2021
Dấu chỉ và công dụng của nhà thờ Công giáo
Dấu chỉ và công dụng của nhà thờ Công giáo
Khi các Kitô hữu Công Giáo quyết định tụ họp lại với nhau thành cộng đoàn phụng vụ, lúc đó họ phải tìm một nơi thích hợp cho việc cử hành các nghi lễ. Đầu tiên người ta hội họp nhau trong những nhà tư, nhưng dần dà họ đã bắt đầu xây những ngôi nhà chung, và đặt tên cho những nơi đó là ‘Nhà Thờ’. Vậy, ngày nay nhà thờ Công Giáo mang những dấu chỉ, hình ảnh và công dụng ra sao? Xin được trình bày vài nét như sau.
➥ Nhà thờ Công giáo dù đẹp hay không, dù cổ kính hay tân thời, thì tự bản chất, mục đích của nó không phải là để tham quan, du hí… không phải là một địa điểm tham quan, một bảo tàng viện, mà là nơi linh thiêng, nơi thờ phượng Đấng Tối Cao! (Ảnh: nhà thờ giáo xứ Đồng La,)
- Dấu chỉ của nhà thờ
Trong thời Cựu ước, Thiên Chúa đã muốn dùng những dấu chỉ hữu hình để biểu thị sự hiện diện của Ngài giữa dân Israel. Sau khi tỏ mình ra tại núi Sinai (Xh 19), Ngài cư ngụ giữa dân của Ngài nơi ‘Hòm Bia’ và trong ‘Lều hội ngộ’ (Xh 25,8 và 22). Khi Israel trở thành một vương quốc, Thiên Chúa chấp nhận để họ xây cho Ngài một đền thờ tại Sion (1V 6-7). Ngài chứng tỏ sự hiện diện đặc biệt của Ngài ở đó bằng cách tỏ cho người ta thấy vinh quang của Ngài (1V 8,11). Nhưng trong thời lưu đày đền thờ đã bị phá hủy, Ezechiel đã tiên báo một đền thờ mới. Lời tiên báo của ông làm cho người ta nghĩ tới một đền thờ khác, vượt quá đền thờ thứ hai mà Zorababel sẽ xây tại Giêrusalem (Ez 43,7).
Quả thực, Chúa Giêsu, sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người (Ga 1,14), đã rõ ràng tuyên bố cho thiếu phụ Samaritana rằng, trong tương lai, người ta sẽ không còn thờ Thiên Chúa tại núi Garizim hay tại Giêrusalem nữa, nhưng sẽ thờ Ngài trong tinh thần và chân lý (Ga 4,22-23). Ngài báo trước cho dân Do thái là Ngài sẽ xây một đền thờ mới trong 3 ngày (Ga 2,19). Đền thờ mới chính là ‘Thân xác phục sinh của Ngài’. Ngài đã phá hủy, trong cái chết của Ngài, mọi ranh giới hạn hẹp sự hiện diện thiêng liêng của Ngài.
Từ đây, qua Chúa Kitô, ‘Thiên Chúa sẽ hiện diện bất cứ nơi đâu có nhiều người họp lại vì danh Ngài’ (Mt 18,20). Ngài hiện diện trong Giáo hội là Thân Thể của Ngài (1Cr 12,27). Ở trong Giêrusalem thiên quốc (messianico), sẽ không còn đền thờ nào khác ngoài chính Thiên Chúa và Con Chiên (Kh 21,22).
Bởi vậy, thánh Phaolô đã thốt lên tại Atena: ‘Thiên Chúa không ở trong những đền thờ do bàn tay người ta làm nên’ (Cv 17,24). Điều đó cũng được các nhà Minh giáo nhắc lại dưới nhiều hình thức. Khác với những đền thờ ngoại giáo, là những nơi thần linh hiện diện, thì Nhà thờ Kitô giáo là nơi hội họp của những người tin vào Chúa Kitô. Tuy nhiên, Thiên Chúa sẽ cư ngụ ở những nơi mà những kẻ thờ phượng Ngài trong chân lý tụ họp lại. Chính nhờ họ và nhờ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa họ mà nơi họ hội họp được gọi là ‘Nơi Thánh’.
- Hình ảnh của nhà thờ
Nhà thờ trước tiên là nhà của Cộng đoàn Kitô giáo địa phương, và sau là nhà của tất cả những người Kitô hữu đang hội họp tại đó. Bởi vậy, theo lẽ tự nhiên, nhà thờ phải trở thành hình ảnh của cộng đoàn mà nó tiếp nhận, như là sự trải dài trong không gian và sự diễn tả theo hình thể của cộng đoàn này. Nó phản ánh cho những người bên trong cũng như những người ở ngoài hình ảnh của Giáo hội tại một nơi và một thời gian nhất định.
Đối với những người ở ngoài Giáo hội, thì trong một môi trường ngoại giáo, nhà thờ chính là nhà của các tín hữu. Ở thời Trung cổ, nhà thờ đã trở thành trung tâm của cộng đồng nhân loại và tôn giáo. Nó là tài sản của xã hội cũng như của Giáo hội, là biểu tượng của nền văn hóa cũng như lý tưởng của cộng đồng, là nơi ưu tuyển của nghệ thuật. Trong xã hội hiện đại, đa dạng và tục hóa, hình ảnh bên ngoài mà nhà thờ đã thừa kế được của quá khứ không còn có cùng một ý nghĩa nữa. Nó không phải là nơi cần được hay xin được xếp hạng lọt vào danh sách di sản văn hóa, hay được chứng nhận trở thành điểm du lịch nhằm mang thu nhập cao hơn cho người dân địa phương. Hình ảnh này cần phải được xác nhận theo bộ mặt mà Giáo hội muốn cống hiến cho thế giới chung quanh mình. Vì thế, thường thường nó cần được thay đổi.
Đối với những người ở trong Giáo hội, nhà thờ luôn luôn hơn kém phản ánh đức tin của những cộng đoàn quy tụ tại đó. Thường người ta đã sử dụng lối kiến trúc và nghệ thuật của một thời đại và hội nhập kiến trúc địa phương của cộng đoàn. Chính vì thế, mà những miền mới nhận được ánh sáng Tin Mừng đã cố gắng tìm ra những kiểu nhà thờ hợp với nền văn hóa và nghệ thuật của một vùng hay của đất nước họ.
- Công dụng của nhà thờ
Khi nói tới nhà thờ, một đàng chúng ta phải để ý tới những công dụng của nó trong việc cử hành phụng vụ, đàng khác phải để ý tới những ý nghĩa của toàn bộ cũng như từng phần của tòa nhà. Bất cứ nơi thờ phượng nào, dù nó có công dụng nhiều hay ít, nó vẫn biểu thị một cái gì đối với những người hội họp tại đó. Đàng khác, chính những nghi thức cũng có chức năng trở thành dấu chỉ của mầu nhiệm chúng cử hành.
Công dụng của nhà thờ được thể hiện dưới ba khía cạnh:
✠ Khía cạnh thực dụng
Trước hết, nhà thờ là nơi chốn để cử hành phụng vụ nói chung và cử hành thánh lễ nói riêng. Mà nơi chốn thì phải tốt và hữu dụng đối với các tín hữu để thực hiện những nghi thức dự liệu, như: hội họp, chiêm ngắm, nghe Lời Chúa, tung hô, ca hát, di chuyển, đứng, ngồi v.v.; còn đối với thừa tác viên, thì phải tốt để chủ tọa các nghi lễ, công bố Lời Chúa, giảng dạy, cầu nguyện v.v. Ngoài ra nhà thờ còn phải tốt để cử hành các bí tích và á bí tích khác.
✠ Khía cạnh xã hội – nhân vị
Nhà thờ là nhà của một cộng đoàn thiêng liêng. Cũng gần giống như ngôi nhà của gia đình không phải chỉ là nơi để ăn, ngủ và lao động…, nhưng nó còn phải được xây dựng thế nào để có thể phát triển được tinh thần gia đình, đồng thời giúp cho việc tăng trưởng nhân vị của mỗi thành viên gia đình; thì nhà thờ cũng không phải chỉ là một nơi cần thiết, thực dụng và thích hợp để cử hành các nghi lễ. Nó còn có trách nhiệm củng cố tinh thần huynh đệ, thân mật và tôn trọng lẫn nhau, tinh thần thán phục và hồi tâm, tinh thần vui tươi và tự do. Mỗi người phải tự cảm thấy ở trong đó bản thân của mình rõ ràng hơn, đồng thời cũng thấy gần gũi với anh chị em mình hơn.
✠ Khía cạnh mầu nhiệm
Hơn hết, nhà thờ là nơi gặp gỡ, trao đổi giữa Thiên Chúa và Giáo hội trần thế. Nó mang một ý nghĩa huyền nhiệm và là biểu tượng của Thiên Chúa hiện diện giữa loài người, là hình ảnh của dân được cứu độ, là sự nhắc nhở của một lịch sử cứu độ, là sự tiên báo của một Giêrusalem thiên quốc. Tắt một lời, nhà thờ là ‘Bí tích của thụ tạo mới trong Chúa Kitô Phục sinh’. Nó là nơi thánh theo nghĩa: Thiên Chúa là Đấng Thánh dùng các bí tích thánh để thánh hóa con người tại đó, để đến lượt họ, họ sẽ thánh hóa thế giới.
Lm. Giuse Trần Thiện Tĩnh
2021
Làm sao để bước theo Chúa Kitô như một người đang yêu
Làm sao để bước theo Chúa Kitô như một người đang yêu
Cuộc đời của Thánh Magarita Maria cho thấy một sự thật rằng cuộc đời Kitô hữu là một câu chuyện tình yêu.
Tình yêu tuổi trẻ. Một ước hẹn thời thơ ấu. Gia đình phản đối việc hôn nhân. Cuối cùng, một đời hạnh phúc bên nhau.
Chẳng phải nghe có vẻ giống như cốt truyện từ một cuốn tiểu thuyết lãng mạn hay sao? Nhưng đó là câu chuyện có thật về Thánh nữ Magarita Maria Alacốc (Margaret Mary Alacoque), vị nữ tu thánh thiện người Pháp mà chúng ta mừng lễ hôm nay (16/10).
Thánh Magarita Maria vốn là một đứa trẻ rất khác thường. Thánh nữ yêu mến Bí tích Thánh Thể cách sâu đậm từ khi còn nhỏ, giống như Chân phước Carlo Acutis. Ngài còn được cho là yêu thích sự thing lặng và cầu nguyện hơn những trò chơi thời thơ ấu.
Khi 13 tuổi, những năm tháng cầu nguyện riêng tư và tình yêu hy sinh của thánh nữ dành cho Chúa Giêsu Kitô đã lên đến đỉnh điểm. Thánh nữ thầm hứa với Đức Trinh Nữ Maria rằng sẽ dâng mình cho đời sống tu trì.
Nhưng lời hứa này đã bị thử thách dữ dội vài năm sau đó. Ở tuổi vị thành niên, Thánh nữ Magarita Maria đã để tâm đến lời thúc giục của gia đình để tìm kiếm một người chồng phù hợp. Thánh nữ bắt đầu tham dự các buổi khiêu vũ, tiệc tùng và gặp gỡ những chàng trai trẻ đủ tiêu chuẩn, tất cả đều nhắm đến ý định kết hôn.
Tuy nhiên, tất cả những vui thú bên ngoài như thế lại đột ngột chấm dứt, khi Chúa Kitô nhắc nhở thánh nữ về lời hứa ban đầu của mình: Một đêm khi trở về từ một buổi khiêu vũ, thánh nữ đã có thị kiến về Chúa Giêsu Kitô đang chịu roi đòn, Người đã khiển trách thánh nữ về sự không chung thủy sau khi đã trao cho thánh nữ rất nhiều bằng chứng về tình yêu của Người.
Thánh nữ đã không còn nhớ đến bất kỳ thanh niên trẻ nào mà mình đã gặp và chỉ mong muốn một lần nữa được chọn Chúa Giêsu Kitô làm vị hôn phu cho mình. Nhưng có một trở ngại lớn: gia đình thánh nữ. Mẹ và anh trai muốn ngài kết hôn.
Khi anh trai của thánh nữ thúc giục ngài kết hôn ngay lập tức, Thánh Magarita đáp lại bằng cách mô tả tình yêu đích thực của mình là Chúa Giêsu:
“Người chính là người tình đẹp nhất, giàu có nhất, mạnh mẽ nhất, hoàn hảo nhất và tài năng nhất trong số tất cả và em được hứa hôn với Người.”
Anh trai của thánh nữ không mấy lay động. Anh tiếp tục phản đối việc thánh nữ vào tu viện trong một thời gian, cho đến khi cuối cùng, một linh mục dòng Phanxicô đã đến thăm gia đình và thuyết phục anh về ơn gọi của Thánh nữ Magarita Maria.
Ít nhất, sau rất nhiều năm, ước mơ của Thánh nữ Magarita Maria mới trở thành hiện thực. Thánh nữ sẽ được kết hợp mãi mãi với tình yêu vĩ đại của mình trong tư cách là một nữ tu thuộc tu viện dòng Thăm Viếng.
Trong khi Thánh nữ Magarita Maria phải ngày càng chịu đựng thêm nhiều thử thách hơn trong cuộc đời, thì tình yêu cháy bỏng và sự hiện diện thường xuyên của Chúa Kitô lúc nào cũng đem lại cho thánh nữ niềm an ủi. Đó là “tình yêu mãi mãi về sau” không chỉ ở đời này mà còn trên thiên đàng ở đời sau.
Phần còn lại của cuộc đời thánh nữ đã được dành để làm cho Chúa Kitô được biết đến trên khắp thế giới, đặc biệt là qua việc sùng kính Thánh Tâm Người, điều mà thánh nữ đã kiên trì quảng bá:
[Chúa Kitô] đã gọi thánh nữ là “Môn đệ Yêu dấu của Thánh Tâm,” và là người thừa kế tất cả các kho tàng của Thánh Tâm. Tình yêu của Thánh Tâm là ngọn lửa thiêu đốt thánh nữ, và lòng sùng kính Thánh Tâm là phương châm trong mọi tác phẩm của thánh nữ. Trong lần đau bệnh cuối cùng, thánh nữ đã từ chối mọi sự giảm nhẹ, và thường xuyên lặp lại rằng: “Điều con có trên thiêng đàng và điều con ao ước ở dưới đất, chỉ là một mình Ngài, lạy Thiên Chúa của con,” và thánh nữ đã từ giã cõi đời trong khi tuyên xưng Danh Thánh Chúa Giêsu.
Cuộc đời của Thánh Magarita Maria nghe giống như một câu chuyện tình yêu, nhưng là với Chúa Giêsu Kitô thay vì một người bình thường. Nhưng điều đặc biệt nhất ở đây là câu chuyện tình yêu với Chúa Giêsu Kitô không chỉ là điều dành riêng cho những con người thánh thiện nhất. Đó còn là lời mời gọi dành cho mọi Kitô hữu.
Thánh Magarita Maria thật khác thường khi yêu thích sự thinh lặng và cầu nguyện hơn là sự vui thú và chơi đùa, nhưng bạn không cần phải giống như thánh nữ để có thể yêu mến Chúa Giêsu. Từng người trong chúng ta đều được mời gọi đến với câu chuyện tình yêu của chính mình dành cho Chúa Kitô. Và những câu chuyện tình yêu này sẽ là riêng biệt và duy nhất tùy theo mỗi người.
Một linh mục Dòng Tên, Cha Pedro Arrupe, đã lưu lại những dòng tuyệt đẹp về tính hiện thực trong mối tương quan với Chúa Kitô trong một suy tư có tên là Phải Lòng Yêu (Fall in Love):
Không có gì ích lợi hơn việc tìm thấy Thiên Chúa, phải lòng Người theo một cách thức hoàn toàn tuyệt đối và tận cùng. Những gì bạn yêu thương, những gì kiểm soát trí tưởng tượng của bạn, sẽ ảnh hưởng đến mọi thứ. Nó sẽ quyết định điều gì sẽ khiến bạn rời khỏi giường vào buổi sáng, điều gì bạn làm vào buổi tối, cách bạn dành thời gian cuối tuần ra sao, điều bạn đọc, người bạn quen biết, điều gì khiến trái tim bạn tan nát và điều gì khiến bạn kinh ngạc và biết ơn. Hãy phải lòng yêu, hãy ở lại trong tình yêu, và điều đó sẽ quyết định tất cả.
Thánh Magarita Maria cho chúng ta thấy việc phải lòng yêu và ở trong tình yêu với Chúa Kitô sẽ trở nên ra sao. Lấy cảm hứng từ câu chuyện của thánh nữ, chúng ta hãy cùng khám phá xem việc ở lại trong tình yêu với Chúa Kitô sẽ trở nên như thế nào trong cuộc sống và tâm hồn của chúng ta.
Tác giả: Theresa Civantos Barber
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2021
Một nhóm các nhà truyền giáo người Mỹ, gồm trẻ em, bị bắt cóc tại Haiti
Một nhóm các nhà truyền giáo người Mỹ, gồm trẻ em, bị bắt cóc tại Haiti
Theo báo New York Times, hôm 16/10/2021, một nhóm gồm 17 nhà truyền giáo người Mỹ thuộc tổ chức Viện trợ Ki-tô giáo, có trụ sở tại Ohio, và các thành viên trong gia đình của họ, đã bị bắt cóc tại Haiti khi đến thăm một trại trẻ mồ côi.
Cảnh hoang tàn tại thủ đô Port-au-Prince của Haiti (AFP or licensors)
Chiều Chúa Nhật 17/10/2021, trong tin tức cập nhật được đăng trên trang web, tổ chức Viện trợ Ki-tô giáo xin cầu nguyện để tìm ra “giải pháp”. Thông tin cho biết nhóm bao gồm 5 người đàn ông, 7 phụ nữ, và 5 trẻ em; tất cả đều là người Mỹ, trừ một công dân Canada.
Báo Times cho biết, các nhà truyền giáo có trụ sở tại thị trấn Titanyen và đang trở về trụ sở sau chuyến thăm một trại trẻ mồ côi cách Port-au-Prince khoảng 30 km về phía đông. Xe buýt của họ bị các tay súng bắt dừng lại và họ bị buộc phải xuống xe.
Báo Washington Post đưa tin rằng một trong những người bị bắt cóc đã gửi tin nhắn qua WhatsApp: “Xin hãy cầu nguyện cho chúng tôi! Chúng tôi đang bị bắt làm con tin, họ đã bắt cóc tài xế của chúng tôi. Cầu nguyện, cầu nguyện, cầu nguyện. Chúng tôi không biết họ đang đưa chúng tôi đi đâu”.
Theo hãng tin AP, một quan chức cảnh sát Haiti cáo buộc rằng băng đảng “400 Mawozo” khét tiếng chịu trách nhiệm cho vụ bắt cóc. Đây là băng nhóm tội phạm liên quan đến vụ bắt cóc các linh mục và tu sĩ Công giáo vào tháng Tư năm nay.
Tình trạng bất ổn tại Haiti
Haiti gần đây đang phải đối mặt với làn sóng bạo lực, trong đó các băng nhóm vũ trang đóng vai trò quan trọng, ngăn chặn các hoạt động kinh tế ở quốc gia nghèo nhất châu Mỹ này. Tình trạng bất ổn leo thang sau hai sự kiện để lại vết thương nghiêm trọng: vụ ám sát Tổng thống Jovenel Moise vào tháng 7 khiến đất nước hỗn loạn và một trận động đất mạnh vào tháng 8 khiến hơn 2.000 người thiệt mạng.
Hôm 15/10/2021, tại Hội nghị của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc, Tổng giám mục Gabriele Caccia, Quan sát viên Thường trực của Tòa thánh tại Liên Hiệp quốc, đã cảnh báo về các vấn đề an ninh “không thể chịu nổi”, dường như không còn hy vọng tại Haiti. Ngài lưu ý “tình trạng bất ổn dân sự lan rộng” ở Haiti, nơi “bắt cóc trở nên phổ biến và bạo lực băng đảng lan tràn đến mức các tổ chức nhân đạo bị cản trở thực hiện công việc quan trọng của họ”. (CNA 17/10/2021)
Hồng Thủy
2021
Cuộc Tử Đạo của 2 Thánh: Cha Brebeuf và Cha Gabrile L’Amant tại Canada
Cuộc Tử Đạo của 2 Thánh: Cha Brebeuf và Cha Gabrile L’Amant tại Canada
Người Iroquois đến, khỏang hai trăm người; đến ngôi làng của chúng tôi, và bắt giữ Cha Brebeuf và Cha Gabriel L’Amant, đốtcháy tất cả những túp lều. Họ tiếp tục để trút cơn giận dữ của họ trên Cha, và bắt 2 Cha hoàn toàn khỏa thân. Họ trói hai tay các Cha lại với nhau. Họ xé móng tay từ các ngón tay. Họ đánh 2 Cha bằng một trận mưa đòn, trên vai, lưng, bụng, chân và khuôn mặt
Mặc dù Cha de Brebeuf đã bị choáng ngợp dưới sức nặng của những cú đánh, Cha đã không ngừng liên tục để nói về Thiên Chúa, và để khuyến khích tất cả các Kitô hữu mới, những người đã bị bắt giữ như mình phải chịu đựng tốt,để đuợc về Thiên Đàng sau khi chịu Tử Đạo.Các người da đỏ man rợ lấy một ấm đun nước đầy nước sôi đổ lên người Cha Brebeuf 3 lần giống như khi xưa Cha rửa tôi cho những người Da Đỏ vậy.và nói với 1 giọng mỉa mai, ” Tới thiên đường chưa vậy, cho ngươi cũng được rửa tội này. ? Sau đó, họ làm cho Cha đau đớn hơn. Họ làm 1 cái rìu nung đỏ, áp vào phần dưới thắt lưng và nách của cha để đốt cháy 1 phần cơ thể của Cha.
Sau đó những người da đỏ dùng nhựa thông đun sôi đổ lên người 2 Cha để cho chin hết một phần cơ thể của 2 Linh Mục Thánh thiện, mặc dù đau đớn tột cùng nhưng 2 Cha vẫn cất tiếng ca tụng Chúa và cố gắng nói cho những người Da Đỏ về Thiên Chúa và Tình Yêu của Thiên Chúa với Nhân Lọai. Vì không thể làm 2 vị Linh Mục giảng về Tin Mừng, những người da đỏ đã cắt đứt lưỡi của 2 Cha, cả môi trên và môi dưới của 2 Vị. Sau đó, những người Da Đỏ man rợ đã cắt những phần thịt trên người 2 vi Thánh, cắt những bắp chuối trên người 2 Vị để nướng. Hai Cha Jean Brebeuf va Cha Gabriel L’Amant phải chứng kiến cảnh người ta vừa cắt thịt mình ra và nướng ăn trước mặt của mình. Thật là đau đớn tột cùng. Trong khi nuớng thịt của 2 Cha, người Da Đỏ còn chế diễu 2 Cha rằng” Mày phải cám ơn tụi tao vì tụi tao đã giúp mày về Thiên Đàng sớm hơn “
Sau đó người Da Đỏ móc mắt 2 Cha Gabriel L’Amant ra và để 1 cục than hồng vào hóc mắt để tạo sự đau đớn cùng cực cho Ngài. Chưa thỏa sức tàn ác, bọn họ banh miệng của Cha Gabriel L’Amant ra và đổ dầu sôi vào miệng của Cha để đốt cháy tất cả cổ họng của Cha cùng ruột gan của Cha. Thật là đau đớn quá sức tưởng tượng
Những người Đồ Tể Da Đỏ, sau khi thấy Cha Brebeuf bắt đầu yếu, và ngồi bệt xuống đất sau những trận tra tấn qua kinh hòang, và một trong số người Da Đỏ, lấy một con dao, cắt hết da trên đầu của Cha. và lấy 1 con dao khoét 1 lổ ở trên ngưc của Cha để lấy trái tim của Cha ra để nướng và ăn sống. Những người khác đến để uống máu của mình, vẫn còn ấm, và họ uống bằng cả hai tay, – Người Da đỏnói rằng Cha de Brebeuf đã rất dũng cảm chịu đựng quá nhiều đau đớn như vậy thì quả là một người siêu phàm, và họ muốn uống máu, ăn tim cha để được can đảm giống như Cha.
Cha de Brebeuf bị bắt và chịu Tử Đạo vào ngày 16 tháng ba, vào buổi sáng, với Cha L’ Alemant, trong năm 1649. khoảng 4 giờ chiều. Những người man rợ đã ném phần còn lại của cơ thể của 2 Cha vào lửa, và Thiên Chúa đã bảo vệ thân thể của 2 Cha không bị lửa thiêu rụi
Khi chịu tử đạo thì các Linh Mục Dòng Tên đã đến nơi các Thánh chịu Tử đạo đề khám nghiệm và chon cất thi hài các vị tử đạo
Sáng hôm sau, khi chúng tôi đã đảm bảo sự ra đi của người da đỏ, chúng tôi đến vị trí để tìm kiếm phần còn lại của cơ thể, đến nơi mà cuộc sống của họ đã được thực hiện cuộc tra tấn hết sức dã man với 2 Cha Chúng tôi thấy cả hai, cơ thể nằm đó nhưng cách xa nhau. Họ đã được đưa đến lều của chúng tôi, và chúng tôi đã xem và kiểm chứng trên Cơ Thể của 2 Vị Tử Đạo xem có đúng như những gì những nhân chứng kể về cuộc tra tấn và cái chết của 2 Vị hay không. Tôi kiểm tra đầu tiên trên cơ thể của Cha de Brebeuf, trông rất đáng thương, cũng như của Cha L’ Alemant. Cha de Brebeuf có chân, đùi và cánh tay bị tước thịt với xương, tôi đã nhìn thấy và chạm vào một số lượng lớn các vết cháy lớn trên người Cha Brebeuf, và những vết bỏng mà người Da Đỏ đả dung nuớc sôi để dội lên người Cha nằm nhạo bán Bí Tích rửa tội. Tôi nhìn thấy và chạm vào vết. Tôi nhìn thấy và chạm vào hai môi, mà họ đã cắt đứt vì Cha đã nói chuyện liên tục của Thiên Chúa trong khi họ làm cho Cha đau khổ tột cùng
Tôi nhìn thấy và chạm vào tất cả các phần của cơ thể của Cha, và chạm vào phần ngực của Cha, nơi mà bị bọn Da Đỏ cắt ra để móc trái tim của Cha để ăn sống.
Sau khi kiểm tra những vết thương từ cuộc khổ hình của 2 Vị Thánh tử Đạo chúng tôi chôn vùi những Thánh tích quý giá vào Chúa Nhật, ngày 21 Tháng Ba năm 1649
Khi chúng tôi rời đất nước của Hurons, chúng tôi đào mộ để lấy Xương của 2 vị Thánh lên và đặt Thánh Tích vào đun sôi trong dung dịch kiềm mạnh để cho tách hết phần Xương và thit ra. sau đó cho vào một hủ nhỏ mà chúng tôi đã làm bằng đất sét, niêm phong bằng Ấn Tín của Dòng Tên, Sau đó các Thánh Tích đã được đưa vào hai cái rương nhỏ, và đem về Tỉnh Dòng ở Quebec,nơi mà các Thánh Tích của 2 vị Tử Đạo được Tôn Kình 1 cách hết sức long trọng. Hịện nay tai Canada ở vùng Midland có một Đền Thờ rất lớn xây trên nơi mà các Thánh chịu tử đạo vói vô vàng phép lạ nhờ lời chuyển cầu của các Thánh mà nhiều người hết bệnh tật và đã để lại Đền Thánh những cái nạn, xe lăng như những bắng chứng song động về sự cầu thay nguyện giúp hêt sức quyền năng của các Thánh Tử Đạo.
NHỮNG PHÉP LẠ NHỜ LỜI CHUYỂN CẦU CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TẠI CANADA.
Trong Nhà Thương Công Giáo ở Quebec một người lính Tin Lành bị bệnh nặng kịch liệt tuyên bố các nữ tu rằng anh ta rất ghét đạo Công Giáo và sẽ không bao chịu các Bí Tích sau hết của Đạo Công Giáo, ông sẽ chết chứ không phải là từ bỏ đức tin của tổ phụ mình. Y tá đạo đức của bệnh viện bí mật đem Hộp Hào Quang chứa 1 ít Xương Thánh của các Thánh Tử Đạo ở Canada đến bên cạnh giường anh để cầu nguyện, để xin Chúa vì Công Nghiệp các Thánh Tử Đạo mà chữa lành bệnh Linh Hồn và Thể xác cho anh. Mặc dù sức khỏe của người lính đã không cải thiện, nhưng ông đã được trở lại Đức Tin Công Giáo và chịu các Bí Tích sau hết.
Một trường hợp thứ hai được coi là nhiều hơn nổi bật hơn. Năm 1663 các Thánh Tích Xương Thánh đáng kính của Cha Brebeuf được coi là trực tiếp chữa lành 1 Phụ Nũ bị quỷ ám trong 1 thời gian dài. vào ngày 09 tháng 8 năm 1663, một người phụ nữ, đau khổ cho hai năm kể từ khi bị quỷ ám, đã ngay lập tức chữa khỏi khi cô chạm vào một số di tích Xương Thánh của Cha Brebeuf.
Phép lạ dẫn đến việc phong thánh
Marie Robichaud, sinh năm 1898 tại Shippigan, New Brunswick, bước vào một cộng đoàn chị em làm công tác điều dưỡng và chăm sóc bệnh nhânnăm 1920. Năm năm sau, vào năm 1925, cô đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng với bện viêm phúc mạc dẫn đến việc mù lòa. Các bác sĩ đã tuyên bố rằng tiếp tục điều trị là vô ích. Các nữ tu lám 1 tuần cử nhật kính các Thánh Tử Đạo tại Bắc Mỹ để tìm kiếm sự can thiệp kỳ diệu của các vị tử đạo Bắc Mỹ. Trên 09 tháng sáu 1925, bệnh nhân ngay lập tức và chữa khỏi vĩnh viễn, mà khoa học không thể lý giải đuợc
Alexandrina Ruel, một phụ nữ trẻ khỏe mạnh cho đến năm 1907 ung thư dạ dày và lao phổi giai đọan cuối. Các bác sĩ đành bó tay và cho người nha đưa cô về lo hậu sự, cô và gia đình đã nhờ đến sự can thiệp của các vị tử đạo Bắc Mỹ. Cô đã được chữa khỏi, ngay lập tức và vĩnh viễn. Cục ung thư biến đâu mất, và ngón tay trở về bình thường không thấy dấu vết gì nữa. Các Bác sĩ được mời đến khám nghiệm đều ngơ ngác trước sự kiện lạ lùng do quyền phép Chúa làm. Và tuyên thệ trước tòa án phong Thánh rằng việc chữa lành này ngoài sức lý giải của khoa hoc và y học.
Jos. Minh Hiếu
