Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
21Tháng Năm
2023

Một Giáo hội Mỏng Giòn, Vượt Qua và Hiệp Hành – Bức Tranh Thần học về Giáo hội ở Châu Á hậu Covid

21/05/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Một Giáo hội Mỏng Giòn, Vượt Qua và Hiệp Hành – Bức Tranh Thần học về Giáo hội ở Châu Á hậu Covid

 

Hình Đức Hồng y Charles Bo tặng quà lưu niệm cho Linh mục Nguyễn Hai Tính SJ và Đức Giám mục Gerald Matthias tại Đại hội FABC 50, ngày 17.10.2022

“Chúa… đã tạo cho con một thân thể” (Hr 10,5)

MỘT GIÁO HỘI MỎNG GIÒN, VƯỢT QUA VÀ HIỆP HÀNH – BỨC TRANH THẦN HỌC VỀ GIÁO HỘI Ở CHÂU Á HẬU COVID

(Bài trình bày trước Đại hội của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu – FABC 50, ngày 17.10.2022)

Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Hai Tính, S.J.

Đại dịch Covid-19 đã để lại một số hậu chứng trên cá nhân và xã hội chúng ta, chắc hẳn Giáo hội ở Châu Á cũng không phải ngoại lệ. Trong bài này, chúng ta cùng nhìn vào thực trạng Giáo hội hậu Covid, nhưng từ quan điểm thần học. Nói cách khác, chúng ta thử trả lời câu hỏi đâu là những ảnh hưởng của đại dịch trên Giáo hội, xét trong tương quan với Thiên Chúa, cụ thể là với Đức Kitô và Thần Khí, cũng như xét trong tương quan với nhân loại như là con cái Thiên Chúa.

Trong khi tìm cách vẽ bức tranh về Giáo hội Á Châu hậu đại dịch Covid-19, chúng ta nhìn Giáo hội bằng con mắt của người trong cuộc và của những người đã cùng trải qua cơn đại dịch với mọi con dân Châu Á. Như thế, chúng ta sẽ mô tả Giáo hội như “người đồng hành” cùng với các dân tộc Á Châu trong hành trình lịch sử đương đại.

Với tâm thế đó, chúng ta có thể khám phá một chân dung Giáo hội Á Châu theo mẫu hình Đức Kitô, Đấng nhận lấy “một thân thể”, tức là hiện hữu nhân sinh, trong mầu nhiệm Làm Người (x. Hr 10,5). Chân dung này không chỉ giúp chúng ta biết mình là ai và đang ở đâu trong lịch sử, mà còn mời gọi chúng ta hoán cải để thể hiện chân dung ấy cách chân thực hơn. Quả thế, thư gởi tín hữu Hipri mô tả Đức Kitô, khi làm người, đã ý thức “thân thể”, hay hiện hữu nhân sinh của mình do Thiên Chúa ban tặng là phương thế hay cách thức Ngài hoàn thành Ý muốn của Thiên Chúa. Bằng cách đón nhận hiện hữu nhân sinh, Đức Kitô trở nên một trong chúng ta và đồng hành với chúng ta trong lịch sử thế giới. Bằng cách đối lập “thân thể” này với các hy tế của Lề Luật, thư Hipri nhấn mạnh giá trị cứu độ của “thân thể” này, mà Đức Kitô dâng hiến cách vâng phục như hy tế dâng lên Thiên Chúa (x. Hr 10,4-10)[1]. Như thế, theo thư Hipri, Đức Kitô hoàn thành Ý muốn Thiên Chúa và cứu độ chúng ta bằng cách làm người, tức mang lấy một “thân thể”, vốn có thể dâng lên làm hy tế vâng phục. Nói cách khác, Ngài mang lấy một “thân thể” mỏng giòn, “phơi nhiễm” trước đau khổ và sự chết; đỉnh cao của sự “mỏng giòn” ấy được thể hiện trên Thập giá. Dựa trên ý nghĩa của “thân thể” Đức Kitô, như là một hiện hữu mỏng giòn, như là sự chuẩn bị cho mầu nhiệm Vượt Qua, và như phương thế để Thiên Chúa đồng hành với nhân loại trong lịch sử, chúng ta có thể trình bày chân dung Giáo hội hậu đại dịch bằng ba nét chính sau: thân thể tính mỏng giòn, sự vượt qua và tính hiệp hành.

Video thuyết trình của Đức Giám mục Gerald Matthias và Linh mục Nguyễn Hai Tính SJ tại Đại hội FABC 50, ngày 17.10.2022

  1. Thân thể tính mỏng giòn – một Giáo hội của mầu nhiệm Làm Người

Như Đức Kitô có một “thân thể”, Giáo hội với tư cách là Nhiệm Thể Đức Kitô trên trần gian, cũng mang nét thân thể tính, mỏng giòn trước các thay đổi của lịch sử, của khổ đau, cái chết và ngay  cả tội lỗi. Thân thể tính này được biểu lộ rõ nét trong suốt đại dịch Covid-19. Đại dịch Covid-19 nhắc nhở toàn nhân loại về tính mỏng giòn của mình, nó cũng phơi bày rõ nét thân thể tính của Giáo hội. Thân thể tính của Giáo hội có thể mang nhiều ý nghĩa, nhưng ở đây chúng ta có thể kể ra ba nghĩa thể chế, con người và luân lý. Về mặt thể chế, thân thể tính ám chỉ tới các yếu tố hữu hình của Giáo hội (x. Lumen Gentium, 8) vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch. Về mặt con người, thân thể tính có thể chỉ về người nghèo, vốn là những người bị ảnh hưởng nặng nền nhất bởi đại dịch[2]. Chúng ta thường nghĩ về “người nghèo” như đám đông không rõ khuôn mặt, đại dịch nhắc nhở chúng ta không nghĩ về họ như những con số thống kê, nhưng như những con người thật, có mặt có tên như Lazaro (x. Lc 16, 20). Cuối cùng, về mặt luân lý, thân thể tính chỉ về việc Giáo hội ôm ấp những tội nhân như chúng ta, những người đã góp phần làm cho đại dịch thành “nhân tai” và trầm trọng hơn. Quả thế, đại dịch Covid-19 không chỉ là thiên tai mà còn là kết quả của việc chúng ta bóc lột thiên nhiên thái quá; đại dịch cũng trở nên trầm trọng hơn do lòng tham, sự sợ hãi, sự vô tâm, tâm thế cá nhân chủ nghĩa và cơ hội chủ nghĩa của chúng ta.

Do đó, có thể nói rằng chân dung Giáo hội Á Châu hậu đại dịch nổi rõ nét vẽ của đau khổ[3], vốn vừa là hậu quả của tội vừa là cơ hội của ân sủng. Đại dịch đã để lại vết thương sâu xa trên thân xác, tâm trí và tinh thần người dân Châu Á, mà không phải lúc nào vết thương đó cũng được nhận ra. Cùng đau khổ với mọi người dân Châu Á, Giáo hội sống thân thể tính của mình, ít nhất theo ba cách sau:

Giáo hội tại Châu Á ý thức rằng với tư cách là một thực thể tại thế, Giáo hội cũng “phơi nhiễm” trước những biến động lịch sử, rằng các yếu tố hữu hình của Giáo hội có thể bị tác động và phải thay đổi tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử, để đáp ứng nhu cầu con người, vốn luôn biến đổi theo thời gian. Các dân tộc Á Châu, vốn đặt nặng lối sống cộng đồng, đã bị ảnh hưởng rất nhiều từ đại dịch khi mà các sinh hoạt cộng đồng xã hội bị ngưng trệ.

Giáo hội tại Châu Á cũng ý thức rằng, trong cung lòng mình hay liên hệ với mình, người nghèo của Thiên Chúa là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi đại dịch. Chính họ, những người nghèo đau khổ là thân thể đích thực của Đức Kitô (x. Mt 25) và là đại diện chân thực nhất của Giáo hội, vì họ thuộc về cốt lõi của căn tính và hiện hữu của Giáo hội. Hiện diện ở Châu Á, lục địa có nhiều người nghèo nhất, Giáo hội cảm nhận nỗi đau của người nghèo như nỗi đau của chính mình và ý thức rõ nét hơn mình là Giáo hội của những người nghèo thế nào.

Giáo hội cũng ý thức rằng tội lỗi của con cái mình góp phần làm cho đại dịch trở nên trầm trọng hơn. Đại dịch đã không chỉ biến chúng ta thành nạn nhân mà còn phơi bày tội lỗi xấu xa của chúng ta, trong tư cách cá nhân và tập thể. Hiện diện ở Châu Á, với nhiều quốc gia mang tiếng vì nạn tham nhũng và bóc lột người nghèo, ngay cả khi đại dịch đang diễn ra, thành viên Giáo hội cần tự nhắc nhở rằng mình là tội nhân cần được tha thứ, sám hối và hoán cải. Với tư cách là thừa tác viên của Giáo hội, chính chúng ta đã không chỉ ngăn cản mà còn đẩy anh chị em chúng ta xa khỏi vòng tay yêu thương tha thứ của Mẹ Giáo hội. Trong tâm trí chúng ta, trong những quy chuẩn và cấu trúc xã hội chúng ta luôn tồn tại một loại “virus” của ích kỷ, dửng dưng và bóc lột, mà Covid-19 chỉ là chất xúc tác làm cho nó mạnh hơn[4]. Vì thế, Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch, dựa vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa không chỉ sám hối mà còn hoán cải bằng cách thực hiện những phương cách ngăn chặn để những “đại dịch” về đạo đức như thế không xảy ra nữa.

Tóm lại, Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch sống mầu nhiệm Làm Người bằng cách ý thức và thừa nhận thân thể tính của mình, vốn mỏng giòn trước đau khổ và các biến động lịch sử. Sống thân thể tính này và cùng đau khổ với nhân loại, Giáo hội sống căn tính đích thực của mình không chỉ như là thực tại đến từ Thiên Chúa mà còn là Giáo hội hiện hữu trong thế giới và cho thế giới (x. Gaudium et Spes, 1).

  1. Vượt qua từ đau khổ tới chữa lành – một Giáo hội của mầu nhiệm Vượt Qua

Công cuộc Làm Người của Đức Kitô liên hệ chặt chẽ và hướng về mầu nhiệm Vượt Qua như là đỉnh điểm và sự hoàn thành của mình[5]. Tương tự, thân thể tính mỏng giòn của Giáo hội Á Châu  chỉ có ý nghĩa và giá trị đích thực khi được nhìn trong ánh sáng mầu nhiệm Thập Giá và sự Phục Sinh của Đức Kitô (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, 618). Giáo hội trải qua đại dịch không chỉ như một trong số những tai hoạ của lịch sử mà còn như một trải nghiệm cụ thể của mầu nhiệm Vượt Qua.

Đức Kitô, với “thân thể” của mình, đã có thể mang lấy tội lỗi, bệnh tật của nhân loại và chữa lành họ (x. 1Pr 2,24). Cũng thế, thân thể tính mỏng giòn là cơ hội và phương thế để Giáo hội sống mầu nhiệm Vượt Qua của Đầu của mình. Quả thế, các trải nghiệm chúng ta có trong đại dịch mang đầy đủ những nét của kinh nghiệm Thập Giá và Phục Sinh của Đức Kitô. Thực tế, rất nhiều người, đặc biệt là những người nghèo khổ, đã sống mầu nhiệm ấy cách anh hùng trong suốt đại dịch[6]. Giáo hội hậu đại dịch vẫn mang và cần duy trì dấu ấn không phai nhòa của Mầu nhiệm Vượt Qua ấy.

Như người tôi tớ đau khổ, âm thầm mang lấy tội của người khác mà không mở lời than trách (x. Is 52,13–53,12), nhiều người, ngay cả những tội nhân như chúng ta, đã chịu đau khổ cách vô cớ mà không lên tiếng than trách bất kỳ ai khác. Đây vẫn còn là hoàn cảnh hiện tại khi mà cuộc chiến vô cớ ở Ukraina đang diễn ra. Bao người dân vô tội trên toàn thế giới vẫn đang âm thầm chịu đựng những khó khăn và đau khổ do cuộc chiến gây ra, chỉ vì tham vọng ích kỷ của một số ít người. Những đau khổ bất công vô cớ này sẽ vô nghĩa và vô ích nếu không được trải nghiệm dưới ánh sáng của Thập giá Đức Kitô. Chính ở đây chúng ta thấy vai trò của Giáo hội đối với thế giới: Giáo hội hiện hữu để cùng trải qua những thăng trầm, cùng đau khổ với thế giới, nhưng cũng để chiếu ánh sáng ý nghĩa vào những trải nghiệm đen tối của thế giới đau khổ. Giáo hội là và nên là Giáo hội của mầu nhiệm Vượt Qua. Chỉ Đức Kitô, Đấng âm thầm chịu những đau khổ vô cớ và bất công, nhưng với tình yêu dành cho Chúa Cha và toàn nhân loại, chỉ Ngài mới có thể mang lại cho chúng ta ánh sáng của ý nghĩa, của hy vọng và của sự sống. Nhìn lên Đức Kitô trên Thập giá, Giáo hội hậu đại dịch không chỉ ý thức những đau khổ và tội lỗi của con cái mình, nhưng còn đảm nhận thân thể tính mỏng giòn của mình cách vâng phục và với tình yêu. Cái “nhìn” này, vốn là thái độ đức tin nội tâm, là bước đầu tiên quan trọng hướng tới chữa lành và cứu độ (x. Ga 3,14-15; Ds 21,8-9), trước khi chúng ta bàn về các phân tích và kế hoạch mang tính khoa học, xã hội hay mục vụ. Việc nhấn mạnh mầu nhiệm Vượt Qua rất phù hợp với người dân Châu Á, nhiều người trong số họ rất sùng kính các cử hành Tuần Thánh và linh đạo Thập Giá[7]. Hơn nữa, nhiều người, nếu không muốn nói là đa số người dân Châu Á đang sống mầu nhiệm Vượt Qua trong suốt lịch sử bị bách hại hay đàn áp của họ, trong quá khứ cũng như hiện tại. Tinh thần của mầu nhiệm Vượt Qua đã ở trong xương máu họ.

Tuy nhiên, đại dịch không chỉ gợi lên đau khổ và tội lỗi, mà còn là khoảnh khắc của ân sủng; nó đưa ra những cơ hội chứ không chỉ thách đố; nó đã gây tổn thương cho chúng ta nhưng cũng làm chúng ta mạnh mẽ hơn cả về mặt thể lý, xã hội, luân lý và đức tin. Thực tại Phục Sinh đã được thể hiện trong suốt đại dịch và sau đó. Đức Kitô Phục Sinh và Thần Khí của Ngài hoạt động mạnh mẽ nơi những người hy sinh ích lợi cá nhân để phục vụ người khác, nơi những sáng tạo, liên đới và biến đổi trong nhiều khía cạnh của đời sống cá nhân và xã hội[8]. Giáo hội hậu đại dịch đã vượt qua đại dịch dưới cờ của Đấng Phục Sinh và vẫn cần giữ Tinh Thần Phục Sinh của Ngài sống động trong đời sống và hoạt động của mình. Một cách thực tiễn, điều này có nghĩa canh tân phụng vụ, hoạt động mục vụ, tổ chức và các yếu tố hữu hình khác của Giáo hội, sao cho Giáo hội luôn có thể đáp ứng các nhu cầu luôn thay đổi của con người. Sống tinh thần Phục Sinh cũng có nghĩa quan tâm hơn tới người nghèo, không chỉ loan báo Tin Mừng cho họ bằng lời nói mà còn hỗ trợ thực tế để họ có đời sống tốt đẹp hơn. Cuối cùng, sống tinh thần Phục Sinh còn có nghĩa bức gốc tội lỗi nơi con cái của Giáo hội, bằng cách thay đổi lòng (meta-noia) và thay đổi lối sống, chống lại tinh thần và lối sống thế gian.

Đức Kitô Phục Sinh, khi hiện ra với các môn đệ, dù vẫn mang những vết thương của Thập giá, mang đến cho họ bình an, hiệp nhất, tha thứ, chữa lành ,v.v… (x. Ga 20,24-29). Ngài mang đến ơn cứu độ dưới nhiều dạng thức khác nhau, tương ứng với nhu cầu đa dạng của những con người khác nhau. Tương tự, Giáo hội hậu đại dịch, dù vẫn mang nơi mình những hậu quả của đại dịch, luôn khao khát mang đến cho con người sự chữa lành toàn diện phát xuất từ Thiên Chúa nơi Đức Kitô và Thần Khí của Ngài. Sự chữa lành toàn diện này bao gồm mọi chiều kích thiêng liêng, luân lý, xã hội, thể lý và vũ trụ.

Tóm lại, sống trong đại dịch, Giáo hội tại Châu Á sống mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô; vượt qua đại dịch, cả theo nghĩa đen và nghĩa thiêng liêng, Giáo hội được chữa lành và trở nên sống động hơn nhờ Thần Khí của Đấng Phục Sinh. Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch có thể tiếp tục sống mầu nhiệm Vượt Qua bằng cái nhìn đức tin hướng lên Thập Giá, đảm nhận những đau khổ bằng Tinh Thần vâng phục và yêu thương mà Đức Kitô dành cho Thiên Chúa và nhân loại. Giáo hội tiếp tục để Tinh Thần này làm cho mình sống động bằng nỗ lực liên tục canh tân chính mình nhằm mang lại sự chữa lành toàn diện cho nhân loại.

  1. Hiệp hành – một Giáo hội của mầu nhiệm Hiện Xuống

Đại dịch cho thấy chúng ta liên hệ với nhau thế nào, cả về thể lý, tâm lý lẫn xã hội và lịch sử, rằng không ai có thể được cứu đến khi tất cả được cứu. Từ đại dịch, nhân loại đã học bài học liên đới và đã có nhiều nghĩa cử cao đẹp ở mọi cấp độ cá nhân, cộng đoàn, quốc gia và quốc tế[9]. Giáo hội hậu đại dịch có thể tham gia và đồng hành với nhiều người thiện chí trong nỗ lực liên đới này, và hiệp hành là phương thế thức thời để làm việc này.

Với “thân thể” mình, Đức Kitô hiện diện giữa chúng ta, nhưng sự hiện diện thể lý của Ngài dẫn đưa chúng ta đến một thể thức hiện diện khác của Ngài, mang tính thiêng liêng, vốn đạt đỉnh cao nơi sự Phục Sinh và việc trao ban Thần Khí của Đấng Phục Sinh. Điều này diễn ra rõ nét trong ngày Lễ Ngũ Tuần, khi Thần Khí hiện xuống trên các môn đệ Đức Kitô. Đây cũng là kinh nghiệm của chúng ta ngày nay về sự hiện diện của Ngài. Chúng ta có thể xem xét ba đặc tính của mầu nhiệm Hiện Xuống, có thể áp dụng cho tiến trình hiệp hành mà Giáo hội đang tiến hành: hiện diện, hướng tha và thúc bách.

Trước hết, đặc tính hiện diện: Khi đón nhận Thần Khí của Đấng Phục Sinh vào ngày Lễ Ngũ Tuần, các tông đồ không còn giam hãm mình trong sợ hãi nữa. Cảm nhận thế giới là nhà, họ lao ra khỏi phòng kín và lao vào thế giới để gặp gỡ con người thuộc các văn hóa khác nhau, nói với họ về Tin Mừng theo cách mà họ hiểu được (x. Cv 2,1-11). Hiệp hành không chỉ là lên kế hoạch và làm việc chung với nhau, không chỉ là chia sẻ cái “có” và cái “làm” của nhau, mà trước hết là tham dự vào cái “là” của nhau. Hiệp hành trước hết đến từ việc thưởng ngoạn sự hiện diện của nhau cách tự nhiên, với niềm vui và tình yêu, từ việc lắng nghe nhau cách sâu xa và thấu cảm, từ việc đồng hành với nhau trong niềm vui nỗi buồn của cuộc sống, v.v… Như thế, hiệp hành chỉ về cái “là” của mầu nhiệm Giáo hội, chứ không chỉ nói lên điều Giáo hội phải “làm”; hiệp hành thuộc về chính bản chất của Giáo hội chứ không chỉ là đặc nét trong cách Giáo hội quản trị và thi hành sứ vụ. Các trải nghiệm trong đại dịch đã dạy và chuẩn bị chúng ta cho một sự hiệp hành chặt chẽ hơn với toàn nhân loại, Giáo hội hậu đại dịch được mời gọi tiếp tục tinh thần đó.

Thứ hai, đặc tính hướng tha: Có thể nói rằng, các môn đệ   Đức Kitô đón nhận Thần Khí không chỉ khi đang tụ họp trong nhà (x. Cv 2,2-4), mà còn trong khi họ gặp gỡ con người và rao giảng Tin Mừng cho họ (x. Cv 2,5tt). Tương tự, tinh thần hiệp hành mời gọi chúng ta hướng về người khác, hiện diện, đồng hành và rao giảng Tin Mừng cho họ. Khi nói về “người khác”, ba “đối tác” có thể được nhấn mạnh trong tiến trình hiệp hành của Giáo hội tại Châu Á. Trước tiên, hiệp hành cần được tiến hành từ cấp độ căn bản nhất là gia đình, vốn có thể được gọi là “Giáo hội tại gia” (LG 11); nói cách khác, Giáo hội cần hiệp hành ngay ở cấp độ tại gia của mình. Các gia đình đã trải qua đại dịch với những mất mát và hồi sinh riêng của mình[10]. Một trong những nét thiết yếu của Giáo hội tại gia là khả năng hình thành một mái ấm, một cộng đoàn những ngôi vị yêu thương, đối thoại với nhau (x. Familiaris Consortio, 18), chứ không chỉ là nơi trú ngụ của những cá nhân. Tiến trình hiệp hành mời gọi Giáo hội hậu đại dịch đặc biệt chú trọng mục vụ chăm sóc gia đình. Cùng với đó là mục vụ giới trẻ, những người mà tương lai của họ là một tình trạng “bình thường mới” vốn không thể bình thường lại như xưa. Xét rằng Châu Á là lục địa đông người trẻ và rằng tinh thần đặt nặng các giá trị gia đình của người Châu Á đang bị thách đố mạnh mẽ bởi chủ nghĩa toàn cầu hoá, hiệp hành ở cấp độ gia đình và người trẻ có thể là một trong những điểm nhấn của Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch.

Thứ đến, Giáo hội cũng có thể sống tinh thần hiệp hành với những người ngoài biên giới hữu hình của mình, những người thuộc tôn giáo khác, những người thiện chí, v.v… Với “thân thể” mình, Đức Kitô đã tham dự vào lịch sử và các điều kiện nhân sinh khác của chúng ta. Theo nhiều nghĩa, Ngài dựa vào chúng ta và lịch sử chúng ta để hoàn thành hiện hữu và sứ mạng mình. Mang lấy hiện hữu nhân sinh, Đức Kitô suy nghĩ và làm việc theo cách chúng ta suy nghĩ và làm việc; Ngài học cách vâng phục Cha, tức là thực hiện cái “là” của mình như là Con Thiên Chúa, bằng cách chịu đau khổ nơi “thân thể” Ngài (x. Hr 5,8). Tương tự, Giáo hội tại Châu Á có thể trở nên chính mình bằng cách học vâng phục trong những biến động của lịch sử nhân loại. Như Đức Kitô, Giáo hội dựa vào con người để hoàn thành hiện hữu và sứ mạng mình. Xét rằng người Công giáo chỉ là thiểu số nhỏ ở Châu Á, dạng thức hiệp hành này càng trở nên cấp bách và cần thiết hơn lúc nào hết đối với Giáo hội hậu đại dịch.

Cuối cùng, hiệp hành cũng có thể áp dụng cho mối tương quan của chúng ta với vũ trụ và thiên nhiên. Dù tác động trên mọi khía cạnh đời sống con người, đại dịch Covid-19 được cảm nhận trước hết như là cuộc tấn công vào thân xác chúng ta, vốn là một phần của “một toàn thể, mà toàn thể đó cấu thành sự hiệp nhất của toàn bộ vũ trụ vật chất”[11]. Nói cách khác, thân xác là cách thức chúng ta sống mối tương quan thuộc về vũ trụ và thiên nhiên. Tấn công vào thân xác chúng ta, đại dịch cho thấy sự xung khắc giữa chúng ta và thiên nhiên; nó dạy chúng ta bài học cay đắng rằng phá hủy thiên nhiên là phá hủy chính mình. Hiện diện với thiên nhiên, thưởng ngoạn   sự hiện hữu của nó, lắng nghe “tiếng rên xiết và quằn quại” của nó (x. Rm 8,22), đồng hành với nó trong những thay đổi và tiến hóa của nó, v.v… đó chỉ là một vài trong nhiều cách thức chúng ta có thể làm để hiện thực hóa hiệp hành với thiên nhiên. Đã từ lâu chúng ta được mời gọi quan niệm việc “làm chủ thiên nhiên” (x. St 1,26.28) không như mối tương quan một chiều, sử dụng thiên nhiên nữa, mà như cùng “nhảy múa” với thiên nhiên theo nhịp điệu của Ba Ngôi[12]. Xét rằng người dân Châu Á có mối tương quan rất đặc thù với thiên nhiên – vừa chìm đắm trong thiên nhiên vừa phá hoại thiên nhiên tàn bạo – Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch được mời gọi chú trọng cấp độ này của tiến trình hiệp hành.

Đặc tính thứ ba của hiệp hành, thúc bách: Trong biến cố Hiện Xuống, chúng ta nhận thấy trong tâm trí các môn đệ Đức Kitô có một cảm thức thúc bách, tương tự như điều thánh Phaolô diễn tả sau này (x. 2Cr 5,14). Sau khi nhận Thần Khí, họ tức khắc bắt đầu nói các thứ tiếng mà Thần Khí làm cho họ có thể nói (x. Cv 2,4); các hoạt động truyền giáo của họ sau này cũng cho thấy cảm thức thúc bách đó. Tương tự, tiến trình hiệp hành không hề là một cuộc tụ họp vui chơi của những người thích tận hưởng những thú vui hời hợt, nhưng hiệp hành gợi lên một cảm thức cấp bách nơi chúng ta. Người ta hay mô tả tình hình hậu đại dịch như là “bình thường mới”, bởi lẽ cuộc sống trong tình huống “khẩn cấp” rất dễ gây căng thẳng và chỉ có thể tiếp diễn trong một tình huống “bình thường”. Âu cũng là lẽ thường tình, chúng ta có khuynh hướng muốn cuộc sống trở lại bình thường. Tuy nhiên, đại dịch cũng cảnh báo chúng ta về tình huống “khẩn cấp” về nhiều mặt của nhân loại, để chúng ta không tự mãn phớt lờ các vấn đề và cho rằng mọi thứ vẫn diễn tiến bình thường. Tin Mừng cũng mời gọi chúng ta tránh lối sống ỷ y, tự mãn hay hưởng thụ như thể thế giới đang trong trạng thái bình thường (x. Lc 12,16-20) mà cần phải sống như trong tình huống cấp bách, vì thế giới này đang qua đi và Đức Kitô sắp đến rồi (x. 1Cr 7,29-31). Tính thúc bách của Tin Mừng mời gọi chúng ta xác quyết sâu xa về căn tính Kitô hữu, sẵn sàng tìm mọi cách dấn thân, sẵn sàng chịu cực khổ để loan truyền chân lý và giá trị Phúc Âm, cũng như sẵn sàng hy sinh thân mình cho Thiên Chúa và cho anh chị em đồng loại, v.v… Châu Á, lục địa đông dân nhưng với tỉ lệ Kitô hữu nhỏ bé, gợi lên trong chúng ta cảm thức cấp bách đó của Tin Mừng; chúng ta không được phép mãn nguyện, ỷ y với những thành quả trong những giáo xứ nhỏ bé của mình; đồng lúa của Chúa vẫn bao la rộng lớn và chín vàng, cần nhiều thợ gặt. Châu Á cũng là vùng đất của nhiều vị tử đạo, trong quá khứ cũng như hiện tại; người dân Châu Á, không chỉ hiền lành và tìm kiếm sự hài hoà, mà còn kiên định, dấn thân và sẵn sàng hy sinh. Phúc Âm đã đến với Châu Á qua các thừa sai ngoại quốc cũng như bản địa, những người sống cảm thức thúc bách của Tin Mừng. Ngày nay, Kitô hữu Á Châu vẫn cần để Tin Mừng thúc bách chúng ta giữ cho ngọn lửa đức tin và loan truyền ơn cứu độ cho chính đồng bào mình và những người khác.

Tóm lại, thân thể tính là cách thế thức thời để Giáo hội sống hiệp hành, vốn là hoa trái của Thần Khí và thuộc về bản chất Giáo hội. Giáo hội tại Châu Á hậu đại dịch được mời gọi đồng hành cách đặc biệt với các gia đình, với người trẻ; Giáo hội cũng cần tiếp tục mở ra với mọi người thuộc mọi văn hóa, tôn giáo khác, và ngay cả với thiên nhiên.

Kết luận, bắt đầu bằng hình ảnh “thân thể” mà Đức Kitô nhận lãnh từ Thiên Chúa khi làm người, chúng ta đã khám phá một hình ảnh về Giáo hội tại Châu Á liên kết chặt chẽ với các mầu nhiệm của Đức Kitô và Thần Khí. Thân thể tính của Giáo hội là phương thế quan trọng để Giáo hội sống mầu nhiệm Làm Người, Vượt Qua và Hiện Xuống, cùng đi với nhân loại trên con đường hướng về Thiên Chúa, Đấng là nguồn và cùng đích mọi sự.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 133 (Tháng 1 & 2 năm 2023)

[1] X. Albert Vanhoye, L’ Epistola agli Ebrei – “Un Sacerdote Diverso”, trans. Carlo Valentino (Bologna: Centro Editoriale Dehoniano, EDB, 2010), 25-27, 220-221; Raymond Brown, Josephy Fitzmyer and Roland Murphy, eds., The New Jerome Biblical Commentary (New Jersey: Prentice Hall, 1990), 938.

[2] “Người nghèo” ở đây bao gồm tất cả những ai đã qua đời trong cô đơn vì đại dịch, những ai mất người thân mà không thể nhìn thấy họ lần cuối, những trẻ em mồ côi, những người mất việc, những người đói khổ vì đại dịch, v.v…

[3] Châu Á thiệt hại với gần 200 triệu người phát hiện bị nhiễm và khoảng 1,5 triệu người chết vì Covid-19 (x. https://www.worldometers.info/coronavirus/, truy cập ngày 23.09.2022), cùng với các hậu quả nghiêm trọng khác liên quan đến gia đình, công việc, kinh tế, cuộc sống của người dân. Về phần Giáo hội, các hiện tượng như nhà thờ bị đóng cửa, mọi hoạt động phụng vụ và mục vụ bị ngưng, cộng đoàn bị phân tán vì đại dịch, v.v… đã để lại những hậu quả còn tồn đọng lâu dài, với mức độ khác nhau tuỳ vào nơi chốn và văn hóa (x. FABC- OTC, The Body of Christ in the Pandemic: Theological Reflection from Asian Perspectives, Part 1, B; tài liệu có thể được tải về từ https://fabc.org/document/fabc-papers-168  và https://fabc.org/document/fabc-papers-169/).

[4] X. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 2, A, II, 1; C, II. Chúng ta có thể nghĩ tới gần 2000 chuyến bay mang danh là “giải cứu” nhưng thực chất là bóc lột đồng bào, các hợp đồng mờ ám trong việc mua sắm thiết bị y tế xảy ra ngay trong đại dịch, v.v…

[5] Hans Urs von Balthasar, Mysterium Paschale: The Mystery of Easter, trans. Aidan Nichols, O.P. (Michigan: William B. Eerdmans Publishing Co., 1993), 11-48.

[6] X. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 2, A, II, 2.

[7] Ví dụ, ở Philippines và Việt Nam, không kể những thực hành cực đoan mang tính mê tín, đối với nhiều người qua nhiều thế kỷ, các cử hành trong Tuần Thánh là xương sống của năm phụng vụ. Đời sống thiêng liêng của nhiều người vốn nguội lạnh suốt năm phụng vụ, bỗng trở nên sống động trong Mùa Chay và Tuần Thánh, với những cử hành mang đậm nét văn hóa riêng hoặc đã bắt rễ sâu xa vào văn hóa họ qua nhiều thế kỷ

[8] Điều này được mô tả chi tiết hơn trong tài liệu FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic.

[9] Những nghĩa cử cao đẹp như chăm sóc người bệnh trong gia đình, làng xóm, phân phát thức ăn, bình oxy, v.v… ở cấp độ địa phương và quyên tặng vaccine, thuốc men, v.v… ở cấp độ quốc gia và quốc tế.

[10] X. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 2, A, II & III.

[11] Karl Rahner, “Death” in Encyclopedia of Theology – The Concise Sacramentum Mundi, ed. K. Rahner (New York: Burns & Oates, 1975), 330: “the totality which constitutes the unity of the material universe”.

[12] Cf. FABC-OTC, The Body of Christ in the Pandemic, Part 3, C.

Read More
21Tháng Năm
2023

Yếu đuối thành sức mạnh

21/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Yếu đuối thành sức mạnh

“Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”; “sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối”. Những câu như thế thường được trích làm chìa khóa cho sự trưởng thành tâm linh, nhưng chúng ta có thật sự hiểu những câu đó muốn nói gì không? Có ai hiểu được không?

Có. Nếu chúng ta không thể hiểu gì về điều đó, Thiên Chúa đã không nói về nó cho chúng ta. Thiên Chúa không phí lời. Đó là một mầu nhiệm vĩ đại, nhưng mầu nhiệm không phải là điều chúng ta không thể hiểu, nhưng là điều chúng ta không thể hiểu được bằng lí trí của mình, khi không có sự mặc khải của Thiên Chúa. Đó cũng là điều chúng ta không thể hiểu hết, nhưng là điều chúng ta có thể hiểu được một phần. Hiểu được một phần không hoàn toàn là bóng tối. “Chúng ta nhìn qua một tấm kính, cách lờ mờ”.

Chìa khóa để hiểu mầu nhiệm sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối là thập giá của Chúa Kitô. Không có thập giá, nó không phải là mầu nhiệm nhưng là sự phi lí, là bóng tối.

Nhưng những người không phải Kitô hữu như Lão Tử, nhà thần bí và thi sĩ vĩ đại Trung Hoa, dường như đã hiểu mầu nhiệm sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối khá sâu sắc, ít nhất trong một số khía cạnh của nó, mà không cần biết đến Chúa Kitô hay thập giá.

Có lẽ họ hiểu một mầu nhiệm tương tự và có liên quan nhưng không hoàn toàn giống. Hoặc có lẽ họ hiểu điều đó qua Đức Kitô và thập giá của Người, mặc dù một cách không ý thức và rõ ràng. Làm sao chúng ta biết ranh giới của thập giá kéo dài đến đâu? Vòng tay của thập giá rất rộng. Đức Kitô là “ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9) bằng mặc khải tự nhiên, sự khôn ngoan tự nhiên và luật tự nhiên được lương tâm nhận biết. Khi một vị Lão Tử, hoặc một Socrates, hoặc một Đức Phật thâm hiểu một chân lí vĩnh cửu, các vị ấy làm được vậy là nhờ ánh sáng của Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu, Người là Lời trước khi nhập thể hay là sự mặc khải của Thiên Chúa. Ngài vẫn là đấng (ngôi vị) ấy, nhưng không mang bản tính nhân loại, nhập thể.

Tất cả chân lí là chân lí của Ngài. Nhưng Chúa Giêsu nhập thể là mặc khải dứt khoát của Thiên Chúa, là gương mặt của Thiên Chúa hướng về chúng ta trong sự thân mật tột cùng. Chúng ta biết nhiều về một người thông qua gương mặt của người đó hơn là lưng hoặc bàn chân của họ. Vì vậy, chúng ta hãy nhìn vào mặc khải chung cuộc, dứt khoát và trọn vẹn ấy của Thiên Chúa mà chúng ta hiện có ‒ Đức Kitô và thập giá của Người ‒ để cố gắng làm sáng tỏ nghịch lí về sức mạnh đến từ sự yếu đuối. Câu hỏi của chúng ta là: Làm sao sự yếu đuối lại làm cho chúng ta mạnh mẽ nhờ thập giá? hoặc, làm sao sự yếu đuối của thập giá làm cho chúng ta mạnh mẽ?

Đây là hai câu hỏi, chứ không phải một. Câu thứ nhất có tính lí thuyết và không thể trả lời. Câu thứ hai có tính thực tế và có thể trả lời.

Câu hỏi thứ nhất là: Nó hoạt động như thế nào? Bằng kĩ thuật tâm linh, siêu nhiên nào mà cỗ máy là sự yếu đuối tạo ra sản phẩm là sức mạnh? Thập giá hoạt động như thế nào?

Các nhà thần học đã nghiên cứu về điều đó trong gần hai nghìn năm, và không có sự đồng thuận rõ ràng trong Kitô giới, không có câu trả lời rõ ràng đầy đủ, chỉ có những điều loại suy. Phép loại suy lành mạnh của Thánh Anselmô là sự dữ chiếm hữu chúng ta và Đức Kitô đã trả giá để chuộc chúng ta về. Các Giáo phụ đầu tiên đã đưa ra một phép loại suy như trận chiến vũ trụ: Đức Kitô đã xâm chiếm lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng – trước hết là mặt đất, sau đó, vào Thứ Bảy Tuần Thánh, đến âm phủ, và đánh bại ma quỷ cùng các thế lực tội lỗi và sự chết của hắn. Khi đó có một Chủ nghĩa thực tiễn Mỹ mang tính đơn sơ thú vị của mục sư thuộc Southern Free Will Baptist cho rằng: “Satan bỏ phiếu chống lại bạn, và Chúa Giêsu bỏ phiếu ủng hộ bạn, còn bạn đưa ra lá phiếu quyết định”. Những ẩn dụ này hữu ích, nhưng chúng chỉ là những biểu tượng, những sự tương tự thôi. Chúng ta hầu như không biết cách thức hoạt động của điện, làm sao chúng ta có thể biết sự cứu chuộc hoạt động như thế nào?

Tuy nhiên, câu hỏi thứ hai có thể trả lời chắc chắn hơn. Đó là câu hỏi thực tế: Tôi phải sống như thế nào; Tôi nên cư xử như thế nào liên quan đến sự yếu đuối? Tôi nên thể hiện thập giá như thế nào trong cuộc sống của tôi? Bởi vì thập giá ở ngay trong cuộc sống của tôi. Nó không phải là một điều kì dị mà là một sự thật phổ quát đã nhập thể, không chỉ là một sự kiện chỉ xảy ra một lần là xong ở bên ngoài tôi trong không gian và thời gian, ở Israel vào năm 29 Công nguyên, cách tôi 8.000 dặm và 2.000 năm, nhưng đó cũng là một sự kiện đang tiếp diễn bên trong tôi, hay đúng hơn tôi ở trong đó.

Có hai sai lầm ngang nhau và trái ngược nhau khi trả lời câu hỏi này: Tôi sẽ thể hiện mầu nhiệm thập giá này như thế nào trong cuộc đời tôi? Đó là chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa ẩn dật, chủ nghĩa hiếu động và chủ nghĩa thụ động. Chủ nghĩa nhân văn nói rằng tất cả đều là hành động của con người, rằng chúng ta phải tranh đấu và vượt qua sự yếu đuối, thất bại, thua thiệt, bệnh tật, cái chết và đau khổ. Chúng ta phải vượt qua thập giá. Nhưng rốt cuộc chúng ta không bao giờ vượt qua được. Chủ nghĩa nhân văn là Don Quixote phóng ngựa đối đầu với xe tăng.

Chủ nghĩa ẩn dật, hay thuyết định mệnh, quan niệm một cách đơn giản là: Hãy chịu đựng nó, hãy chấp nhận nó. Nói khác đi, đừng là con người. Hãy đi “nhẹ nhàng vào đêm tối tốt lành đó”, đừng “tức giận, nổi xung vì ánh sáng lụi tàn”.

Kitô giáo còn nghịch lí hơn chủ nghĩa nhân văn và thuyết định mệnh ‒ chủ nghĩa nhân văn cứ vậy mà chối bỏ; còn thuyết định mệnh thì cứ vậy mà chấp nhận. Có một nghịch lí kép trong câu trả lời của Kitô giáo về sự nghèo khó, đau khổ và cái chết. Sự nghèo khó phải được chống lại và giảm bớt, nhưng nó là mối phúc. Giúp đỡ người nghèo thoát khỏi sự tàn phá của sự nghèo khó là một trong những nhiệm vụ thiết yếu của Kitô hữu. Nếu chúng ta chối bỏ sự khó nghèo, chúng ta không phải là Kitô hữu, chúng ta không được cứu độ (Mt 25, 41-46). Tuy nhiên, chính những người giàu có mới là những người cần được thương xót và đáng thương, như Mẹ Têrêsa đã nói với Harvard những lời gây sửng sốt: “Đừng gọi đất nước của tôi là một nước nghèo. Ấn Độ không phải là nước nghèo. Mỹ là nước nghèo, một nước nghèo về tinh thần”. Người giàu khó được cứu rỗi (Mt 19,23), trong khi những người có tâm hồn nghèo khó, nghĩa là những người vui lòng nghèo khó, những người không dính bén của cải, thì được chúc phúc (Mt 5,3).

Cũng thấy được thái độ bộ đôi đầy nghịch lí ấy trong Kitô giáo đối với cái chết. Cái chết một mặt là sự dữ lớn lao, là “kẻ thù cuối cùng” (Cr 15,26), là dấu vết và hình phạt của tội lỗi. Đức Kitô đến để đánh bại nó. Tuy nhiên, cái chết cũng là cánh cửa dẫn đến sự sống đời đời, dẫn vào thiên đàng. Đó là cỗ xe ngựa vàng do vị vua vĩ đại gửi đến đón cô dâu Lọ Lem của ngài.

Đau khổ cũng là một nghịch lí. Một mặt nó cần được xoa dịu, mặt khác nó là mối phúc. Các thánh là thánh chủ yếu vì hai lí do: họ có tình yêu anh hùng và lòng trắc ẩn đối với những người thân cận, nghĩa là, họ cống hiến hết mình để xoa dịu những nỗi đau khổ của người khác. Nhưng họ cũng yêu mến Thiên Chúa đến nỗi họ chấp nhận và dâng hiến những đau khổ của riêng mình một cách anh dũng và thậm chí còn lấy làm vui nữa. Họ vừa chiến đấu với đau khổ vừa chấp nhận đau khổ. Họ năng động hơn những người theo chủ nghĩa nhân văn và dễ chấp nhận hơn những người theo chủ nghĩa ẩn dật. Cả ba ‒ nghèo khó, cái chết và đau khổ ‒ đều là những hình thức của sự yếu đuối. Vấn đề yếu đuối là vấn đề chung và phổ quát hơn. Chẳng hạn, sự đau khổ tự nó không phải là không chịu đựng được như sự yếu đuối, vì chúng ta sẵn sàng chịu lấy những đau đớn như việc sinh con chỉ với điều kiện chúng được chọn lựa cách tự do, trong khả năng của chúng ta ‒ nhưng ngay cả những nỗi đau và bất tiện nhỏ, như trễ chuyến bay hay bị dầm đâm ngón tay, cũng khiến chúng ta cảm thấy quá sức chịu đựng nếu chúng được áp đặt lên chúng ta ngược lại ý muốn của chúng ta. Chúng ta thà chạy một dặm cách tự do còn hơn bị buộc phải chạy một dãy nhà. Kierkegaard nói: “Nếu tôi có một người đầy tớ khiêm tốn, khi tôi xin anh ta một li nước, thay vào đó, anh mang đến những loại rượu đắt tiền trên thế giới được rót vào một cái li đúng kiểu, tôi sẽ sa thải anh ta, để dạy anh rằng niềm vui thực ở chỗ làm theo cách của riêng tôi”.

Alfred Adler là môn đệ lập dị của Freud đã rời bỏ thầy của mình vì vấn đề trung tâm này: đâu là mong muốn cơ bản nhất của con người; Adler đã khám phá ra đó không phải là thú vui, như Freud nghĩ, mà là sức mạnh.

Ngay cả Thánh Tôma Aquinô cũng ngầm đồng ý, vì khi ngài xem lại và loại bỏ tất cả những ứng viên không thích hợp và có vẻ thần tượng cho vị trí hạnh phúc tối cao của con người, tất cả những thứ chúng ta theo đuổi thay vì Thiên Chúa, ngài nhận xét rằng chúng ta bị quyền lực thu hút bởi vì nó có vẻ thần thánh nhất. (Tuy nhiên, điều này dễ gây lầm lẫn vì quyền năng của Chúa là sự tốt lành của Ngài). Quyền lực là câu trả lời của Thánh Augustinô về lí do ngài đi ăn trộm những quả lê cứng, không ăn được và không bán được khi còn là một cậu bé. Cái ngài muốn không phải là niềm vui hay tiền bạc mà là quyền lực, quyền lực để không bị đặt dưới luật “ngươi không được trộm cắp”, quyền lực để bất tuân luật pháp và dường như thoát khỏi nó. Chúng ta khổ sở dưới sự ràng buộc.

À, nhưng bản chất của chúng ta là sự ràng buộc. Nói cho cùng, chúng ta chỉ là những thọ tạo, không phải là người sáng tạo; hoàn toàn hữu hạn, không vô hạn; phải chết, không bất tử; ngu dốt, không biết tất cả. Tất cả những điều này là các hình thức của sự yếu đuối, chúng không phải là những điểm yếu ngẫu nhiên và có thể tránh được mà là những điểm yếu bẩm sinh và cần thiết cho chính con người chúng ta với tư cách là những thụ tạo. Khi bực bội với những hạn chế của sự yếu đuối, chúng ta bực bội với chính con người mình.

Thậm chí trước khi chúng ta bắt đầu cố gắng thoát khỏi vấn đề của chúng ta về sức mạnh từ sự yếu đuối, trước tiên chúng ta phải nhìn vào trong đó cách sâu hơn và rõ ràng hơn. Có ba nhược điểm liên quan nhưng khác biệt cần xem xét.

Trước tiên, có sự yếu đuối do đứng thứ hai, đóng vai phụ, đáp ứng thay vì khởi xướng, theo sau thay vì dẫn đầu, vâng lời thay vì ra lệnh. Chúng ta có bực tức chống lại điều này thì quả là chuyện hoàn toàn ngu xuẩn, vì chính Thiên Chúa cũng có sự yếu đuối này! Từ muôn đời Chúa Con vâng phục Chúa Cha. Điều gì Ngài làm trên trần gian, Ngài đã làm trong cõi vĩnh hằng. George MacDonald đã trình bày như sau: “Ngài đã làm, trong thời tiết gay gắt ở những vùng xa xôi, điều Ngài đã làm từ đời đời nơi quê nhà trong vinh quang”. Chưa có ai từng vâng phục hơn Đức Kitô.

Do đó, vâng lời không phải là dấu hiệu của sự thấp kém. Đáp ứng, hát bè, đóng vai phụ, không hạ thấp phẩm giá, vì Đức Kitô, Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, là Đấng vâng lời hoàn hảo. Trong đó, chúng ta có một trong những cuộc cách mạng đáng kinh ngạc và triệt để nhất mà thế giới đã từng được nghe, và vẫn chưa hiểu. Phụ nữ vẫn phẫn nộ vì là phụ nữ, nghĩa là, về mặt sinh học phải tiếp nhận sự thụ tinh của nam giới, cần sự bảo vệ và lãnh đạo của nam giới, bởi họ nghĩ điều này khiến họ thấp kém hơn. Trẻ con khó chịu phải vâng lời cha mẹ, và công dân khó chịu phải phục tùng chính quyền dân sự, vì cùng một lí do: họ nghĩ rằng sự vâng lời đánh dấu sự kém cỏi của họ. Không phải vậy.

Đức Kitô trước đến giờ ngang hàng với Chúa Cha trong mọi sự; nhưng Đức Kitô đã vâng lời và thậm chí bây giờ vẫn đang vâng lời Chúa Cha. Có vai trò khác nhau không có nghĩa là khác nhau về giá trị. “Sự yếu đuối” của sự vâng phục không đến từ sự thấp kém mà đến từ sự bình đẳng về giá trị.

Con cái cũng phải vâng lời cha mẹ. Tuy nhiên, con cái không thua kém cha mẹ về đạo đức hay tâm linh. Mệnh lệnh phải vâng lời không hạ thấp phẩm giá nhưng giải phóng ‒ nếu chúng ta đang nói về sự vâng phục “trong Đức Kitô”. Trên thế giới, quyền lực thống trị, và kẻ mạnh đặt mình lên trên kẻ yếu. Ở đó, vâng phục thực sự là dấu hiệu thấp kém về quyền lực. Nhưng không phải trong Hội Thánh. Ở đây, mọi thứ khác hẳn: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 25-28).

Chúa Giêsu ngang hàng với Chúa Cha, nhưng Ngài vâng phục. Nếu sự kiện đơn giản nhưng có tính cách mạng đó được hiểu và đánh giá đúng, chúng ta sẽ có một thế giới mới ‒ không phải thế giới nô lệ và áp bức cổ xưa, cũng không phải thế giới Phương Tây hiện đại bị mất gốc và rối loạn, cào bằng trái tự nhiên và đầy cạnh tranh vì oán hận. Thay vào đó, chúng ta sẽ có tình thương.

Tình thương làm nên sức mạnh. “Sự yếu đuối” của Đức Kitô trong sự vâng phục Chúa Cha đã làm cho Người mạnh mẽ vì đó là sự vâng phục vì thương. Nếu Đức Kitô đã không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Cha, khi Satan cám dỗ Người trong hoang địa, Ngài sẽ mất sức mạnh, như Samson, và yếu ớt chịu thua kẻ thù của mình. Sự vâng phục là một dấu hiệu của thiên tính nơi Người. Chúng ta cũng vậy: nếu chúng ta hoàn toàn vâng phục Chúa Cha, chúng ta được biến đổi thành những người dự phần vào bản tính Thiên Chúa. Bởi vì sự hối cải, đức tin và phép rửa tội, ba công cụ giúp cho sự biến đổi đó, đều là những hình thức vâng phục. Chúng ta được truyền phải hối cải, tin tưởng và chịu phép rửa.

Hình thức thứ hai của “sự yếu đuối” chỉ dành riêng cho chúng ta, không phải cho Đức Kitô, nhưng hình thức thứ hai này cũng không phải để gây khó chịu. Đó là sự hữu hạn của chúng ta, là thuộc tính thọ tạo của chúng ta. Chúng ta được tạo dựng. Do đó, chúng ta phụ thuộc vào Thiên Chúa về mọi thứ, về chính sự tồn tại của chúng ta và tất cả những gì phát sinh từ đó. Không có gì chúng ta có là của riêng chúng ta bởi vì chính con người chúng ta không phải là của chúng ta. Thiên Chúa sở hữu chúng ta. (Vì vậy, tự tử là hành vi trộm cắp). Chúng ta không có quyền vượt lên trên Thiên Chúa. Không có tạo vật nào, kể cả tổng lãnh thiên thần vĩ đại nhất, vượt trên Thiên Chúa.

Không có thụ tạo nào là toàn năng, cũng không có thụ tạo nào hoàn toàn bất lực. Ngay cả một thiên thần cũng không thể tạo ra vũ trụ hay cứu rỗi một linh hồn, và ngay cả một hạt cát cũng có thể thể hiện Thiên Chúa, có thể chọc tức một ngón chân và một bộ não, và có thể quyết định một trận đánh và một cuộc chiến.

Ngay cả trong cõi vĩnh hằng không một thọ tạo nào có thể làm cạn kiệt và khám phá hết tình thương của Ngài. Thiên Chúa sẽ luôn luôn hơn nữa. Chúng ta sẽ không bao giờ mất đi niềm vui vô song do sự khiêm tốn, và do sự tôn sùng. Thật ngớ ngẩn làm sao khi lấy làm bực bội vì “sự yếu đuối” đó.

Và thật ngớ ngẩn khi oán trách cách Thiên Chúa và thiên nhiên bù đắp cho sự yếu đuối đó, bằng sự phụ thuộc lẫn nhau, liên đới, hợp tác, vị tha. Chúng ta mang gánh nặng cho nhau, như vậy là chu toàn luật Đức Kitô (Gl 6,2). Tôi nghĩ cụm từ “luật của Đức Kitô” có nghĩa lớn hơn tuân theo các lệnh truyền của Đức Kitô; tôi nghĩ nó có nghĩa là sống sự sống của Đức Kitô. Tôi nghĩ luật của Chúa Kitô giống như luật trọng lực hơn là luật của vùng đất này. Những quả táo rơi hoàn thành luật trọng lực, còn việc mang gánh nặng cho nhau hoàn thành luật của Đức Kitô.

Hôn nhân là ví dụ hàng đầu của việc mang gánh nặng cho nhau. Đàn ông cần đàn bà, như Thiên Chúa đã tuyên bố lúc tạo dựng: “Đàn ông ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Còn đàn bà cần đàn ông. Ngày nay, cả đàn ông lẫn đàn bà thường hay oán ghét nhu cầu đó. Đó là sự nổi loạn chống lại luật của Đức Kitô, được ghi trong luật tự nhiên của con người. Chính hình ảnh của Thiên Chúa được minh định trong sách Sáng thế 2,27 là “người nam và người nữ”.

Cuối cùng, hình thức yếu đuối thứ ba mà người ta phải chống lại: sự yếu đuối do tội lỗi và những hậu quả của nó. Hữu hạn là tốt, nhưng sa ngã thì không. Tất cả chúng ta đều bất thường, không còn ở trạng thái tự nhiên. Ở đây, chúng ta cần nổi loạn chống lại con người của mình, vì con người của chúng ta đây không phải tự nhiên, không phải là cái do Chúa tạo thành. Việc chúng ta không hài lòng với sự yếu đuối về mặt luân lí và tâm linh của mình ngầm chứng tỏ rằng chúng ta biết một điều gì đó tốt hơn ‒ về một tiêu chuẩn mà chúng ta dùng để đo lường bản thân, cuộc sống và thế giới của mình, và thấy là chúng thiếu sót. Chính ký ức của chúng ta về vườn Địa đàng đã gây ra cuộc tranh cãi giữa người yêu hiện tại của chúng ta với thế giới, với vùng hoang địa “phía đông vườn Địa đàng” (St 3,24).

Chính bởi vì chúng ta yếu đuối về luân lí nên chúng ta được truyền phải cầu xin “chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, nghĩa là, sa vào thử thách và khó khăn. Bởi vì tất cả chúng ta, đều có điểm giới hạn của mình. Nếu Thiên Chúa không rút ngắn những ngày Đại nạn, thì cả các thánh cũng không chịu nổi và được cứu rỗi (Mt 24,22).

Chúng ta không chỉ yếu đuối về luân lí mà còn yếu kém về mặt trí tuệ: dốt nát, khờ dại, ngu ngốc. Tội lỗi không đơn thuần là sự ngu xuẩn như Plato dạy, và chắc chắn nguyên nhân của nó không chỉ là sự thiếu hiểu biết như Plato dạy, mà vì sự thiếu hiểu biết không phải là nguyên nhân của tội lỗi, nó là hậu quả của tội lỗi.

Thân xác chúng ta cũng yếu đuối vì tội lỗi. Một khi linh hồn tuyên bố độc lập với Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc của mọi sự sống và sức mạnh, thì thể xác trở nên yếu đuối vì nó càng độc lập với linh hồn, là nguồn sự sống của nó. Do đó, sự chết là kết quả tất yếu của tội lỗi. Giống như nam châm. Thiên Chúa là nam châm giữ hai vòng sắt, thể xác và linh hồn, lại với nhau. Lấy nam châm ra và các vòng rơi ra. Một khi xa lìa Thiên Chúa, chúng ta làm được gì ngoài việc chịu chết? Và một khi chúng ta kết hợp với Thiên Chúa, chúng ta sẽ làm gì nếu không phải là sống đời đời?

Chúng ta nên chấp nhận vâng phục Đức Chúa Cha như là “điểm yếu” đầu tiên của chúng ta, và chúng ta nên nhận sự hữu hạn là “điểm yếu” thứ hai của mình, nhưng liệu chúng ta có nên chấp nhận “điểm yếu” thứ ba, tức là tội lỗi của chúng ta không? Có và không. Tội lỗi giống như bệnh ung thư. Khi mắc bệnh ung thư, chúng ta nên chấp nhận sự thật đó bằng trí tuệ chứ không phải bằng ý chí của chúng ta. Chúng ta nên chấp nhận sự thật, chứ không phải sự tốt đẹp của bệnh ung thư, bởi vì bệnh ung thư là không tốt. Hãy chấp nhận nó về mặt lí thuyết, nhưng không phải về mặt thực tế. Ở mức độ thực tế, chúng ta nên chống lại nó. Đối với tội lỗi cũng vậy.

Người ta thường nhầm lẫn về điểm đơn giản này. Ngay cả một tư tưởng vĩ đại như Carl Jung dường như cũng rơi vào sự nhầm lẫn chết người này khi ông bảo chúng ta “chấp nhận mặt tối của chính mình, bóng tối của chúng ta”. Không! Thiên Chúa đã phải chết và chịu đựng những sự khủng khiếp của hoả ngục để cứu chúng ta khỏi mặt tối đó. Làm sao chúng ta dám “chấp nhận” nó trong khi Đấng Thánh đã tuyên chiến vĩnh viễn với nó? Làm sao chúng ta dám trung lập khi Thiên Chúa chia phe hẳn hoi? Làm sao chúng ta dám đóng vai Chamberlain ở Munich trước những phát minh quái quỷ? [Hai thủ tướng Anh và Pháp là Neville Chamberlain và Edouard Daladier ký hoà ước Munich với lãnh đạo đảng Quốc xã Adolf Hitler ngày 30/9/1938. Thoả thuận này ngăn chặn chiến tranh nổ ra nhưng giao Czechoslovakia cho Đức chiếm đóng (ND)]. Chỉ có một số phận thích hợp cho sự yếu nhược tâm linh như vậy. Hãy tra trong sách Khải huyền 3,16. Đừng ai cố ăn thứ Thiên Chúa đã nôn ra.

Bây giờ tôi sẽ đi vào những lĩnh vực sâu hơn, gai góc hơn về vấn đề chúng ta đang suy gẫm.

Yếu đuối của chúng ta trở thành sức mạnh khi Thiên Chúa bước vào sự yếu đuối của chúng ta. Như bác sĩ gây mê bệnh nhân để bệnh nhân không còn là người khoẻ mà thành người bệnh, thành thụ động, để không nhảy dựng trên bàn mổ, Thiên Chúa làm chúng ta yếu đi để Ngài có thể thực hiện những ca phẫu thuật trên chúng ta, nếu không chúng ta không thể làm được.

Điều này đặc biệt đúng về cái chết. Cái chết là cuộc phẫu thuật triệt để, và chúng ta phải được gây mê cách triệt để hầu đón nhận nó. Thiên Chúa muốn thâm nhập vào trái tim của chúng ta, con người sâu thẳm nhất của chúng ta. Trái tim của chúng ta phải ngừng đập để hoạt động đó diễn ra.

Cũng nguyên tắc ấy hoạt động trong những cách thấp hơn trước cái chết, trong những cái chết nhỏ. Thiên Chúa phải đánh gục chúng ta trước để cứu chúng ta khỏi chết đuối, vì chúng ta vùng vẫy một cách ngu xuẩn. Ngài phải đập vỡ những món đồ chơi chúng ta đang cầm trên tay để lấp đầy bằng niềm vui của Ngài.

Đến đây là tốt rồi. Nguyên tắc đó khá nổi tiếng. Nhưng khi chúng ta tìm đến các nhà thần bí, và rồi khi chúng ta đọc thứ ngôn ngữ kì lạ của họ về việc “hóa ra không”, tuyệt đích của sự yếu đuối, chúng ta lắc đầu khó hiểu và nghi ngờ. Tuy nhiên, ý nghĩa về “sự hư vô” trước Thiên Chúa của các nhà thần bí không là gì khác hơn chính nguyên tắc được đưa đến kết luận hợp lí của nó. Nếu sức mạnh của Chúa lấp đầy chúng ta khi chúng ta yếu đuối, và sự vĩ đại của Chúa lấp đầy chúng ta khi chúng ta nhỏ bé, thì tất cả của Chúa sẽ lấp đầy chúng ta khi chúng ta không là gì cả.

Nhưng chúng ta phải phân biệt hai loại “không là gì”. Các nhà thần bí phương Đông dường như nói rằng linh hồn là “hư không” vì nó không có thật. Họ nhìn qua “ảo ảnh” về cá nhân. Họ dường như nói rằng chúng ta thực sự không phải là thụ tạo, trừ Thiên Chúa. Bởi vì tất cả đều là Thiên Chúa nếu bạn là một người tin vào thuyết phiếm thần. Điều đó đơn giản là sai, vì Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta khác biệt với chính Ngài.

Thay vì vậy, “sự hư không” của các nhà thần bí Kitô giáo có nghĩa là không có ý riêng và không còn chú ý đến bản thân. “Đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha thể hiện” là công thức cơ bản dành cho mọi sự thánh thiện, không chỉ dành cho các nhà thần bí. Trong đây không có gì đặc biệt là thần bí. Nhưng khi, được Thiên Chúa mê hoặc qua việc nếm trước cảnh tượng hạnh phúc của thiên đàng, nhà thần bí được ban ơn dường như mất hết ý thức về chính mình, ông dường như không là gì đối với chính mình, bởi vì ông không còn nhìn vào mình nữa, mà chỉ nhìn vào Thiên Chúa. Nhưng, tất nhiên, ông vẫn có đó, vì phải có một cái tôi để thực hiện hành động quên mình. Ai đang quên? Chắc chắn không phải Thiên Chúa, vì sự toàn tri thì không quên.

Nhà thần bí Kitô giáo trải nghiệm một niềm hạnh phúc trong sự yếu đuối hoàn toàn đến mức hư không này, vì đó là sự tin tưởng hoàn toàn, nghỉ ngơi hoàn toàn trong vòng tay của Chúa, được Cha ôm lấy. Do đó, tất cả lo lắng và sự quan tâm đến bản thân đều tan biến. Đây là sự khiêm tốn hoàn toàn. Vì kiêu ngạo là tội lỗi đầu tiên, tội lỗi của ma quỷ, nên khiêm nhường là nhân đức đầu tiên.

Kiêu ngạo không có nghĩa là quan điểm phóng đại về giá trị của bản thân; đó là sự phù phiếm. Kiêu ngạo nghĩa là đóng vai Thiên Chúa, đòi làm Thiên Chúa. “Thà cai trị địa ngục còn hơn phục vụ trên thiên đường,” đây là câu nói mà Satan dùng để biện minh cho sự nổi loạn của mình trong Paradise Lost [Thiên đàng đã mất] của Milton. Đó là công thức kiêu ngạo. Kiêu ngạo lúc nào cũng là “ý tôi thể hiện”.

Khiêm tốn là “ý Cha thể hiện”. Khiêm tốn là tập trung vào Thiên Chúa, chứ không vào bản thân. Khiêm tốn không phải là đánh giá quá thấp bản thân. Khiêm tốn là quên mình. Một người khiêm tốn không bao giờ nói với bạn rằng anh ta tệ như thế nào. Anh ấy bận nghĩ về bạn đến nỗi không thể nói về bản thân mình. Đó là lí do tại sao khiêm tốn là một niềm vui và rất gần với nhãn quan hạnh phúc, nơi mà chúng ta sẽ say mê Thiên Chúa đến nỗi chúng ta hoàn toàn quên mình, giống như các nhà thần bí. Khi kết hợp hai điều này – hoàn toàn muốn “không phải ý con mà là ý Cha được thực hiện” và biết hoàn toàn quên mình – có lẽ chúng ta có thể bắt đầu hiểu làm thế nào các nhà thần bí tìm thấy niềm vui vô song khi trở thành hư không. Đó là cảm giác hồi hộp bí ẩn mà chúng ta cảm thấy khi hát dâng Chúa Thánh Thần: “Hãy thổi, thổi, thổi cho đến khi tôi còn sống/ Nhưng đó là hơi thở của Chúa Thánh Thần thổi trong tôi”.

Rất khó để nói về việc này, về sự ngây ngất. Thi thoảng nghe chuyện đó có vẻ ngớ ngẩn. Nó rất dễ bị hiểu lầm. Nó không thể được giải thích bằng ngôn ngữ thông thường. Nó giống như đang yêu vậy. Nó đang yêu. Nó không phải một ý tưởng, cần giải thích. Đó là một trải nghiệm, để được sống, hoặc ít nhất để được đồng cảm, với tâm và trí mở rộng.

Thập giá liên quan đến điều này như thế nào? Ngoài việc cứu chúng ta khỏi tội lỗi, thập giá còn biểu lộ bản chất ngây ngất nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, đó là Thần Khí của tình yêu tự hiến giữa Cha và Con, là chính bí mật của sự sống nội tại của Thiên Chúa. Thập giá, mà Đức Kitô đã cắm như một thanh gươm vào lòng đất trên đồi Canvê, được giữ bằng cán gươm trên thiên đàng. Thiên đàng đã rèn lưỡi kiếm đó. Thập giá đã gây chiến với tội lỗi và sự chết trong thời gian, nhưng nó bày tỏ sự bình an và sự sống trong cõi đời đời.

Xin cho “ý Cha, không phải ý con, được thể hiện” không chỉ là điều khó khăn nhất trong các việc chúng ta có thể làm (đó là điều mà tội lỗi đã làm cho chúng ta), nhưng còn là điều vui sướng và tự do nhất mà chúng ta có thể làm (đó là điều mà ân sủng đã ban tặng cho chúng ta). Có cả nghìn tỉ thí nghiệm đã chứng minh một điểm vượt qua tất cả nghi ngờ: rằng bất cứ khi nào chúng ta nhắm đến hạnh phúc như thể chúng ta là Thiên Chúa, bằng cách phát huy năng lực và sự kiểm soát của mình, chúng ta sẽ kết thúc trong bất hạnh, cho dù chúng ta có được thứ mình muốn hay không. Vì nếu có được nó, chúng ta đâm chán; và nếu không đạt được, chúng ta thất vọng. Nhưng bất cứ khi nào chúng ta trở thành hư không, trở nên hoàn toàn yếu đuối, bất cứ khi nào chúng ta nói và nói hoàn toàn thật lòng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha được thể hiện”, chúng ta tìm thấy hạnh phúc, niềm vui và bình an lớn lao nhất có thể có trên thế giới này. Tuy nhiên, cho dù đã có hàng nghìn tỉ thực nghiệm xác nhận chân lí này, chúng ta vẫn tiếp tục thử những trải nghiệm khác để tìm kiếm hạnh phúc bên ngoài Thiên Chúa và bên ngoài sự phục tùng Thiên Chúa, do đó chúng ta liên tục bán đi quyền được hưởng niềm vui vốn có của mình. Nói cách khác, chúng ta bị điên. Tội lỗi là sự điên rồ.

Trọng tâm của Hồi giáo là sự thật mạnh mẽ mà chúng ta vừa thấy. “Hồi giáo” mang hai ý nghĩa: “phục tùng” và “bình an” (cùng nguồn gốc với từ “shalom” [trong tiếng Do Thái]). Quy phục Thượng đế (“Allah”, “Đấng”) là con đường dẫn đến hòa bình. Dante trình bày điều này chỉ bằng năm từ trong một dòng và được T.S. Eliot cho là hoàn hảo và sâu sắc nhất trong tất cả các áng văn chương: “Theo ý Chúa, ta bình an” (In his will, our peace).

Sự yếu đuối này chính là sức mạnh của Thiên Chúa, là bí mật về sự toàn năng của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng không phải vì Ngài có thể tạo ra vũ trụ hay làm các phép lạ. Thiên Chúa toàn năng vì Ngài là tình yêu, vì Ngài có thể khuất phục chính mình, vì Ngài có thể yếu đuối. Không một người hữu thần nào ngoại trừ Kitô hữu hiểu được bí mật sự toàn năng. Một Thiên Chúa mà chỉ có một mình thì không thể hoàn toàn toàn năng.

Chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi, chỉ có vị Thiên Chúa, Đấng có thể liên tục trút bỏ chính mình cho chính mình, mới có thể toàn năng.

Chúng ta thường nghĩ về Chúa Cha là nguồn sự toàn năng, nhưng thật ra cả ba ngôi vị đều cần thiết cho sự toàn năng. Sự toàn năng chỉ phát sinh khi chúng ta đến với Chúa Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con dành cho nhau. Khi Thánh Thần được thổi vào trong chúng ta, thì cả Ba Ngôi vào trong chúng ta, và sống sự sống của Ngài trong và qua chúng ta. Thánh giá vinh quang của Chúa Ba Ngôi vĩnh cửu và thánh giá đẫm máu trên đồi Canvê hòa quyện trong tâm hồn và cuộc sống của chúng ta khi chúng ta tham dự vào niềm vui nơi tình yêu Thiên Chúa và vào sự đau khổ mang lại ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Chuyển ngữ: Martin Lâm
(theo: peterkreeft.com)

Read More
21Tháng Năm
2023

Đức cha Paglia: Thông điệp Humanae Vitae và suy tư của các thần học gia về tính dục và sinh sản

21/05/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

 

ĐỨC CHA PAGLIA: THÔNG ĐIỆP HUMANAE VITAE VÀ SUY TƯ CỦA CÁC THẦN HỌC GIA VỀ TÍNH DỤC VÀ SINH SẢN

 

Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về sự sống, Đức cha Vincenzo Paglia, đề cập đến một số khía cạnh của thông điệp Humanae Vitae của Đức Phaolô VI, ở trung tâm của một cuộc hội thảo được tổ chức tại Rôma bởi diễn đàn đạo đức sinh học quốc tế Jérôme Lejeune, vào ngày 19 và 20/5/2023.

Vatican News: Đạo đức sinh học khuyến khích suy tư về sự sống về tất cả các khía cạnh của nó. Ngày nay, chúng ta được mời gọi tập trung vào phần rỗi của hành tinh và nhân loại, và chiều kích của đạo đức sinh học toàn cầu đòi hỏi một liên minh giữa tất cả các ngành khoa học. Theo nghĩa này, khi nhìn vào các tài liệu của Giáo hội, Đức Cha đánh giá thế nào về thông điệp Humanae Vitae, 55 năm sau khi nó được công bố ?

Đức cha Paglia: Tôi muốn dừng lại ở một khía cạnh mà tôi cho là thiết yếu. Tôi muốn nói về mối liên hệ cấu thành giữa tính dục, tình yêu vợ chồng và sinh sản, vốn là chủ đề rất thời sự của Humanae Vitae. Đức Phaolô VI nhắc lại bốn “đặc điểm” cơ bản của tình yêu vợ chồng: một tình yêu hoàn toàn nhân linh, nghĩa là vừa cảm giác vừa thiêng liêng, một tình yêu toàn vẹn, nghĩa là một hình thức rất đặc biệt của tình bạn cá nhân, một tình yêu chung thủy và độc hữu cho đến chết, một tình yêu phong nhiêu. Tình yêu vợ chồng như thế là phong nhiêu, lập tức vượt qua vấn đề muôn thuở về mối tương quan giữa các mục đích của hôn nhân, mục đích chính (sinh con và giáo dục con cái, prolis generatio et educatio) và mục đích phụ (giúp đỡ lẫn nhau và phương dược xoa dịu dục vọng, mutuum adiutorium et remedium concupiscentiae).

Bằng cách này, sự phong nhiêu của việc sinh sản được coi là một đặc điểm nội tại của tình yêu vợ chồng chứ không phải là một phần thêm về sau. Như chúng ta đã hiểu được một cách khôn ngoan ngày nay, cần phải tự hỏi làm thế nào vấn đề được Humanae Vitae đặt ra có thể tiếp tục nuôi dưõng sự hiểu biết về mối liên hệ giữa tính dục, tình yêu vợ chồng và sinh sản, một sự hiểu biết đã trở nên rõ ràng hơn dưới ánh sáng của viễn cảnh chủ thuyết nhân vị. Đó là lý do tại sao tôi cho rằng điều rất quan trọng là chúng ta tiếp tục suy tư và thảo luận về chủ đề này, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã lặp lại cách chính xác về các biện pháp ngừa thai, khi khẳng định rằng “bổn phận của các thần học gia là nghiên cứu, suy tư thần học”. Chúng ta không thể làm thần học với chữ “không” trước mặt. Vì thế, chính Huấn quyền sẽ nói: “Không, bạn đã đi quá xa, hãy quay lại. Nhưng sự phát triển thần học phải cởi mở, các thần học gia ở đó vì điều đó” (Họp báo trên chuyến bay trở về từ Canada, ngày 29/7/2022).

Vatican News: Đâu là sứ điệp và giá trị của Thông điệp này ?

Đức cha Paglia: Việc nhìn nhận mối liên hệ bất khả phân ly giữa tình yêu vợ chồng và sinh sản trong Humanae Vitae không có nghĩa là bất kỳ mối quan hệ vợ chồng nào đều nhất thiết phải có khả năng sinh sản. Với lời khẳng định này, Thông điệp lấy lại tuyên bố mào đầu của Đức Piô XII trong bài phát biểu nổi tiếng dành cho các nữ hộ sinh năm 1951. Chính vì lý do này mà, khi lấy lại một trực giác rất thích đáng của Công đồng (Gaudium et Spes, số 50 và 51), Đức Phaolô VI nhìn nhận rằng việc sinh sản phải “có trách nhiệm”, và chỉ ra các phương pháp tự nhiên như là phương tiện để thực hiện trách nhiệm này. Sau đó, trong Tông huấn Familiaris consortio, Đức Gioan-Phaolô II sẽ nhấn mạnh sự cần thiết của việc suy tư thần học để đào sâu – ngoài khía cạnh sinh học đơn thuần – ý nghĩa nhân học và luân lý của “sự lựa chọn các chu kỳ tự nhiên”: sự lựa chọn này “thực sự bao hàm cả việc chấp nhận thời gian của nhân vị, nghĩa là của người nữ, và với cả việc chấp nhận đối thoại, tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ trách nhiệm, làm chủ bản thân”.

Vatican News: Ở đoạn số 14 của Humanae Vitae, Đức Phaolô VI khẳng định rằng mọi phương tiện ngăn cản việc sinh sản đều là bất hợp pháp, một lệnh cấm có thể gây ra “khoảng cách” giữa các tín hữu và Huấn quyền. Đức Cha nghĩ sao về điều này?

Đức cha Paglia: Về phần mình, tôi đồng ý với tất cả các đoạn văn của Humanae Vitae. Bạn sẽ không tìm thấy ai bảo vệ sự sống con người cách quyết liệt và kiên cường hơn tôi. Tôi nghĩ rằng Thông điệp này phải được đọc trong tính thời sự của nó, vốn liên quan đến việc sinh sản của các mối quan hệ con người. Chúng ta đang đối mặt với những thách thức mang tính thời đại: vào thập niên 1960, “viên thuốc” dường như là một cái xấu tuyệt đối. Ngày nay, chúng ta đang đối mặt với những thách thức còn lớn hơn nữa: sự sống của toàn thể nhân loại đang lâm nguy nếu chúng ta không ngăn chặn được vòng xoáy của các cuộc xung đột, vũ khí, nếu chúng ta không ngăn chặn việc phá hủy môi trường. Tôi muốn có một lối đọc sáp nhập Humanae Vitae với các thông điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô (và của Đức Gioan-Phaolô II) và với Tông huấn Amoris laetitia, để mở ra một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa nhân bản toàn diện. Toàn diện, bằng cách bỏ đi các lối đọc một phần. Rốt cuộc, Đức Hồng y Zuppi, trong thông điệp gởi tới cuộc hội thảo, đã viết rằng điều “rất quan trọng là chúng ta tránh tiến hành theo những vòng tròn hẹp và đồng nhất, mà cuối cùng sẽ có ý định lặp lại các lập trường của các tham dự viên, mà không kích hoạt một cuộc đối thoại chân thành và đích thực”. Quả thật, bởi vì – tôi xin nhắc lại – ngày nay, thách thức của sự tiếp tục, của việc bảo vệ, của sự phát triển sự sống con người phải được đặt ra theo cách thức chiều ngang, như Thông điệp Laudato si’ và Fratelli tutti dạy chúng ta.

Vatican News: Liệu có thể liên kết lại, và nếu có thì bằng cách nào, Thông điệp Humanae Vitae với Tông huấn Amoris laetitia?

Đức cha Paglia: Mối liên kết là gia đình. Bằng cách định vị mình như là mô hình sinh sản của các mối tương quan nhân học cơ bản, gia đình chứng tỏ là “động cơ của lịch sử”, một trường học đích thực về sự sống, mở ra cho xã hội và thế giới, một “phòng thí nghiệm” các mối tương quan nhân loại và trách nhiệm dân sự. Như thế, từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình mở ra cho thế giới và truyền đạt một cách sống trong đó, được ghi dấu không phải bằng sự chiếm hữu hay thống trị chuyên quyền, nhưng trao hiến và trách nhiệm, theo phong cách của nền sinh thái toàn diện mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã phác họa trong Thông điệp Laudato si’.

Trong chân trời này, chúng ta cũng có thể hiểu rõ mối liên hệ sâu xa giữa gia đình và Giáo hội. Đức Thánh Cha Phanxicô trình bày điều này trong chương 3 của Amoris laetitia, khi ngài khẳng định “Giáo hội là một gia đình của các gia đình” (AL,87) và nói thêm: “Giáo hội tốt cho gia đình, gia đình tốt cho Giáo hội” (số 87).

Tý Linh
(theo VaticanNews)

Read More
21Tháng Năm
2023

Nền văn minh Thánh Thể có dáng vẻ nào?

21/05/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Nền văn minh Thánh Thể có dáng vẻ nào?

 

“Làm thế nào Thánh Thể có thể cứu nền văn minh” của R. Jared Staudt (ảnh: TAN Books)

NỀN VĂN MINH THÁNH THỂ CÓ DÁNG VẺ NÀO?

Tác giả: R. Jared Staudt
Ngày 16 Tháng Năm, 2023

– Một đoạn trích từ cuốn sách mới, “Làm thế nào Thánh Thể có thể cứu nền văn minh” (R. Jared Staudt, 16.05.2023).

Bí tích Thánh Thể không phải là một học thuyết để tin, mà là một thực tế để sống – một thực tế sẽ định hình cuộc sống của chúng ta và mọi việc chúng ta làm. Trong cuốn sách mới của tôi, “Bí tích Thánh Thể có thể cứu nền văn minh như thế nào”, tôi xem xét cách thức sự biến đổi sẽ lan tỏa khắp thế giới, trở thành hạt giống cho sự đổi mới nền văn minh của chúng ta, nếu chúng ta cho phép Bí tích Thánh Thể thay đổi chúng ta. Những gì sau đây là một đoạn trích từ chương cuối cùng:

Tôi thực sự tin rằng nền văn hóa Kitô giáo sẽ trỗi dậy trở lại, trừ khi thế giới sớm kết thúc. Trước tiên, mọi thứ có thể trở nên tồi tệ hơn, nhưng Giáo hội giữ cho những hạt giống của nền văn minh tồn tại, như chúng ta thấy trong cuốn tiểu thuyết hậu tận thế của Walter Miller A Canticle for Leibowitz – Một bài thánh ca cho Leibowitz – nơi mà sau chiến tranh hạt nhân, các tu sĩ một lần nữa giữ vững niềm tin và học cách để sống còn. Đây đơn giản là những gì Thánh Thể làm trên trần thế; giữa những thăng trầm văn hóa, Thánh Thể từ từ thay đổi mọi thứ! Chúng ta không nên quan niệm về một nền văn minh mới như một sự áp đặt đức tin Kitô giáo hay Giáo hội lên thế giới. Thiên Chúa, mặc dù Ngài toàn năng, nhưng không ép buộc chúng ta, và Ngài dành một khoảng trống rộng rãi cho sự tự do của chúng ta. Ngài muốn chúng ta trở nên đầy sức sống và muốn các tổ chức của con người đạt được công lý phù hợp với những thiện ích thực sự của tự nhiên. Vì Thánh Thể là trái tim của Giáo Hội cũng như trái tim của thế giới, Thánh Thể làm cho cõi trần nên sinh động để đạt được cùng đích của nó: thiện ích chung của xã hội.

Một nền văn minh mới sẽ không xảy ra một cách tình cờ. Nền văn minh đó sẽ nảy sinh nhờ công việc khó nhọc chậm chạp của các Kitô hữu đang hoạt động để làm cho mọi sự trở nên mới mẻ, được truyền cảm hứng và nên vững mạnh bởi sự hiện diện của Chúa Giêsu trong họ. Đây là cách Chúa Giêsu thay đổi thế giới: từng người một. Các giám mục Hoa Kỳ đã giải thích hiệu ứng lan tỏa này trong tài liệu “Mầu nhiệm Thánh Thể trong Đời sống Giáo hội” của các ngài về sự hồi sinh Thánh Thể: “Sự biến đổi cá nhân và luân lý được Thánh Thể nâng đỡ vươn tới mọi lĩnh vực của đời sống con người. Tình yêu thương của Chúa Kitô có thể thấm nhuần tất cả các mối tương giao của chúng ta: với gia đình, bạn bè và hàng xóm của chúng ta. Nó cũng có thể định hình lại toàn bộ cuộc sống của xã hội chúng ta. Mối tương giao của chúng ta với Chúa Kitô không bị giới hạn trong phạm vi riêng tư; nó không dành cho riêng chúng ta” (số 35). Một nền văn minh được hồi sinh nhờ Thánh Thể sẽ nhìn nhận việc thờ phượng Thiên Chúa là thiện ích cao nhất của nền văn minh đó, như một nguồn sống vượt trên chính nó mà nó phụ thuộc vào, đồng thời rút ra từ sức mạnh này khả năng sắp xếp mọi thứ trên thế giới một cách đúng đắn trong công bằng và bác ái.

Thánh Thể có thể cứu nền văn minh bằng cách cung cấp khả năng tâm linh để khôi phục trật tự và sự lành mạnh cho nền văn hóa của chúng ta. Sức mạnh của Thánh Thể trước hết là sức mạnh nội tâm, cần có để vượt qua khoảng trống đạo đức và tâm linh trong nền văn hóa của chúng ta. Chúng ta cử hành phụng vụ vì chính Thánh Thể, chứ không phải như một phương tiện để đạt được mục đích thực tế. Thánh Thể vẫn là một dấu hiệu cho thấy điều tốt đẹp nhất của chúng ta nằm ngoài thế giới này trong ngày Sabát vĩnh cửu của Thiên Chúa. Do đó, mục tiêu của Thánh Thể không phải là một nền văn minh mới mà là sự hiệp thông với Thiên Chúa. Mặt khác, các mục tiêu của nền văn minh có thể được thực hiện nhờ sức mạnh của Thánh Thể, một sức mạnh thúc đẩy một trật tự đúng đắn và sự hài hòa trong cuộc sống con người. Nếu chúng ta tìm cách khôi phục mọi thứ bằng sức riêng của mình, chúng ta sẽ thất bại, nhưng với sự giúp đỡ của vị Vua thực sự của thế giới, chúng ta có thể truyền đi sức mạnh của sự thật và tình yêu chữa lành của Thiên Chúa. Mục tiêu của một nền văn minh Kitô giáo mới không phải là một chế độ thần quyền, vì Giáo hội luôn công nhận tính hợp pháp rõ ràng và riêng biệt của trật tự chính trị. Đại giáo đường không thể thay thế tòa thị chính, mặc dù nó phải đóng vai trò là trung tâm thực sự của thành phố và là điểm quy chiếu liên tục của thành phố trong những điều quan trọng nhất.

Văn hóa của thế giới Kitô giáo không phải là một thực thể chính trị đơn thuần. Dawson giải thích cách thế “Giáo hội thời trung cổ không phải là một quốc gia trong một quốc gia, mà là một xã hội siêu chính trị trong đó nhà nước là một cơ quan dưới quyền, mang tính địa phương và hạn chế. Lý tưởng nhất là có một xã hội vĩ đại – xã hội của những Kitô hữu – với một phẩm trật kép bao gồm các thừa tác viên lo việc tâm linh và các bộ trưởng lo việc trần thế.” Một nền văn minh Kitô giáo không do Giáo hội điều hành, vì nền văn minh đó phát sinh khi các thành viên của Giáo hội làm cho xã hội thấm nhuần các giá trị Kitô giáo thông qua sự lãnh đạo và công việc của họ. Vấn đề không chỉ đơn giản là có đủ người Công giáo ở các vị trí có ảnh hưởng, bởi vì chúng ta đã có điều đó nhưng lại không có tác dụng tốt, mà là để Chúa Giêsu hành động thông qua sự trung thành và ảnh hưởng hàng ngày của những người Công giáo bình thường. Ban đầu, nền văn minh Kitô giáo nảy sinh nhờ cuộc gặp gỡ bởi ý Chúa của Tin mừng với nền văn hóa Địa Trung Hải cổ đại, chủ yếu là triết học Hy Lạp và luật La Mã, được truyền đến các dân tộc mới ở châu Âu, những người man rợ. Bản thân nền văn hóa này không có gì đặc biệt đối với châu Âu, vì một mô hình giáo dục và công lý tương tự có thể phát sinh ở bất cứ đâu trên thế giới. Không có một cách làm việc đặc thù nào trong một xã hội Kitô giáo, không phải một nền văn hóa hay chính trị cụ thể nào, mà là một lối sống Kitô giáo làm thay đổi cách chúng ta suy nghĩ và tất cả những gì chúng ta làm.

Đức tin nhất thiết phải tạo ra văn hóa bằng cách làm cho thế giới thấy được những thực tại tâm linh, mặc dù trước hết chúng ta phải có đức tin để xây dựng lại nền văn minh! Dawson nhận ra một cách đúng đắn rằng bất cứ nơi nào nền văn hóa đó phát sinh, “thì việc quay trở lại Kitô giáo là điều kiện không thể thiếu để phục hồi trật tự tâm linh và làm cho cộng đồng tâm linh trở nên hiện thực, vốn sẽ là nguồn sống mới cho nền văn minh của chúng ta.” TS Eliot nêu rõ một điểm tương tự: “Dù lời loan báo nghe có vẻ tin tưởng mù quáng, nhưng Kitô hữu có thể hài lòng với không gì khác hơn là một tổ chức xã hội Kitô giáo – điều này không giống với một xã hội chỉ bao gồm những Kitô hữu sùng đạo. Đó sẽ là một xã hội trong đó mục đích tự nhiên của con người – đức hạnh và phúc lợi trong cộng đồng – được thừa nhận cho tất cả mọi người, và mục đích siêu nhiên – hạnh phúc đích thật – cho những ai có mắt để nhìn thấy nó.” Eliot đặt ra hai mục tiêu thiết yếu: thừa nhận và sống những điều tốt đẹp của tự nhiên, đồng thời hướng chúng đến một mục tiêu cuối cùng bên kia thế giới này. Vì chúng ta đã trải qua điều mà Nietzsche gọi là sự nghịch đảo trật tự mọi giá trị, nên việc khôi phục nền văn minh Kitô giáo sẽ một lần nữa gây ra sự truy ngược để trở về tình trạng trước kia, lộn đầu thế giới xuống (Công vụ 17: 6) để nó sẽ lại nằm ở phía bên phải – coi trọng sự khiêm nhường hơn là kiêu hãnh, hy sinh hơn là ích kỷ, thư thái hơn là bận rộn điên cuồng, và trao tặng hơn là tiêu dùng.

Về mặt làm việc vì lợi ích tự nhiên, Kitô hữu có thể hợp tác với tất cả những người thiện chí, đặc biệt là anh em Kitô hữu của chúng ta. Bí tích Thánh Thể truyền cảm hứng cho chúng ta lật đổ nền văn hóa sự chết bằng cách nhấn mạnh đến giá trị nội tại của sự sống. Tông huấn Sacramentum Caritatis – Bí tích Tình yêu – của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viết: “Lương thực sự thật đòi hỏi chúng ta tố cáo những tình trạng vô nhân đạo trong đó con người chết đói vì bất công và bóc lột, và nó mang lại cho chúng ta sức mạnh và can đảm mới để làm việc không mệt mỏi phục vụ nền văn minh tình thương” (số 90). Từ ngữ tình yêu đã được làm sáng tỏ ý nghĩa. Thay vì là một cảm giác tìm kiếm sự thỏa mãn cho riêng mình, thì tình yêu đích thực hy sinh vì lợi ích của người khác. Một xã hội Kitô giáo phải khước từ những lời nói dối tai hại và khước từ đem lại cho điều ác một vị thế công khai. Thực vậy, chính vì tình yêu mà xã hội Kitô giáo phải từ chối khẳng định điều ác là điều tốt trong khi bảo vệ những người dễ bị tổn thương khỏi sự bóc lột của xã hội công nghệ của chúng ta. Như Đấng Đáng Kính Jérôme Lejeune đã nói một cách khéo léo, “Phẩm chất của một nền văn minh được đo lường bằng sự tôn trọng mà nền văn minh đó dành cho những thành viên yếu kém nhất.” Một nền văn minh Kitô giáo được đánh dấu bằng tình yêu, tạo ra một môi trường làm cho việc trở nên người lương thiện được dễ dàng hơn, bởi vì nền văn minh đó tìm kiếm những mục tiêu đúng đắn, những mục tiêu dẫn đến sự triển nở của con người.

Một nền văn minh Kitô giáo chấp nhận một sự giản dị hơn bởi vì nó không tìm kiếm một điều không tưởng trên trái đất hay sự vui chơi của loài người (như trong dự án siêu phàm của ma quỷ). Nền văn minh đó đặt thiện ích trần gian trong quan điểm đúng đắn là có giới hạn và được sắp đặt để hướng tới những điều cao cả hơn. Nhân đức của tôn giáo, nhân đức vốn trả lại Thiên Chúa những gì là của Ngài và quy về Ngài trong mọi sự, là nhân đức của người công dân vì Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của mọi của cải trần thế. Một xã hội lành mạnh tôn vinh Thiên Chúa và sống theo cách làm đẹp lòng Ngài, điều này cũng dẫn đến hạnh phúc của các công dân của xã hội đó. Một nền văn minh Kitô giáo giữ đức tin trong danh dự, tìm kiếm các giải pháp lấy cảm hứng từ đức tin đó và đoàn kết mọi người lại với nhau để theo đuổi những thiện ích cao nhất. Để vượt qua trào lưu tục hóa, nền văn minh Kitô giáo cho phép thực hành đức tin một cách công khai, chứ không chỉ đơn giản là một đức tin riêng tư vốn phải đấu tranh để thể hiện bản thân một cách nhất quán và đủ bản lĩnh. Giống như những ngọn tháp chóp nón của Vương cung thánh đường Sagrada Familia ở Barcelona, ​​nền văn minh Kitô giáo có thể trỗi dậy trong thế giới hiện đại, không chỉ đơn giản là trở về quá khứ. Nền văn minh Kitô giáo sẽ là một sáng tạo mới, dựa trên di sản vĩ đại của nền văn hóa Kitô giáo và thể hiện nền văn hóa đó theo một cách mới mẻ, kết hợp những tiến bộ đích thực của thế giới hiện đại đồng thời tích hợp chúng vào một tầm nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống con người.

Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: ewtn.co.uk (17.05.2023)

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 443
  • Page 444
  • Page 445
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.