2021
HỌC MÃI ĐỂ NHẬN RA DẤU CHỈ
22 17 X Thứ Sáu Tuần XXIX Thường Niên.
(Tr) Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II.
Rm 7,18-25a; Lc 12,54-59.
HỌC MÃI ĐỂ NHẬN RA DẤU CHỈ
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hay Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, tên khai sinh của Ngài là Karol Józef Wojtyła. Ngài sinh ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan, cách Kraków 50 cây số. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo Rôma và là người lãnh đạo tối cao của Vatican kể từ ngày 16 tháng 10 năm 1978. Cho đến khi qua đời, triều đại của Ngài đã kéo dài hơn 26 năm và trở thành triều đại Giáo Hoàng dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, sau triều đại Giáo Hoàng của Thánh Phêrô trải dài 34 năm và triều đại Đức Giáo Hoàng Piô IX trải dài 32 năm.
Cho đến hiện tại, Ngài là vị Giáo Hoàng duy nhất người Ba Lan và là Giáo Hoàng đầu tiên không phải người Ý trong gần 500 năm, kể từ Đức Giáo Hoàng Ađrianô VI vào năm 1520. Ngài được tạp chí TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20. và cả những năm đầu thế kỷ 21.
Trong triều đại của mình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không ngừng mở rộng ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo trong Thế giới thứ ba. Ngài đã thực hiện rất nhiều chuyến tông du hơn 129 quốc gia, Ngài có thể nói được hơn 10 ngôn ngữ, ngoài tiếng Ba Lan còn có tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga và một chút tiếng Việt.
Trong suốt triều đại của mình, Ngài đã lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình, phản đối chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chế độ độc tài, chủ nghĩa duy vật, các phương pháp phá thai, thuyết tương đối, chủ nghĩa tư bản và cách thức chết êm dịu. Đức Giáo Hoàng cũng được coi là một trong những nguồn lực dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan và Đông Âu.
Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên công khai xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội trong quá khứ. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đứng ra hòa giải với Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo và Anh giáo. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đứng ra tổ chức cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo của các tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo, Cao Đài và Hồi Giáo. Ngài còn là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm một ngôi đền Hồi Giáo ở Syria, và là vị Giáo Hoàng đầu tiên tổ chức ra Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm, và cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm vùng Thánh Địa Jerusalem.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã được Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI phong là Đấng Đáng Kính vào ngày 19 tháng 12 năm 2009 và phong Chân Phước vào ngày 1 tháng 5 năm 2011. Mặc dù chưa chính thức được phong thánh nhưng vì Ngài là người sáng lập ra Đại hội Giới Trẻ Thế Giới nên Ngài được chọn là một trong những vị Thánh Quan Thầy bảo trợ cho ba kỳ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới liên tiếp tại Sydney năm 2008, Madrid năm 2011, và tại Rio de Janeiro năm 2013. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sẽ được phong thánh vào ngày 27.4.2014 tại Roma.
Ông bảy mươi còn phải học ông bảy mốt. Dân gian đã nói như thế. Kinh nghiệm, tuổi tác, thời gian như là những bài học quý giá và sự kiện thực tế, bổ ích của con người. Nhờ kinh nghiệm mà con người có thể khám phá ra sự thay đổi của thời tiết, đất trời. Ví dụ khi tiên đoán về thời tiết, người ta vẫn thường nói: “cơn đàng đông vừa trông vừa chạy, cơn đàng nam vừa làm vừa chơi”. Và kinh nghiệm này được truyền miệng từ thời này sang thời khác, từ con người này sang con người kia. Thật thế, từ thời xa xưa, người Do thái cũng đã cho thấy kinh nghiệm sống, khả năng nắm bắt quy luật đất trời, đọc ra các dấu chỉ của thời cuộc. Họ rất giỏi thiên văn và những vấn đề liên quan tới kinh nghiệm sống thường ngày.
Hôm nay, trong bài Tin Mừng Chúa Giêsu cũng đã khen ngợi họ về sự lanh lợi, sự hiểu biết và mau lẹ ứng dụng kinh nghiệm sống của mình trong đời sống hàng ngày. Và Chúa Giêsu cũng mong muốn họ áp dụng, thích ứng những kinh nghiệm dân gian đó vào đời sống đức tin, đọc ra được những dấu chỉ của thời cuộc. Tuy nhiên, kinh nghiệm sống, giỏi thiên văn của người Do thái dường như đã và đang chôn vùi họ trong sự tự tôn, trong sự ích kỷ, trong sự thiển cận của mình. Chúa Giêsu đã mời gọi họ đi xa hơn những kinh nghiệm thường ngày mà họ đang cảm nhận. Ngài gọi mời họ khám phá, đi ra khỏi sự hạn hẹp và dám tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thế nhưng, mặc cho sự gọi mời, mặc cho chân lý vẫy gọi, người Do thái, những kinh sư, những luật sĩ, họ vẫn cứng lòng, chai dạ trước sự thật, trước đức tin.
Ngày nay, có lẽ nhiều người Ki-tô hữu chúng ta cũng đang mang tâm trạng, đi vào vết xe đổ của những người Do thái và luật sĩ xưa. Chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Chúng ta là những người Ki-tô hữu chính danh. Chúng tin tin vào Chúa, chúng ta có Chúa ở trong mình. Thế nhưng chính đời sống của chúng ta lại không phản ánh, chiếu tỏa ánh sáng của Chúa cho anh chị em mình. Là người tin có Chúa, thế nhưng khi gặp những nghịch cảnh trong đời sống như ốm đau, thất bại… chúng ta dễ dàng tìm đến thầy bói toán. Là người mang trong mình dòng máu Ki-tô hữu, thế nhưng khi phải đối diện với thử thách, với chủ nghĩa trần tục, chúng ta dễ dàng chao đảo và buông xuôi…
Lời Chúa ngày hôm nay gọi mời chúng ta biết dùng những khôn ngoan, kinh nghiệm của thời cuộc để khám phá, đào sâu và đọc ra được những dấu chỉ của thời đại. Đứng trước trào lưu trần tục hóa, người Ki-tô hữu cảm nhận được tình yêu vĩnh cửu của Chúa dành cho trần gian. Đối diện với sự tha hóa về đạo đức, người Ki-tô xác tín rằng chỉ nơi Chúa sự thật, công lý mới trường tồn, hằng bất biến. Cuối cùng, người Ki-tô hữu luôn được gọi mời sống tâm tình tạ ơn, xác tín vào lòng Chúa xót thương. Dám tin và đọc ra những dấu chỉ, sự gọi mời mà Chúa đã và đang gửi đến cho nhân loại chúng ta. Có như thế, cuộc đời người Ki-tô hữu luôn là một bản trường ca vang xa, tán tụng hồng ân Chúa như lời thánh vịnh đã nói lên rằng: “Ví như Chúa chẳng xây nhà. Thợ nề vất vả cũng là uổng công”(Tv 126).
Ta thấy mọi dân tộc đều trân trọng truyền thống, kinh nghiệm sống của cha ông ví dụ như những bài học áp dụng từ lao động, từ thiên nhiên, người Do Thái thời Chúa Giêsu cũng vậy, họ đón nhận kinh nghiệm từ cha ông họ, biết nhìn cảnh sắc đất trời để có những cách đối phó, ứng xử: Nhìn mây đoán được mưa, thấy gió đoán được trời sẽ oi bức…
Nhưng họ lại không nhận biết được dấu chỉ của thời đại: Không nhận ra Chúa Giêsu, Đấng phải đến loan báo Tin Mừng, chữa lành bệnh tật cho người đau yếu, trừ quỷ cho người bị quỷ ám và làm cho kẻ điếc được nghe, kẻ què đi được, người mù được thấy… như lời các ngôn sứ loan báo, nhưng họ lại không nhận ra đó là dấu chỉ của nước Thiên Chúa đang đến.
Cho nên, Chúa Giêsu đã khiển trách họ chỉ biết “nhận xét cảnh sắc đất trời” trong vũ trụ tự nhiên, nhưng lại không nhận biết những dấu lạ của Con Người đang hiện diện.
Chúa Giêsu kêu gọi hãy nhận ra dấu chỉ thời đại qua sự hiện diện của Ngài, mà tỏ lòng sám hối. Khi bất hòa với anh em, phải biết đi tìm sự hòa giải với anh em trước khi đến với tòa xét xử của Thiên Chúa, vị Thẩm Phán Tối Cao, Ngài sẽ xét xử chúng ta theo tình yêu thương mà chúng ta đối xử với anh em.
Thật thế, chúng ta, những môn đệ của Chúa Kitô trong thời đại hôm nay, cần phải tỉnh táo để nhận ra những dấu chỉ, những ý định của Chúa qua từng biến cố hằng ngày để sám hối, canh tân biến đổi chính mình mỗi ngày.
2021
Thứ Sáu Tuần XXIX – Mùa Thường Niên
Thứ Sáu Tuần XXIX – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 16,6.8
Con kêu lên Ngài, lạy Thiên Chúa,
vì Ngài đáp lời con,
xin lắng tai và nghe tiếng con cầu.
Xin giữ gìn con như thể con ngươi,
dưới bóng Ngài, xin thương che chở.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin tạo cho chúng con một tấm lòng trung tín và quảng đại để chúng con nhiệt thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin …
Bài đọc
Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ?
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
18 Thưa anh em, tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. 19 Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. 20 Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.
21 Bởi đó tôi khám phá ra luật này : khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. 22 Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa ; 23 nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác : luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.
24 Tôi thật là một người khốn nạn ! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ? 25a Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta !
Đáp ca
Tv 118,66 và 68.76-77.93-94 (Đ. c.68b)
Đ.Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.
66Xin dạy con hiểu cho tường, xét cho đúng,
vì con vẫn tin vào mệnh lệnh Ngài
.68Chúa nhân hậu, hay làm ơn làm phúc,
thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.
Đ.Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.
76Xin Chúa lấy tình thương mà an ủi,
theo lời đã hứa với tôi tớ Ngài đây.
77Xin chạnh lòng thương cho con được sống,
vì luật Ngài làm con vui sướng thoả thuê.
Đ.Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.
93Con nguyện chẳng hề quên huấn lệnh Ngài,
vì nhờ đó, Ngài đã cho con được sống.
94Con thuộc về Chúa, xin Ngài cứu độ,
bởi con tìm kiếm huấn lệnh Ngài.
Đ.Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con.
Tung hô Tin Mừng
- Mt 11,25
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 12,54-59
Cảnh sắc đất trời thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao lại không biết nhận xét ?
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
54 Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông rằng : “Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay : ‘Mưa đến nơi rồi’, và xảy ra đúng như vậy. 55 Khi thấy gió nồm thổi, các người nói : ‘Trời sẽ oi bức’, và xảy ra đúng như vậy. 56 Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét ?
57 “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải ? 58 Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục. 59 Tôi bảo cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng.”
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết phụng thờ Chúa tại bàn thánh này, với tâm hồn tự do của con cái Chúa, để những mầu nhiệm chúng con đang cử hành đem lại cho chúng con nguồn ơn thanh tẩy. Chúng con cầu xin..
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người, khi sinh ra đã đổi mới con người cũ, khi chịu khổ hình, đã tẩy xoá tội lỗi chúng con, khi từ cõi chết sống lại, đã khai lối vào chốn trường sinh, và khi lên cùng Chúa là Cha, Người đã mở cửa Nước Trời.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 32,18-19
Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa,
kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương,
hầu cứu họ khỏi tay thần chết
và nuôi dưỡng trong buổi cơ hàn.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa gọi chúng con tời bàn tiệc Nước Trời và ban dồi dào sức sống mới, xin Chúa phù trợ chúng con trong cuộc sống hằng ngày và dạy chúng con biết tìm kiếm những hồng ân vĩnh cửu. Chúng con cầu xin …
Thánh Gio-an Phao-lô II, giáo hoàng
Ca nhập lễ
Chúa đã chọn vị thánh này làm thượng tế,
và mở kho tàng của Chúa cho người,
để cho người được sung mãn muôn ơn.
Bài đọc: Is 52, 7-10
“Người bốn bể rồi ra nhìn thấy, ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta”.
Trích sách ngôn sứ Isaia
Ðẹp thay trên đồi núi
bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an,
người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ
và nói với Xion rằng: “Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị”.
Kìa nghe chăng quân canh gác của ngươi
cùng cất tiếng reo hò vang dậy;
họ sẽ được thấy tận mắt Ðức Chúa đang trở về Xion.
Hỡi Giêrusalem điêu tàn hoang phế,
hãy đồng thanh bật tiếng reo mừng,
vì Ðức Chúa an ủi dân Người, và cứu chuộc Giêrusalem.
Trước mặt muôn dân,
Ðức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người:
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta,
người bốn bể rồi ra nhìn thấy.
Đáp ca: Tv 96 (95), 1-2a.2b-3.7-8a.10.
ĐC: Hãy kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
cho mọi nước hay những kỳ công của Người.
- Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!
Hát lên mừng Chúa, chúc tụng Thánh Danh! - Ngày qua ngày, hãy loan báo ơn Người cứu độ,
kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
cho mọi nước hay những kỳ công của Người. - Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước,
dâng Chúa quyền lực và vinh quang,
hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. - Hãy nói với chư dân : Chúa là Vua hiển trị,
Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay,
Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.
Alleluia: Ga 10, 14
Alleluia, Alleluia. Chúa phán: Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. Alleluia.
Tin Mừng: Ga 21, 15-17
“Hãy chăn dắt chiên của Thầy, hãy chăn dắt chiên của Thầy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan
`Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”. Người lại hỏi: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Người nói: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”. Người hỏi lần thứ ba: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần “Anh có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giêsu bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa,
trong ngày lễ nhớ thánh Gioan Phaolô II,
chúng con nài xin Chúa nhận hy lễ
dân Chúa dâng lên để tôn vinh Chúa,
xin Chúa làm cho hy lễ này,
đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Ca hiệp lễ
- Ga 10,11
Người mục tử nhân lành
hy sinh mạng sống cho đoàn chiên.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con,
xin cho bí tích chúng con đã lãnh nhận
đốt lên trong chúng con lửa tình yêu,
ngọn lửa đã mạnh mẽ nung đốt thánh Gioan Phaolô II
giúp thánh nhân chăm sóc cho Hội Thánh của Chúa.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
2021
Dấu chỉ và công dụng của nhà thờ Công giáo
Dấu chỉ và công dụng của nhà thờ Công giáo
Khi các Kitô hữu Công Giáo quyết định tụ họp lại với nhau thành cộng đoàn phụng vụ, lúc đó họ phải tìm một nơi thích hợp cho việc cử hành các nghi lễ. Đầu tiên người ta hội họp nhau trong những nhà tư, nhưng dần dà họ đã bắt đầu xây những ngôi nhà chung, và đặt tên cho những nơi đó là ‘Nhà Thờ’. Vậy, ngày nay nhà thờ Công Giáo mang những dấu chỉ, hình ảnh và công dụng ra sao? Xin được trình bày vài nét như sau.
➥ Nhà thờ Công giáo dù đẹp hay không, dù cổ kính hay tân thời, thì tự bản chất, mục đích của nó không phải là để tham quan, du hí… không phải là một địa điểm tham quan, một bảo tàng viện, mà là nơi linh thiêng, nơi thờ phượng Đấng Tối Cao! (Ảnh: nhà thờ giáo xứ Đồng La,)
- Dấu chỉ của nhà thờ
Trong thời Cựu ước, Thiên Chúa đã muốn dùng những dấu chỉ hữu hình để biểu thị sự hiện diện của Ngài giữa dân Israel. Sau khi tỏ mình ra tại núi Sinai (Xh 19), Ngài cư ngụ giữa dân của Ngài nơi ‘Hòm Bia’ và trong ‘Lều hội ngộ’ (Xh 25,8 và 22). Khi Israel trở thành một vương quốc, Thiên Chúa chấp nhận để họ xây cho Ngài một đền thờ tại Sion (1V 6-7). Ngài chứng tỏ sự hiện diện đặc biệt của Ngài ở đó bằng cách tỏ cho người ta thấy vinh quang của Ngài (1V 8,11). Nhưng trong thời lưu đày đền thờ đã bị phá hủy, Ezechiel đã tiên báo một đền thờ mới. Lời tiên báo của ông làm cho người ta nghĩ tới một đền thờ khác, vượt quá đền thờ thứ hai mà Zorababel sẽ xây tại Giêrusalem (Ez 43,7).
Quả thực, Chúa Giêsu, sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người (Ga 1,14), đã rõ ràng tuyên bố cho thiếu phụ Samaritana rằng, trong tương lai, người ta sẽ không còn thờ Thiên Chúa tại núi Garizim hay tại Giêrusalem nữa, nhưng sẽ thờ Ngài trong tinh thần và chân lý (Ga 4,22-23). Ngài báo trước cho dân Do thái là Ngài sẽ xây một đền thờ mới trong 3 ngày (Ga 2,19). Đền thờ mới chính là ‘Thân xác phục sinh của Ngài’. Ngài đã phá hủy, trong cái chết của Ngài, mọi ranh giới hạn hẹp sự hiện diện thiêng liêng của Ngài.
Từ đây, qua Chúa Kitô, ‘Thiên Chúa sẽ hiện diện bất cứ nơi đâu có nhiều người họp lại vì danh Ngài’ (Mt 18,20). Ngài hiện diện trong Giáo hội là Thân Thể của Ngài (1Cr 12,27). Ở trong Giêrusalem thiên quốc (messianico), sẽ không còn đền thờ nào khác ngoài chính Thiên Chúa và Con Chiên (Kh 21,22).
Bởi vậy, thánh Phaolô đã thốt lên tại Atena: ‘Thiên Chúa không ở trong những đền thờ do bàn tay người ta làm nên’ (Cv 17,24). Điều đó cũng được các nhà Minh giáo nhắc lại dưới nhiều hình thức. Khác với những đền thờ ngoại giáo, là những nơi thần linh hiện diện, thì Nhà thờ Kitô giáo là nơi hội họp của những người tin vào Chúa Kitô. Tuy nhiên, Thiên Chúa sẽ cư ngụ ở những nơi mà những kẻ thờ phượng Ngài trong chân lý tụ họp lại. Chính nhờ họ và nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa họ mà nơi họ hội họp được gọi là ‘Nơi Thánh’.
- Hình ảnh của nhà thờ
Nhà thờ trước tiên là nhà của Cộng đoàn Kitô giáo địa phương, và sau là nhà của tất cả những người Kitô hữu đang hội họp tại đó. Bởi vậy, theo lẽ tự nhiên, nhà thờ phải trở thành hình ảnh của cộng đoàn mà nó tiếp nhận, như là sự trải dài trong không gian và sự diễn tả theo hình thể của cộng đoàn này. Nó phản ánh cho những người bên trong cũng như những người ở ngoài hình ảnh của Giáo hội tại một nơi và một thời gian nhất định.
Đối với những người ở ngoài Giáo hội, thì trong một môi trường ngoại giáo, nhà thờ chính là nhà của các tín hữu. Ở thời Trung cổ, nhà thờ đã trở thành trung tâm của cộng đồng nhân loại và tôn giáo. Nó là tài sản của xã hội cũng như của Giáo hội, là biểu tượng của nền văn hóa cũng như lý tưởng của cộng đồng, là nơi ưu tuyển của nghệ thuật. Trong xã hội hiện đại, đa dạng và tục hóa, hình ảnh bên ngoài mà nhà thờ đã thừa kế được của quá khứ không còn có cùng một ý nghĩa nữa. Nó không phải là nơi cần được hay xin được xếp hạng lọt vào danh sách di sản văn hóa, hay được chứng nhận trở thành điểm du lịch nhằm mang thu nhập cao hơn cho người dân địa phương. Hình ảnh này cần phải được xác nhận theo bộ mặt mà Giáo hội muốn cống hiến cho thế giới chung quanh mình. Vì thế, thường thường nó cần được thay đổi.
Đối với những người ở trong Giáo hội, nhà thờ luôn luôn hơn kém phản ánh đức tin của những cộng đoàn quy tụ tại đó. Thường người ta đã sử dụng lối kiến trúc và nghệ thuật của một thời đại và hội nhập kiến trúc địa phương của cộng đoàn. Chính vì thế, mà những miền mới nhận được ánh sáng Tin Mừng đã cố gắng tìm ra những kiểu nhà thờ hợp với nền văn hóa và nghệ thuật của một vùng hay của đất nước họ.
- Công dụng của nhà thờ
Khi nói tới nhà thờ, một đàng chúng ta phải để ý tới những công dụng của nó trong việc cử hành phụng vụ, đàng khác phải để ý tới những ý nghĩa của toàn bộ cũng như từng phần của tòa nhà. Bất cứ nơi thờ phượng nào, dù nó có công dụng nhiều hay ít, nó vẫn biểu thị một cái gì đối với những người hội họp tại đó. Đàng khác, chính những nghi thức cũng có chức năng trở thành dấu chỉ của mầu nhiệm chúng cử hành.
Công dụng của nhà thờ được thể hiện dưới ba khía cạnh:
✠ Khía cạnh thực dụng
Trước hết, nhà thờ là nơi chốn để cử hành phụng vụ nói chung và cử hành thánh lễ nói riêng. Mà nơi chốn thì phải tốt và hữu dụng đối với các tín hữu để thực hiện những nghi thức dự liệu, như: hội họp, chiêm ngắm, nghe Lời Chúa, tung hô, ca hát, di chuyển, đứng, ngồi v.v.; còn đối với thừa tác viên, thì phải tốt để chủ tọa các nghi lễ, công bố Lời Chúa, giảng dạy, cầu nguyện v.v. Ngoài ra nhà thờ còn phải tốt để cử hành các bí tích và á bí tích khác.
✠ Khía cạnh xã hội – nhân vị
Nhà thờ là nhà của một cộng đoàn thiêng liêng. Cũng gần giống như ngôi nhà của gia đình không phải chỉ là nơi để ăn, ngủ và lao động…, nhưng nó còn phải được xây dựng thế nào để có thể phát triển được tinh thần gia đình, đồng thời giúp cho việc tăng trưởng nhân vị của mỗi thành viên gia đình; thì nhà thờ cũng không phải chỉ là một nơi cần thiết, thực dụng và thích hợp để cử hành các nghi lễ. Nó còn có trách nhiệm củng cố tinh thần huynh đệ, thân mật và tôn trọng lẫn nhau, tinh thần thán phục và hồi tâm, tinh thần vui tươi và tự do. Mỗi người phải tự cảm thấy ở trong đó bản thân của mình rõ ràng hơn, đồng thời cũng thấy gần gũi với anh chị em mình hơn.
✠ Khía cạnh mầu nhiệm
Hơn hết, nhà thờ là nơi gặp gỡ, trao đổi giữa Thiên Chúa và Giáo hội trần thế. Nó mang một ý nghĩa huyền nhiệm và là biểu tượng của Thiên Chúa hiện diện giữa loài người, là hình ảnh của dân được cứu độ, là sự nhắc nhở của một lịch sử cứu độ, là sự tiên báo của một Giêrusalem thiên quốc. Tắt một lời, nhà thờ là ‘Bí tích của thụ tạo mới trong Chúa Kitô Phục sinh’. Nó là nơi thánh theo nghĩa: Thiên Chúa là Đấng Thánh dùng các bí tích thánh để thánh hóa con người tại đó, để đến lượt họ, họ sẽ thánh hóa thế giới.
Lm. Giuse Trần Thiện Tĩnh
2021
Làm sao để bước theo Chúa Kitô như một người đang yêu
Làm sao để bước theo Chúa Kitô như một người đang yêu
Cuộc đời của Thánh Magarita Maria cho thấy một sự thật rằng cuộc đời Kitô hữu là một câu chuyện tình yêu.
Tình yêu tuổi trẻ. Một ước hẹn thời thơ ấu. Gia đình phản đối việc hôn nhân. Cuối cùng, một đời hạnh phúc bên nhau.
Chẳng phải nghe có vẻ giống như cốt truyện từ một cuốn tiểu thuyết lãng mạn hay sao? Nhưng đó là câu chuyện có thật về Thánh nữ Magarita Maria Alacốc (Margaret Mary Alacoque), vị nữ tu thánh thiện người Pháp mà chúng ta mừng lễ hôm nay (16/10).
Thánh Magarita Maria vốn là một đứa trẻ rất khác thường. Thánh nữ yêu mến Bí tích Thánh Thể cách sâu đậm từ khi còn nhỏ, giống như Chân phước Carlo Acutis. Ngài còn được cho là yêu thích sự thing lặng và cầu nguyện hơn những trò chơi thời thơ ấu.
Khi 13 tuổi, những năm tháng cầu nguyện riêng tư và tình yêu hy sinh của thánh nữ dành cho Chúa Giêsu Kitô đã lên đến đỉnh điểm. Thánh nữ thầm hứa với Đức Trinh Nữ Maria rằng sẽ dâng mình cho đời sống tu trì.
Nhưng lời hứa này đã bị thử thách dữ dội vài năm sau đó. Ở tuổi vị thành niên, Thánh nữ Magarita Maria đã để tâm đến lời thúc giục của gia đình để tìm kiếm một người chồng phù hợp. Thánh nữ bắt đầu tham dự các buổi khiêu vũ, tiệc tùng và gặp gỡ những chàng trai trẻ đủ tiêu chuẩn, tất cả đều nhắm đến ý định kết hôn.
Tuy nhiên, tất cả những vui thú bên ngoài như thế lại đột ngột chấm dứt, khi Chúa Kitô nhắc nhở thánh nữ về lời hứa ban đầu của mình: Một đêm khi trở về từ một buổi khiêu vũ, thánh nữ đã có thị kiến về Chúa Giêsu Kitô đang chịu roi đòn, Người đã khiển trách thánh nữ về sự không chung thủy sau khi đã trao cho thánh nữ rất nhiều bằng chứng về tình yêu của Người.
Thánh nữ đã không còn nhớ đến bất kỳ thanh niên trẻ nào mà mình đã gặp và chỉ mong muốn một lần nữa được chọn Chúa Giêsu Kitô làm vị hôn phu cho mình. Nhưng có một trở ngại lớn: gia đình thánh nữ. Mẹ và anh trai muốn ngài kết hôn.
Khi anh trai của thánh nữ thúc giục ngài kết hôn ngay lập tức, Thánh Magarita đáp lại bằng cách mô tả tình yêu đích thực của mình là Chúa Giêsu:
“Người chính là người tình đẹp nhất, giàu có nhất, mạnh mẽ nhất, hoàn hảo nhất và tài năng nhất trong số tất cả và em được hứa hôn với Người.”
Anh trai của thánh nữ không mấy lay động. Anh tiếp tục phản đối việc thánh nữ vào tu viện trong một thời gian, cho đến khi cuối cùng, một linh mục dòng Phanxicô đã đến thăm gia đình và thuyết phục anh về ơn gọi của Thánh nữ Magarita Maria.
Ít nhất, sau rất nhiều năm, ước mơ của Thánh nữ Magarita Maria mới trở thành hiện thực. Thánh nữ sẽ được kết hợp mãi mãi với tình yêu vĩ đại của mình trong tư cách là một nữ tu thuộc tu viện dòng Thăm Viếng.
Trong khi Thánh nữ Magarita Maria phải ngày càng chịu đựng thêm nhiều thử thách hơn trong cuộc đời, thì tình yêu cháy bỏng và sự hiện diện thường xuyên của Chúa Kitô lúc nào cũng đem lại cho thánh nữ niềm an ủi. Đó là “tình yêu mãi mãi về sau” không chỉ ở đời này mà còn trên thiên đàng ở đời sau.
Phần còn lại của cuộc đời thánh nữ đã được dành để làm cho Chúa Kitô được biết đến trên khắp thế giới, đặc biệt là qua việc sùng kính Thánh Tâm Người, điều mà thánh nữ đã kiên trì quảng bá:
[Chúa Kitô] đã gọi thánh nữ là “Môn đệ Yêu dấu của Thánh Tâm,” và là người thừa kế tất cả các kho tàng của Thánh Tâm. Tình yêu của Thánh Tâm là ngọn lửa thiêu đốt thánh nữ, và lòng sùng kính Thánh Tâm là phương châm trong mọi tác phẩm của thánh nữ. Trong lần đau bệnh cuối cùng, thánh nữ đã từ chối mọi sự giảm nhẹ, và thường xuyên lặp lại rằng: “Điều con có trên thiêng đàng và điều con ao ước ở dưới đất, chỉ là một mình Ngài, lạy Thiên Chúa của con,” và thánh nữ đã từ giã cõi đời trong khi tuyên xưng Danh Thánh Chúa Giêsu.
Cuộc đời của Thánh Magarita Maria nghe giống như một câu chuyện tình yêu, nhưng là với Chúa Giêsu Kitô thay vì một người bình thường. Nhưng điều đặc biệt nhất ở đây là câu chuyện tình yêu với Chúa Giêsu Kitô không chỉ là điều dành riêng cho những con người thánh thiện nhất. Đó còn là lời mời gọi dành cho mọi Kitô hữu.
Thánh Magarita Maria thật khác thường khi yêu thích sự thinh lặng và cầu nguyện hơn là sự vui thú và chơi đùa, nhưng bạn không cần phải giống như thánh nữ để có thể yêu mến Chúa Giêsu. Từng người trong chúng ta đều được mời gọi đến với câu chuyện tình yêu của chính mình dành cho Chúa Kitô. Và những câu chuyện tình yêu này sẽ là riêng biệt và duy nhất tùy theo mỗi người.
Một linh mục Dòng Tên, Cha Pedro Arrupe, đã lưu lại những dòng tuyệt đẹp về tính hiện thực trong mối tương quan với Chúa Kitô trong một suy tư có tên là Phải Lòng Yêu (Fall in Love):
Không có gì ích lợi hơn việc tìm thấy Thiên Chúa, phải lòng Người theo một cách thức hoàn toàn tuyệt đối và tận cùng. Những gì bạn yêu thương, những gì kiểm soát trí tưởng tượng của bạn, sẽ ảnh hưởng đến mọi thứ. Nó sẽ quyết định điều gì sẽ khiến bạn rời khỏi giường vào buổi sáng, điều gì bạn làm vào buổi tối, cách bạn dành thời gian cuối tuần ra sao, điều bạn đọc, người bạn quen biết, điều gì khiến trái tim bạn tan nát và điều gì khiến bạn kinh ngạc và biết ơn. Hãy phải lòng yêu, hãy ở lại trong tình yêu, và điều đó sẽ quyết định tất cả.
Thánh Magarita Maria cho chúng ta thấy việc phải lòng yêu và ở trong tình yêu với Chúa Kitô sẽ trở nên ra sao. Lấy cảm hứng từ câu chuyện của thánh nữ, chúng ta hãy cùng khám phá xem việc ở lại trong tình yêu với Chúa Kitô sẽ trở nên như thế nào trong cuộc sống và tâm hồn của chúng ta.
Tác giả: Theresa Civantos Barber
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
