2021
Đoàn Nghĩa Sinh tiếp giúp các em khuyết tật tại Mái ấm Thiên Thần và hỗ trợ các em mồ côi tại Chùa Hộ Pháp
Đoàn Nghĩa Sinh tiếp giúp các em khuyết tật tại Mái ấm Thiên Thần và hỗ trợ các em mồ côi tại Chùa Hộ Pháp
Vào sáng sớm ngày 31/10/2021, xe chở Đoàn Nghĩa Sinh đã khởi hành và trực chỉ xã Đông Hải, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa để tới Mái ấm Khuyết tật Thiên Thần do các nữ tu Công giáo điều hành. Mái ấm Khuyết tật Thiên Thần là nơi đã và đang nuôi dưỡng hơn 50 trẻ em khuyết tật, bị bại não, thần kinh và tâm thần. Các trẻ khuyết tật đã rất may mắn được các nữ tu Trợ thế Thánh Tâm tận tình nuôi dưỡng và hết lòng chăm sóc sức khỏe cho các em ngày đêm.
Nhiều trẻ khuyết tật đã phải hoàn toàn sống phụ thuộc vào sự giúp đỡ của các nữ tu – từ ăn mặc đến ăn uống và ngay cả đến việc vệ sinh cá nhân cũng hoàn toàn lệ thuộc vào sự giúp đỡ của các nữ tu Công giáo trọn đời hiến dâng. Điều kiện sống và chữa trị tại Mái ấm Thiên Thần phải nói là cực kỳ thiếu thốn với muôn vàn khó khăn vì các nữ tu ở đây chỉ biết đi làm ruộng, làm vườn và chăn nuôi gia cầm để kiếm tiền mua thuốc, mua gạo nuôi dưỡng và chữa trị cho trẻ khuyết tật.
Cảm nhận được nỗi thống khổ nầy, Đoàn Nghĩa Sinh đã đến tiếp tay với quý Soeurs trong việc dưỡng dục những trẻ mồ côi khuyết tật đáng thương – không cha không mẹ, không người ủi an – và lại phải chào đời không được lành lặn vì khuyết tật và vì bệnh tật bẩm sinh. Trong tinh thần “Lá lành đùm lá rách” và “Bầu ơi thương lấy Bí cùng”, các anh chị Nghĩa Sinh đã ân cần tới thăm hỏi, an ủi và tặng quà cho các em đang được các Soeurs nuôi dưỡng ngày đêm tại đây. Tặng phẩm khiêm tốn Nghĩa Sinh chia sẻ gồm gạo, sữa và các nhu yếu phẩm khác (với tổng trị giá 20 triệu VNĐ).
Nghĩa Sinh trao tặng học bổng cho 30 trẻ mồ côi tại Chùa Phật giáo Hộ Pháp
Đáp lời kêu gọi của Trung tâm Nhân đạo Chùa Hộ Pháp nơi cần sự hỗ trợ của bà con người Việt tiếp giúp 30 học sinh mồ côi có tiền trả học phí và mua học cụ (như tập vở, bút giấy, cặp đựng sách), vào chiều ngày 31/10/2021, Đoàn CTXH Nghĩa Sinh – với sự hỗ trợ quảng đại của quý ân nhân Nghĩa Sinh – đã đến trao tặng 30 học bổng cho các em học sinh mồ côi tại Chùa Phật giáo Hộ Pháp (với tổng trị giá khiêm tốn là 33 triệu VNĐ).
Thượng tọa Thích Quảng Hiền, Giám đốc Trung tâm Nhân đạo Chùa Hộ Pháp đã ngỏ lời chào mừng quý Trưởng và anh chị em Nghĩa Sinh đã đến thăm Mái ấm Cô nhi và trao 30 học bổng cùng với dụng cụ học sinh cho các em cô nhi. Thượng tọa Giám đốc Trung tâm đã đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn Đoàn CTXH Nghĩa Sinh đã tận tình hy sinh thời giờ và công sức giúp đỡ các em cô nhi có tiền trả học phí liên tiếp trong 4 niên học. Trong dịp nầy, Thầy Quảng Hiền đã ân cần tâm trao Bằng Ghi nhận Công đức cho Trưởng Hồng Lam và phái đoàn Nghĩa Sinh.
Được biết, Đoàn CTXH Nghĩa Sinh đã đến thăm và giúp học bổng cho học sinh mồ côi tại đây trong 4 niên học liên tiếp: 2018-2019, 2019-2020, 2020-2021 và 2021-2022. Mái ấm Cô nhi Hộ Pháp tọa lạc tại xã Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách Sài Gòn khoảng 90km. Thay mặt Đoàn CTXH Nghĩa Sinh, Trưởng Nguyễn Hồng Lam đã gửi lời chúc các em cô nhi thành công trong việc trau dồi kiến thức, kỹ năng và phẩm hạnh để mai này các em có thể tự lập cho bản thân cùng giúp ích cho gia đình và xã hội.
Ý nghĩa Công tác Giáo dục Nghĩa Sinh
Nhân dịp Đoàn CTXH Nghĩa Sinh trao học bổng cho 30 học sinh cô nhi tại Chùa Hộ Pháp, người viết thiết nghĩ đây là cơ hội tuyệt vời để chúng ta cùng nhau tìm hiểu thêm về triết lý giáo dục, trọng tâm đào tạo, châm ngôn giáo huấn và tiềm năng kiến thức trong Công tác Giáo dục Nghĩa Sinh đã được Huynh Trưởng Nghĩa Sinh diễn giải như sau.
- Triết lý Giáo dục: Giáo dục nhân bản – lấy con người làm gốc, lấy sự sống làm căn bản, lấy nhân vị làm cơ sở sáng tạo và phát triển đặc thù của mỗi cá nhân.
- Trọng tâm Đào tạo: Phát triển lãnh đạo (Leadership Development) bao gồm 1) Kỹ năng Lãnh đạo (Leadership Skills); 2) Kỹ năng làm việc Nhóm (Teamwork Skills); 3) Kỹ năng vui Sống (Life-fulfilled Skills); và 4) Kỹ năng Sáng tạo (Creativity Skills).
- Châm ngôn Giáo huấn: “Giáo dục là chìa khóa (mở cửa) thành công” là châm ngôn cho các chương trình giáo dục và đào tạo trong Tổ chức Nghĩa Sinh được diễn dịch từ Anh ngữ, “Education is the key to success.” Trong cuộc sống, mọi người đều cần chìa khóa – chìa khóa nhà, chìa khóa tủ, chìa khóa xe… Công tác giáo dục giúp mỗi người có được loại chìa khóa chúng ta cần trong cuộc sống.
- Tiềm năng Kiến thức: Giáo dục và huấn luyện mang lại cho chúng ta kiến thức, kỹ năng, phẩm hạnh và tự tin. Đây là bốn chất lượng cần thiết cho đời sống nhân bản và nhân văn của mỗi người. Châm ngôn cho các tham dự viên Chương trình Giáo dục Nghĩa Sinh được diễn dịch từ Anh ngữ, “Knowledge, skills, manners, and self-confidence are powers.” Kiến thức, kỹ năng, phẩm hạnh và tự tin mà chúng ta có được từ giáo dục là quyền lực của con người để sinh sống, phát triển và trải nghiệm phước hạnh. Người ta có thể cưỡng chế đất đai, tiền của và sự tự do của một người, nhưng họ không thể nào lấy được kiến thức, kỹ năng, phẩm hạnh và tự tin của người đó – vì cá nhân nầy đã được đào tạo chuyên môn và được trang bị nội tâm chuẩn mực.
Lời cảm ơn của Huynh Trưởng Nghĩa Sinh và Đoàn CTXH Nghĩa Sinh
Huynh Trưởng Nghĩa Sinh và Đoàn CTXH Nghĩa Sinh trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sự hiện diện tham gia công tác thiện nghĩa của quý Trưởng và quý anh chị Nghĩa Sinh – đã hy sinh thời giờ, công sức và tài lực cho lý tưởng giúp ích tha nhân trong chuyến công tác từ thiện bác ái tháng 10/2021 tại Mái ấm Khuyết tật Thiên Thần và Mái ấm Cô nhi Chùa Hộ Pháp. Lời cảm ơn của Huynh Trưởng Nghĩa Sinh và của Đoàn được trân trong chuyển đến: NS Nguyễn Văn Thu, NS Lê Ngọc Can, NS Nguyễn Hồng Nhung, NS Nguyễn Thị Hiền, NS Nguyễn Viết Luận, NS Phạm Thu Loan, NS Xuân Lê, Trưởng Nguyễn Hồng Lam, Trưởng Nguyễn Trí Thức và Trưởng Nguyễn Văn Phẩm. Xin Thượng Đế chúc lành và thưởng công bội hậu cho quý anh chị Nghĩa Sinh và quý quyến.
MỜI XEM THÊM TÀI LIỆU LIÊN HỆ
[1] Công tác Giáo dục và Công tác Xã hội Nghĩa Sinh
[2] Các Dự án CTXH & Đoàn đội CTXH Nghĩa Sinh
[3] Nghĩa Sinh Công tác Phục vụ Nhân đạo
[4] Nghĩa Sinh: 10 Cảm nhận & Hành động Nhân ái
[5] Nghĩa Sinh: 7 Điều Tâm niệm Đoàn Công tác Xã hội
Nguyễn Vũ Khánh Hoàng
2021
ĐTC bổ nhiệm một nữ tu vào vị trí thứ hai của Quốc gia thành Vatican
ĐTC bổ nhiệm một nữ tu vào vị trí thứ hai của Quốc gia thành Vatican
Ngày 4/11/2021 Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm nữ tu Raffaella Petrini, 52 tuổi, dòng Phan Sinh Thánh Thể, làm Tổng Thư ký Phủ Thống đốc thành Vatican, tức là nhân vật thứ hai của Quốc gia thành Vatican.
Chức vụ Tổng Thư ký Phủ Thống đốc thành Vatican trước đây thường do một giám mục nắm giữ. Sơ Petrini là phụ nữ và thành viên không phải là giáo sĩ đầu tiên được bổ nhiệm vào chức vụ này.
Với việc bổ nhiệm này, sơ Petrini trở thành một trong những phụ nữ có chức vụ cao nhất tại Vatican, cùng với sơ Alessandra Smerilli, Tổng Thư ký “tạm thời” của Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện, và sơ Natalie Becquart, Phó Tổng Thư ký của Thượng Hội đồng Giám mục.
Sơ Petrini thay thế Đức cha Fernando Vérgez Alzaga, người đã được thăng làm Chủ tịch Phủ Thống đốc thành Vatican, có hiệu lực từ ngày 1/10/2021.
Từ năm 2005, sơ Petrini là quan chức của Bộ Loan báo Tin Mừng cho các dân tộc. Sơ đã đậu cử nhân về khoa học chính trị tại Đại học Quốc tế Libera và đậu tiến sĩ khoa học xã hội tại đại học Giáo hoàng thánh Tô-ma Aquinô ở Roma, và hiện đang là giáo sư tại đại học này.
Ngày 4/11/2021, Đức Thánh Cha cũng bổ nhiệm một giáo dân, luật sư Giuseppe Puglisi-Alibrandi, làm Phó Tổng Thư ký Phủ Thống đốc thành Vatican. Ông Puglisi-Alibrandi, 55 tuổi, là một luật sư đã làm việc tại Phủ Thống đốc thành Vatican từ năm 2014. Năm 2017, ông được bổ nhiệm làm chánh văn phòng pháp lý. (CSR_392_2021)
Hồng Thủy
2021
Đức Tổng Giám Mục Roche: Việc cải cách Thánh Lễ của Công Đồng Vatican II là việc ‘không thể đảo ngược được’
Trong bài thuyết trình công khai đầu tiên, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Đức Tổng Giám mục Arthur Roche nói rõ về đường hướng mà Bộ sẽ thực hiện dưới sự lãnh đạo của ngài. Ngài đã thực hiện điều này bằng việc trích dẫn những lời của Đức Giáo hoàng Phanxicô, khi đề cập đến việc cải cách phụng vụ đã được Công đồng Vatican II chuẩn nhận: “Với thẩm quyền của Huấn quyền, chúng tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng cải cách phụng vụ là việc không thể đảo ngược được.”
Vị tổng giám mục sinh ở Anh, người được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm kế vị Hồng y Robert Sarah để làm bộ trưởng của bộ này vào ngày 27 tháng 5, đã được mời đến đọc diễn văn khai mạc cho nhân viên và sinh viên nhân dịp khai giảng năm học tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Anselm ở Rome. Trường đại học này được điều hành bởi các tu sĩ dòng Biển Đức, bao gồm một học viện phụng vụ nhằm huấn luyện về phụng vụ cho các thành viên của các dòng tu, cho giáo sĩ và giáo dân.
Ngài bắt đầu bài thuyết trình của mình bằng việc lưu ý nhân viên và sinh viên rằng ngài nói chuyện với họ không chỉ với tư cách là bộ trưởng Bộ Phụng tự ở Vatican, mà còn dựa vào kinh nghiệm 46 năm làm linh mục, 20 năm làm giám mục (10 năm với tư cách là giám mục giáo phận, gần 10 năm là thư ký của Bộ Phụng tự) và với tư cách là một người Công giáo đã “kinh qua thời trước và sau Công đồng Vatican II.”
Đức Tổng Giám mục nhắc nhở các sinh viên về “tầm quan trọng sống còn” của việc nghiên cứu có tính học thuật của họ “đối với sức sống và sức khỏe của Giáo hội.” Nhấn mạnh về “sức khỏe của Giáo hội,” ngài nói, bởi vì “chúng ta cần những người được chuẩn bị kỹ lưỡng và quân bình, những người yêu mến Giáo hội như Giáo hội đang là!”
Ngài kêu gọi họ “hãy trở thành những người nam và người nữ đích thực của Giáo hội, những người “có cùng cảm thức với Giáo hội” (“sentire cum ecclesia”) và không bị ảnh hưởng bởi các hệ tư tưởng mang tính giáo hội, bởi những sở thích cá nhân hay những ý tưởng mới lạ, hay bởi ước muốn nhào nặn Giáo hội theo hình dung của mình, nhưng bởi những gì Giáo hội đang mời gọi anh chị em hôm nay, đó là trở nên những nhà truyền giáo của Giáo hội trong một thời đại mới với một nhiệm vụ rõ ràng cụ thể.”
Khi nhấn mạnh đến nhu cầu Giáo hội cần có những người “được chuẩn bị tốt và quân bình,” những người có cùng cảm thức với Giáo hội, Đức Tổng Giám mục phản ánh mối quan tâm của nhiều giám mục, đó là các tân linh mục ngày nay thường thiếu “sự chuẩn bị và quân bình” trong các vấn đề phụng vụ. Họ rơi vào “các hệ tư tưởng mang tính giáo hội” hay đơn giản là tự tiện có cái nhìn về Giáo hội và thực hành phụng vụ. Những lo ngại như vậy cũng là một phần lý do dẫn đến sắc lệnh “Traditionis Custodes” ký ngày 16 tháng 07 của Đức Giáo hoàng Phanxicô, nhằm hạn chế việc cử hành Thánh lễ tiếng Latinh từ thời Công đồng Trentô, trước Vatican II.
Đức Tổng Giám mục Roche kêu gọi các sinh viên chú ý đến “lịch sử lâu dài và hấp dẫn của phong trào phụng vụ” trước Công đồng Vatican II và những lựa chọn của các nghị phụ liên quan đến phụng vụ cũng như lý do của những lựa chọn ấy.
Ngài nhắc nhở họ rằng Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong bài phát biểu trước những người tham dự Tuần lễ Phụng vụ Quốc gia Ý lần thứ 68 vào tháng 08 năm 2017, đã nhắc lại rằng Thánh Phaolô VI đã nói với các hồng y trong một cuộc họp Cơ Mật Viện (consistory) một năm trước khi ngài qua đời: “Đã đến lúc phải dứt khoát loại bỏ các yếu tố gây chia rẽ, có hại như nhau theo cả hai nghĩa, để áp dụng trọn vẹn, theo các tiêu chuẩn đúng đắn đã gợi hứng cho cuộc cải cách được chúng tôi chấp thuận khi thể hiện những nguyện vọng của Công đồng.”
Sau đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô nói thêm, “Vẫn còn nhiều việc phải làm theo đường hướng này, nhất là bằng cách tái khám phá những lý do đưa đến những quyết định liên quan đến việc cải cách phụng vụ, bằng cách loại bỏ những lối đọc vô căn cứ và hời hợt, lối đón nhận nửa vời và những lối thực hành làm nó bị méo mó.”
Đức Giáo hoàng kết luận: “Sau huấn quyền này, sau cuộc hành trình dài này, với thẩm quyền của Huấn quyền, chúng tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng việc cải cách phụng vụ là việc không thể đảo ngược được.”
Trong bài thuyết trình của mình, Đức Tổng Giám mục Roche kêu gọi nhân viên và sinh viên tại Học Viện Thánh Anselm “hãy là những người nam và người nữ, những học giả và bậc thầy trong những nỗ lực khoa học khác nhau, đúng vậy, nhưng trên hết hãy là những môn đệ trung thành, những người xây dựng Giáo hội, chứ không phải là nguyên nhân gây ra sự phân mảnh trong Giáo hội.”
Ngài khuyến khích họ đào sâu đời sống thiêng liêng qua các nghiên cứu phụng vụ của họ, và ngài chia sẻ rằng đời sống đức tin của ngài đã trở nên phong phú hơn nhiều, nhờ 20 năm làm việc với những bản dịch của bộ Sách Lễ Rôma đã được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phê chuẩn. Ngài tiết lộ, qua công việc này, ngài mới nhận ra rằng “những lời cầu nguyện, những bản văn này, không chỉ là sự sáng tạo của một bộ óc tinh tế hay một ngòi bút đơn lẻ, nhưng đến từ chính bàn tay Thiên Chúa, qua di sản phong phú của Kinh Thánh và các giáo phụ mà ta gặp thấy ở đó, cùng với lời dạy sâu xa về bản chất của Giáo hội như được thấy trong Hiến Chế ‘Lumen Gentium.’”
Đức Tổng Giám mục phát biểu: “Di sản này kết nối chúng ta với đức tin của Giáo hội như được diễn tả qua các thời đại và phù hợp với thời đại lẫn sứ mạng của chúng ta.”
“Sách Lễ Rôma do Đức Giáo hoàng Phaolô VI phê chuẩn là Sách Lễ phong phú nhất mà Giáo hội từng soạn ra cùng với Bộ sách Bài Đọc (Missale Romanum Lectionarium),” Đức Tổng Giám Mục Roche đã nói với cử tọa của ngài như thế. Hơn nữa, theo ngài, “có thể nói một cách đúng đắn rằng tầm nhìn trong Hiến chế về Phụng vụ Thánh (‘Sacrosanctum Concilium,’) và trong Hiến Chế Tín lý về Mặc Khải Thánh (‘Dei Verbum’), giờ đây đã trở nên rõ ràng hơn trong lời cầu nguyện và trong ý thức của Giáo hội, nhờ sự thức tỉnh mới về Kinh Thánh trong Nghi Lễ Rôma.”
“Biết những lời cầu nguyện trong Sách Lễ là khởi đầu cho việc học cách cầu nguyện theo Kinh Thánh. Đây là một món quà quý giá dành cho Dân trung tín của Thiên Chúa, điều đó sẽ đem lại những hạt giống của canh tân,” Đức Tổng Giám mục Roche nói.
Trước Công đồng Vatican II, hầu hết tất cả các bản văn phụng vụ đều bằng tiếng Latinh. Nhưng Hiến chế phụng vụ — văn kiện công đồng đầu tiên được các nghị phụ phê chuẩn vào ngày 4 tháng 12 năm 1963 — đã thay đổi tất cả điều đó bằng cách cho phép sử dụng tiếng bản địa. Trong bài giảng của mình, từ kinh nghiệm cá nhân, Đức Tổng Giám mục Roche nhắc lại rằng tuy công việc phiên dịch có “tầm quan trọng to lớn,” nhưng nhiệm vụ này chẳng hề dễ dàng bởi vì “có nhiều lý thuyết và tranh luận” có thể dẫn đến “một cuộc bút chiến giữa những quan điểm đối nghịch và tương phản.”
“Ngay cả những người ủng hộ kém cỏi nhất cũng có ý kiến riêng, cũng có thể to tiếng và cố chấp.” Ngài hóm hỉnh gợi lại câu ngạn ngữ về việc “có thể thương lượng với những kẻ khủng bố, nhưng không thể thương lượng với những chuyên gia phụng vụ.” Ngài nói rằng bất kể những hạn chế của các bản dịch trước đây là gì, ngài cảm thấy các bản dịch mới đã được cải thiện.
Đức Tổng Giám mục Roche nhớ lại rằng khi các hội đồng giám mục của các nước Anh và Wales, Scotland và Ireland ban hành một tuyên bố về Bí tích Thánh Thể vào năm 1998, Đức Hồng Y Basil Hume, lúc đó là Tổng Giám mục của Westminster cũng là một tu sĩ dòng Biển Đức, đã viết:
“Người Công giáo tin gì về Bí tích Thánh Thể? Khi cho rước lễ, vị linh mục nói với tôi “Mình Thánh Chúa Kitô,” tôi đáp “Amen.” … Lời thưa “Amen” của tôi không chỉ bày tỏ đức tin của tôi vào thân mình Chúa Kitô là Bí tích Thánh Thể, mà còn bày tỏ đức tin của tôi vào thân mình Chúa Kitô là Hội thánh. Bí tích Thánh Thể và Giáo hội gắn bó với nhau không thể tách rời.”
Bình giải về điều này, Đức Tổng Giám mục Roche nhận xét, “Chính trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta tìm thấy mã di truyền của Giáo hội.”
Ngài lưu ý đến “hai chiều kích của phụng vụ mà chúng ta không được phép bỏ quên, vì chúng mô tả chính bản chất của Giáo hội.” Thứ nhất, chiều kích đồng đại (the synchronic dimension) như sau: “với tư cách là người Công giáo, ngay lúc này và ở đây, chúng ta được hiệp nhất với mọi người Công giáo khác trên khắp thế giới, và qua giám mục địa phương, chúng ta được hiệp nhất với Đức Giáo hoàng, người kế vị Thánh Phêrô.”
Ngài nói: “Mối liên hệ này đánh dấu và đảm bảo sự thuộc về của chúng ta; không có điều đó, chúng ta sẽ cô đơn, đứng ngoài cộng đoàn được Đức Kitô thiết lập và được xây dựng trên nền tảng Tông đồ Phêrô.”
Chiều kích thứ hai, chiều kích lịch đại (the diachronic dimension) như sau: “trong Giáo hội, chúng ta cũng được hiệp nhất với mọi tín hữu đã từng sống và tin, cũng như với mọi người Công giáo sẽ sống và tin trong tương lai.”
Tóm tắt điều này, Đức Tổng nói, “Chúng ta có thể nói về chiều kích đồng đại của phụng vụ như hợp nhất toàn thể Giáo hội trên thế giới, và về chiều kích lịch đại như chạy xuyên qua thời gian để vào vĩnh cửu.”
Đức Tổng Giám mục người Anh nhắc nhở cử tọa của ngài rằng “bất cứ khi nào chúng ta quy tụ để cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ quy tụ trong tư cách là cộng đoàn này, ở nơi cụ thể này, nhưng chúng ta đứng giữa những giao lộ của mọi sự sống, và ở ngưỡng cửa nơi thời gian giao cắt với vĩnh cửu – sự quy tụ của chúng ta lớn hơn những gì mắt thường có thể thấy. Chúng ta đang đi vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhờ mầu nhiệm nhập thể và mầu nhiệm vượt qua, Đấng ấy làm cho dòng chảy hay ‘dòng trôi của thời gian’ đi vào cõi ‘vĩnh hằng đời đời,’ để được nâng lên và biến đổi.”
Nói cách khác, ngài nói, “phụng vụ là nơi hai thế giới gặp nhau.” Ngài lưu ý rằng “nhiều hiểu lầm về phụng vụ trong quá khứ và hiện tại, có thể bắt nguồn từ việc không nhận ra đặc tính này, dù lẽ ra nó phải được thể hiện rõ ràng trong toàn bộ phụng vụ Công giáo.”
Đức Tổng Giám mục Roche nói: “Việc cải cách phụng vụ như được ghi lại trong Sách Lễ Rôma đang là và vẫn còn là kim chỉ nam cho chúng ta hiểu và thực hiện một đánh giá đúng đắn về phụng vụ.”
Đức Tổng kết luận bằng cách nhắc nhở các giáo sư và sinh viên tại Học Viện Thánh Anselmo, cũng như Giáo Hội nói chung: “Chúng ta không tạo ra hoặc cải cách phụng vụ; điều đó đã được thực hiện bởi thẩm quyền cao nhất của Giáo hội rồi, đó là một Công đồng chung. Trách nhiệm của chúng ta là thực hiện cuộc cải cách đó, trung thành với những gì chúng ta đã lãnh nhận, và không ủng hộ những điều không thuộc tâm thức của Giáo hội, dù chúng được quảng bá cách rầm rộ.”
Chuyển ngữ: Tu sĩ Vinh Sơn Nguyễn Hoàng Vũ, SJ
2021
ĐTC dâng Thánh lễ cầu nguyện cho các Hồng y và Giám mục qua đời
Lúc 11:00 giờ ngày 04/11, Đức Thánh Cha đã chủ sự Thánh lễ tại đền thờ thánh Phêrô để cầu nguyện cho 17 Hồng y và 191 Giám mục đã qua đời trong 12 tháng qua, trong toàn Giáo hội. Trong bài giảng Thánh lễ, Đức Thánh Cha tập trung vào bài đọc thứ nhất trích sách Ai-ca (Ac 3,17-26), nói về sự trung kiên trong thử thách, thinh lặng chờ đợi Chúa đến cứu.
Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với những lời trong sách Ai-ca “Biết thinh lặng đợi chờ, đợi chờ ơn cứu độ của Đức Chúa, đó là một điều hay” (Ac 3, 26). Ngài nói: “Thái độ này không phải là điểm khởi đầu, nhưng là điểm đến. Thực tế, tác giả đã đi đến cuối hành trình, một hành trình nhiều khó khăn, nhưng đã giúp tác giả trưởng thành. Tác giả hiểu ra vẻ đẹp của việc tin cậy Chúa, Đấng không bao giờ thất hứa”.
Chờ đợi Chúa đến trong thinh lặng
Đức Thánh Cha lưu ý: “Nhưng tin cậy Chúa không nảy sinh từ sự nhiệt tình nhất thời, nó không phải là một cảm xúc và tình cảm. Trái lại, tin cậy nơi Chúa, đến từ kinh nghiệm và sự trưởng thành trong sự kiên nhẫn, như xảy ra với Gióp. Ông đã đi từ sự hiểu biết Thiên Chúa ‘theo những gì nghe được’ đến sự hiểu biết sống động, bằng kinh nghiệm. Và để điều này xảy ra, một sự biến đổi nội tâm lâu dài là cần thiết, qua thử thách đau khổ, dẫn đến việc biết cách chờ đợi trong thinh lặng, nghĩa là, với sự kiên nhẫn tin cậy, với một tâm hồn hiền lành. Sự kiên nhẫn này không phải là sự cam chịu, vì nó được nuôi dưỡng bởi sự trông đợi Chúa, Đấng sắp đến là điều chắc chắn và không làm chúng ta thất vọng”.
Cần phải học nghệ thuật chờ đợi
Theo Đức Thánh Cha, học nghệ thuật chờ đợi Chúa là điều rất quan trọng. Chờ đợi Chúa trong hiền lành, tin tưởng, xua đuổi những bóng ma, những cuồng tín và những tiếng ồn ào; giữ gìn, đặc biệt là trong thời gian thử thách, một sự thinh lặng tràn đầy hy vọng. Đây là cách chúng ta chuẩn bị cho thử thách cuối cùng và lớn nhất của cuộc đời, đó là cái chết; nhưng trước hết, là những thử thách trong lúc này. Chúng ta hãy xin Chúa ban ơn trợ giúp để có thể chờ đợi ơn cứu độ của Người.
Thực tế, trước những khó khăn, những vấn đề của cuộc sống, chúng ta khó có được sự kiên nhẫn và bình tĩnh. Chúng ta thường bị cám dỗ trở nên bi quan và cam chịu, nhìn thấy mọi thứ đen tối, quen với giọng điệu chán nản và than thở, tương tự như lời của tác giả Sách Thánh tự nhủ: “Cuộc sống của mình nay chấm dứt, hy vọng nơi Đức Chúa cũng tiêu tan” (câu 18). Trong thử thách, ngay cả những ký ức tốt đẹp trong quá khứ cũng không thể an ủi chúng ta. Và điều này càng làm tăng thêm nỗi cay đắng, dường như cuộc đời là một chuỗi bất hạnh liên tiếp, như chính tác giả thừa nhận: “Xin nhớ đến nỗi khốn cùng của con, và cuộc đời con vất vưởng nuốt cay ngậm đắng”. (câu 19).
Tuy nhiên, tại thời điểm khó khăn, trong vực thẳm, trong nỗi thống khổ của sự vô nghĩa, Chúa đến gần để cứu. Và khi sự cay đắng lên đến đỉnh điểm, niềm hy vọng lại đột nhiên nở rộ. “Đây là điều con suy đi gẫm lại, nhờ thế mà con vững dạ cậy trông” (câu 21). Trong nỗi đau đớn, ai ở gần Chúa, sẽ thấy Người biến đau khổ thành cánh cửa hy vọng. Đó là kinh nghiệm Phục Sinh, một hành trình đau đớn mở ra sự sống, hành trình tâm linh trong bóng tối khiến chúng ta trở lại với ánh sáng.
Đức Thánh Cha mời gọi mọi người xin ơn sức mạnh để biết sống trong thinh lặng hiền lành và tin cậy chờ đợi ơn cứu độ của Chúa, không phàn nàn và không cằn nhằn. Bởi vì, biết chờ đợi ơn cứu độ của Chúa trong thinh lặng là một nghệ thuật. Kitô hữu là người không giảm bớt sức nặng của đau khổ, nhưng ngước mắt lên Chúa và dưới thử thách, tin cậy nơi Người và cầu nguyện cho những ai đau khổ. Kitô hữu luôn hướng mắt về Thiên đàng, nhưng đôi tay luôn dang rộng trên mặt đất, để phục vụ người thân cận một cách cụ thể.
Cầu nguyện cho các Hồng y và các Giám mục qua đời
Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng với lời mời gọi mọi người cầu nguyện cho các Hồng y và các Giám mục đã rời xa chúng ta trong năm qua. Xin cho các vị được hưởng niềm vui của lời mời gọi Tin Mừng, lời mà Chúa nói với các tôi trung của Người: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25, 34).
Nguồn: vaticannews.va/vi/
