2021
Xác minh Bí tích Giải tội bằng văn phạm Kinh thánh
Xác minh Bí tích Giải tội bằng văn phạm Kinh thánh
Những người Tin lành không thể phản đối cách hiểu của Công giáo về Bí tích Giải tội dựa trên nền tảng ngữ pháp trong Tin mừng Gioan
Domaine Public / Tổng lãnh Thiên thần Raphael và Tôbia
Gioan 20,23 là đoạn văn then chốt đối với những người Công giáo khi đưa ra bằng chứng Kinh thánh cho Bí tích Giải tội. Đoạn văn cho biết: “Nếu các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; nếu các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ”.
Có vẻ rõ ràng là một người Công giáo có thể lập luận rằng Đức Giêsu đã ban cho các tông đồ thẩm quyền để tha tội.
Nhưng những người Tin lành không cho là vậy. Một số tranh luận rằng bản văn tiếng Hy Lạp cho thấy việc tha thứ hay cầm giữ tội lỗi là điều Thiên Chúa đã thực hiện trước khi các tông đồ tuyên bố như vậy. Todd Baker, một nhà biện giải Tin lành, trước kia là tín hữu Công giáo, đưa ra lập luận theo kiểu sau:
“Cụm từ ‘được tha’ và ‘bị cầm giữ’ mà Đức Giêsu đã nói được diễn đạt ở thì hoàn thành. Như vậy, câu này có thể hiểu theo nghĩa đen: ‘Nếu các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ đã được tha rồi; nếu các người cầm giữ tội ai, thì tội họ đã bị cầm giữ rồi’. Bất cứ ai quen thuộc với ngữ pháp Hy Lạp sẽ biết rằng thì hoàn thành thường diễn tả một hành động đã hoàn tất trong quá khứ cùng với những kết quả đang diễn ra. Do đó, sự tha thứ hay cầm giữ tội lỗi đã xảy ra trước khi các môn đồ được ban quyền để tuyên bố như vậy. Thì hoàn thành được sử dụng trong Gioan 20,23 nằm ở thể bị động và một lần nữa cho thấy Thiên Chúa đang hành động cách riêng lẻ, để tha thứ hoặc cầm giữ trên đối tượng chịu tác động. Đức Giêsu ban thẩm quyền cho môn đệ là để họ xác nhận hoặc phủ nhận tùy theo trường hợp, mà ở đó, Thiên Chúa đã định đoạt xong những kết quả cho mỗi hành động.
Đối với Baker, thì hoàn thành của các từ tiếng Hy Lạp, được chuyển dịch thành “được tha” (apheōntai) và “bị cầm giữ” (kekratēntai), ngụ ý một tình trạng bền vững, đã bắt đầu trước khi hành vi “tha thứ” và “cầm giữ” được thực hiện. Và Baker lập luận rằng điều này ngụ ý Thiên Chúa là Đấng tha thứ và cầm giữ, chứ không phải các tông đồ.
Chúng ta phải giải đáp như thế nào?
Đầu tiên, chúng ta cần chỉ ra rằng vấn đề không phải là liệu Thiên Chúa có phải là Đấng tha thứ hoặc cầm giữ hay không. Giáo hội Công giáo khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng tha thứ (và cầm giữ) trong Bí tích Giải tội (GLHTCG 1441). Ngài thực hiện điều này thông qua thừa tác vụ của các tông đồ (GLHTCG 1495).
Vấn đề thật sự ở đây là Thiên Chúa thực hiện việc này vào thời điểm nào?
Baker giả định rằng việc sử dụng thì hoàn thành ở vế thứ hai của một câu điều kiện – tức mệnh đề chính (“tội họ được tha”) – nhất thiết phải qui chiếu đến một hành động có trước so với vế thứ nhất của câu điều kiện – tức mệnh đề điều kiện (“Nếu các ngươi tha tội cho ai”). Đây là lý do ông ta giải thích bản văn này theo nghĩa các tông đồ chỉ đơn thuần tuyên bố điều mà Thiên Chúa đã thực hiện rồi.
Nhưng Baker đã đưa ra một giả định sai. Hãy xem xét điều mà cùng một tác giả là Gioan đã nói trong thư 1Gioan 2,5: “Còn ai giữ lời Ngài, thì quả thật nơi người ấy tình yêu Thiên Chúa được nên trọn” [Hy Lạp: teteleiōtai – bị động hoàn thành].
Câu này sử dụng cùng một cấu trúc như Gioan 20,23:
| Mệnh đề điều kiện | Mệnh đề chính | |
| Ga 20,23 | “Nếu các ngươi tha tội cho ai” | “thì tội họ được tha [bị động hoàn thành]” |
| 1Ga 2,5 | “Còn ai giữ lời Ngài” | “thì quả thật nơi người ấy tình yêu Thiên Chúa được nên trọn [bị động hoàn thành]” |
Trong 1Gioan 2,5, thánh Gioan sử dụng teteleiōtai ở thì hoàn thành trong mệnh đề chính, tuy nhiên sự nên trọn không được hoàn thành trước khi tuân giữ lời Đức Kitô, như nguyên tắc ngữ pháp của Baker đòi hỏi, nhưng đồng thời với việc tuân giữ lời Đức Kitô. Thật rõ ràng, cách đặt câu của thánh Gioan ngụ ý rằng hành động xảy ra khi điều kiện nêu trong mệnh đề điều kiện được thực hiện.
Dưới đây là một số các đoạn văn khác, theo đó, hành động ở thì hoàn thành trong mệnh đề chính không xảy ra trước nhưng đồng thời với việc thực hiện mệnh đề điều kiện:
- Giacôbê 2,10: “Ai tuân giữ tất cả Lề Luật, mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì trở thành[Hy lạp: gegonen – chủ động hoàn thành] có tội về hết mọi điểm”. Việc mắc tội xảy ra vào thời điểm sa ngã về một điểm của lề luật.
- Rôma 7,2: “Phụ nữ có chồng thì luật buộc phải theo chồng bao lâu chồng còn sống; nhưng nếu chồng cô qua đời thì cô được tháo cởi[Hy Lạp: katērgētai– bị động hoàn thành] khỏi sự ràng buộc theo luật đối với người chồng”. Sự tháo cởi khỏi luật trở nên hiện thực vào lúc chồng của người phụ nữ qua đời.
- Rôma 13,8: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, trừ phi là yêu mến nhau; vì ai yêu mến anh em mình thì người ấy giữ trọn[Hy Lạp: peplērōken– chủ động hoàn thành] lề luật”. Lề luật được giữ trọn khi một người yêu mến anh em mình.
- Rôma 14,23: “Ai hồ nghi mà cứ ăn thì người đó bị kết án[Hy Lạp: katakekritai – bị động hoàn thành]”. Sự kết án nẩy sinh hiệu lực khi sự hồ nghi xuất hiện.
Theo sự soi dẫn của những đoạn văn này, chúng ta có thể kết luận vấn đề bằng những lời của Henry J. Cadbury, một cố học giả Kinh thánh người Mỹ: “Người ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng hành vi hay tình trạng được ngụ ý bằng thì hoàn thành [ở mệnh đề chính] không nhất thiết có trước so với mệnh đề kia [mệnh đề điều kiện] (Tạp chí Văn chương Kinh thánh, tập 58, số 3).
Như thế, nguyên tắc ngữ pháp của Baker hoàn toàn không đứng vững khi đối chiếu với những đoạn văn tương đồng.
Tuy nhiên, chúng ta có thể tiến xa hơn nữa trong việc bảo vệ cách hiểu của Công giáo. Những nơi khác trong Kinh thánh, từ Hy Lạp aphiēmi, dịch thành “được tha”, được dùng ở thì hoàn thành và hàm nghĩa rằng các tội lỗi được tha thứ căn cứ trên hành động của người được tha tội. Chẳng hạn, hãy xem xét Luca 5,20.23, ở đó, Đức Giêsu tha tội của người bại liệt: “Thấy họ có lòng tin như vậy, Ngài bảo: ‘Này anh, tội anh được tha [Hy Lạp: apheōntai – bị động hoàn thành] cho anh’… Nói ‘Tội anh được tha [Hy Lạp: apheōntai – bị động hoàn thành] cho anh’, hay nói ‘Hãy chỗi dậy mà đi’, điều nào dễ hơn?”.
Một ví dụ khác là Luca 7,47. Đức Giêsu tha tội cho người phụ nữ đã xức dầu cho Ngài tại nhà ông Simon người Biệt phái: “Vì thế tôi bảo với các ông, tội của chị rất nhiều, nhưng được tha [Hy Lạp: apheōntai – bị động hoàn thành], vì chị đã yêu mến nhiều”.
Luca không có ý định dùng thì hoàn thành của aphiēmi trong những đoạn văn này để tách biệt sự tha thứ tội lỗi ra khỏi lời tuyên bố của Đức Giêsu tại hiện trường. Đúng hơn, Luca, giống như những người chứng kiến, đã hiểu những lời của Đức Giêsu như là một sự tuyên bố để tha tội ngay tại thời điểm Ngài nói rằng những tội ấy được tha.
Hãy xem xét điều Luca ghi lại trong cả hai bản văn ngay sau những tuyên bố của Đức Giêsu:
- Luca 5,21: “Các ký lục và Biệt phái mới suy tính rằng: ‘Người này là ai mà nói những lời phạm thượng như thế? Ai có thể tha tội ngoài một mình Thiên Chúa?’”.
- Luca 7,49: “Bấy giờ những kẻ đồng bàn mới nghĩ bụng: ‘Người này là ai mà lại tha được tội?’”.
Nếu chúng ta không hề có ý định phân tách sự tha tội ra khỏi hành động tha tội của Đức Giêsu bởi thì hoàn thành của từ aphiēmi trong những đoạn văn của Tin mừng Luca kể trên, vậy thì chúng ta cũng không thể làm điều tương tự đối với các tông đồ trong Gioan 20,23. Như Cadbury viết: “Có phải chúng ta sẽ chấp nhận “chức tư tế” đối với Đức Giêsu dựa theo từ apheōntai trong Luca, rồi lại bác bỏ tư cách này đối với các tông đồ dựa theo chính từ này trong Gioan? Xét các trường hợp này theo cùng một cách không phải là điều phù hợp hơn hay sao? (Tạp chí Văn chương Kinh thánh, tập 58, số 3).
Đối với Baker, phủ nhận đặc quyền tha tội của các tông đồ dựa vào việc Gioan sử dụng thì hoàn thành của từ aphiēmi nhưng lại chấp nhận đặc quyền ấy của Đức Giêsu khi cũng cùng một từ và một thì được Luca sử dụng là điều tùy tiện. Cũng là một sai lầm khi ông ta để mặc những niềm tin mang tính định kiến của mình khi bước vào ngưỡng cửa của khoa chú giải Kinh thánh.
Tóm lại, việc Gioan sử dụng thì hoàn thành của aphiēmi trong Gioan 20,23 không có khả năng hủy đi những tuyên bố theo Công giáo về sự ủng hộ của Kinh thánh dành cho Bí tích Giải tội. Nếu một người Tin lành muốn phản đối một cách đọc như thế, họ cần dựa trên những căn cứ khác. Và khó có thể thực hiện điều này vì bối cảnh cho thấy Đức Giêsu trao quyền hợp pháp cho các môn đệ để họ thi hành điều Ngài truyền dạy: “Ngài thổi hơi trên các ông và bảo: ‘Hãy lãnh nhận Thánh Thần. Nếu các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; nếu các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ’” (Ga 20,22-23).
Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ
2021
Bình thường mới
Mệt mỏi sau những “trận chiến” “chống dịch như chống giặc” để “dập dịch” với rất nhiều thứ “vũ khí”… Thế mà “tên giặc” này nó cứ lí lắc – lì lợm – lạnh lùng – lây lan! Cho nên, người ta bắt đầu phải nói đến cụm từ “sống chung với dịch!”, phải bắt đầu cuộc sống “bình thường mới” và coi đây là mục tiêu cần đạt tới, vì biết chắc khó có thể “quét sạch nó đi” được!
- Bình thường mới có gì“mới”?
Chỉ cần lướt qua các trang báo chính thống, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều những bài viết, những nhận định về tình trạng xã hội “bình thường mới” mà nhiều người đang mong chờ hiện nay.
Lẽ dĩ nhiên “bình thường mới” không phải là “bình thường cũ”. Chúng ta có thể tóm tắt tình trạng này trong một số điểm “mới” sau đây:
– Ý thức trách nhiệm với bản thân và cộng đồng: Hơn lúc nào hết, sự liên đới trong cộng đồng nhân loại lại cần được mỗi cá nhân quan tâm thực hiện như thời điểm hiện nay.
– Khả năng “tự lực cánh sinh”: Dịch bệnh không chừa một ai, “không có vùng cấm” nào cả. Ai cũng có thể là “F0” và ai cũng phải đối diện với nguy cơ nghèo đói và bệnh tật. Vì thế cần phải biết tự bảo vệ mình, tự chăm sóc cho mình… phải biết vượt qua thái độ ỷ lại, dựa dẫm!
– Tập những kỹ năng cần thiết: tập thói quen tuân thủ 5K, sống lành mạnh, quý trọng môi trường sinh thái và bầu khí quyển, siêng vệ sinh nhà cửa, năng tập thể dục, sắp xếp không gian nhà cửa cho thoáng mát tiện ích…
– Có khả năng thích ứng với thay đổi trong xã hội : thanh toán điện tử, chuyển khoản bằng nhiều hình thức khác nhau (trả thẻ, e-banking, ví điện tử…) thay vì chỉ sử dụng tiền mặt, học hành – trao đổi – làm việc trực tuyến…
– Trở về với mái ấm gia đình: ý thức tình thân và sự liên đới trong gia đình được chú trọng trở lại. Nhiều người có nhiều thời gian sống và chăm sóc nhau trong một mái nhà. Nhiều người cảm nhận và trân quý tương quan yêu thương gắn kết giữa các thành viên trong một gia đình.
Thực ra những điều vừa được nói tới trên đây chẳng hề “mới”, nhưng vì chúng đã bị “quên” do sự tự cao tự đại của con người, nên thiếu khả năng sử dụng “những cái cũ, mới trong kho mình” (Mt 13,52).
- Bình thường mới có“bình thường”?
Chúng ta có thể nhận định ngay rằng : “bình thường mới” chẳng “bình thường” tí nào. Bởi vì :
– Dù cho không có con số thống kê đầy đủ, nhưng có thể khẳng định rằng có rất nhiều người lao động phải thất nghiệp và lâm vào cảnh đói nghèo! Bằng chứng là chỉ trong vòng 2 tháng, Giáo xứ Rạch Súc đã phân phối 41.063 phần cơm trưa, trên 11 tấn gạo, 600 thùng mì, 500 túi nhu yếu phẩm… cho người nghèo trong địa bàn thành phố Cần Thơ. Mà chúng ta biết : ngoài Giáo xứ Rạch Súc, còn có nhiều mạnh thường quân, nhiều cơ sở tôn giáo, nhiều hội đoàn cũng làm những điều tương tự.
– Hệ thống y tế quá tải vì phải dồn tổng lực điều trị những bệnh nhân covid, khiến cho nhiều người mang những bệnh lý khác như tim mạch, ung thư, gan thận… không được chữa trị kịp thời, đầy đủ và hiệu quả. Tâm lý chung của người dân là sợ đến bệnh viện trong thời điểm hiện tại vì sợ lây nhiễm, nên có những trường hợp đã tử vong vì không được cấp cứu kịp thời.
– Tình trạng “stress” gia tăng do thiếu cơm ăn, mất việc làm, ngột ngạt tù túng vì không được ra ngoài, không được làm việc, không có những sinh hoạt giải trí… Trong khi đó, trên truyền thông đa phần là những tin xấu, tin buồn, tin giả, tin tiêu cực… mà rất thiếu những tin tốt, tin vui, tin thật, tin truyền năng lượng tích cực.
Như vậy, xã hội loài người đang đầy những “bất thường” chứ chẳng “bình thường” tí nào, và nếu không khéo, chúng ta sẽ rơi vào vòng xoáy của “bất ổn – bất minh – bất hoà – bất an”! Và nó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống xã hội mà còn ảnh hưởng đến đời sống tôn giáo nữa.
- Sống Đạo trong tình trạng “bình thường mới”
Đã rõ là đời sống đạo của người Công giáo cũng như nhưng tín đồ của các tôn giáo khác đang rơi vào trạng thái chẳng bình thường chút nào. Đã có rất nhiều những suy tư, những cảm nghiệm, những kinh nghiệm… qua việc đọc dấu chỉ của thời đại dưới ánh sáng Lời Chúa.
Ở đây, người viết chỉ xin mạo muội đưa ra một vài thao thức và gợi ý mang tính cách cá nhân, với mong ước mọi thành phần Kitô hữu không chỉ ngồi đó “thở vắn than dài”, “được chăng hay chớ”, cũng không chỉ nói suông… mà phải cùng nhau bàn và cùng nhau làm trong bổn phận và khả năng Chúa trao, để không bỏ lỡ phút sống nào mà Chúa đang thương tặng ban.
– Với cá nhân : ý thức cuộc đời mỏng manh và hư ảo để thành tâm sám hối quay về; vượt qua lối sống ảo để liên đới sẻ chia với tha nhân bên cạnh mình; loại trừ lòng tham lam ích kỷ để quan tâm giúp đỡ những anh chị em thiếu thốn vật chất cũng như tinh thần; giải phóng khỏi sự nô lệ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật để biết khiêm nhu tín thác vào Lòng Thương Xót của Chúa; thoát khỏi những thú vui phù phiếm để dành nhiều thời gian cho cầu nguyện, suy niệm, tĩnh tâm.
– Với gia đình : biết buông điện thoại xuống để cùng nhau đọc kinh hôm kinh mai trong gia đình; chia sẻ cho nhau những công việc cụ thể trong một mái nhà; dành nhiều thời gian để cùng ăn, cùng trò chuyện, cùng học hỏi Lời Chúa; gợi ý khích lệ nhau hướng ánh mắt để thấy những mảnh đời khốn khó và mở đôi tai để nghe được những âm thanh yếu ớt của anh chị em nghèo đói quanh mình; nhất là cùng nhau hun đúc lòng khao khát đón rước Thánh Thể qua những Thánh lễ trực tuyến cách nghiêm trang sốt sắng.
– Với giáo xứ : vượt qua những trở ngại ngăn cản không chỉ bên ngoài xã hội mà ngay trong tâm hồn để “sống Thánh lễ” trong đời thường, nghĩa là chấp nhận hy sinh và hiến tế chính mình vì tha nhân; vượt qua những định kiến và óc hẹp hòi cổ hủ để tin tưởng giao việc, để khích lệ và bổ trợ những sáng kiến trong việc thực thi bác ái đối với anh chị em đồng loại; vượt qua ranh giới “đạo – đời”, “lương – giáo”… để có thể đồng hành, hợp tác trong hành trình trao gởi yêu thương cho những anh chị em đau khổ xung quanh mình; vượt qua lối mòn chờ đợi và “lục bình trôi” để học hỏi và ứng dụng công nghệ trong việc loan báo Tin Mừng và tương tác với giáo dân.
– Một cách đặc biệt, với các mục tử đang chăm sóc đoàn chiên nơi các Giáo xứ : Chúng ta có cơ sở để tin rằng Quý Cha luôn thao thức, luôn trăn trở và có nhiều sáng kiến thật thiết thực và hiệu quả. Để thời gian rất khác biệt này, không chỉ là cơ hội để anh em chúng ta “lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31), mà còn là sẵn sàng đáp lại sự đòi buộc khẩn thiết của Chúa Giêsu : “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9,13). Vâng, lời khuyên “nghỉ ngơi” thì chỉ “đôi chút” thôi. Còn mệnh lệnh “cho họ ăn” lại thật dứt khoát : “chính anh em”!!!
Chúng ta có thể nhìn và nghe thấy những sáng kiến tuyệt vời: những chuyến xe nhu yếu phẩm đong đầy yêu thương của Đức Cha và Quý Cha; những lần “dốc hết tình” cho anh chị em nghèo; những liên đới hỗ trợ tìm đến mọi ngõ ngách để tiếp cận được những anh chị em đang thiếu thốn nhất; những sáng kiến mục vụ chỉ có trong thời đại dịch : thăm viếng online, tư vấn về niềm tin lẫn tâm lý online, dạy giáo lý online, dọn mình chết lành online…
Dẫu cho đã có nhiều sáng kiến, đã có nhiều ứng dụng mang lại nhiều hiệu quả, nhưng ước gì những điển hình ấy được nhân rộng, được lan toả, được kết nối… chắc chắn tính hiệu quả và giá trị sẽ được nhân lên. Ví dụ như chúng ta sẽ có những “Cuộc họp online” để nhận định và đưa ra những thực hành mục vụ trong tình trạng “bình thường mới”; chúng ta liên đới với nhau để có thêm các “Thánh lễ trực tuyến” dành cho các Giới; có các Sinh hoạt online cho các Hội đoàn; có chương trình Giáo lý online cho các độ tuổi, nhất là chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân và gia đình; có các chương trình Lần Chuỗi Lòng Thương Xót online, Chầu Thánh Thể online, Giờ kinh gia đình online…
Để “bình thường mới” không là “bất thường” và “tầm thường” thì cần phải nhanh chóng “thích nghi” và “thích ứng” trong công tác Mục vụ sao cho “thích hợp” với những điều mới mẻ mang tính tích cực lẫn tiêu cực do đại dịch đem lại. Điều này đòi chúng ta phải “một tay nắm lấy tay Chúa và một tay vươn tới con người”! Vâng, chỉ trong tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta mới có thể có những sáng kiến Mục vụ phù hợp với hoàn cảnh mới, và chỉ trong ân sủng của Người chúng ta mới có đủ sức mạnh và can đảm để ứng dụng trong bối cảnh hiện nay hầu đem lại lợi ích hồn xác cho tha nhân. Và như thế, tình trạng “bình thường mới” sẽ thực sự trở thành cơ hội để chúng ta “làm mới” cái “bình thường” bằng chính những điều “phi thường” nhờ những trái tim biết yêu thương! Lm. Phêrô Vũ Văn Hài
2021
Tưởng nhớ cha Jean-Baptiste Etcharren: “Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng” (Rm 10, 15)
Linh mục Phêrô Võ Xuân Tiến,
Tổng Giáo phận Huế
“Đại Ân nhân” là từ ngữ được thốt lên trên môi miệng của nhiều Kitô hữu Việt Nam nói chung và của Giáo phận Huế nói riêng, trước sự ra đi của Cha Jean-Baptiste ETCHARREN, một “vị thừa sai kiệt xuất”, một “nhà truyền giáo đích thực”, một “thành viên đáng kính và gương mẫu”, một “món quà vô giá” được ban cho Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Cha J.B. ETCHARREN, thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP) và là Linh mục của Tổng Giáo phận Huế, đã trút hơi thở cuối cùng lúc 9g15, ngày lễ thánh Matthêu Tông đồ (21/9), tại Đại Chủng viện Huế, trước sự hiện diện của nhiều người đang quây quần bên ngài. Một sự chết lành, bình an, thanh thản và thánh thiện. Tôi hiện diện cạnh vị ân nhân và là người Cha đáng kính của tôi trong những giây phút cuối đời của ngài, dù ngài đang hôn mê. Khi vị bác sĩ bấm các huyệt để xem nhịp đập trái tim và hơi thở của ngài, và rồi rút ống oxy ra, thì tôi hiểu ngài đã qua đời. Tôi vội nói với cha Giuse Lê Văn Hồng, quản lý giáo phận Huế, “hỏi bác sĩ có phải ngài qua đời rồi không ?”, thì bác sĩ gật đầu xác nhận với với cha Quản lý như vậy. Xung quanh ngài lúc đó có các linh mục trẻ khác, các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Huế, dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, dòng Thánh Phaolô thành Chartres, một số người thân của Cha cũng như một số nhân viên của Chủng viện. Mọi người bắt đầu đọc kinh cầu hồn cho ngài, và công việc chuẩn bị tang lễ bắt đầu và đã kết thúc lúc tiễn đưa linh cữu ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang giáo sĩ ở Đại Chủng viện Huế, bên cạnh người bạn thân của ngài là cha Pierre Poncet. Đức Tổng Giuse, Cha Tổng Đại Diện Antôn, Cha Giám đốc ĐCV Huế…, cũng nhanh chóng có mặt để tiễn biệt ngài.
“Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng !”
Trút hơi thở cuối cùng và thánh lễ an táng tại ĐCV Huế, có lẽ là điều ngài đã không nghĩ đến khi còn sống, nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu để ngài cảm nhận cách thiêng liêng và hài lòng, ở thế giới bên kia, về tình cảm nồng ấm của Tổng Giáo phận và gia đình Đại Chủng viện Huế. Không có sự hiện diện của người thân huyết tộc bên cạnh, nhưng sự hiện diện của gia đình thiêng liêng này còn đông đảo hơn nữa trong những ngày tang lễ của ngài. Các thánh lễ cầu hồn cho ngài liên tiếp nhau, những giờ kính viếng của biết bao người thụ ân ngài và cả những giờ canh thức thâu đêm của quý Thầy Đại Chủng viện và một số người thân của ngài, như muốn cho thấy ngài không cô đơn và đang ở trong trái tim của Giáo hội Việt Nam, của Tổng Giáo phận Huế, cũng nhiều như Giáo hội Việt Nam và Tổng Giáo phận Huế đã ở trong trái tim của ngài vậy. Thánh lễ an táng đã diễn ra thật sâu lắng, bùi ngùi và đầy thương tiếc về sự ra đi của một con người đã sống chết cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, trong một Thánh lễ an táng, tôi được chứng kiến cử chỉ niệm hương trong tâm tình kính cẩn tri ân và kính trọng của các đại diện mọi thành phần dân Chúa của Giáo hội Việt Nam trước sự ra đi của một Linh mục thừa sai như thế ! Tất cả đó như là “phần thưởng” hữu hình nhỏ bé mà Chúa muốn dành cho “người tôi tớ trung tín” của Ngài, một người mà suốt 63 năm Linh mục của mình đã “ở giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 27). Và chắc chắn phần thưởng sẽ còn lớn lao hơn nhiều, hơn cả huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh mà nước Pháp tặng cho ngài, đó là phần thưởng dành cho ngài ở trên trời, trong vòng tay của Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, Đấng mà ngài luôn tín thác và làm chứng cho tình yêu của Người “ad gentes”. Quả là một kết thúc “đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo Tin Mừng !» (Rm 10, 15).
“Hạt giống tốt”
“Giáo hội Việt Nam đã có thể thực hiện những tiến bộ to lớn này là nhờ những nỗ lực được Hội Thừa Sai Paris thực hiện trong việc gieo những hạt giống tốt trên các vùng đất loan báo Tin Mừng ở Việt Nam” (“L’Église vietnamienne a pu réaliser ces formidables progrès grâce aux efforts menés par les MEP pour semer de bonnes graines sur les terres d’évangélisation au Vietnam”)[1]. Đó là lời phát biểu của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Tổng Giám mục Giáo phận Huế, trong cuộc hội ngộ “Un moment MEP” được Giáo hội Việt Nam tổ chức để tri ân Hội Thừa Sai Paris, ngày 18/4/2018. Và một trong những “hạt giống tốt” mà không ai có thể phủ nhận này là cha J.B. Etcharren, người cũng đã từng phát biểu, trong sự kiện này và cũng là dịp kỷ niệm 60 năm linh mục của ngài, rằng: ”Tôi yêu đất nước Việt Nam và tôi coi đất nước này như quê hương của chính tôi” (“J’aime le Vietnam et je le vois comme ma propre patrie”). Hay một nơi khác, như lời Cha Tổng Đại diện Antôn nhắc lại trong bài tiễn biệt cuối cùng tại phần mộ của ngài, ngài nói: “Tôi đến Việt Nam để chiêm ngưỡng con người và văn hóa nước Việt”. Còn hơn cả chiêm ngưỡng, ngài đã đến “cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14), đã trở thành người Việt Nam đối với người Việt Nam, đã “nghiện” Việt Nam, như lời Đức Tổng Giuse trong lời phân ưu với Hội Thừa Sai Paris và gia đình của ngài, và đã biến Việt Nam (con người, lối sống, văn hóa, ngôn ngữ…) thành “máu huyết” của mình. Nếu Đức Thánh Cha Phanxicô luôn muốn “thúc đẩy một cuộc loan báo Tin Mừng trung thành với “phong cách” của Thiên Chúa và gần gũi với con người” (sứ điệp gởi cho Hội nghị thần học quốc tế ngày 21/9/2021), cũng như kêu gọi “hội nhập văn hóa” bằng việc “hãy đi vào đời sống của đoàn dân tín hữu, trong sự tôn trọng các phong tục, truyền thống của họ…” (sứ điệp cho Hội nghị về đời sống tu trì ở Châu Mỹ Latinh và Caribê, ngày 13/8/2021), thì Cha J.B. Etcharren đã cụ thể hóa những điều đó cách rõ nét nhất trong cuộc đời và ơn gọi thừa sai của mình.
“Ơn gọi truyền giáo”
Để hiểu tại sao một linh mục trẻ, chưa đầy ba tháng sau khi chịu chức, đã hăng hái lên đường đi truyền giáo tại Việt Nam lúc mới 26 tuổi (ngày 22/4/1958), dù biết rằng cái chết đang chờ đợi mình ở đó, chúng ta cùng lắng nghe bài phỏng vấn ngài do Hội Thừa Sai Paris thực hiện[2], qua đó Cha cho thấy cái nhìn của mình về “ơn gọi truyền giáo” này: “Những gì ưu tiên, đó là một ơn gọi nảy sinh trong tâm hồn của một người trẻ và làm cho đạt kết quả, làm cho thực hiện. Tại sao ? Bởi vì chiều kích ra đi đến với một dân tộc, đến với một Giáo hội ở nơi khác này, là điều thiết yếu đối với đức tin Kitô giáo, không chỉ theo quan điểm cá nhân, nhưng đối với chính Giáo hội. Sống chiều kích này của đức tin Kitô giáo là hoàn toàn thiết yếu, bất kể tình trạng nghèo nàn ngày nay của các Giáo hội tây phương, cách riêng của Pháp”.
Quả thế, có một phản đối hiện nay ở Pháp là tại sao giờ đây thiếu linh mục, nhưng vẫn có nhiều bạn trẻ muốn dấn thân đến những nơi xa xôi rao giảng Chúa Kitô, Cha Jean-Baptiste, lúc còn là Bề trên tổng quyền của MEP, đã trả lời cách xác tín: “Hoàn toàn không phải về số lượng linh mục mà cần phải nói đến, khi chúng ta nói về ơn gọi. Cũng tương tự đối với một người đi tu dòng chiêm niệm và dâng hiến trọn đời mình trong công việc cầu nguyện cho Giáo hội, cho thế giới. Đó là một ơn gọi đặc biệt”. Thật vậy, đối với MEP, ơn gọi truyền giáo này là một “ơn gọi đặc biệt”, “bổ sung” cho ơn gọi chiêm niệm và ơn gọi linh mục giáo phận, và không kém phần cần thiết hơn. Vị Đại Ân nhân của Giáo hội Việt Nam nói tiếp: “Nếu chúng ta nhìn vào toàn bộ Châu Á, lục địa bao la mà dân số biểu hiện, thì chỉ có hai phần trăm số người đã thực sự muốn đón nhận sứ điệp Kitô giáo này. Đối với chúng ta, vấn đề không phải là cạnh tranh bằng mọi giá để gia tăng con số Kitô hữu, làm lớn mạnh thể chế Giáo hội, nhưng đó là một quyền của mỗi người được đón nhận sứ điệp về Thiên Chúa cách hoàn toàn tự do và cả trong sự tôn trọng những lộ trình thiêng liêng của họ từ bao thế kỷ. Vai trò của chúng ta, đó là làm chứng cho niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, về việc chúng ta được nhận làm nghĩa tử trong Chúa Giêsu Kitô và về hạnh phúc biết mình được Thiên Chúa yêu thương này và có thể nói và biểu lộ điều đó bằng cách này hay cách khác”.
Tất cả những tâm tình sâu xa trên đây cho thấy rõ chính “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi” (2Cr 5, 14) đã thúc đẩy ngài từ bỏ một cuộc sống yên bình nơi chính quê hương mình để mạo hiểm trên hành trình truyền giáo, trong sự khát khao dâng hiến và khiêm tốn phục vụ Chúa và con người, để rồi biến cuộc đời mình thành quà tặng cho tha nhân đến độ muốn gởi gắm thân xác ngài nơi lòng đất mẹ Việt Nam, một quà tặng mà Đức Tổng Giuse gọi là “vô giá” Chúa đã ban cho đất nước Việt Nam.
“Hai điều nuối tiếc”
Sự ra đi của ngài quả là một mất mát lớn cho Giáo hội Việt Nam. Trước tin buồn to lớn này, không biết bao nhiêu lời thương tiếc, bao nhiêu lời ngợi khen, bao nhiêu lời chúc tụng…đã ngập tràn trên các phương tiện truyền thông. Ngay cả người viết bài này cũng đã dành “biết bao lời có cánh” cho vị Linh mục không còn là “ngoại quốc” nữa, nhưng là “quốc nội” này, một vị Linh mục khả ái và rất đáng kính, âm thầm và khiêm tốn, đơn sơ và giản dị, gần gũi và dịu dàng, nhân ái và rộng lượng, luôn với nụ cười hiền hòa và đầy nhiệt huyết loan báo Tin Mừng “ad gentes”. Nhưng có lẽ những lời ca ngợi, tung hô, chúc tụng “có cánh” này là những điều mà, với tính cách của ngài, ngài không ưa thích chút nào. Xin Cha tha thứ cho chúng con về những điều này, bởi vì chúng con có thể nói gì hơn được khi mà sự khôn ngoan ngàn đời đã dạy chúng con rằng “De mortuis nihil nisi bonum dicendum est” (“Về người đã khuất, không có gì ngoài điều tốt được nói ra”). Xin Cha đừng xem đó là những lời chúc tụng, nhưng như là những điều tốt lành của một “hạt giống tốt” mà Chúa đã gieo vào mảnh đất Việt Nam và chấp nhận “mục nát” đi (x. Ga 12, 24) “để cho thế gian được sống và sống dồi dào” (Ga 6, 51 ; 10, 10) . Vậy, Cha không có “điều xấu” nào ? Thưa có, con xin mượn “hai điều nuối tiếc” mà Cha đã nói về bản thân mình, để coi đó như là «hai điều xấu” mà chúng con phải tránh hôm nay: a) làm việc vì vinh danh bản thân mà không vì vinh danh Chúa ; b) chỉ chiêm ngưỡng công trình do tay mình làm, mà không biết nhận ra và tôn trọng công trình mà Thiên Chúa thực hiện qua thiên nhiên và nơi tha nhân.
“Hai điều nuối tiếc”, mà Cha Jean-Baptiste đã để lại cho hậu thế như một “di chúc tinh thần”, một cách nào đó là lời sám hối chân thành từ sâu thẳm bản thân ngài, và cũng là lời mời gọi những người còn sống đi vào tâm tình “hoán cải mục vụ” đó, để cuối cùng nhận ra rằng “chúng ta phải học tất cả nơi Chúa Giêsu”, là “để Nước Chúa trị đến”, để tất cả các con đường phục vụ phải “dẫn lối về với Chúa Kitô”. Chúng con thành kính cảm ơn Cha.
“Reverentissime Pater, requiescat in pace Domini” !
Nguồn: xuanbichvietnam.net (24.9.2021)
[1] Xem bản tin “À Hué, l’Église locale salue l’engagement des MEP au Vietnam” (https://missionsetrangeres.com/eglises-asie/2018-04-25-a-hue-leglise-locale-salue-lengagement-des-mep-au-vietnam/)
[2] Xem video link phỏng vấn ở đây (https://www.youtube.com/watch?v=Q3xAu1FqXso).
2021
Năm điều một cố vấn linh hướng muốn nơi các bác sĩ Công giáo
Ngày nay, có những thách thức cũng như lợi thế riêng khi người Công giáo làm trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe.
Bác sĩ y khoa Công giáo trong xã hội hiện nay có những thách thức và lợi thế riêng. Có thể khó nhận ra sự khác biệt khi đặt hai bác sĩ là Công giáo và không tín ngưỡng bên cạnh nhau. Tuy nhiên, các bác sĩ Công giáo hoàn toàn nhận thức rằng mình chỉ là khí cụ trong tay Thiên Chúa và Đức Kitô mới là tác nhân chính yếu trong việc chữa trị thánh thiêng.
Đức ông Dino Lorenzetti đã làm việc với các bác sĩ y khoa Công giáo trên nhiều cương vị trong hầu hết 70 năm sứ vụ của mình – bao gồm cố vấn linh hướng cho Hiệp hội Y khoa Công giáo và Phụ tá trong lãnh vực giáo hội cho Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Y khoa Công giáo thời Giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II. Ngài đã tổng kết năm phạm vi giúp phân biệt các bác sĩ y khoa Công giáo với các bác sĩ thế tục. Đây là điều ngài muốn các bác sĩ y khoa Công giáo ý thức khi làm việc.
- BẠN LÀ ĐÔI TAY VÀ ĐÔI MẮT CỦA ĐỨC KITÔ VÀ CÔNG VIỆC CỦA BẠN LÀ LINH THÁNH
Sức mạnh của ân sủng Thiên Chúa thắp sáng và củng cố mọi việc bạn làm. Qua phép rửa, các bác sĩ y khoa Công giáo được trao ban một nhiệm vụ đặc biệt mang ánh sáng chữa lành của Đức Kitô đến cho các bệnh nhân. Bạn kết hợp với Đức Kitô nhờ Bí tích Thánh Thể khi bạn bước đi và làm việc với vị Thầy thuốc của Thiên Chúa, Đấng Chữa Lành. Đôi tay và đôi mắt của bạn là của Đức Kitô và công việc của bạn thật linh thánh khi bạn sống và phục vụ Nhiệm Thể của Ngài.
- LẤY KINH THÁNH LÀM MẪU GƯƠNG
Kinh thánh là nguồn cảm hứng và câu chuyện phong phú cho các thầy thuốc Công giáo. Bạn là chủ nhà trọ khi đón tiếp hay chối từ những người dễ bị tổn thương, ốm đau và thương tích vào phòng làm việc của mình. Bạn là tá điền trong vườn nho vì sức khỏe của dân Chúa được trao phó cho bạn. Khi làm với tình yêu thì không có hành động hay sự chữa lành nào là nhỏ bé, như bà Veronica, ông Simon người Cyrene, hay Dismas người trộm lành cùng bị đóng đinh với Chúa đã minh chứng khi họ bước đi với Đức Kitô trong cuộc khổ nạn của Ngài. Bạn là một mục tử tốt lành hướng dẫn bệnh nhân vượt qua thung lũng tăm tối của bệnh tật hay rối loạn sức khỏe.
- THÁNH THỂ, CHAY TỊNH VÀ CẦU NGUYỆN QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VIỆC CHỮA LÀNH
Các bác sĩ y khoa, thầy thuốc Công giáo có những công cụ trong kho khí giới y tế của họ mà xã hội thế tục hóa của chúng ta thường bỏ qua. Những ân huệ thiêng liêng của việc chay tịnh, cầu nguyện và rước lễ trước khi đảm nhận công tác hay ca chữa trị nghiêm trọng, đều có sẵn cho bạn. Sự hy sinh của bạn thật linh thánh – vì hạn từ “hy sinh” (sacrifice) có nguồn gốc từ tiếng Latin “sacer” và “facere”, có nghĩa là “làm cho linh thánh”. Như thế, bạn kết hiệp với Đức Kitô khi bạn mang sự chữa lành đến cho một thế giới bị tổn thương. Các thầy thuốc Công giáo lắng nghe những lời khôn ngoan từ sách Huấn ca khi tác giả khuyên rằng: “Hãy cầu xin Đức Chúa ban cho [bạn] tìm ra phương dược giúp giảm đau, chữa lành nhằm cứu sống người ta” (x. Hc 38,14).
- ĐAU KHỔ KHÔNG PHẢI LÀ VÔ ÍCH
Mầu nhiệm đau khổ và chịu đựng vượt quá mọi lời giải thích trên trần gian này. Tuy nhiên, các thầy thuốc Công giáo biết là đau khổ mang tính cứu chuộc, khi đó chúng ta kết hiệp với đau khổ của Đức Kitô vốn dĩ có một giá trị vượt bật. Trong khi có thể mang đến cho bệnh nhân mọi sự an ủi và chữa lành các bác sĩ cũng có thể đem lại hy vọng rằng cơn đau có lẽ có một ý nghĩa nào đó, giúp mang bệnh nhân đến gần với Chúa Giêsu. Đau đớn xảy ra không phải là vô ích. Đau đớn có thể không chỉ về mặt thể lý; các bác sĩ Công giáo còn đối diện với những người cô đơn, bị bỏ rơi, trầm cảm và vô gia cư. Không chỉ có kiếnthức y khoa, bạn có thể làm chứng cho Tin mừng; và những lời động viên, khẳng định và khuyên nhủ của bạn trở thành một loại dầu chữa lành.
- BÁC SĨ CÔNG GIÁO PHẢI CAN ĐẢM
Ngày nay hành nghề y khoa cần sự can đảm. Nếu bác sĩ Công giáo lên tiếng chống lại điều luật pháp định, những nhóm vận động đầy quyền lực của các công ty bảo hiểm, hay những nhóm lợi ích đặc biệt; thì họ không thể tránh khỏi việc bị chế nhạo hoặc thậm chí trả đũa. Tuy nhiên, tuyên bố sự sống ở mọi giai đoạn đều thánh thiêng và không đồng ý với chính phủ hoặc các nhóm phổ biến và có thế lực, về giáo lý sự thật, đặt các bạn vào hàng ngũ các vị thánh. Các bác sĩ như thế nhìn thấy mỗi bệnh nhân là anh chị em trong Đức Kitô và mọi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Sứ mạng của Chúa Giêsu được tiếp tục trong việc mang lại sự sống. Các bác sĩ Công giáo luôn luôn tâm niệm lời dạy của Chúa: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”. Tác giả: Barbara Stoyell-Mulholland
Chuyển ngữ: ĐCV Sao Biển
Từ: aleteia.org (15.9.2021)
