictô XVI khẳng định: “Thiên Chúa đã đi vào thế gian và đã thiết lập tiêu chuẩn chân lý giữa dòng lịch sử”, “nếu con người sống mà không có chân lý thì cuộc sống sẽ trôi dạt và cuối cùng chân lý sẽ thuộc về những ai mạnh thế hơn.”[4] Đồng thời, ngài lên án thuyết duy tương đối (relativisme) đang thống trị não trạng con người thời nay như một thứ độc tài mới mà nhiều người hôm nay chủ trương khi cho rằng, mọi chân lý đều là tương đối, và cũng chẳng có chuẩn mực khách quan nào cả về chân lý. Đức Bênêđictô XVI nói rõ hơn: “Ngày nay, có một lực cản đặc biệt đáng ngại trong việc giáo dục, đó là sự hiện diện rộng khắp của chủ nghĩa tương đối trong xã hội và văn hóa. Chủ nghĩa này không nhìn nhận điều gì là vững vàng, cuối cùng tiêu chuẩn tối thượng duy nhất là cái tôi và những ước muốn của nó. Và ẩn dưới dáng vẻ của tự do, nó lại biến thành ngục tù cho mỗi người vì nó ngăn cách con người với nhau, khóa chặt mỗi người trong cái tôi ích kỷ của mình.”[5]
Sự thật sẽ giải thoát anh em!
Dưới ánh sáng ấy, châm ngôn “Sự thật sẽ giải thoát anh em” áp dụng trong việc đào tạo linh mục.
Thật vậy, việc huấn luyện linh mục là một quá trình với hai giai đoạn Triết – Thần nhằm giúp ứng sinh khám phá chân lý toàn diện, khách quan và đầy đủ nhất về Thiên Chúa, con người và thế giới. Theo Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Veritatis Spendor: “Sự thật soi sáng trí khôn và định hình tự do của con người, dẫn họ đến chỗ nhận biết và yêu mến Chúa.”
Bởi vì Chúa Giêsu Kitô vừa là Chân Lý, vừa là quy chuẩn khách quan của Chân Lý, là mô mẫu lý tưởng của con người, đó là lý do tại sao Ratio của Bộ Giáo Sỹ (2016) trình bày công cuộc đào tạo linh mục trải qua từng giai đoạn tiệm tiến: Giai đoạn triết học là đào tạo ứng sinh trở thành người môn đệ Chúa Kitô qua việc ở với, bước theo Chúa Kitô (Sequela Christi). Giai đoạn thần học đào tạo ứng sinh đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, là Mục Tử và Tôi Tớ, để có thể yêu mến Chúa trên hết mọi sự và dâng hiến đời mình cho tha nhân.
Đào tạo tri thức là giúp các chủng sinh thoát khỏi lối tư duy sai lạc, chủ quan, giảm thiểu, phiến diện và tiêu cực, nhưng càng ngày càng đạt tới khả năng phán đoán và nhận thức thực tại một cách đúng đắn, khách quan, toàn diện và tích cực hơn. Đặc biệt nhờ việc nghiên cứu triết – thần kết hợp với kinh nghiệm thiêng liêng, các chủng sinh được trưởng thành về mặt nhận thức luận để họ “biết và hiểu cơ cấu nội tại của đức tin trong toàn thể, để đức tin trở thành câu trả lời cho những thắc mắc của con người hôm nay.”[6]
Hoán cải trí tuệ
Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng, một đàng, con người có khả năng nhận biết chân lý. Đây là phẩm giá cao quý nhất mà Thiên Chúa phú bẩm cho con người. Lý trí là đặc điểm phân biệt con người với con vật. Nhưng đàng khác, con người có thể sai lầm trong việc nhận thức. Phải thành thật khiêm tốn mà nhận rằng, chúng ta thường chỉ là những người “còn ở trong hang động”, chỉ là “thầy bói xem voi.” Bởi lẽ, thực tại được nhận thức qua khả năng, lăng kính và thái độ của mỗi người. Nên nó được dội lại và phản ánh theo “thế giới nhận thức, cảm xúc và thái độ đón nhận ấy của tôi.” Ta gọi đó là “trí tuệ cảm xúc.” Khi ta thích, ta yêu, mọi sự ta cho là tốt. Khi ta không thích, mọi sự là xấu. Nên sự thật có thể bị bóp méo, bị uốn cong hay giảm thiểu theo ý riêng của từng người. Đó là hiện tượng thiếu “lương thiện” trong nhận thức. Bởi thế, nhà thần học Bernard Lonergan nói đến việc “hoán cải về trí tuệ – the intellectual conversion,” nghĩa là phải luôn đổi mới tận căn tư duy, nếp nghĩ của bản thân, để luôn biết mở ra với chân lý khách quan tự thân (important in se) và giá trị đích thật, hơn là chỉ dựa theo những gì là “quan trọng đối với tôi” (important for me) hay dựa theo tiêu chuẩn “mình thích.” Hoa quả của cuộc hoán cải này là “đạt tới thái độ đúng đắn và lượng giá một cách khách quan, chính xác các sự việc trong cuộc sống.”
Để đổi mới tư duy, ở đây, chúng ta cần phân biệt các loại tư duy:
1) Tư duy không tư duy, nghĩa là người có não mà không suy tư, không chính kiến, chỉ dựa vào tư duy người khác. Người ta nghĩ sao mình nghĩ vậy.
2) Tư duy kinh nghiệm, nghĩa là người tư duy, tìm được nguyên lý nhờ trải qua những kinh nghiệm cuộc sống. Tư duy kinh nghiệm có giá trị của nó nhưng trước những biến mới thì kinh nghiệm không giúp được nhiều, vì chưa trải qua, nên tư duy kinh nghiệm thôi chưa đủ.
3) Tư duy khoa học là tư duy có sự chính xác, khách quan và tính chuyên môn cao nhờ nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi.
4) Tư duy độc đáo là tư duy dựa trên logic khoa học và sự sáng tạo của bản thân. Người nắm nguyên lý khoa học và biết áp dụng vào cuộc sống với sự sáng tạo của mình, tạo nên sự mới mẻ, đột phá, độc lập và khác biệt. Nếu muốn tạo sự khác biệt mà không có tư duy khoa học, không nắm nguyên lý, sẽ trở nên dị biệt. Xu thế thời đại hôm nay đề cao lối tư duy độc đáo này. Người Nhật nói rằng: “Khác biệt hay là chết.” Bởi thế, người ta buộc phải thay đổi liên tục về tư duy, ý tưởng, sản phẩm và lối tiếp cận…
Và nhận ra sự thật bản thân
Thứ đến, châm ngôn “Sự thật sẽ giải thoát anh em” cũng giúp chúng ta khám phá sự thật bản thân để được tự do.
Thật vậy, mỗi ứng sinh là huyền nhiệm đối với chính mình. Hành trình huấn luyện được bắt đầu từ khi ứng sinh biết khám phá sự thật về chính mình. Một đàng, mỗi người được sáng tạo và phú bẩm với rất nhiều khả năng và tiềm năng cần phát triển. Đàng khác, con người là giới hạn, bất nhất và mù loà về chính mình cần khám phá để đổi thay. “Errare humanum est!”
Đào tạo là giúp ứng sinh khám phá, đưa ra ánh sáng sự thật về chính mình, biết mình mỗi ngày một hơn: từ hành vi, thái độ, tình cảm, khuynh hướng, khả năng, tiềm năng, tính tình, nhu cầu, động lực bên trong, những giới hạn, sự bất nhất và những xung đột, những vùng mù tối bên trong. Nhờ ánh sáng của Lời Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần cùng với sự trợ giúp của các nhà đào tạo, các chủng sinh đưa ra ánh sáng sự thật về mình, nhận diện sự thật ấy để được uốn nắn và biến đổi bản thân.
Theo Cha Cencini, biết mình một cách chân thành thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết mình một cách chính xác, khách quan và toàn diện, không trốn tránh, không giả vờ, không phỏng chiếu, không đeo mặt nạ với mình. Chỉ có khi nào ta ở trong sự thật, ta mới có thể thực hiện cuộc hành trình huấn luyện.
Theo Cha James E. Sullivan trong cuốn “Hành Trình Tự Do”,[7] ta không được tự do bởi vì nhiều chứng ngoại vật bên trong và bên ngoài như cơ chế tự vệ, lăng kính nhận thức và cảm xúc của ta… Chúng giam hãm ta trong sự sai lầm, định kiến và nô lệ. Nếu ta có nhận ra sự thật về chính mình, thì chẳng qua chỉ là những ‘thứ tạp nham về mình,” là những biến dạng được tạo ra do hệ thống nhận thức và những lăng kính lệch lạc ấy của mình. Nên ta thường sợ đối diện với sự thật về chính mình. Vì sự thật thì trần trụi. Sự thật thì mất lòng. Sự thật có thể gây tổn thương. Câu chuyện nguyên tổ loài người sa ngã diễn tả điều đó: Ađam và Evà sau khi khi phạm tội, khám phá ra mình trần trụi và trống rỗng trước nhan Thiên Chúa, nên họ tìm cách chạy trốn chính mình, đổ lỗi cho người khác và lấy lá để che thân (x. St 3,1-14). Đó là thái độ trốn tránh tiêu biểu của con người mọi thời khi đối diện với sự thật.
Nhưng để có sự trưởng thành và tự do đích thực, ta phải tìm cách loại bỏ những lăng kính, định kiến và sự cố thủ riêng, và hãy buông mình cho Chúa Thánh Thần. Bấy giờ, ta có thể nhận biết con người và sự vật đúng theo thực chất của con người và sự vật ấy, và chỉ lúc đó, sự thật dẫn đưa ta tới tự do. Vậy, hãy can đảm đón nhận sự thật về mình. Hãy mở ra với chân lý khách quan, các giá trị thật và nội tâm hoá chúng để được biến đổi, tự do và trở nên con người mới trong Đức Kitô. Ước gì được như vậy trong năm học mới này!
[1] Tôma Aquinô, Summa Theologia, I q. 21 a. 2c.
[2] Joseph Ratzinger – Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Đức Giêsu thành Nadarét, Phần II, Từ lúc vào Giêrusalem cho đến phục sinh, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội 2011, 233-234. 236.
[3] Ibidem. Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologia, Iq 16 a. 5c
[4] Ibidem.
[5] Ibidem.
[6] Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Thư gửi các chủng sinh, 2010.
[7] x. James E. Sullivan, Hành trình tự do. Con đường tự trọng của linh mục và tu sĩ, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội 2013.
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
