2021
Lịch sử của vắc xin
Lịch sử của vắc xin
Lịch sử chủng ngừa bắt đầu từ vài thế kỷ gần đây, từ một số phương thức dân gian thời xưa, đến kỹ thuật chủng đậu vào thế kỷ 17 ở Trung Quốc…
Năm 1796, bác sĩ Edward Jenner, thành viên của Hội Hoàng gia London (Anh), đã được công nhận là cha đẻ của vắc xin. Sau khi tình cờ phát hiện bệnh đậu bò (bệnh đậu mùa ở bò), ông đã nghiên cứu và thực hiện chủng ngừa siêu vi gây bệnh đậu bò cho một cậu bé 13 tuổi. Em bé này sau đó miễn dịch trước vi rút gây bệnh đậu mùa. Năm 1798, vắc xin đầu tiên ngừa đậu mùa được phát triển.
Ðến thế kỷ 19, nhà khoa học Công giáo Louis Pasteur đã thực hiện các cuộc thí nghiệm đi đầu cho nỗ lực phát triển vắc xin bệnh tả dựa trên vi rút sống giảm độc lực và vắc xin ngừa bệnh than (lần lượt vào năm 1897 và 1904). Vắc xin dịch cũng được phát minh vào cuối thế kỷ 19. Từ năm 1890 đến 1950, nỗ lực phát triển vắc xin được tăng tốc, cho phép ra đời những dòng vắc xin cứu sống hàng triệu người, trong đó có vắc xin ngừa lao Bacillis-Calmette-Guerin (BCG).
Năm 1923, nhà miễn dịch học người Anh Alexander Glenny đã hoàn thiện biện pháp khử hoạt độc tố uốn ván bằng formaldehyde. Phương pháp tương tự đã được áp dụng để phát triển vắc xin ngừa bệnh bạch hầu vào năm 1926. Bên cạnh đó, vắc xin ho gà mất nhiều thời gian hơn để điều chế, và phải đợi đến năm 1948, Mỹ mới cấp phép vắc xin đầu tiên liên quan đến căn bệnh này.
Giai đoạn 1950-1985 chứng kiến sự xuất hiện của các biện pháp cấy mô siêu vi, dẫn đến sự ra đời của vắc xin ngừa sốt bại liệt Salk (hiện không còn sử dụng) và Sabin. Công tác chủng ngừa sốt bại liệt trên diện rộng đã giúp xóa sổ căn bệnh này ở nhiều vùng của thế giới. Cũng trong thời gian này, các chủng vi rút gây bệnh sởi, quai bị và rubella được xử lý để chế tạo vắc xin. Hiện bệnh sởi nhiều khả năng sẽ là mục tiêu bị xóa sổ kế tiếp thông qua các chiến dịch tiêm phòng.
Hai thập niên qua chứng kiến các lợi ích của di truyền học phân tử và việc tăng cường ứng dụng công nghệ mới vào lĩnh vực miễn dịch học, vi sinh vật học và gien di truyền cho các dự án phát triển vắc xin. Nhân loại đang gặt hái những thành công trong việc phát triển các vắc xin kết hợp để ngừa viêm gan siêu vi B, sự ra đời của những kỹ thuật mới cho khâu sản xuất vắc xin cúm mùa…
2021
Linh mục Francesco Zantedeschi, người đi trước Faraday
Linh mục Francesco Zantedeschi, người đi trước Faraday
Trong các báo cáo năm 1829 – 1830, linh mục Francesco Zantedeschi đã đề cập việc sản sinh dòng điện trong mạch kín nhờ vào tương tác của nam châm. Một năm sau, nhà vật lý học người Anh Michael Faraday mới thực hiện cuộc thí nghiệm kinh điển về hiện tượng cảm ứng điện từ.
Cha Zantedeschi chào đời vào ngày 20.8.1797 tại đô thị Dolcé thuộc tỉnh Verona ở Ý, cách Venice khoảng 120 km về hướng tây. Thời gian đầu, ngài chỉ đảm nhận công tác giảng dạy môn thần học, nhưng không mất nhiều thời gian để vị linh mục khám phá rằng mình thật sự say mê vật lý và đã được bề trên ủng hộ. Sau khi lần lượt đứng lớp tại một số trường trung học Công giáo ở Milan, Brescia và Venice, ngày 14.7.1849, cha trở thành giáo sư vật lý ở Venice. Cũng trong năm này, cha Zantedeschi được mời giảng dạy tại Ðại học Padua trên cương vị giáo sư, và sau đó đứng lớp truyền thụ kiến thức cho các sinh viên chuyên ngành dược. Trong thời gian ở Ðại học Padua cho đến khi từ chức vào năm 1853, ngài đã tăng cường trang bị các công cụ khoa học chất lượng cao cho phòng thí nghiệm của đại học, không những phục vụ cho công tác giảng dạy mà còn hỗ trợ tốt nỗ lực nghiên cứu của vị linh mục.
Nhà khoa học đam mê thí nghiệm
Là một người đam mê nghiên cứu, cha Zantedeschi đã áp dụng những phương pháp chưa từng thấy để nâng xác suất thí nghiệm lên mức cao nhất. Vào thời điểm mới gia nhập Ðại học Padua, ngài lập tức tìm đến phòng thí nghiệm, và nhanh chóng phát hiện nơi này trong tình trạng tệ hại, thiếu thốn đủ thứ và không hề phù hợp với tiêu chuẩn cũng như yêu cầu cần phải có nếu muốn giảng dạy vật lý ở bậc đại học. Cần nhớ rằng các phòng thí nghiệm đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực khoa học, nhất là trong bối cảnh của thế kỷ 18, khi mà các kết quả nghiên cứu và chứng minh thực nghiệm rất cần thiết nếu muốn thu thập kiến thức. Các chuyên ngành về lịch sử tự nhiên và vật lý càng cần phải có phòng thí nghiệm để giảng dạy cho sinh viên, chưa kể đến hoạt động nghiên cứu của các giáo sư.
![]() |
| Một ấn bản nghiên cứu khoa học của vị linh mục |
Tuy nhiên, không phải đợi đến Ðại học Padua, vị linh mục mới bắt đầu mua sắm trang thiết bị, mà đây là điều cha thường làm khi dạy học ở các trường cấp 3 Công giáo trước đó, chẳng hạn như trường trung học Thánh Caterina. Vì mối quan tâm của cha Zantedeschi khá rộng, nên ngài luôn tìm cách làm cho phòng thí nghiệm ở trường mình giảng dạy có đa dạng thiết bị. Có lần cha đề nghị mua thiết bị chụp ảnh, nhưng vấp phải sự phản đối của hiệu trưởng. Thế nhưng cha Zantedeschi không vội bỏ cuộc mà tìm cách thuyết phục để nhà trường trang bị những món cần thiết khác để làm phong phú dụng cụ dạy học.
Tình trạng trên một lần nữa tái diễn vào năm 1846, vì kinh phí không đủ để vị linh mục mua thêm thiết bị nghiên cứu cho khoa lịch sử tự nhiên. Những nỗ lực sau đó vẫn không đủ trang trải cho nhu cầu của phòng thí nghiệm, buộc cha phải nghĩ ra cách khác. Thậm chí, ngài không ngần ngại đệ đơn thỉnh nguyện trực tiếp cho hoàng đế Áo và Hungary Franz Joseph. Trong thư, cha nói với nhà vua rằng phòng thí nghiệm của Ðại học Padua đang trong tình trạng thiếu thốn, đồng thời đề nghị được cấp thêm máy móc cơ khí dùng cho nghiên cứu về ánh sáng, nhiệt, điện từ và âm thanh.
Thí nghiệm về từ trường và ánh sáng
Cha Zantedeschi là một nhà khoa học làm việc cần mẫn và giỏi viết lách. Trong suốt quá trình thực hiện thí nghiệm, ngài tổng cộng viết được 325 mục hồi ký và thư tín cho Thư viện Italiana (Ý) và Thư viện Ðại học Geneve (Thụy Sĩ). Vào năm 1829 và một lần nữa trong năm 1830, cha Zantedeschi công bố các báo cáo về sự sản sinh dòng điện trong các mạch điện kín thông qua tác động của nam châm, từ đó đi trước thí nghiệm kinh điển của nhà vật lý học người Anh Michael Faraday vào năm 1831. Trong lúc tiến hành nghiên cứu quang phổ mặt trời, vị linh mục thuộc nhóm khoa học gia đầu tiên nhận ra hiện tượng khí quyển Trái đất hấp thu ánh sáng đỏ, vàng và xanh.
Năm 1838, vị linh mục đam mê vật lý cho rằng đã phát hiện tác động của từ trường trên các thanh kim sắt trong môi trường ánh sáng cực tím. Dù hiệu ứng này không được công nhận, một điều thú vị là cha Zantedeschi có lẽ đã phát hiện ra mối liên hệ giữa ánh sáng và từ trường nhiều năm trước khi nhà vật lý người Scotland James Clerk-Maxwell thực hiện cuộc thí nghiệm giúp đưa ra lý thuyết điện từ của ánh sáng vào năm 1867. Các cuộc thí nghiệm và báo cáo của vị linh mục về hiệu ứng của trường điện từ đối với lửa cũng thu hút sự quan tâm đông đảo của dư luận thời đó. Sau này, cha Zantedeschi cũng viết một cuốn hồi ký hiện vẫn còn lưu khữ trong văn khố của Viện hàn lâm Verona.
Cha Zantedeschi công tác tại Ðại học Padua cho đến khi về hưu năm 1853 vì lý do sức khỏe. Ngài qua đời ở Padua vào ngày 29.3.1873.
HỒNG HOANG
2021
Bức họa “bảo vật” của dòng Tên
Bức họa “bảo vật” của dòng Tên
Ít người biết rằng bức tranh cổ Madonna della Strada chính là một trong những nguồn cảm hứng để thánh Inhaxiô Loyola sáng lập dòng Tên…
Bức Madonna della Strada (tạm dịch: Ðức Mẹ của Minh đạo) có niên đại từ thế kỷ 13 hoặc 14. Thế nhưng, tên của bích họa có nguồn gốc sâu xa hơn, lần ngược về gần 1.000 năm trước. Ban đầu, đây là tên của một nhà thờ có từ thế kỷ thứ 5, và được dùng để đặt cho bức tranh có kích thước khiêm tốn, vẽ cảnh Ðức Mẹ Maria và Chúa Hài Ðồng. Trong suốt 425 năm, bức bích họa được treo ở một góc của nhà thờ Santa Maria dell Strada ở Rome, cho đến khi “hội ngộ” tình cờ với thánh Inhaxiô Loyola.
Lưu giữ ở nhà thờ “mẹ”
Trong chuyến đi đầu tiên đến thành phố vĩnh hằng vào năm 1540, thánh Inhaxiô xứ Loyola tình cờ phát hiện bức tranh nhỏ bé và trong suốt thời gian ở Rome, ngài liên tục đến đây cầu nguyện trước Ðức Mẹ. Thánh nhân vô cùng yêu thích tác phẩm hội họa này. Không lâu sau đó, Ðức Giáo Hoàng Phaolô III đã chấp thuận cho thánh Inhaxiô và các bạn hữu thành lập dòng Tên. Vì thánh Inhaxiô Loyola, lúc này trở thành bề trên tổng quyền đầu tiên của các Giêsu hữu, rất thích bức bích họa Maria della Strada, Ðức Thánh Cha đã ban tặng tác phẩm này và thánh nhân trở thành người giám hộ của bức tranh. Năm 1568, Ðức Hồng y Alessandro Farnese cho xây Chiesa del Gesu (Thánh Danh Chúa Giêsu) và nơi này trở thành nhà thờ “mẹ” của dòng Tên. Thế là bức bích họa được chuyển đến đây vào năm 1575 và được đặt bên trong nhà nguyện, nơi các Giêsu hữu tuyên khấn. Nhưng phải đợi đến thế kỷ 19, bức tranh mới được chuyển qua nền sơn dầu và được đóng khung.
![]() |
Trước khi về với Chúa vào năm 1556, thánh Inhaxiô đã để lại lời nhắn nhủ cho các tu sĩ dòng Tên, làm sao bảo quản được bức tranh để chuyển về nhà thờ “mẹ”. Lời nhắn nhủ của vị thánh đã thành hiện thực. Khi Chiesa del Gesu khánh thành sau đó gần 20 năm, bức Maria della Strada được rước vào ngôi thánh đường một cách trang trọng và từ đó được treo vĩnh viễn ở phía trên nhà nguyện được trang trí đẹp đẽ và nằm bên trái bàn thờ chính của nhà thờ. Bức bích họa đến nay vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu, bất chấp những thăng trầm của thời cuộc và nước Ý trải qua nhiều cuộc chiến tranh.
Công trình Chiesa del Gesu phải đợi đến năm 1584 mới hoàn tất. Thời điểm đó, nhiều tín hữu đã đến tận nơi để viếng bức họa và cầu nguyện, nhất là khi thánh Inhaxiô từng kể về phép lạ những người được ơn lành bệnh khi đến trước bức họa thiêng liêng và dâng lời khẩn cầu lên Mẹ Maria. Thánh nhân cũng từng nói rằng nhờ bức Maria della Strada, ngài đã được cứu mạng trong một cuộc chiến vào năm 1521.
![]() |
Kỳ công phục chế tranh
Năm 2006, Madonna della Strada cuối cùng cũng được “tân trang” sau nhiều năm chờ đợi. Thế nhưng, dự án phục chế bức tranh nhanh chóng phát sinh nhiều tình huống phức tạp. Chẳng hạn, hóa ra bức bích họa có niên đại sớm hơn 200 năm so với những gì được ghi nhận, và chất lượng của tranh thật sự hoàn hảo. Các chuyên gia đã làm việc trong một xưởng “dã chiến”, được dựng bên trong nhà thờ. Với sự kiên trì, họ dần dần tẩy bớt những lớp bụi bặm và chất bám tích tụ qua nhiều thế kỷ bên trên bề mặt của bức tranh. Những màu sắc sống động bắt đầu lộ diện, mang đến diện mạo hoàn toàn mới cho Madonna della Strada.
![]() |
| Chiesa del Gesu – nhà thờ “mẹ” của dòng Tên |
Sau khi hoàn tất, khuôn mặt của Chúa Hài Ðồng hiện ra một cách rõ ràng, với cánh tay mặt nhỏ bé vươn ra ban phép lành. Bằng cách nào đó, họa sĩ vẽ tranh đã tạo được hình ảnh 3 chiều của Chúa Hài Ðồng ngồi trên cánh tay của Ðức Mẹ. Trong khi đó, Ðức Mẹ với khuôn mặt hiền lành hướng ánh nhìn về phía người xem, như thể đang thực sự nhìn họ. Giới chuyên gia nhất trí rằng bức bích họa có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ 13. Ðây là bằng chứng hiếm hoi cho thấy kỹ thuật hội họa đáng nể vào cuối thời Trung Cổ ở La Mã.
Giờ đây, trải qua cơn đại dịch, càng có thêm nhiều người thăm viếng và cầu nguyện trước bức Madonna della Strada, xin ơn Ðức Mẹ che chở.
2021
Kinh Mân Côi bản tóm tắt Tin Mừng
Kinh Mân Côi bản tóm tắt Tin Mừng
Theo Đức Giáo Hoàng Léon XIII, chuỗi Mân Côi là bản tóm lược hoàn hảo của Tin Mừng, rất gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, từ lúc nhập thể với những năm tháng ẩn dật tại Nazareth, qua những ngày tháng rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, đến cao điểm là cuộc khổ nạn, rồi phục sinh và vinh thăng. (x. Fanjeaux, Prions avec le Rosaire, Lyon 1956, tr. 25).
Kinh Mân Côi là “cuốn Tin Mừng rút gọn”. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã diễn tả điều này: “Kinh Mân Côi là kinh nguyện đậm chất Kinh Thánh… Chuỗi Mân Côi rõ ràng hướng về Đức Kitô và Ba Ngôi Thiên Chúa”. (x.Tông Huấn Lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, số 46).
Trong phần mở đầu của Tông thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết :“Mặc dù rõ ràng mang đặc tính Thánh Mẫu, Kinh Mân Côi tự bản chất là một kinh nguyện có trọng tâm là Chúa Kitô. Qua những yếu tố bình dị của nó, Kinh Mân Côi chất chứa tất cả những gì sâu xa của toàn thể sứ điệp Phúc Âm. Có thể nói rằng Kinh Mân Côi là một tổng hợp của Phúc Âm”.
Chuỗi Kinh Mân Côi được dệt nên từ kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và kinh Sáng Danh, đây là những kinh nguyện rất đẹp, có truyền thống từ xa xưa và có nguồn gốc trong Tin Mừng. Kinh Lạy Cha là lời kinh Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện (Mt 6, 9-13; Lc 11, 2-4). Kinh Kính Mừng là sự nối kết giữa lời chào của Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel trong buổi truyền tin và lời bà Êlisabet mừng Đức Mẹ trong ngày Mẹ thăm viếng gia đình ông Giacaria (Lc 1,39-44; Lc 1,28-30). Câu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử, Amen” là lời cầu khẩn của Hội Thánh. Kinh Sáng Danh là vinh tụng ca, Hội Thánh ca tụng Thiên Chúa Ba Ngôi, là mục tiêu của mọi chiêm ngưỡng Kitô giáo. Bởi vì Đức Kitô là con đường dẫn chúng ta đến Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.(x.Tông Thư Kinh Mân Côi,số 43).
![]() |
Khi lần hạt, chúng ta đọc Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và Kinh Sáng Danh. Đọc 1 kinh Lạy Cha, 10 kinh Kính Mừng, 1 kinh Sáng Danh, thì gẫm một mầu nhiệm. Chuỗi Mân Côi đan kết 20 biến cố cứu độ của Tin Mừng được chia làm 4 nhóm:
– Năm sự Vui: gồm 5 sự kiện trong cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu.
– Năm sự Sáng: gồm 5 sự kiện trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu.
– Năm sự Thương: gồm 5 sự kiện trong cuộc thương khó của Đức Giêsu.
– Năm sự Mừng: gồm 5 sự kiện vinh quang.
20 mầu nhiệm ấy là những sự kiện cốt yếu trong Tin Mừng. Đó chính là bản tóm tắt cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô và cũng là của Đức Maria. Sau khi đã chiêm ngắm những mầu nhiệm ấy, chúng ta còn cầu xin những ơn cần thiết để làm người và làm con Chúa cho xứng đáng.
20 mầu nhiệm kinh Mân Côi kết thành một chuỗi các biến cố cứu độ quan trọng trong Tin Mừng. Khi đọc kinh Mân Côi, cùng với Đức Maria, chúng ta tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, Kinh Mân Côi là phương thế đưa chúng ta đến trung tâm điểm của phụng tự Kitô Giáo là tôn thờ, ca ngợi, khẩn cầu Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Ngày nay, Lời Chúa được nhấn mạnh rất nhiều và được đề cao đặc biệt trong đời sống tín hữu. Công đồng Vatican II canh tân phụng vụ, mong muốn lòng đạo đức Kitô hữu phải có một căn bản khách quan và vững vàng hơn. Căn bản đó là Kinh Thánh và Phụng Vụ (x. Hiến chế về Phụng vụ thánh, 24). Ngoài Thánh Lễ và Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Chuỗi Mân Côi đáp ứng được những đòi hỏi này.Vì các kinh đọc trong Chuỗi Mân Côi, là những kinh lấy từ Kinh Thánh và Phụng Vụ. Còn các mầu nhiệm cũng có nội dung suy ngắm là cuộc đời Chúa Cứu Thế, rút ra từ các sách Tin Mừng (x. Tông huấn về Lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, số 44).
Chuỗi Mân Côi là bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.
Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh nguyện của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI khích lệ: “Bản chất việc đọc kinh Mân côi đòi hỏi nhịp điệu phải chậm rãi và có thời gian thư thả, để người ta có thời gian suy gẫm sâu xa về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu được nhìn qua Trái Tim của Đấng gần gũi nhất với Chúa”. Chuỗi Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria. Cầm Chuỗi Mân Côi trên tay, chúng ta sẽ thấy mình được tăng thêm nghị lực, sống vươn lên với niềm Tin, Cậy, Mến.Chuỗi Mân Côi mang đến vô vàn ơn phúc huyền diệu cho mỗi người, mỗi gia đình.
![]() |
| Đức Giáo Hoàng Phaolo VI viếng Đức Mẹ Fatima, năm 1967 |
Kinh Mân Côi là kinh hạt phổ quát cho hết mọi người, phổ cập cho mọi trình độ và phổ biến trong bất cứ hoàn cảnh nào.đức mẹ dạy trong sứ điệp Fatima “Hãy siêng năng lần hạt Mân Côi”. Lần hạt mỗi ngày. Lần hạt một mình. Lần hạt chung với nhau trong gia đình. Không buộc phải đọc 50 Kinh Mân Côi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian ta có. Ta cũng có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mân Côi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Ta cũng có thể thì thầm bất cứ lúc nào: khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh…thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, ta cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu ta cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”. Kinh Mân Côi chính là người bạn chân tình, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.
Nếu nhân đức là việc tốt lành được tập tành lập đi lập lại thành thói quen phản xạ tự nhiên, thì Kinh Mân Côi chính là một bửu bối không thể thiếu được cho người tu thân luyện đức theo gương Đức Mẹ và theo chân Chúa Giêsu từ Máng cỏ, ấp ủ qua Thập giá trui rèn, tới Nhà Tạm chiêm ngưỡng. Mỗi một mầu nhiệm xướng lên là một nhân đức khơi gợi, để theo lời kinh nhả nhẹ và dưới tác động của ơn thánh, lòng người được bớt bất xứng hơn, tạo điều kiện thuận lợi dần dần cho việc nên thánh.
Những nhà thông thái có sách vở chữ nghĩa, những nhà cai trị có sức mạnh quyền hành, những nhà tu trì có bầu khí ổn định làm phương tiện, còn người tín hữu là những nhà “tu hành” nghĩa là “tu thân bằng việc hành đạo”, thì Kinh Mân Côi chính là hành trang gọn nhẹ đeo cổ tay, giúp thánh hóa bản thân gia đình và xã hội. Theo nghĩa này, Kinh Mân Côi không khác gì điện thoại di động hòa đời ta vào mạng sự sống thiêng liêng.
Suốt tháng 10, mỗi lời Kinh Mân Côi là một đóa hoa hồng diễn tả tình yêu của đoàn con thảo dành cho Mẹ hiền. Qua Kinh Mân Côi, đoàn con thảo hiếu đọc đi đọc lại cả trăm cả ngàn lần kinh Kính Mừng, như trăm ngàn đóa hoa hồng dâng kính Mẹ từ ái.
Chất lượng kinh nguyện của từng gia đình tỷ lệ thuận với đời sống hạnh phúc. Mẹ thánh Têrêxa Calcutta đã từng nhắn nhủ: “Chúng ta hãy thương yêu nhau như Thiên Chúa đã yêu thương mỗi một người chúng ta. Mà tình yêu này được bắt đầu ở đâu? Ở ngay gia đình của chúng ta. Nó được bắt đầu ra sao? Ở việc gia đình cùng nhau cầu nguyện”.
Chuỗi Kinh Mân Côi được xem như là bản tóm lược Tin Mừng, vậy chúng ta sẽ thấy lời nhắc nhở của thánh Phaolô thật quan trọng: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1Cr 9,16). Ước chi, lời Kinh Mân Côi không chỉ là bí quyết đem lại hạnh phúc cho mỗi gia đình mà còn là một sứ điệp mang Tin Mừng cho nhân loại.
Theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta quyết tâm sống theo lời Mẹ trong dịp hiện ra lần cuối tại Fatima là “Hãy siêng năng lần hạt”. “Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng số 947).
![]() |
| Đức Giáo Hoàng Phanxiôc viếng Đức Mẹ Fatima, tháng 5.2017 |
Theo lời mời gọi của Đức cha Giuse, Giám mục Giáo phận Phan thiết, trong thư Mục vụ tháng 10/2021 “Với sự giãn cách xã hội trong tháng Mười này, tôi mời gọi anh em chị em hãy cầu nguyện chung trong gia đình bằng chuỗi Mân côi cho việc truyền giáo. Chính Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định: ‘Kinh Mân Côi vẫn còn giữ nguyên sức mạnh và vẫn tiếp tục là một nguồn mạch mục vụ có giá trị cho bất cứ một người loan báo Tin Mừng tốt lành nào’ (Tông thư Kinh Mân Côi, số 17), mỗi gia đình hãy sốt sắng lần Chuỗi Mân Côi.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con siêng năng lần hạt Mân Côi trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An



.jpg)



