2020
Đức Giáo Hoàng: Chúng ta có một người Cha, chúng ta không mồ côi!
“Ngày hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện cho những người đang làm vệ sinh các bệnh viện, các ngả đường, những người đang xả thùng rác, những người đi đến từng nhà để nhận rác”. Đây là ý cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng cho Thánh Lễ Chúa Nhật Thứ VI Mùa Phục Sinh tại nguyện đường Santa Marta. Ngài tiếp tục nói, “Đó là một công việc mà không ai thấy, nhưng cũng là một công việc vốn cần thiết để tồn tại. Xin Thiên Chúa chúc lành và giúp đỡ họ”.
Sau đó Ngài suy tư về đoạn Tin Mừng Chúa Nhật (Ga 14:15-21) và Bài Đọc II (1 Pr 3:15-18) trong bài giảng của Ngài.
Chúa Giêsu nói lời từ biệt với một lời hứa
Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt đầu bài giảng của Ngài khi nói rằng khi Chúa Giêsu nói lời từ biệt các môn đệ của Ngài, Ngài đã để lại cho các ông niềm hy vọng. Niềm hy vọng ấy là một lời hứa vốn không để cho họ thành những người mồ côi. Chính là ý nghĩa của việc bị mồ côi này, của việc không có một người Cha này, nghĩa là, và như đã từng là, căn rễ của nhiều vấn đề của trái đất, Ngài nói.
“Chúng ta đang sống trong một xã hội thiếu Người Cha. Một cảm giác bị mồ côi chạm vào cảm giác thuộc về và huynh đệ của chúng ta”.
Sự thành toàn của lời hứa
Sự thành toàn của lời hứa này là Chúa Thánh Thần. “Chúa Thánh Thần không đến để ‘biến chúng ta thành những khách hàng của Ngài’”, Đức Giáo Hoàng nói. Thay vào đó, Chúa Thánh Thần đến “để chỉ cho chúng ta cách để đến với Chúa Cha, dạy cho chúng ta con đường đến với Chúa Cha, con đường mà Chúa Giêsu đã mở ra, con đường mà Chúa Giêsu đã tỏ cho chúng ta”.
Linh đạo Ba Ngôi
Một nền linh đạo chỉ hướng đến Con Thiên Chúa thì không tồn tại, Đức Giáo Hoàng nói tiếp. “Chúa Cha là trung tâm”, Ngài nhắc chúng ta. “Chúa Con được Chúa Cha sai đến và trở về với Chúa Cha. Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến để nhăc nhớ chúng ta và dạy chúng ta cách đến với Chúa Cha”.
Một cảm giác thuộc về
“Sự nhận biết chúng ta là con” này chứ không phải là “các trẻ mồ côi” là chìa khoá để sống trong bình an, Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích. Chiến tranh, cả nhỏ và lớn, “luôn chứa đựng một chiều kích của việc là mồ côi vì Chúa Cha là Đấng tạo hoà bình đang bị khuyết”.
Những thái độ của việc thuộc về một gia đình
Sứ mạng của chúng ta trong tư cách là một Kitô Hữu là thành toàn điều mà Thánh Phêrô giáo huấn trong Bài Đọc II. Chúng ta làm chứng cho niềm hy vọng mà chúng ta có khi người khác yêu cầu chúng ta giải thích.
“Hãy thực thi việc ấy với sự dịu dàng và tôn trọng”, Thánh Phêrô chỉ dạy, “khi giữ cho lương tâm ngay thẳng”. Sự dịu dàng và tôn trọng là những cách thế hành xử mang tính đặc thù của những người có cùng một mối quan hệ với vị cha chung, Đức Giáo Hoàng giải thích. “Đó là những thái độ của việc thuộc về, sự thuộc về một gia đình chắc chắn có một Người Cha” vốn là trung tâm, người vốn là nguồn gốc của mọi người, nguồn của tất cả mọi sự hiệp nhất và ơn cứu độ. Và Ngài sai Chúa Thánh Thần đến để “nhắc nhớ chúng ta” về cách đến với Chúa Cha, dạy chúng ta những thái độ thân quen của sự dịu dàng, hiền lành và bình an này, Đức Giáo Hoàng nói.
Cầu nguyện với Chúa Cha
Khi kết thúc bài giảng Đức Giáo Hoàng cầu nguyện, “Chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần đến nhắc chúng ta luôn mãi, về cách đến với Chúa Cha, nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta có một Người Cha. Và đối với nền văn mình này vốn đang có một cảm thức bao la về việc bị mồ côi, xin Ngài ban ân sủng của việc tìm thấy lại Cha một lần nữa, Người Cha là Đấng ban cho mọi người một cảm thức ý nghĩa trong cuộc sống. Xin Ngài làm cho hết mọi người nam nữ thành một gia đình”.
Joseph C. Pham (Vatican News)
2020
Thông điệp “Mence Maio” của ĐTC Phao-lô VI Về Tháng 5 Kính Đức Mẹ
Gửi tất cả các Đức Giám Mục
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 cuộc hiện ra lần thứ nhất của Đức Mẹ tại Fatima 13.5.1917
Chư huynh khả kính,
xin gửi tới quý chư huynh lời chào và phép lành Tông Tòa.
1. Khi tháng 05 đang đến gần, tức tháng mà các tín hữu biểu lộ lòng sùng mộ cách đặc biệt với Đức Maria, tâm hồn Tôi vui mừng khi nghĩ tới những cảnh tượng đầy xúc động của Đức Tin và Đức Ái mà chúng sắp sửa diễn ra trên toàn thế giới để tôn kính Nữ Vương Thiên Đàng. Trong thực tế, đây chính là tháng mà những lời ca khẩn nguyện và tôn vinh Đức Maria sẽ vang lên cách rộn ràng và nồng say hơn bao giờ hết trên khắp Giáo hội cũng như trong tâm hồn các Ki-tô hữu. Và đây cũng là tháng mà mọi ân sủng phát xuất từ lòng nhân hậu của Thiên Chúa sẽ được tuôn đổ cách dồi dào từ ngai vinh hiển của Ngài.
2. Vì thế, truyền thống đạo đức này rất đáng được hoan nghênh và đem lại nhiều an ủi cho chúng ta. Nó cũng đem đến cho Đức Maria rất nhiều vinh dự, và mang lại rất nhiều hoa trái thiêng liêng cho dân Ki-tô giáo. Đức Maria luôn luôn hiện diện trên con đường dẫn đến cùng Chúa Ki-tô. Bất cứ cuộc gặp gỡ nào với Mẹ cũng đều trở thành – dĩ nhiên là như thế – một cuộc gặp gỡ với Chúa Ki-tô. Việc luôn luôn tìm đến trú ẩn nơi Đức Maria còn có ý nghĩa gì khác nếu không phải là một cuộc kiếm tìm Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, trong Mẹ, nhờ Mẹ và với Mẹ, cũng như trong vòng tay của Mẹ; bởi Chúa Ki-tô chính là Đấng mà những người đang có nguy cơ sa vào sự lầm lạc và hiểm nguy phải hướng tới, giống như hướng về bến cảng của ơn cứu độ, hay hướng về nguồn mạch sự sống mà nó vượt lên trên mọi quan điểm, và không bao giờ ngừng cảm thấy cần tới Ngài.
3. Chính vì tháng 05 luôn khơi lên những lời nguyện cầu thâm sâu và đầy lòng tín thác như thế, và cũng vì trong tháng 05 này, những lời khẩn xin của chúng ta luôn dễ dàng đến được với trái tim đầy nhân hậu của Đức Nữ Trinh, nên việc chọn tháng 05 này để kêu mời Dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện bất cứ khi nào Giáo hội có nhu cầu, hay bất cứ khi nào thế giới bị đe dọa bởi một mối nguy nào đó, là một thói quen rất quý báu mà các vị tiền nhiệm của Tôi đã thực hiện. Và kể cả chúng ta nữa, hỡi các bậc chư huynh đáng kính, trong năm nay, cũng cảm thấy cần phải dành cho toàn thế giới Công giáo một lời kêu mời tương tự. Thực ra, khi chúng ta nghĩ tới những nhu cầu hiện tại của Giáo hội, cũng như nghĩ tới nền hòa bình thế giới, thì chúng ta sẽ có đủ mọi lý do chính đáng để tin rằng, đây chính là giờ phút đặc biệt nghiêm trọng và khẩn thiết hơn bao giờ hết, đòi buộc chúng ta phải kêu gọi toàn Dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện.
4. Lý do trước tiên mà Tôi muốn đưa ra lời kêu gọi ấy vào lúc này chính là khoảnh khắc lịch sử, tức khoảnh khắc mà Giáo hội đang bước vào giai đoạn quan trọng của Công Đồng Đại Kết. Công Đồng này là một sự kiện vĩ đại, nó đang đặt ra cho Giáo hội những vấn nạn to lớn liên quan tới việc Giáo hội phải tự hiện đại hóa chính mình cho thích hợp, và tương lai của Hiền Thê Chúa Ki-tô cũng như số phận của nhiều tâm hồn sẽ phụ thuộc vào kết quả tốt đẹp của sự kiện này trong một thời gian lâu dài. Đó là giờ phút vĩ đại của Thiên Chúa trong đời sống Giáo hội cũng như trong lịch sử thế giới.
5. Khi nhìn lại và thấy phần lớn công việc đã được hoàn thành một cách rất tốt đẹp, quý chư huynh cũng sẽ thấy được rằng, vẫn còn đó rất nhiều những trách vụ nặng nề đang chờ đợi chúng ta trong phiên họp sắp tới, tức phiên bế mạc. Và tiếp theo là giai đoạn không hề kém phần quan trọng, đó là việc đem những quyết định của Công Đồng ra thực hành cũng như áp dụng vào thực tế. Giai đoạn này sẽ đòi hỏi cả các Giáo sĩ lẫn các tín hữu phải có một sự nỗ lực mang tính thống nhất, hầu cho những hạt mầm đã được rắc gieo trong lúc Công Đồng diễn ra sẽ đâm chồi nẩy lộc đầy công hiệu và hữu dụng. Để cầu xin Thiên Chúa ban ánh sáng và phúc lành của Người xuống cho công việc đầy khó khăn và phức tạp mà hiện tại nó đang chờ đợi chúng ta, tôi đặt niềm tín thác vào Đấng mà trong phiên họp vừa qua, với tất cả sự hân hoan của mình, tôi đã tuyên bố Người là Mẹ của Giáo hội. Mẹ chính là Đấng, mà ngay từ đầu Công Đồng, đã không ngừng giúp đỡ chúng ta với trọn tình mến của Người, và chắc chắn Mẹ cũng sẽ vẫn tiếp tục trợ giúp chúng ta cho tới khi hoàn thành công việc.
6. Một lý do nữa khiến tôi phải đưa ra lời kêu mời trên chính là tình hình quốc tế trong lúc này, mà như quý vị – hỡi các bậc chư huynh đáng kính – đã biết, đang hết sức tăm tối và khó lường hơn bao giờ hết vì những mối nguy nặng nề đang gây hại cho nền hòa bình thế giới. Giả như những kinh nghiệm bi ai về hai cuộc thế chiến mà chúng đã gây ra biết bao sự đổ máu trong suốt nửa đầu thế kỷ của chúng ta, không dạy cho chúng ta được bất cứ bài học nào đi nữa, thì trong hiện tại, trên nhiều vùng miền thế giới, chúng ta cũng đang phải chứng kiến sự gia tăng đầy khiếp sợ những mâu thuẫn giữa các dân tộc, và chúng ta cũng đang phải chứng kiến sự lập lại một trò chơi đầy nguy hiểm: thay vì tổ chức những cuộc đàm phán và thương thảo, người ta lại chạy đến nương nhờ nơi sức mạnh của vũ khí để giải quyết những vấn nạn mà chúng gây ra sự chia rẽ cho các đảng phái. Điều đó dẫn tới hậu quả là, công dân của mọi quốc gia sẽ phải đối mặt với những nỗi khổ đau nhiều khôn xiết kể, mà những nỗi khổ đau ấy đang bị gây ra bởi những lời tuyên truyền đầy tính kích động, bởi những cuộc chiến lẻ tẻ cũng như bởi những hành vi gây chiến, đang ngày càng trở nên phổ biến và mạnh mẽ hơn, và ngay sau đó, có thể gây ra những cuộc xung đột mới còn trầm trọng hơn nữa.
7. Khi tận mắt chứng kiến những mối hiểm nguy to lớn đang đe dọa cuộc sống các dân tộc, Tôi cảm thấy cần phải bày tỏ niềm ý thức về trách nhiệm của mình với tư cách là Mục Tử tối cao, cũng như cảm thấy cần phải thể hiện mối quan tâm và sự lo lắng của mình để những cuộc tranh chấp không trở nên trầm trọng hơn đến độ chúng có thể trở thành những cuộc xung đột đẫm máu. Tôi thiết tha kêu mời tất cả những ai đang mang trách nhiệm đối với đời sống công cộng, đừng tiếp tục giả điếc làm ngơ trước khát vọng hòa bình của toàn thể nhân loại nữa. Quý vị hãy thực hiện những điều thuộc năng quyền của mình hầu bảo vệ nền hòa bình trước những mối đe dọa. Quý vị hãy tiếp tục thúc đẩy và hỗ trợ những cuộc đối thoại cũng như những cuộc đàm phán trên tất cả mọi bình diện và thuộc mọi thời đại, cốt sao ngăn chặn được việc cậy dựa đầy nguy hiểm vào các loại vũ khí, với tất cả những hậu quả bi ai cả về vật chất, tinh thần lẫn luân lý. Người ta đang cố tìm cho được bất cứ niềm khát khao đích thực và chân thành nào trước công lý và hòa bình bằng những con đường hợp pháp hầu làm cho nó trở nên mạnh mẽ và đầy công hiệu, và người ta tin tưởng vào bất cứ hành vi chính trực nào của những người thành tâm thiện chí, hầu cho những niềm khát mong có được sự trật tự sẽ mạnh mẽ hơn những thèm muốn trước sự bất ổn và sự đổ vỡ.
8. Tiếc rằng, trong khoảnh khắc đầy khổ đau và với những điều đắng cay ấy, chúng ta phải nhận ra rằng, người ta đã thường xuyên lãng quên sự thận trọng phải phép và hay nại đến những hệ thống và những quan điểm mà chúng công khai đi ngược lại với những quan điểm và những thói quen của cộng đồng dân sự. Ở đây, chúng ta không được phép bỏ qua việc lên tiếng cách dõng dạc để bảo vệ phẩm giá con người và nền văn minh Ki-tô giáo, hầu chống lại bất kỳ cuộc chiến tranh dù to hay nhỏ nào, chống lại chủ nghĩa khủng bố, chống lại việc bắt giữ những con tin, cũng như chống lại những biện pháp đàn áp các công dân không có khả năng tự vệ. Bất kỳ những ai luôn gây chia rẽ, khiến cho các đảng phái càng ngày càng trở nên cay cú với nhau, những kẻ ngăn cản bước chân của những người thành tâm thiện chí, mà họ đang cố tìm ra những con đường rộng mở để đến với nhau, hay ít nhất, những kẻ càng ngày càng khiến cho những cuộc đàm phán trở nên khó khăn hơn, mà đúng ra, những cuộc đàm phán ấy phải dẫn tới một sự thỏa thuận hợp lý khi chúng được thực hiện cách cởi mở và ngay thẳng, đều là những tên tội phạm.
9. Những mối lo lắng này của Tôi, như anh em, hỡi quý chư huynh đáng kính, đã biết, không bị chi phối bởi những quyền lợi riêng, nhưng được xác định duy nhất bởi niềm mong muốn làm sao cho những người đau khổ được bảo vệ, cũng như khát mong sao cho mọi dân nước đều có được một sự thịnh vượng đích thực. Tôi hy vọng rằng, niềm ý thức về trách nhiệm riêng của từng người trước dung nhan Thiên Chúa cũng như trước lịch sử sẽ có đủ hiệu lực trong việc tạo điều kiện cho các chính phủ để họ tiếp tục duy trì hòa bình với những cố gắng phi thường của mình, và cho tới bao lâu còn có thể, loại bỏ cho được những rào cản thực thụ hay chỉ mang tính tâm lý, nhưng chúng đang ngăn cản người ta đạt tới được những thỏa thuận chắc chắn và chân thành.
10. Nhưng hòa bình, thưa quý chư huynh khả kính, không chỉ là công việc của con người chúng ta, mà trước tiên, nó còn là ân ban của Thiên Chúa nữa. Hòa bình đến từ Trời cao. Nó sẽ ngự trị giữa nhân loại, nếu chúng ta thực sự xứng đáng thì Thiên Chúa Quyền năng sẽ ban nền hòa bình đó cho chúng ta, vì Ngài là Đấng nắm trong tay cả niềm hạnh phúc lẫn lịch sử và vận mạng của các dân tộc, cũng như nắm trong tay cả con tim nhân loại nữa. Đó là lý do cho thấy tại sao chúng ta phải tiếp tục cầu xin cho mình có được kho tàng cao quý ấy, phải kiên tâm và tỉnh thức giống như Giáo hội vẫn từng thực hiện như vậy ngay từ những ngày đầu. Chúng ta hãy đặc biệt chạy đến nương nhờ nơi lời cầu bầu cũng như nơi sự bao bọc chở che của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng là Nữ Vương Hòa Bình.
11. Thưa quý chư huynh khả kính, trong tháng Kính Đức Maria này, chúng ta hãy dâng cho Mẹ những ý nguyện của mình, để với sự tận hiến và niềm tín thác, chúng ta sẽ được Mẹ cầu thay nguyện giúp cho. Nếu chúng ta đem đặt những lỗi lầm to lớn của nhân loại lên chiếc cân công thẳng của Thiên Chúa, và nghiêm túc nghĩ tới những hình phạt thích đáng mà nhân loại đáng chịu, thì chúng ta sẽ biết rằng, Thiên Chúa chính là „Cha đầy Lòng Xót Thương, và là Thiên Chúa mọi niềm an ủi“ (2Cr 1,3), cũng như sẽ biết rằng, Đức Maria chính là kho chứa Lòng Xót Thương của Ngài, bởi Mẹ là Nữ Tỳ của Ngài và là Nữ Thừa Tác Viên đầy quảng đại.
12. Chỉ Mẹ là người thấu hiểu mọi nỗi lo lắng ưu phiền cũng như mọi nỗi sợ hãi trên dương thế này, Mẹ biết những nỗi cay cực của công việc hằng ngày, biết những gánh nặng và cảnh chật vật vì sự nghèo túng, cùng những nỗi khổ sầu trên đồi Calvariô. Mẹ cũng sẵn sàng ra tay cứu giúp mỗi khi Giáo hội và thế giới chìm trong đêm tối. Với lòng quảng đại bao dung, Mẹ luôn lắng nghe những tiếng kêu cầu phát xuất từ niềm khát vọng hòa bình mà chúng được dâng lên Mẹ từ khắp bốn phương. Xin Mẹ hãy soi sáng cho những ai đang lèo lái số phận các dân tộc. Xin Mẹ hãy cầu cùng Thiên Chúa, để Ngài ra lệnh cho những trận giông cuồng bão tố, kể cả những cơn cuồng phong trong tâm hồn con người, phải im bặt, cũng như để Ngài “ban tặng cho chúng con nền hòa bình trong mọi ngày đời sống chúng con”; đó là nền hòa bình đích thực được thiết lập trên một nền móng vững chắc và bền lâu của Công Lý và Tình Thương; của một nền Công Lý mà cả người yếu cũng như kẻ mạnh đều được nếm hưởng; của một Tình Thương biết gạt ra xa những lầm lỗi của sự ích kỷ mà nó khiến cho việc bảo vệ quyền lợi của mỗi người bị sa vào quên lãng, hay phủ nhận quyền lợi của kẻ khác.
13. Quý chư huynh khả kính, xin quý vị hãy truyền đạt lại cho các tín hữu của mình những niềm mong muốn cũng như những lời khuyên nhủ của Tôi qua những cách thức mà quý chư huynh cho là tốt nhất. Hãy làm sao để những lời Kinh đặc biệt sẽ được thực hiện trong từng Giáo xứ của Giáo phận chư Huynh trong tháng 05 sắp tới. Nhưng điều vô cùng đặc biệt là, quý chư huynh hãy lo sao cho ngày Lễ Đức Maria Trinh Nữ Vương được trở thành một buổi cầu nguyện chính thức và long trọng cho những ý nguyện đã được nhắc đến trên kia.
14. Chư Huynh nên biết rằng, Tôi đánh giá rất cao những lời cầu nguyện của những em bé thơ ngây và trong trắng, cũng như của những con người khổ đau, vì đó chính là những giọng nói đầu tiên có khả năng thôi thúc Trời cao cũng như có khả năng ngăn lại sự công thẳng của Thiên Chúa. Vì đây là dịp thuận tiện, nên xin chư huynh chớ bỏ qua việc khuyến khích các tín hữu Lần Chuỗi Mân Côi với tất cả niềm yêu mến; hãy thôi thúc các tín hữu cầu nguyện theo cách mà Thánh Mẫu Thiên Chúa rất yêu thích và được các Đức Thánh Cha khuyên dậy. Lời Kinh ấy sẽ giúp các tín hữu có thể thực thi mệnh lệnh sau đây của vị Thầy Thần Tính cách dễ dàng và công hiệu hơn: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7).
15.Theo nghĩa đó và trong niềm hy vọng rằng, những lời mời gọi của Tôi đây sẽ được mọi người đón nhận với tất cả sự cởi mở và sẵn sàng. Từ tận đáy lòng, Tôi xin ban Phép Lành Tòa Thánh cho quý vị, hỡi các bậc chư huynh khả kính, cũng như cho tất cả các tín hữu của chư huynh.
Ban hành tại Rô-ma, ngày 30 tháng 04 năm 1965
ĐTC Phao-lô VI
Lm. Đa-minh Trần Tiến Thiệu, O.Cist – chuyển ng
2020
Đức Giám mục Souchu: “Tôi khuyến khích các linh mục dâng lễ trong các gia đình”
Đức Giám mục Nicolas Souchu, giáo phận Aire và Dax gởi thư cho các linh mục giáo phận của ngài, ngài khuyến khích các linh mục bắt đầu lại các sinh hoạt mục vụ bị ngưng vì cách ly. Vì thánh lễ công vẫn còn bị cấm cho đến cuối tháng, ngài mời gọi các linh mục đến các gia đình làm lễ nhưng tôn trọng giới hạn quy định tụ họp mười người như luật pháp cho phép.
Vì sao cha khuyên các linh mục trong giáo phận của cha đến nhà giáo dân dâng lễ?
Cuộc sống của Giáo hội phải tiếp tục đường đi của mình. Chúng tôi không có quyền cử hành thánh lễ đại chúng ở nhà thờ. Nhưng luật pháp cho phép mọi người gặp nhau ít hơn mười người. Như thế các nhóm mục vụ, các cuộc họp giáo xứ có thể tiếp tục sinh hoạt, lớp giáo lý và sinh hoạt tuyên úy cũng vậy với điều kiện là được sự đồng ý của cha mẹ. Mặt khác tôi cũng xin các linh mục có sáng kiến để có các sinh hoạt trong nhà thờ dù chưa có thánh lễ, ngoại trừ các tang lễ có dưới 20 người tham dự. Cũng có thể tổ chức xưng tội thường xuyên và chầu Thánh Thể. Dĩ nhiên tất cả phải tôn trọng quy tắc vệ sinh đã được ấn định.
Lời kêu gọi cử hành thánh lễ trong các gia đình cũng theo sự hợp lý trong tổng thể này. Đó là một cách thể hiện, chúng tôi muốn tiếp tục có các hoạt động giáo hội trong khuôn khổ đang được đề xuất cho chúng tôi.
Bây giờ các linh mục được dâng thánh lễ trong các gia đình được chưa?
Được. Trong một giáo xứ của giáo phận, linh mục giáo xứ nói với giáo dân của mình: “Anh chị em mời tôi đến dâng thánh lễ nhưng cũng xin cho tôi được ăn trưa hay ăn tối”. Đây là một cha xứ mới chưa biết giáo xứ của mình. Vì thế đây là dịp rất tốt để cha làm quen với các gia đình. Ở một giáo xứ khác, một nhóm sinh hoạt trong giáo xứ đã lên chương trình làm việc. Một thành viên của nhóm sẽ có mặt trong thánh lễ tổ chức tại gia đình của khu phố.
Lời kêu gọi này là lời mời dâng thánh lễ trong gia đình. Các linh mục lớn tuổi trên 70 thì không thích đến các gia đình. Họ chờ được phép dâng thánh lễ trong nhà thờ với giáo dân.
Chúng ta trả lời như thế nào với những người thấy sáng kiến này không được thận trọng cho lắm?
Tôi đã nói với cô làm việc trong giáo phận, sẽ dễ áp dụng các giãn cách xã hội trong nhà thờ có mười người hơn là trong một ngôi nhà. Cô trả lời: “Luật pháp là luật pháp.”
Cha có xin phép chính quyền để các linh mục đi đến các gia đình cử hành thánh lễ không?
Điều này được thực hiện trong khuôn khổ riêng tư nên không liên quan đến chính quyền khi chúng ta tôn trọng luật lệ.
Vì sao Bí tích Thánh Thể lại trở nên quan trọng sau nhiều tuần thiếu thốn?
Các Kitô hữu tiên khởi đã nói: “Chúng ta không thể sống mà không có Bí tích Thánh Thể”.
Công đồng Vatican II nhắc lại, Bí tích Thánh Thể là nguồn gốc và là đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Vào cuối thánh lễ, sau khi rước lễ và được nuôi dưỡng, linh mục ban bình an của Chúa Kitô cho giáo dân. Tất cả các khía cạnh của đời sống kitô hữu bắt nguồn từ Bí tích Thánh Thể, chăm lo đến những người nghèo nhất, nhỏ nhất.”
Marta An Nguyễn dịch
2020
Một Giáo hội khiêm nhường cho một nhân loại bị thử thách

Bài cuối cùng trong loạt bài “Cái nhìn về cuộc khủng hoảng” của Linh mục Lombardi trước tương lai đang chờ chúng ta sau đại dịch: chúng ta có là một cộng đồng có khả năng đồng hành trong tình anh em với lòng tốt và lòng bác ái không?
Vào cuối Năm Thánh vĩ đại 2000 mà ngài đã sống và mời chúng ta sống cuộc gặp gỡ tuyệt vời giữa ân sủng Chúa Kitô và lịch sử nhân loại, Thánh Gioan-Phaolô II đã viết cho Giáo hội một bức thư mang tên: “Bắt đầu thiên niên kỷ thứ ba (nuovo millenio inneunte), trong đó ngài nhắc lại lời Chúa Giêsu nói với Thánh Phêrô: “Duc in altum… Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Lc 5 , 4). Ngài mời gọi “chúng ta nhớ với lòng biết ơn quá khứ, sống với đam mê hiện tại, mở lòng tin tưởng vào tương lai”, vì “Chúa Giêsu là hôm qua, hôm nay và sẽ là mãi mãi”. Như chúng ta đã biết, Đức Phanxicô đã tiếp nhận và làm sống lại chủ đề này từ đầu giáo triều của ngài về một “Giáo hội đi ra”, một Giáo hội của Tin Mừng sống trong Thần Khí, được Chúa Kitô Phục sinh ban cho.
Chiều ngày 12 tháng 10 năm 2012, Đức Bênêđictô XVI đã có bài phát biểu ngắn từ cùng khung cửa sổ mà 50 năm trước đó, dưới ánh trăng hiền dịu, Đức Gioan XXIII đã chào đón đám đông đổ về Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày cuối ngày mở Công đồng Vatican II. Đức Bênêđictô XVI hướng nhìn trời, có một suy tư làm đánh động nhiều người, vì nó không khơi dậy lòng nhiệt tình dễ dàng có được, nhưng là cảm hứng – và trong sự tin tưởng – của một lòng khiêm nhường sâu xa, đặc nét vào cuối triều giáo hoàng của ngài, ngài nhắc lại, thế nào mà trong 50 năm qua, Giáo hội đã biết tội của mình, cỏ lùng giữa ruộng lúa mì, giữa giông bão và ngược gió. Nhưng cũng là lửa của Thánh Linh, lửa của Chúa Kitô. Một ngọn lửa không nuốt chửng nhưng khiêm nhường và im lặng, một ngọn lửa nhỏ khơi dậy các đặc sủng của lòng tốt và bác ái chiếu sáng thế giới và làm chứng cho sự hiện diện của nó giữa chúng ta.
Khi Lễ Hiện Xuống sắp đến, tôi nghĩ lại các lời của ba giáo hoàng trong thiên niên kỷ thứ ba của chúng ta. Trên thực tế, trong thiên niên kỷ mới này, chúng ta mới bước vào hai mươi năm nay, nhưng nhìn chung, đây không phải là một kỷ nguyên tiến bộ tươi sáng cho nhân loại. Nó mở đầu với ngày 11 tháng 9 năm 2001 và chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhì, sau đó chúng ta có cuộc khủng hoảng kinh tế lớn và chiến tranh thế giới “từng mảnh” tàn phá các nước Syria và Libya, khủng hoảng môi trường ngày càng xấu và nhiều vấn đề khác, và bây giờ là đại dịch toàn cầu với hậu quả không lường của nó, một kinh nghiệm chưa từng có đánh dấu triều giáo hoàng này. Bên cạnh đó là các thành công và tiến bộ khoa học mới về y tế, giáo dục và truyền thông, vì vậy sẽ không công bằng khi chỉ nói đến các khía cạnh tiêu cực. Nhưng chắc chắn chúng ta không thể nói một chiều và tin chắc nhân loại sẽ đi về hướng tốt nhất. Kinh nghiệm về đại dịch, dù rồi sẽ vượt lên, chắc chắn là một kinh nghiệm chung về sự không chắc chắn, bất an, khó khăn trong việc quản lý con đường ngày càng phức tạp hơn bao giờ hết của xã hội đương đại. Liệu không biết trong tương lai chúng ta có xem đại dịch này là dịp để tăng trưởng trong tinh thần đoàn kết hay đây sẽ là một nguồn căng thẳng quốc tế mới và mất cân bằng xã hội. Hai chiều hướng có thể sẽ lẫn vào nhau: lúa mì và cỏ lùng.
Giáo hội khởi đầu thiên niên kỷ này không mạnh về mặt nhân bản. Đức tin của Giáo hội bị thử thách vì tình trạng thiêng liêng khô héo của thời buổi chúng ta. Uy tín của Giáo hội bị thử thách vì sự sỉ nhục và cái bóng của các vụ bê bối. Lịch sử tiếp tục và Giáo hội tiếp tục, biết rằng sức mạnh duy nhất của Giáo hội là đức tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục sinh và ơn của Thần Khí. Một chiếc bình đất sét mong manh chứa trong đó kho báu của sức mạnh sự sống vượt lên cái chết. Liệu chúng ta sẽ là một Giáo hội khiêm nhường, có thể cùng đi trong tinh thần anh em với một nhân loại bị thử thách, với lòng tốt và lòng bác ái không? Với một đức ái hiện diện khắp nơi, liệu có khơi động các trí thông minh và lực lượng xã hội để tìm kiếm và tìm ra các con đường cho lợi ích chung và một đời sống tốt hơn không? Một Giáo hội “Rửa chân” của thời buổi chúng ta như Đức Phanxicô nói không? Ra biển rộng, trong một đại dương vẫn còn xa lạ với tất cả chúng ta, nhưng không bao giờ xa lạ với tình yêu của Chúa…
Trong Tuần Lễ Hiện Xuống chúng ta xin ơn Chúa Thánh Thần, là người cha của người nghèo, là ánh sáng của tâm hồn, là nguồn an ủi và khuyến khích, là sức mạnh chữa lành lỗi lầm, chữa tình trạng khô cằn, chữa các vết thương, sưởi ấm những gì lạnh lẽo, uốn thẳng những gì sai lệch. Chúng ta dâng lên Chúa Thánh Thần một khoảng không gian rộng mở của chờ đợi, của mong muốn, một không gian cụ thể của tâm trí và tâm hồn, của linh hồn và thể xác con người, để nó được thể hiện trong thớ thịt sâu đậm của tình nhân đạo chúng ta – thớ thịt của các chiến tranh và của các đại dịch – như một năng lực cứu rỗi chống lại sự mong manh và cô đơn, chống tình trạng khô cằn, chống hoang mang, chống các ảo tưởng lừa dối, chống tuyệt vọng, như sức mạnh hy vọng của một đời sống vĩnh cữu. Điều này chỉ có thể làm được với một Giáo hội khiêm nhường, trong tình anh em phục vụ cho một nhân loại bị thử thách. Và đó là điều quan trọng nhất.
Nguyễn Tùng Lâm dịch
