2021
Chức vụ Tư Tế, Vương Đế và Ngôn Sứ của người Giáo dân là gì?
Chức vụ Tư Tế, Vương Đế và Ngôn Sứ của người Giáo dân là gì?
Đây là một đặc ân cao quý và cũng là trách nhiệm của những ai đã gia nhập Giáo Hội của Chúa Kitô qua Phép Rửa.Các giáo phụ ( Church Fathers) xa xưa đã dạy rằng người tín hữu giáo dân là Đức Kitô thứ hai ( Alter Christus) nhờ Phép rửa cho phép họ được tham dự vào các chức vụ kia của Chúa Kitô.
Danh xưng Đức Kitô thứ hai sau này cũng được dùng để chỉ các tư tế phẩm trật ( ordained Ministers) như linh mục và giám mục, là những người thực sự thay mặt và nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) khi cử hành các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải Xức dầu và Truyền Chức Thánh ( dành riêng cho giám mục) Các Bí tích Rửa tội và Hôn phối thì phó tế có thể làm , kể cả giáo dân trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử. Hai người phối ngẫu có thể kết hôn thành sự với sự chứng kiến của hai nhân chứng trong trường hợp nguy tử, không tìm được linh mục hay phó tế chứng hôn.( x giáo luật số, 1116 &1)
Danh từ giáo dân( lay persons) được dùng để chỉ những người không có chức thánh ( giáo sĩ =clerics) hoặc tu sĩ có lời khấn Dòng ( religious life). Họ chính là thành phần dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội và tham dự vào chức vụ Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế của Chúa Kitô theo cách thức riêng của họ.
Thánh Công Đồng Vaticanô II , trong Hiến Chế Tin Lý Lumen Gentium, đã phân biệt chức linh mục thông thường của giáo dân.( the common priesthood of the laity) khác với chức vụ linh mục biệt tác của hàng giáo sĩ thừa tác ( extraordinary ministerial Priesthood of the clerics) như sau:
Hàng giáo sĩ thừa tác thì hành chức năng tư tế khi cử hành các bí tích , cách riêng bí tích Thánh Thể và Hòa giải nhân danh Chúa Kitô ( Personna Christi). Nghĩa là chính Chúa Kitô cử hành các bí tích qua tay các thừa tác viên con người là Phó tế, linh mục và giám mục.Vì thế, bí tích luôn thành sự ( valid) khi thừa tác viên nhân danh Chúa và cử hành đúng nghi thức ( rites) mà Giáo hội đã qui định.
Thí dụ, rửa tội phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì bí tích không thành sự, dù cho thừa tác viên là linh mục hay giám mục.Cũng vậy, khi cử hành bí tích Thánh Thể trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ Ơn, nếu thừa tác viên không dùng đúng chất thể là bánh không men và rượu nho đúng theo qui đinh của Giáo Hội, hoặc không đọc đúng kinh Nguyện Tạ Ơn và lời truyền phép ( consecration) theo chữ đỏ ( rubric) thì bí tích sẽ không thành sự . Ngược lại, nếu không có chức linh mục hữu hiệu hay thành sự, thì cho dù có đọc và làm đúng theo lễ qui vẫn không có bí tích được , và người cử hành sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết , vì không có chức linh mục mà dám cử hành Thánh Lễ hay giải tội cho ai.( x giáo luật số 1378 triệt 1 và 2).
Tiếp đến, hàng giáo sĩ thừa tác thi hành chức năng ngôn sứ của Chúa Kitô qua việc rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và giáo lý của Giáo hội cho giáo dân ở khắp nơi để giúp họ biết sống đức tin ,đức cậy và đức mến cách đích thực để được cứu rỗi theo lòng mong muốn của Thiên Chúa, “Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” ( 1 Tm 2 :4)
Mặt khác, hàng giáo sĩ và tu sĩ cũng được mong đợi sống phù hợp với lời mình rao giảng và dạy dỗ để làm chứng cho Chúa Kitô, “Đấng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20 28)
Đây là sứ mệnh mở mang Vương Quôc của Chúa Kitô, Vương Quốc của yêu thương, tha thứ, công bình và thánh thiện trong lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới
Trên đây là cách thức hàng giáo sĩ tham dự vào chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô, với tư cách là tư tế thừa tác ( ministerial sacerdoce)
Người giáo dân, nhờ bí tích Rửa tội, cũng tham dự vào các chức năng trên nhưng theo cách thức riêng của họ như sau:
Liên quan đến chức năng ngôn sứ, người giáo dân không rao giảng lời Chúa trong nhà thờ, nhà nguyện như các linh mục, giám mục, mà rao giảng bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa để giúp họ nhân biết và tin yêu Chúa nhờ gương sống đức tin của mình.
Nghĩa là, trong khi những người không có niềm tin, hay có mà không dám sống niềm tin ấy, nên họ ăn gian nói dối, cờ bạc , gian dâm, thay vợ đổi chồng, buôn bán gian lận, thù ghét người khác, phá thai , ly dị… thì người có niềm tin Chúa phải sống ngược lại với cách sống của những người vô đạo hay chối đạo kia để “ họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm , mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên Trời.” ( Mt 5 :16), như Chúa Giê su đã dạy các môn đệ xưa.
Đây chính là trách nhiệm “ phúc âm hóa môi trường sống” của người tin hữu giáo dân, góp phần hứu hiệu với hàng giáo phẩm và giáo sĩ trong sứ mệnh “phúc âm hóa thế giới” để mở mang Nước Chúa trên trần thế.Chính nhờ gương sống chứng nhân của mình mà người giáo dân sẽ thuyết phục được nhiều người khác nhận biết và tin yêu Chúa . Vì thề, Công Đồng Vaticanô II đã dạy rằng:
“ …Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian.” ( LG, số 33)
Nói khác đi, khi sống giữa những người khác tin ngưỡng hay vô tín ngưỡng, người tín hữu công giáo làm chứng cho Chúa Kitô và rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống công bình, bác ái,vị tha, trong sạch để đối nghịch với lối sống vô luân, gian tham, xảo trá, gian manh, vô nhân đạo của người đời. Nghĩa là. Khi không hùa theo cách sống của họ và có can đảm sống theo đường lối của Chúa từ trong gia đình ra đến ngoài cộng đồng xã hội để không thay chồng đổi vợ, không ly dị, phá thai, không thù oán ai, không buôn bán gian lận, không lui tới những nơi tội lỗi như sòng bài và nhà điếm, thì người giáo dân đã chu toàn chức vụ ngôn sứ của mình là rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô cách hùng hồn bằng chính đời sống của mình cho những người sống vô luân vô đạo ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Và đây mới chính là cách thi hành chức vụ ngôn sứ của người giáo dân trong Giáo Hội để góp phần mở mang Nước Chúa bằng lời nói và việc làm của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa.
Nói khác đi, nếu người tín hữu Chúa Kitô- giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân- mà cũng ham mê tiền của, chạy theo những lôi cuốn về danh lợi với người đời thì sẽ trở thành phản chứng ( anti-witness) thay vì là nhân chứng ( witness) cho Chúa Kitô
“ Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có.” ( 2 Cor 8: 9)
Mặt khác, khi người tín hữu Chúa Kitô – giáo sĩ ,tu sĩ và giáo dân- sống công bình bác ái, trong sạch và vị tha, yêu thương, tha thứ từ trong gia đình ra đến cộng đồng xã hội thì cũng mang Vương Quốc của Chúa là Vương Quốc yêu thương, công bình, an vui và thánh thiện đến với những ai đang sống trong hận thù, bất công, bóc lột người khác, vô luân vô đạo và dửng dưng trước sự nghèo đói của biết bao anh chị em đồng loại sống quanh mình.
Sau hết, người tín hữu giáo dân thi hành chức năng tư tế của mình bằng cách dâng đời sống cá nhân hay gia đình với mọi vui buồn , sướng, khổ, thành công hay thất bại để hiệp thông với sự đau khổ của Chúa Kitô một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá , để đền tội thay cho nhân loại, và còn tiếp tục dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội ngày nay.
Tóm lại, người tín hữu giáo dân thi hành các chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của mình theo cách thức đã trình bày trên đây, để thông hiệp cùng với hàng giáo sĩ thừa tác tế lễ, rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để mở mang Vương Quốc yêu thương, công bình và thánh thiện của Người đến với mọi tâm hồn con người ở khắp mọi nơi, để đánh tan bóng đen tội lỗi của văn hóa sự chết, của chủ nghĩa tục hóa ( vulgarism) tôn thờ tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, đang ngày một bành trướng ở khắp nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
2021
Vị thánh mà chúng ta cần đến trong cơn đại dịch
Vị thánh mà chúng ta cần đến trong cơn đại dịch
Đại dịch Covid-19 đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và tiếp tục lan tràn khắp thế giới, buộc nhiều người phải sống cách ly và ẩn mình. Thánh Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu, đã sống một cuộc đời âm thầm, hơn bao giờ hết Ngài là vị thánh bảo trợ mà chúng ta cần đến trong những lúc khó khăn này.
Đại dịch Covid-19 đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và tiếp tục lan tràn khắp thế giới, buộc nhiều người phải sống cách ly và ẩn mình. Thánh Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu, đã sống một cuộc đời âm thầm, hơn bao giờ hết Ngài là vị thánh bảo trợ mà chúng ta cần đến trong những lúc khó khăn này.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse nhằm tôn kính một trong những vị thánh mà ngài yêu thích. Bằng Tông thư Với trái tim người cha (Patris Corde), Đức Giáo hoàng mời gọi Giáo hội hoàn vũ suy niệm và kêu cầu sự bảo trợ từ người cha nuôi của Đức Giêsu.
Mẫu gương và sự bảo trợ của thánh Giuse đến thật đúng lúc. Vào thời điểm mà đại dịch toàn cầu đã buộc hàng triệu người sống trong nhà, cách ly, và cô đơn, chúng ta có thể xem thánh Giuse như là khuôn mẫu của đời sống thầm lặng. Chúng ta cũng biết rằng thánh Giuse đã mất trước khi Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai; như vậy, chắc chắn người chồng của Đức Maria cũng đã quen với khổ đau. Vì thế, cũng có thể xem Ngài là đấng bảo trợ, cầu bầu cho chúng ta vì Ngài thấu hiểu cuộc chiến đấu của chúng ta với bệnh tật.
Nhưng chúng ta biết gì về đấng bảo trợ và đồng hành này? Giống như nhiều vị thánh vào những thời kỳ đầu của Giáo hội, chúng ta biết rất ít về thánh Giuse, ngoài vài dòng được nhắc đến trong các sách Tin mừng. Ngài thuộc dòng dõi vua Đavít và đã đính hôn với một thiếu nữ làng Nadarét. Khá bất ngờ khi biết tin Đức Maria mang thai, nhưng ông Giuse “là người công chính và không muốn tố giác bà” (Mt 1,19) như Tin mừng Matthêu thuật lại; Ngài đã định tâm hủy bỏ hôn ước cách kín đáo. Do đó, ngay cả trước khi Đức Giêsu chào đời, ông Giuse đã thể hiện tròn đầy lòng trắc ẩn và tha thứ.
Nhưng Thiên Chúa lại có những kế hoạch khác. Giống như tổ phụ Giuse trong tình huống khó khăn nơi sách Sáng thế, Thiên Chúa cũng dùng một giấc mơ để bày tỏ kế hoạch cứu độ cho người thợ mộc làng Nadarét. Trong giấc mơ, thiên thần cho thánh Giuse biết bí mật về Đức Maria: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Sau khi Đức Maria sinh con, cũng chính thiên thần đó bảo ông Giuse đưa Hài nhi và Mẹ Người sang Ai Cập để trốn vua Hêrôđê tàn ác. Và thánh Giuse đã vâng nghe.
Còn vài câu chuyện nữa về cậu Giêsu – bị lạc trong chuyến hành hương và được tìm thấy đang giảng dạy trong đền thờ – và rồi chúng ta biết đến quãng đời ẩn dật của Đấng Cứu thế. Tất cả những gì Tin mừng Luca nói về 18 năm đó là thế này: “Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52).
Thời gian thánh Giuse
Những năm đó là thời gian của thánh Giuse – thời gian dành để chăm sóc và dạy nghề thợ mộc cho người con nuôi. Nơi xưởng mộc của ông Giuse ở Nadarét, có lẽ Đức Giêsu đã được chỉ dẫn về các nguyên liệu thô của nghề mộc: loại gỗ nào thích hợp nhất để làm bàn ghế, loại gỗ nào tốt nhất để làm ách và cày. Là người giàu kinh nghiệm, ông Giuse có lẽ đã dạy cho anh thợ học nghề này cách đóng đinh bằng búa, cách khoan thẳng và sâu vào ván, và cách bào phẳng mép gỗ hay thanh đà.
Thánh Giuse có lẽ cũng đã truyền lại cho Đức Giêsu những giá trị cần có để trở thành một người thợ mộc giỏi. Bạn cần kiên nhẫn (để đợi gỗ khô và có thể sử dụng), khả năng phán đoán chính xác (để đảm bảo rằng dây dọi đã thẳng), sự kiên trì (để chà nhẵn mặt bàn) và sự trung thực (để tính giá hợp lý cho mọi người).
Cùng với người thầy dạy nghề của mình, anh thanh niên Giêsu đã lao động và xây dựng, đóng góp suốt quãng thời gian đó cho lợi ích chung của làng Nadarét và các làng mạc xung quanh. Không khó để hình dung những đức tính mà Đức Giêsu học được từ người thầy của mình – kiên nhẫn, phán đoán chính xác, kiên trì và trung thực – đã giúp Ngài chu toàn tốt sứ vụ sau này. Thánh Giuse đã giúp trang bị cho Đức Giêsu điều mà nhà thần học Dòng Tên John Haughey gọi là “khí cụ cần thiết nhất để cứu độ thế giới.”
Cái chết sớm của ông Giuse
Tuy nhiên gần như ngay sau khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai thì thánh Giuse biến mất – ít nhất là trong các trình thuật Tin mừng. Điều đáng chú ý là ông Giuse không có tên trong số các khách mời dự tiệc cưới Cana, đánh dấu khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Phải chăng ông đã mất trước khi người con trai đến tuổi trưởng thành?
Vài năm trước, trong một cuộc triển lãm nghệ thuật tại nhà thờ Chánh tòa thánh Gioan của Giáo hội Trưởng lão ở thành phố New York, tôi đã bắt gặp một bức chân dung có tên là “Cái chết của thánh Giuse.” Nơi bức chân dung lớn, họa sĩ Francisco Goya vẽ một ông Giuse ốm yếu nằm trên giường. Đứng bên cạnh là anh thanh niên Giêsu, có lẽ khoảng 16 hay 17 tuổi, không để râu, mặc áo choàng dài, chăm chú nhìn thánh Giuse. Ngồi bên giường là Mẹ Maria.
Bức tranh của Goya ghi lại thật đẹp nỗi buồn bao trùm trước cái chết sớm của thánh Giuse. Nỗi buồn như vậy cũng đã xảy ra với chúng ta nhiều tháng qua, nỗi buồn bao quanh cái chết của rất nhiều người do dịch Covid.
Theo truyền thống, thánh Giuse được kêu cầu như là bổn mạng “kẻ mong sinh thì” [kẻ chết lành]. Tuy nhiên cái chết của thánh Giuse có lẽ không phải không gây bất an đối với Đức Giêsu hay Mẹ Maria. Các sách Tin mừng không kể gì về việc than khóc. Không chỗ nào cho biết nỗi sầu khổ của Mẹ Maria, hay nỗi đau buồn của Đức Giêsu. Thế nên Thánh gia cũng giống như bao gia đình ngày nay đang đau buồn khi mất cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em và con cái trong cơn đại dịch. Họ cũng đã gánh chịu phần lớn nỗi đau trong cảnh cách ly, nhưng lại không thấy xuất hiện trên bất kỳ bản tin nào.
Cuộc đời âm thầm của thánh Giuse
Cuộc đời âm thầm của thánh Giuse cũng có thể nói với những người bị áp đảo trong cơn đại dịch này; họ tự hỏi liệu Chúa có ở với họ, có nhìn thấy họ không. Chỉ xuất hiện thoáng qua trong các sách Tin mừng, không nói một lời nào, thánh Giuse đã sống một cuộc đời âm thầm phục vụ Thiên Chúa, một cuộc sống mà chúng ta gần như không hề biết đến. Tuy nhiên, cuộc sống của Ngài có giá trị vô cùng, đầy những hành động yêu thương âm thầm, kín đáo, dù không được ghi lại. Cuộc đời của thánh Giuse nói với tất cả chúng ta: “Chúa nhìn thấy tất cả.”
Cuộc đời âm thầm của Ngài thật gần gũi với hàng triệu con người đang nỗ lực tìm cách vượt qua cơn đại dịch: những nhân viên y tế ở tuyến đầu, mà những hy sinh âm thầm không được biết đến ngay cả với gia đình của họ. Những cha mẹ đơn thân không thể tâm sự cùng ai nỗi lo lắng khôn nguôi về con cái mình.
Những người con lớn tuổi có cha mẹ già đang sống trong nhà dưỡng lão, lo sợ về sự lây lan của dịch bệnh giữa những cư dân cao tuổi. Nhân viên kiểm soát, tài xế công cộng, thợ bảo trì, hầu như không đủ sống trước cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm, giờ đây không có cách nào để “làm việc tại nhà.” Linh mục dù đã cử hành vô số đám tang cho các nạn nhân Covid và gia đình của họ, lo lắng không thể an ủi họ như mong muốn. Các bệnh nhân Covid đang chết trong cô đơn, than khóc trong thất vọng và đau khổ, tự hỏi không biết điều gì đang xảy ra.
Có rất nhiều cuộc đời âm thầm, biết bao hành động yêu thương không được nhìn thấy trong cơn đại dịch này. Biết bao lời cầu nguyện thầm kín cất lên đến tận thiên đàng. Người bạn thanh sạch của Đức Maria và là cha nuôi của Đức Giêsu, thấu hiểu tất cả.
Lạy thánh Giuse, đấng bảo trợ những cuộc đời âm thầm, đấng bảo trợ trong cơn đại dịch này, xin cầu cho chúng con, năm nay và mãi mãi.
James Martin, S.J.
Chuyển ngữ: ĐCV Sao Biển
2021
Cầu nguyện Taizé: Một hình thức chiêm niệm bằng vẻ đẹp
Cầu nguyện Taizé: Một hình thức chiêm niệm bằng vẻ đẹp
Cầu nguyện Taizé không còn là một điều quá lạ lẫm với người trẻ Công Giáo Việt Nam. Được du nhập vào Việt Nam đã hơn hai thập kỉ do Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn khởi xướng ban đầu tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn (năm 2000), rồi sau đó lan ra các nhóm như Nhóm Cầu Nguyện Mạctynho (Sài Gòn) và các nơi khác, các giờ cầu nguyện Taizé đã thu hút nhiều bạn trẻ tham dự và đem lại nhiều hiệu quả thiêng liêng trong đời sống của người trẻ trong thế giới đương đại. Nhìn vào các giờ cầu nguyện Taizé, chúng ta có thể thấy nhiều vẻ đẹp. Xin đơn cử ba vẻ đẹp chính của những giờ cầu nguyện này.
- Vẻ đẹp của việc cầu nguyện:
Người trẻ đến với giờ cầu nguyện để làm gì? Dĩ nhiên là để cầu nguyện. Quang cảnh của những giờ cầu nguyện theo Lời Chúa thật là đẹp. Chúng ta có thể thấy những người tham dự, nhất là những người trẻ yêu mến đời sống cầu nguyện, lặng lẽ ngồi trước ánh sáng lung linh của những ngọn nến, chiêm ngắm những bức Icône cổ kính, cùng với những bình hoa lá, những tiểu cảnh được trang trí rất đơn sơ nhưng khéo léo. Chắc hẳn những người tham dự đều cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn, vẻ đẹp của việc cầu nguyện và nếm cảm được những giây phút ngọt ngào trong tương quan với Chúa, khi gặp được Ngài trong những giờ phút tĩnh lặng của trái tim, khi tạm xa cách những xô bồ bon chen của nhịp sống cuốn quay hằng ngày. Thêm nữa, những giai điệu, tiết tấu và hòa thanh du dương của âm nhạc, qua các nhạc cụ và ca đoàn có thể giúp người tham dự cảm nghiệm sự phong phú của đời cầu nguyện: những bài hát lúc thì êm ái du dương, lúc thì tưng bừng ca ngợi, lúc thì tha thiết khẩn nài, lúc thì xác tín tin tưởng… Việc cầu nguyện thật đẹp đẽ và đơn sơ, tinh khiết và có sức gợi hứng cho đời sống thường ngày. Nhiều bạn trẻ cứ ngỡ trước giờ mình đã biết cầu nguyện khi đọc kinh, dự lễ… lại cảm thấy họ chưa thực sự biết cách cầu nguyện cho tới khi họ tiếp xúc với việc cầu nguyện theo phong cách gần gũi và đơn sơ này. Những giờ cầu nguyện này là những khoảng lặng vô cùng cần thiết để giúp người cầu nguyện dừng lại và nghỉ ngơi, để có thêm sức mạnh để tiếp tục hoạt động, học hành, làm việc, sống Tin Mừng và loan báo Tin Mừng ấy cho thế giới hôm nay. Những người trẻ cầu nguyện, dù là ở Taizé, Pháp hay dù ở bất kì nơi nào trên thế giới, họ đều ý thức mình sống tinh thần hiệp thông với nhau trong Giáo Hội, vốn là một điều tối quan trọng trong bầu khí thế giới nhiều chia rẽ, nhiễu nhương và đau khổ hiện nay. Giữa một thế giới xao động và ồn ào, cầu nguyện Taizé giúp cho người tham dự thấy vẻ đẹp của thinh lặng và vẻ đẹp của một tâm hồn cầu nguyện, một trái tim khát khao mở ra với Thánh Ý Thiên Chúa trong cuộc sống mình.
- Vẻ đẹp của việc phụng thờ Thiên Chúa:
Cầu nguyện Taizé toát lên vẻ đẹp cao cả của việc phụng thờ Thiên Chúa. Việc cầu nguyện không chỉ là chuyện tương quan mật thiết và cá nhân với Thiên Chúa dù đúng theo bản chất là như thế. Khi cầu nguyện cùng với nhau, chúng ta còn đang phụng thờ Thiên Chúa cho xứng với vinh quang cao cả của Người. Người ta thường hay nghĩ người trẻ là những người năng động (đến mức tăng động chăng?), nhiệt huyết, sôi nổi, và thường không có khả năng suy tư, lắng đọng và tĩnh tâm. Nhưng hãy nhìn vào một giờ cầu nguyện Taizé thử xem. Người ta thấy biết bao bạn trẻ ngồi đó, thinh lặng và chiêm niệm. Những bạn trẻ này đang cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa của họ. Giờ cầu nguyện Taizé thật đẹp, bởi vì cho người ta thấy được vẻ cao cả của những tâm hồn biết quỳ gối, như có danh nhân xưa đã từng nói: “Ai có can đảm đủ để quỳ gối trước Thiên Chúa thì có thể mạnh mẽ không bao giờ quỳ gối trước thế lực nào của phàm trần.” Cấu trúc của một giờ cầu nguyện Taizé thực sự là một buổi phụng vụ Lời Chúa, trong đó người ta kêu xin sự hiện diện của Thánh Linh Thiên Chúa, ca ngợi Thiên Chúa giữa toàn thể công hội dân Ngài, rồi lắng nghe tâm tình của Thánh Vịnh, cao điểm là lắng nghe Lời của Chúa, phút thinh lặng thánh, một vài lời khẩn cầu cho những nhu cầu hiện tại, và kinh Lạy Cha được xướng lên trong niềm hiệp thông liên kết của mọi người, rồi có thể duy trì thêm giờ cầu nguyện bằng vài bài hát. Giữa một thế giới nhiều bận tâm tới những thú vui hào nhoáng bên ngoài, với những hấp dẫn cuồng quay của nó, cầu nguyện Taizé là một gợi ý để người tham dự thấy được vẻ đẹp của việc phụng thờ Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn hạnh phúc, suối mạch của sự sống của cả nhân loại này mà rất thường khi đã loại trừ, lãng quên và hững hờ.
- Vẻ đẹp của đức tin:
Cầu nguyện Taizé còn cho chúng ta thấy được vẻ đẹp của đức tin. Những bài thánh ca Taizé, đa phần được rút ra từ chính Lời Chúa hay các nguồn mạch của phụng vụ và đời sống thiêng liêng với các tư tưởng của các vị thánh và các nhà linh đạo lớn, cho thấy vẻ đẹp khôn tả của đức tin diễn tả bằng sự rung cảm của trái tim, trào ra cử chỉ của thân xác, bằng ngôn ngữ của âm nhạc. Những bức Icône vốn dĩ nhiều ý nghĩa sâu xa được chiêm ngắm và khám phá. Những vẻ đẹp rất truyền thống như tiếng chuông Nhà Thờ vốn đã im tiếng ở nhiều nơi ở phương Tây, vẫn vọng vang trước mỗi giờ cầu nguyện ở Taizé, gây xúc cảm đặc biệt cho tâm hồn. Tôi khá xúc động bởi lắng nghe tiếng chuông của Taizé trước mỗi giờ cầu nguyện, nó nhắc chúng ta tới một truyền thống Công Giáo xa xưa và thúc giục chúng ta đến với Chúa, quy tụ bên nhau để được Người huấn dụ và nuôi dưỡng. Và một điều rất đặc biệt, Taizé là một cộng đoàn đan tu mang tính đại kết. Các thầy (frère) của cộng đoàn này thực sự là những đan sĩ, với những kỉ luật đời tu chặt chẽ nhưng vẫn đủ cởi mở để đón tiếp người trẻ khắp nơi trên thế giới. Và hơn nữa, ở đây, chúng ta thấy một cộng đoàn đại kết: bạn sẽ thấy người Công Giáo La Mã, người Chính Thống Giáo, người Tin Lành và người Anh Giáo có thể nói chuyện với nhau, cầu nguyện cùng nhau. Mỗi bên, dù vẫn tuân giữ những kỉ luật riêng về việc phụng tự (thánh lễ) kĩ lưỡng, nhưng những gì có thể cùng nhau thực hiện, họ thực hiện cùng nhau, để thực hiện mong ước của Đức Giêsu xưa: “Xin cho họ nên một” (Ga 17,11). Họ không tìm những điểm khác nhau, nhưng tìm những điểm chung để đối thoại và chia sẻ. Mỗi năm, có một cuộc hành hương đức tin được Cộng Đoàn tổ chức để giúp người trẻ tìm lại đức tin. Rất nhiều bạn trẻ trong những cuộc hành hương tìm về Taizé đã tìm được nguồn mạch đức tin của đời sống họ vốn đã khô cạn từ lâu, hay không được cha mẹ và gia đình truyền lại, hay có những người khác làm mới lại tương quan giữa họ và Thiên Chúa trong những cuộc bừng tỉnh nội tâm mới mà họ tìm thấy trong việc cầu nguyện Taizé. Đó không phải là những vẻ đẹp quý giá của đức tin sao? Giữa một thế giới mà đức tin vào Thiên Chúa và Đức Giêsu dễ bị nhạt nhòa, phai phôi, thì việc cầu nguyện Taizé nhắc cho chúng ta về vẻ đẹp của đức tin Kitô giáo.
Trong một cuộc sống càng ngày càng có nhiều căng thẳng, nhất là trong những tháng ngày gần đây, nhiều người trẻ hay đổ xô đi tìm những lợi ích của việc thiền định. Đã hẳn, việc thiền định có những lợi ích nhất định và những người thực tập thiền cách đắc đạo như những thiền sư là những vị có đạo đức thâm sâu, nhưng là người Công Giáo, chúng ta cũng có những phương pháp để tĩnh tâm rất đẹp đẽ, cao quý và hữu ích, đó là việc cầu nguyện và chiêm niệm. Sao chúng ta lại không tận dụng? Phải chăng vì chúng ta chưa thấy được vẻ đẹp của việc cầu nguyện và chiêm niệm Kitô giáo? Hay chúng ta chưa biết cách cầu nguyện hay đã cầu nguyện sai cách khi cứ chỉ mãi đọc kinh mà thôi, không biết cầu nguyện thật sự chẳng hạn? Những lợi ích của thiền định còn bị lợi dụng để thổi phồng lên một cách vô tội vạ nhiều khi chỉ để kinh doanh, để kiếm lời, hay để quên đi những thực tế nghiệt ngã trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Cầu nguyện Kitô giáo thì vừa giống, vừa khác như thế. Giống, là việc cầu nguyện có thể cho chúng ta sự bình tâm và tĩnh lặng, giải thoát chúng ta khỏi nô lệ cho những thực tại thế gian để tự do sống trong thế giới vĩnh hằng của Chúa. Nhưng khác, là cầu nguyện Kitô giáo không phải là một liều thuốc mê để chạy trốn thực tại. Kitô giáo vẫn đối diện với tất cả mọi thực tế của đời sống, dẫu nó có khắc nghiệt, đắng cay, vất vả nhọc nhằn cách mấy. Nhưng nhờ sức mạnh của Thiên Chúa, chúng ta vượt qua nhờ sức mạnh có được khi cầu nguyện. Cầu nguyện Taizé nói riêng và cầu nguyện Kitô giáo nói chung cho chúng ta thấy những vẻ đẹp, để từ sức quyến rũ của những vẻ đẹp của việc cầu nguyện, của việc phụng thờ Thiên Chúa và đức tin Kitô giáo, chúng ta có thể đối diện mọi thứ trong đời với não trạng, ánh mắt, đôi tai, miệng lưỡi đã được đổi mới trong giờ cầu nguyện. Có lẽ vì thế mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trích lại lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII khi ngài nói về cộng đoàn Taizé: Đó là một khoảnh khắc mùa xuân nho nhỏ! Đó là một thời xuân nho nhỏ nhưng có sức hồi sinh nhiều tâm hồn cho Giáo Hội. Nó có tác động âm ỉ, nhưng lớn lao trong Giáo Hội bất cứ nơi nào nó hiện diện. Cùng với tất cả các hình thức cầu nguyện truyền thống đẹp đẽ khác như Phụng vụ Thánh Lễ, kinh Mân Côi, Chặng Đàng Thánh Giá, Lectio Divina…, cầu nguyện Taizé đóng góp vào kho tàng phong phú của Giáo Hội. Đó là một hình thức chiêm niệm bằng vẻ đẹp.
Con Chiên Nhỏ
2021
Các Giáo hội Kitô Philippines tố cáo nạn buôn người
Các Giáo hội Kitô Philippines tố cáo nạn buôn người
Các Giáo hội Kitô ở Philippines tố cáo nạn buôn người, khẳng định hiện tượng này không chỉ là hậu quả của nghèo đói, nhưng còn do tham nhũng trong các cơ quan công quyền.
Nhân ngày Thế giới chống Nạn buôn người, ngày 30/7, tại Manila đã diễn ra một cuộc hội thảo được tổ chức bởi Phong trào liên tôn Philippines chống nạn buôn người, một tổ chức được thành lập từ năm 2012, gồm Hội đồng Giám mục Philippines, Hội đồng Quốc gia các Giáo hội Kitô và Hội đồng các hệ phái Tin lành.
Tại cuộc gặp gỡ, các vị lãnh đạo Kitô đã thúc giục tổng thống Rodrigo Duterte chống nạn buôn người, loại bỏ những viên chức tham nhũng nhận hối lộ từ những kẻ buôn người. Các tham dự viên của buổi hội thảo đều cho rằng, cần phải tăng cường chiến dịch chống chế độ nô lệ hiện đại, qua việc giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của nó. Thực tế, nguyên nhân của nạn buôn người không chỉ do nghèo đói, nhưng còn do những kẻ buôn người được các viên chức nhà nước bảo vệ. Vì vậy, tổng thống phải sa thải các viên chức này.
Theo Chỉ số nô lệ toàn cầu, khoảng 784.000 người Philippines sống trong cảnh nô lệ, trong khi Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Philippines ở vị trí thứ 115 trong bảng xếp hạng thế giới về tham nhũng.
Gần đây, chính phủ Philippines tuyên bố rằng với việc tôn trọng “các tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu” được thiết lập ở cấp độ quốc tế trong cuộc chiến chống buôn người, và nhờ nỗ lực của chính phủ, hiện tượng này đang giảm dần. Nhưng theo Phong trào liên tôn Philippines chống nạn buôn người, thực tế không đúng như vậy.
Hôm Chúa nhật 01/8, trong cuộc phỏng vấn với Đài Chân lý Á châu, Đức Hồng y Jose Advincula, Tổng Giám mục Manila cũng đã nói về mối liên hệ giữa nạn buôn người, nghèo đói và tham nhũng. Đức Hồng y nhấn mạnh rằng các viên chức chính phủ nhận hối lộ trong hoạt động của những kẻ buôn người là đồng lõa với “tội ác chống lại loài người”. Tất cả mọi người phải dấn thân chống lại tội ác này. (CSR_5350_2021)
Ngọc Yến
