Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
06Tháng Mười Một
2021

Đức Tổng Giám Mục Roche: Việc cải cách Thánh Lễ của Công Đồng Vatican II là việc ‘không thể đảo ngược được’

06/11/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Trong bài thuyết trình công khai đầu tiên, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Đức Tổng Giám mục Arthur Roche nói rõ về đường hướng mà Bộ sẽ thực hiện dưới sự lãnh đạo của ngài. Ngài đã thực hiện điều này bằng việc trích dẫn những lời của Đức Giáo hoàng Phanxicô, khi đề cập đến việc cải cách phụng vụ đã được Công đồng Vatican II chuẩn nhận: “Với thẩm quyền của Huấn quyền, chúng tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng cải cách phụng vụ là việc không thể đảo ngược được.”

Vị tổng giám mục sinh ở Anh, người được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm kế vị Hồng y Robert Sarah để làm bộ trưởng của bộ này vào ngày 27 tháng 5, đã được mời đến đọc diễn văn khai mạc cho nhân viên và sinh viên nhân dịp khai giảng năm học tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Anselm ở Rome. Trường đại học này được điều hành bởi các tu sĩ dòng Biển Đức, bao gồm một học viện phụng vụ nhằm huấn luyện về phụng vụ cho các thành viên của các dòng tu, cho giáo sĩ và giáo dân.

Ngài bắt đầu bài thuyết trình của mình bằng việc lưu ý nhân viên và sinh viên rằng ngài nói chuyện với họ không chỉ với tư cách là bộ trưởng Bộ Phụng tự ở Vatican, mà còn dựa vào kinh nghiệm 46 năm làm linh mục, 20 năm làm giám mục (10 năm với tư cách là giám mục giáo phận, gần 10 năm là thư ký của Bộ Phụng tự) và với tư cách là một người Công giáo đã “kinh qua thời trước và sau Công đồng Vatican II.”

Đức Tổng Giám mục nhắc nhở các sinh viên về “tầm quan trọng sống còn” của việc nghiên cứu có tính học thuật của họ “đối với sức sống và sức khỏe của Giáo hội.” Nhấn mạnh về “sức khỏe của Giáo hội,” ngài nói, bởi vì “chúng ta cần những người được chuẩn bị kỹ lưỡng và quân bình, những người yêu mến Giáo hội như Giáo hội đang là!”

Ngài kêu gọi họ “hãy trở thành những người nam và người nữ đích thực của Giáo hội, những người “có cùng cảm thức với Giáo hội” (“sentire cum ecclesia”) và không bị ảnh hưởng bởi các hệ tư tưởng mang tính giáo hội, bởi những sở thích cá nhân hay những ý tưởng mới lạ, hay bởi ước muốn nhào nặn Giáo hội theo hình dung của mình, nhưng bởi những gì Giáo hội đang mời gọi anh chị em hôm nay, đó là trở nên những nhà truyền giáo của Giáo hội trong một thời đại mới với một nhiệm vụ rõ ràng cụ thể.”

Khi nhấn mạnh đến nhu cầu Giáo hội cần có những người “được chuẩn bị tốt và quân bình,” những người có cùng cảm thức với Giáo hội, Đức Tổng Giám mục phản ánh mối quan tâm của nhiều giám mục, đó là các tân linh mục ngày nay thường thiếu “sự chuẩn bị và quân bình” trong các vấn đề phụng vụ. Họ rơi vào “các hệ tư tưởng mang tính giáo hội” hay đơn giản là tự tiện có cái nhìn về Giáo hội và thực hành phụng vụ. Những lo ngại như vậy cũng là một phần lý do dẫn đến sắc lệnh “Traditionis Custodes” ký ngày 16 tháng 07 của Đức Giáo hoàng Phanxicô, nhằm hạn chế việc cử hành Thánh lễ tiếng Latinh từ thời Công đồng Trentô, trước Vatican II.

Đức Tổng Giám mục Roche kêu gọi các sinh viên chú ý đến “lịch sử lâu dài và hấp dẫn của phong trào phụng vụ” trước Công đồng Vatican II và những lựa chọn của các nghị phụ liên quan đến phụng vụ cũng như lý do của những lựa chọn ấy.

Ngài nhắc nhở họ rằng Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong bài phát biểu trước những người tham dự Tuần lễ Phụng vụ Quốc gia Ý lần thứ 68 vào tháng 08 năm 2017, đã nhắc lại rằng Thánh Phaolô VI đã nói với các hồng y trong một cuộc họp Cơ Mật Viện (consistory) một năm trước khi ngài qua đời: “Đã đến lúc phải dứt khoát loại bỏ các yếu tố gây chia rẽ, có hại như nhau theo cả hai nghĩa, để áp dụng trọn vẹn, theo các tiêu chuẩn đúng đắn đã gợi hứng cho cuộc cải cách được chúng tôi chấp thuận khi thể hiện những nguyện vọng của Công đồng.”

Sau đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô nói thêm, “Vẫn còn nhiều việc phải làm theo đường hướng này, nhất là bằng cách tái khám phá những lý do đưa đến những quyết định liên quan đến việc cải cách phụng vụ, bằng cách loại bỏ những lối đọc vô căn cứ và hời hợt, lối đón nhận nửa vời và những lối thực hành làm nó bị méo mó.”

Đức Giáo hoàng kết luận: “Sau huấn quyền này, sau cuộc hành trình dài này, với thẩm quyền của Huấn quyền, chúng tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng việc cải cách phụng vụ là việc không thể đảo ngược được.”

Trong bài thuyết trình của mình, Đức Tổng Giám mục Roche kêu gọi nhân viên và sinh viên tại Học Viện Thánh Anselm “hãy là những người nam và người nữ, những học giả và bậc thầy trong những nỗ lực khoa học khác nhau, đúng vậy, nhưng trên hết hãy là những môn đệ trung thành, những người xây dựng Giáo hội, chứ không phải là nguyên nhân gây ra sự phân mảnh trong Giáo hội.”

Ngài khuyến khích họ đào sâu đời sống thiêng liêng qua các nghiên cứu phụng vụ của họ, và ngài chia sẻ rằng đời sống đức tin của ngài đã trở nên phong phú hơn nhiều, nhờ 20 năm làm việc với những bản dịch của bộ Sách Lễ Rôma đã được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phê chuẩn. Ngài tiết lộ, qua công việc này, ngài mới nhận ra rằng “những lời cầu nguyện, những bản văn này, không chỉ là sự sáng tạo của một bộ óc tinh tế hay một ngòi bút đơn lẻ, nhưng đến từ chính bàn tay Thiên Chúa, qua di sản phong phú của Kinh Thánh và các giáo phụ mà ta gặp thấy ở đó, cùng với lời dạy sâu xa về bản chất của Giáo hội như được thấy trong Hiến Chế ‘Lumen Gentium.’”

Đức Tổng Giám mục phát biểu: “Di sản này kết nối chúng ta với đức tin của Giáo hội như được diễn tả qua các thời đại và phù hợp với thời đại lẫn sứ mạng của chúng ta.”

“Sách Lễ Rôma do Đức Giáo hoàng Phaolô VI phê chuẩn là Sách Lễ phong phú nhất mà Giáo hội từng soạn ra cùng với Bộ sách Bài Đọc (Missale Romanum Lectionarium),” Đức Tổng Giám Mục Roche đã nói với cử tọa của ngài như thế. Hơn nữa, theo ngài, “có thể nói một cách đúng đắn rằng tầm nhìn trong Hiến chế về Phụng vụ Thánh (‘Sacrosanctum Concilium,’) và trong Hiến Chế Tín lý về Mặc Khải Thánh (‘Dei Verbum’), giờ đây đã trở nên rõ ràng hơn trong lời cầu nguyện và trong ý thức của Giáo hội, nhờ sự thức tỉnh mới về Kinh Thánh trong Nghi Lễ Rôma.”

“Biết những lời cầu nguyện trong Sách Lễ là khởi đầu cho việc học cách cầu nguyện theo Kinh Thánh. Đây là một món quà quý giá dành cho Dân trung tín của Thiên Chúa, điều đó sẽ đem lại những hạt giống của canh tân,” Đức Tổng Giám mục Roche nói.

Trước Công đồng Vatican II, hầu hết tất cả các bản văn phụng vụ đều bằng tiếng Latinh. Nhưng Hiến chế phụng vụ — văn kiện công đồng đầu tiên được các nghị phụ phê chuẩn vào ngày 4 tháng 12 năm 1963 — đã thay đổi tất cả điều đó bằng cách cho phép sử dụng tiếng bản địa. Trong bài giảng của mình, từ kinh nghiệm cá nhân, Đức Tổng Giám mục Roche nhắc lại rằng tuy công việc phiên dịch có “tầm quan trọng to lớn,” nhưng nhiệm vụ này chẳng hề dễ dàng bởi vì “có nhiều lý thuyết và tranh luận” có thể dẫn đến “một cuộc bút chiến giữa những quan điểm đối nghịch và tương phản.”

“Ngay cả những người ủng hộ kém cỏi nhất cũng có ý kiến riêng, cũng có thể to tiếng và cố chấp.” Ngài hóm hỉnh gợi lại câu ngạn ngữ về việc “có thể thương lượng với những kẻ khủng bố, nhưng không thể thương lượng với những chuyên gia phụng vụ.” Ngài nói rằng bất kể những hạn chế của các bản dịch trước đây là gì, ngài cảm thấy các bản dịch mới đã được cải thiện.

Đức Tổng Giám mục Roche nhớ lại rằng khi các hội đồng giám mục của các nước Anh và Wales, Scotland và Ireland ban hành một tuyên bố về Bí tích Thánh Thể vào năm 1998, Đức Hồng Y Basil Hume, lúc đó là Tổng Giám mục của Westminster cũng là một tu sĩ dòng Biển Đức, đã viết:

“Người Công giáo tin gì về Bí tích Thánh Thể? Khi cho rước lễ, vị linh mục nói với tôi “Mình Thánh Chúa Kitô,” tôi đáp “Amen.” … Lời thưa “Amen” của tôi không chỉ bày tỏ đức tin của tôi vào thân mình Chúa Kitô là Bí tích Thánh Thể, mà còn bày tỏ đức tin của tôi vào thân mình Chúa Kitô là Hội thánh. Bí tích Thánh Thể và Giáo hội gắn bó với nhau không thể tách rời.”

Bình giải về điều này, Đức Tổng Giám mục Roche nhận xét, “Chính trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta tìm thấy mã di truyền của Giáo hội.”

Ngài lưu ý đến “hai chiều kích của phụng vụ mà chúng ta không được phép bỏ quên, vì chúng mô tả chính bản chất của Giáo hội.” Thứ nhất, chiều kích đồng đại (the synchronic dimension) như sau: “với tư cách là người Công giáo, ngay lúc này và ở đây, chúng ta được hiệp nhất với mọi người Công giáo khác trên khắp thế giới, và qua giám mục địa phương, chúng ta được hiệp nhất với Đức Giáo hoàng, người kế vị Thánh Phêrô.”

Ngài nói: “Mối liên hệ này đánh dấu và đảm bảo sự thuộc về của chúng ta; không có điều đó, chúng ta sẽ cô đơn, đứng ngoài cộng đoàn được Đức Kitô thiết lập và được xây dựng trên nền tảng Tông đồ Phêrô.”

Chiều kích thứ hai, chiều kích lịch đại (the diachronic dimension) như sau: “trong Giáo hội, chúng ta cũng được hiệp nhất với mọi tín hữu đã từng sống và tin, cũng như với mọi người Công giáo sẽ sống và tin trong tương lai.”

Tóm tắt điều này, Đức Tổng nói, “Chúng ta có thể nói về chiều kích đồng đại của phụng vụ như hợp nhất toàn thể Giáo hội trên thế giới, và về chiều kích lịch đại như chạy xuyên qua thời gian để vào vĩnh cửu.”

Đức Tổng Giám mục người Anh nhắc nhở cử tọa của ngài rằng “bất cứ khi nào chúng ta quy tụ để cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ quy tụ trong tư cách là cộng đoàn này, ở nơi cụ thể này, nhưng chúng ta đứng giữa những giao lộ của mọi sự sống, và ở ngưỡng cửa nơi thời gian giao cắt với vĩnh cửu – sự quy tụ của chúng ta lớn hơn những gì mắt thường có thể thấy. Chúng ta đang đi vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhờ mầu nhiệm nhập thể và mầu nhiệm vượt qua, Đấng ấy làm cho dòng chảy hay ‘dòng trôi của thời gian’ đi vào cõi ‘vĩnh hằng đời đời,’ để được nâng lên và biến đổi.”

Nói cách khác, ngài nói, “phụng vụ là nơi hai thế giới gặp nhau.” Ngài lưu ý rằng “nhiều hiểu lầm về phụng vụ trong quá khứ và hiện tại, có thể bắt nguồn từ việc không nhận ra đặc tính này, dù lẽ ra nó phải được thể hiện rõ ràng trong toàn bộ phụng vụ Công giáo.”

Đức Tổng Giám mục Roche nói: “Việc cải cách phụng vụ như được ghi lại trong Sách Lễ Rôma đang là và vẫn còn là kim chỉ nam cho chúng ta hiểu và thực hiện một đánh giá đúng đắn về phụng vụ.”

Đức Tổng kết luận bằng cách nhắc nhở các giáo sư và sinh viên tại Học Viện Thánh Anselmo, cũng như Giáo Hội nói chung: “Chúng ta không tạo ra hoặc cải cách phụng vụ; điều đó đã được thực hiện bởi thẩm quyền cao nhất của Giáo hội rồi, đó là một Công đồng chung. Trách nhiệm của chúng ta là thực hiện cuộc cải cách đó, trung thành với những gì chúng ta đã lãnh nhận, và không ủng hộ những điều không thuộc tâm thức của Giáo hội, dù chúng được quảng bá cách rầm rộ.”

Chuyển ngữ: Tu sĩ Vinh Sơn Nguyễn Hoàng Vũ, SJ

Read More
06Tháng Mười Một
2021

ĐTC dâng Thánh lễ cầu nguyện cho các Hồng y và Giám mục qua đời

06/11/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Lúc 11:00 giờ ngày 04/11, Đức Thánh Cha đã chủ sự Thánh lễ tại đền thờ thánh Phêrô để cầu nguyện cho 17 Hồng y và 191 Giám mục đã qua đời trong 12 tháng qua, trong toàn Giáo hội. Trong bài giảng Thánh lễ, Đức Thánh Cha tập trung vào bài đọc thứ nhất trích sách Ai-ca (Ac 3,17-26), nói về sự trung kiên trong thử thách, thinh lặng chờ đợi Chúa đến cứu.

Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với những lời trong sách Ai-ca “Biết thinh lặng đợi chờ, đợi chờ ơn cứu độ của Đức Chúa, đó là một điều hay” (Ac 3, 26). Ngài nói: “Thái độ này không phải là điểm khởi đầu, nhưng là điểm đến. Thực tế, tác giả đã đi đến cuối hành trình, một hành trình nhiều khó khăn, nhưng đã giúp tác giả trưởng thành. Tác giả hiểu ra vẻ đẹp của việc tin cậy Chúa, Đấng không bao giờ thất hứa”.

Chờ đợi Chúa đến trong thinh lặng

Đức Thánh Cha lưu ý: “Nhưng tin cậy Chúa không nảy sinh từ sự nhiệt tình nhất thời, nó không phải là một cảm xúc và tình cảm. Trái lại, tin cậy nơi Chúa, đến từ kinh nghiệm và sự trưởng thành trong sự kiên nhẫn, như xảy ra với Gióp. Ông đã đi từ sự hiểu biết Thiên Chúa ‘theo những gì nghe được’ đến sự hiểu biết sống động, bằng kinh nghiệm. Và để điều này xảy ra, một sự biến đổi nội tâm lâu dài là cần thiết, qua thử thách đau khổ, dẫn đến việc biết cách chờ đợi trong thinh lặng, nghĩa là, với sự kiên nhẫn tin cậy, với một tâm hồn hiền lành. Sự kiên nhẫn này không phải là sự cam chịu, vì nó được nuôi dưỡng bởi sự trông đợi Chúa, Đấng sắp đến là điều chắc chắn và không làm chúng ta thất vọng”.

Cần phải học nghệ thuật chờ đợi

Theo Đức Thánh Cha, học nghệ thuật chờ đợi Chúa là điều rất quan trọng. Chờ đợi Chúa trong hiền lành, tin tưởng, xua đuổi những bóng ma, những cuồng tín và những tiếng ồn ào; giữ gìn, đặc biệt là trong thời gian thử thách, một sự thinh lặng tràn đầy hy vọng. Đây là cách chúng ta chuẩn bị cho thử thách cuối cùng và lớn nhất của cuộc đời, đó là cái chết; nhưng trước hết, là những thử thách trong lúc này. Chúng ta hãy xin Chúa ban ơn trợ giúp để có thể chờ đợi ơn cứu độ của Người.

Thực tế, trước những khó khăn, những vấn đề của cuộc sống, chúng ta khó có được sự kiên nhẫn và bình tĩnh. Chúng ta thường bị cám dỗ trở nên bi quan và cam chịu, nhìn thấy mọi thứ đen tối, quen với giọng điệu chán nản và than thở, tương tự như lời của tác giả Sách Thánh tự nhủ: “Cuộc sống của mình nay chấm dứt, hy vọng nơi Đức Chúa cũng tiêu tan” (câu 18). Trong thử thách, ngay cả những ký ức tốt đẹp trong quá khứ cũng không thể an ủi chúng ta. Và điều này càng làm tăng thêm nỗi cay đắng, dường như cuộc đời là một chuỗi bất hạnh liên tiếp, như chính tác giả thừa nhận: “Xin nhớ đến nỗi khốn cùng của con, và cuộc đời con vất vưởng nuốt cay ngậm đắng”. (câu 19).

Tuy nhiên, tại thời điểm khó khăn, trong vực thẳm, trong nỗi thống khổ của sự vô nghĩa, Chúa đến gần để cứu. Và khi sự cay đắng lên đến đỉnh điểm, niềm hy vọng lại đột nhiên nở rộ. “Đây là điều con suy đi gẫm lại, nhờ thế mà con vững dạ cậy trông” (câu 21). Trong nỗi đau đớn, ai ở gần Chúa, sẽ thấy Người biến đau khổ thành cánh cửa hy vọng. Đó là kinh nghiệm Phục Sinh, một hành trình đau đớn mở ra sự sống, hành trình tâm linh trong bóng tối khiến chúng ta trở lại với ánh sáng.

Đức Thánh Cha mời gọi mọi người xin ơn sức mạnh để biết sống trong thinh lặng hiền lành và tin cậy chờ đợi ơn cứu độ của Chúa, không phàn nàn và không cằn nhằn. Bởi vì, biết chờ đợi ơn cứu độ của Chúa trong thinh lặng là một nghệ thuật. Kitô hữu là người không giảm bớt sức nặng của đau khổ, nhưng ngước mắt lên Chúa và dưới thử thách, tin cậy nơi Người và cầu nguyện cho những ai đau khổ. Kitô hữu luôn hướng mắt về Thiên đàng, nhưng đôi tay luôn dang rộng trên mặt đất, để phục vụ người thân cận một cách cụ thể.

Cầu nguyện cho các Hồng y và các Giám mục qua đời

Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng với lời mời gọi mọi người cầu nguyện cho các Hồng y và các Giám mục đã rời xa chúng ta trong năm qua. Xin cho các vị được hưởng niềm vui của lời mời gọi Tin Mừng, lời mà Chúa nói với các tôi trung của Người: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25, 34).

Nguồn: vaticannews.va/vi/

Read More
06Tháng Mười Một
2021

Ý cầu nguyện tháng 11: ĐTC kêu gọi cầu nguyện cho những người đang bị suy nhược

06/11/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Trong video ý cầu nguyện trong tháng 11, được Mạng lưới Cầu nguyện toàn cầu của Đức Giáo hoàng phổ biến vào ngày 3/11/2021, Đức Thánh Cha yêu cầu các tín hữu Công giáo trên khắp thế giới cầu nguyện cho những người bị trầm cảm hoặc kiệt sức, để họ có thể tìm thấy sự hỗ trợ mà họ cần.

Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha trong tháng 11 đề cập đến một vấn đề trọng tâm trong cuộc sống của hàng triệu người: sức khoẻ tâm thần. Trong video, Đức Thánh Cha giải thích lý do của ý cầu nguyện trong tháng 11 rằng trong nhiều trường hợp, “sự buồn bực, thờ ơ và mệt mỏi về tinh thần dần chiếm lĩnh đời sống của con người, vốn đang bị quá tải bởi nhịp sống ngày nay”.

Thực tế là theo một nghiên cứu được công bố năm nay, cứ khoảng 10 người trên thế giới thì có 1 người gặp rối loạn về sức khoẻ tâm thần, nghĩa là khoảng 792 triệu người, hay 11% dân số thế giới. Trong số các loại rối loạn tâm thần, nghiên cứu xác định nhiều nhất là loại lo lắng hoang mang, với 284 triệu (4%), và kế đến là loại trầm cảm, với 264 triệu (3%).

Đại dịch Covid-19 cũng ảnh hưởng đến sự cân bằng tâm lý của nhiều người, đôi khi tạo nên những tình huống thực sự đau khổ và tuyệt vọng.

Bên cạnh sự suy nhược bệnh lý, Đức Thánh Cha mời gọi cầu nguyện cho những người bị suy nhược do “sự quá tải và căng thẳng trong công việc” khiến họ “rơi vào tình trạng kiệt sức – suy nhược về tinh thần, cảm xúc, tình cảm và thể chất”.

Trước thực tế này, Đức Thánh Cha kêu gọi các tín hữu “hãy gần gũi với những ai kiệt sức, những người thất vọng và không còn hy vọng”. Ngài gợi ý: “Nhiều khi chúng ta chỉ đơn giản là thinh lặng và lắng nghe họ”.

Dù có những phương pháp trị liệu, nhưng nhiều người sống tại các quốc gia có thu nhập thấp không hề được giúp đỡ do thiếu điều kiện hoặc do thành kiến của xã hội. Trong video, Đức Thánh Cha nhắc các tín hữu rằng: “sự trợ giúp cần thiết của chuyên gia tâm lý là rất hữu ích và hiệu quả”, nhưng ngài không quên những lời của Chúa Giêsu cũng giúp ích: ‘Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng’”.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha mời gọi: “Chúng ta hãy cầu xin cho những người đang bị suy nhược hay kiệt sức tìm được sự nâng đỡ và nhận được ánh sáng giúp mở ra cho họ cuộc sống”. (CSR_7234_2021)

Nguồn: vaticannews.va/vi/

Read More
06Tháng Mười Một
2021

Bảo vệ ngôi nhà chung: Từ Công đồng Vatican II đến Laudato Si’

06/11/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Từ công đồng Vatican II, ngang qua lời kêu gọi của Đức Phaolô VI đối với hội nghị Stockholm vào năm 1972, cho đến khi công bố thông điệp Laudato Si’, Tòa Thánh, bằng một lôgíc về sự phát triển toàn diện, đã là người tiên phong trong việc bảo vệ môi trường.

Một học thuyết lần này được mang đến hội nghị COP26 ở Glasgow bởi ĐHY Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Cuộc đấu tranh chống lại việc hâm nóng toàn cầu “là một thách đố của nền văn minh vì công ích và là một sự thay đổi viễn cảnh, tâm trí và tầm nhìn, vốn phải đặt phẩm giá của con người hôm nay và ngày mai ở trung tâm của hoạt động của chúng ta”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố trên làn sóng radio BBB như thế, hôm 29/10, hai ngày trước khi khai mạc hội nghị lần thứ 26 của LHQ về biến đổi khí hậu, diễn ra ở Glasgow, Scotland.

Vào đầu tháng Mười này, Đức Thánh Cha Phanxicô, cùng với các vị hữu trách tôn giáo trên toàn thế giới, đã kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị tham dự COP26 về một bổn phận thiết yếu: bảo vệ ngôi nhà chung, và để làm điều này, tôn trọng Hiệp định Paris được ký dịp hội nghị COP21 vào năm 2015, vốn cam kết 195 quốc gia ký kết hạn chế phát thải khí hiệu ứng nhà kính, để hạn chế sự hâm nóng khí hậu toàn cầu ở mức tối đa là hai độ trên nhiệt độ trung bình của thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900).

Từ khi được bầu làm Giáo hoàng, Đức Phanxicô đã nhấn mạnh đến việc gìn giữ hành tinh và bảo vệ những người yếu đuối nhất: các bài diễn văn của ngài ở Liên Hiệp Quốc, ở Nairobi hay ở New York, rất nhiều lần kêu gọi của ngài cũng như việc công bố thông điệp Laudato Si’ (năm 2015) là lời minh họa cho điều đó.  Laudato Si’ là một bản văn dành cho các vấn đề môi trường và xã hội, nhắc lại một trong những sợi chỉ đỏ của triều đại Giáo hoàng của ngài: “Mọi sự đều liên kết với nhau”, “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo không thể chờ đợi thêm nữa”.

Nhưng học thuyết về sinh thái của Tòa Thánh đã có rất sớm từ trước và bắt nguồn từ công đồng Vatican II. Như cha Thomas Michelet nhấn mạnh trong tác phẩm “Các Giáo hoàng và nền sinh thái”, thông điệp xanh của Đức Phanxicô khai triển một huấn quyền đã được trình bày từ nhiều thập niên.

Trong bối cảnh của công đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et spes đã ngầm giải quyết những vấn đề sinh thái trong một thế giới  thoát thân từ Thế Chiến II, Tebaldo Vinciguerra, phụ trách các hồ sơ về môi trường của Bộ Phục vụ sự phát triển con người toàn diện, giải thích: “Chính vì được tạo dựng mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thực và tốt lành, cùng những định luật và trật tự riêng. Con người phải tôn trọng tất cả những điều ấy và phải nhìn nhận các phương pháp riêng biệt của mỗi khoa học và kỹ thuật” (GS 36, 2). Đức Gioan XXIII kêu gọi việc giáo dục Công giáo, “tức là chuẩn bị cho người Kitô hữu đối với bất kỳ loại trách nhiệm nào trong xã hội”, Tebaldo lưu ý.

Ý thức của Đức Phaolô VI

Theo cha Mechelet, đề cập đầu tiên trong các văn kiện Giáo hoàng về một ”thảm họa sinh thái” xuất hiện dưới ngòi bút của Đức Phaolô VI trong diễn văn của ngài ở Tổ chức Lương Nông của LHQ (FAO) năm 1970: “Chúng ta đang chứng kiến không khí chúng ta hít thở trở nên ô nhiễm, nước chúng ta uống trở nên tồi đi, sông, hồ, thậm chí là đại dương bị ô nhiễm, đến mức làm dấy lên nỗi lo sợ về một ‘cái chết sinh học’ trong tương lai gần, nếu các biện pháp năng lượng không được can đảm áp dụng mà không chậm trễ và được thực hiện cách nghiêm túc. Viễn cảnh đáng sợ mà tùy thuộc vào các bạn khai thác cách cẩn thận, để tránh sự chìm nghỉm của kết quả của hàng triệu năm chọn lọc của tự nhiên và của con người” (Cfr. Cérès, Revue FAO, vol. 3, n. 3, Rome, mai-juin 1970: Environnement: les raisons de l’alarme).

Đức Giáo hoàng Phaolô VI cũng nói với các luật gia, để lĩnh vực pháp lý mang lại sự đóng góp của nó vào việc bảo vệ môi trường. Trong suốt 15 năm triều đại giáo hoàng của mình, Đức Phaolô VI đã khai triển một “cái nhìn toàn diện đáng chú ý, trong đó nhắc lại rằng sự phát triển đích thực là sự phát triển toàn thể nhân vị, về mọi mặt của nó, toàn thể nhân loại, và không chỉ là vấn đề kinh tế”, chuyên viên về môi trường của Bộ Phục vụ sự phát triển con người toàn diện cho biết.

Một trong những diễn văn nổi bật nhất của Đức Phaolô VI là diễn văn nói với các tham dự viên của hội nghị LHQ về môi trường, ở Stockholm vào năm 1972, trong đó ngài sử dụng, như cha Michelet phân tích trong cuốn sách của mình, những khái niệm đặc trưng sinh thái và hiện đại thời đó, như tính bất khả tách rời giữa con người và môi trường của nó: “Quả thế, ngày nay đang xuất hiện ý thức rằng con người và môi trường của nó hơn bao giờ hết là không thể tách rời: môi trường trước hết tạo điều kiện cho sự sống và sự phát triển của con người ; đến lượt mình, con người hoàn thiện và nâng cao giá trị môi trường của mình bằng sự hiện diện, lao động và chiêm ngưỡng của mình. Nhưng khả năng sáng tạo của con người chỉ sẽ trổ sinh hoa trái đích thực và bền vững trong chừng mực con người sẽ tôn trọng các quy luật chi phối đà sống và khả năng tái tạo của thiên nhiên: do đó, cả hai đều liên đới và chia sẻ một tương lai chung trong thời gian. Vì thế, nhân loại được cảnh báo phải thay thế sự thúc đẩy, quá thường xuyên mù quáng và tàn bạo, về một sự tiến bộ vật chất để mặc cho động lực duy nhất của nó, bằng sự tôn trọng đối với sinh quyển trong một tầm nhìn toàn cầu về lĩnh vực của nó, vốn đã trở thành “một Trái Đất duy nhất”, để lấy lại khẩu hiệu đẹp đẽ của Hội nghị”.

20 năm tiếp theo là dịp giải ước tương đối của Tòa Thánh về các vấn đề sinh thái. “Khi nghiên cứu các bài viết của báo chí Công giáo thời đó, điều này có thể được giải thích bởi sự thất vọng được gây ra do những đề xuất theo phong cách tân-Malthusien, những đề xuất nhân khẩu học không phù hợp với học thuyết Công giáo”, Tebaldo Vinciguerra giải thích.

Sứ điệp Ngày Thế giới hòa bình năm 1990

Sự trở lại của hệ sinh thái ở trung tâm của huấn quyền Giáo hoàng chắc chắn là do sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô II nhân Ngày Thế giới hòa bình 1/1/1990. Một bản văn ngày nay được coi như là bản văn đầu tiên của một vị Giáo hoàng bàn về sinh thái học cách toàn cầu. Ngài tuyên bố: “Xã hội hiện nay sẽ không tìm ra giải pháp cho vấn đề sinh thái nếu nó không nghiêm túc sửa đổi phong cách sống của mình. Ở nhiều nơi trên thế giới, nó có xu hướng chủ nghĩa khoái lạc và tiêu thụ, và nó vẫn dửng dưng với những thiệt hại phát xuất từ đó. Như tôi đã từng nhận xét, tính nghiêm trọng của hoàn cảnh sinh thái cho thấy chiều sâu của cuộc khủng hoảng luân lý của con người”. Nhiều tuyên bố về môi trường đã được ký kết theo chiều hướng đó và chiều kích đại kết nằm trên vùng đất sinh thái này.

Vì thế, từ những năm 1990, việc bảo vệ công trình tạo dựng trở thành một chủ đề quan trọng đối với Tòa Thánh, và Đức Bênêđíctô XVI đã đóng góp vào công trình này. Suốt triều đại Giáo hoàng của mình, ngài sẽ nói về “giao ước giữa con người và môi trường, vốn phải là tấm gương phản chiếu tình yêu sáng  tạo của Thiên Chúa”, và sự quan tâm của ngài đối với sinh thái được chứng thực trong thông điệp Caritas in veritate, năm 2009. Ngài nói: “Ngày nay, những vấn đề liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữ môi trường phải tính đến các vấn đề năng lượng. Quả thế, việc chiếm đoạt các nguồn năng lượng không thể tái tạo bởi một số Nhà nước, các nhóm quyền lực hay công ty, tạo nên một trở ngại nghiêm trọng đối với sự phát triển của các nước nghèo. Các nước này không có nguồn lực kinh tế cần thiết để tiếp cận các nguồn năng lượng không tái tạo hiện có hay để tài trợ cho việc tìm kiếm các nguồn thay thế mới.”

Tebaldo Vinciguerra cho biết, chính Đức Bênêđíctô XVI là nguồn gốc của việc lắp đặt các tấm pin quang điện trên nóc khán phòng của Vatican.

Một đường hướng được Đức Phanxicô đào sâu, ngài sẽ ghi dấu các lương tâm với việc công bố Laudato Si’. Theo chuyên gia về các vấn đề môi trường ở Bộ Phục vụ sự phát triển con người toàn diện, từ rất sớm, “Huấn quyền của Đức Phanxicô đã nhấn mạnh đến việc gìn giữ môi trường và bảo vệ những người yếu đuối nhất chống lại nền văn hóa chất thải và vứt bỏ, những bài diễn văn của ngài ở Liên Hiệp Quốc, ở Nairobi hay ở New York, rất nhiều lần kêu gọi của ngài, những cử chỉ hùng hồn của ngài, thực sự đã nhấn mạnh đến các vấn đề sinh thái trên bình diện quốc tế”.

Các hoạt động đang mang lại kết quả của chúng: trước COP26, 72 tổ chức tôn giáo trên 6 châu lục, đại diện hơn 4 tỷ tài sản đang được quản lý, đã tuyên bố thoái vốn khỏi năng lượng hóa thách.

Tý Linh (theo Marine Henriot, Vatican News)

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.091
  • Page 1.092
  • Page 1.093
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2026 - 2027  
31/08/2026
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
23/07/2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.