2020
Giáo hội Ukraine được Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ hỗ trợ
Giáo hội Ukraine được Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ hỗ trợ
Hướng đến các cộng đoàn đang gặp khó khăn nghiêm trọng do Covid-19, trong những ngày vừa qua, Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ đã hỗ trợ cho Ukraine vượt qua khó khăn qua ba dự án trị giá 165.400 euro.
Dự án đầu tiên: cung cấp các phương tiện bảo vệ cá nhân khỏi sự lây nhiễm virus cho gần 3 ngàn linh mục của Giáo hội Công giáo nghi lễ đông phương và khoảng một ngàn tu sĩ. Hỗ trợ thứ hai dành cho hơn 700 linh mục và gần 100 chủng sinh của Giáo hội Công giáo. Và trợ giúp thứ ba dành cho 150 nữ tu của 24 cộng đoàn thuộc giáo phận Kamyanets Podilskij. Đây là giáo phận đang gặp khó khăn về tài chính, gây cản trở cho các hoạt động mục vụ trong giáo xứ, các trung tâm đón tiếp trẻ mồ côi và các bệnh viện. Từ khi đại dịch đến đây, một số trong 24 cộng đoàn này không có bất cứ nguồn thu nhập nào.
Đối với Giáo hội Ukraine, các sáng kiến hỗ trợ này rất quan trọng. Mặc dù số ca lây nhiễm chính thức được công bố không quá cao: gần 26 ngàn người bị nhiễm và 762 người chết, nhưng con số thực tế cao hơn nhiều, do quá trình xét nghiệm không chính xác làm cho đánh giá kết quả thấp hơn thực tế. Nói chung, hệ thống y tế Ukraine không đầy đủ, nhiều bệnh nhân khi đến bệnh viện phải mang theo thuốc, gạc và các dụng cụ y tế cơ bản. Trong bối cảnh khó khăn này, các linh mục là những người do tiếp xúc nhiều với các bệnh nhân có nguy cơ lây nhiễm nhiều nhất.
Cha Mikolay Leskiv, linh mục của Giáo hội Công giáo ở thành phố Czervonograd nói với Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ: “Từ khi đại dịch bắt đầu, tất cả các dụng cụ bảo vệ sức khỏe, từ khẩu trang đến bao tay, chất khử trùng đã trở nên đắt gấp 10 lần; tại một số nơi thậm chí còn nhiều hơn”. Cha Leskiv cũng cho biết, cha đã mua khẩu trang cho các tín hữu, những người không thể mua được, nhưng nguồn lực rất hạn chế. Vì thế, những người được hưởng sự hỗ trợ của Tổ chức Bác ái của Đức Thánh Cha hy vọng sẽ nhận được các phương tiện bảo vệ sức khỏe cho đến tháng Tám.
Ngọc Yến
2020
Trung tâm phục hồi Fazenda da Esperança: “Nơi đây, chúng tôi được tái sinh”
Trung tâm phục hồi Fazenda da Esperança: “Nơi đây, chúng tôi được tái sinh”
Cách thủ đô của Argentina 120km, Fazenda da Esperança là một tổ chức đón tiếp, giúp phục hồi những người trẻ nghiện rượu, ma túy. Đời sống tinh thần, làm việc và đời sống cộng đoàn là ba liệu pháp cơ bản được tổ chức áp dụng trong khi giúp những người trẻ này phục hồi.
Một trung tâm năng động cho đời sống Kitô hữu
Đức cha Zurbriggen, Giám mục Deán Funes cho biết: “Ở đây, một khu vực với 90% dân số là người Công giáo nhưng chỉ có 5% thực hành đạo, không có ai lập gia đình mà có cử hành bí tích Hôn phối. Đời sống kinh tế khó khăn và người trẻ là thành phần bị ảnh hưởng trước tiên; họ bỏ làng mạc, ra đi tìm việc làm, đời sống bấp bênh, tệ nạn xã hội”.
Một ngôi làng sạch sẽ, các ngôi nhà được thiết kế gọn gàng
Ở đây, mọi người được sống trong một ngôi làng sạch sẽ, với những căn nhà được sắp xếp hợp lý. Đó là Fazenda da Esperança “Las Canteras”, tên của mỏ đá xưa. 82 thành viên của ngôi làng này sinh sống và sinh hoạt như một cộng đoàn, gia đình của những người trẻ. Họ là những bạn trẻ chiến thắng với ma túy sau một thời gian làm nô lệ cho nó. Ngoài hai nữ tu dòng Phanxicen, sơ Sarah đến từ Argentina và sơ Carmen đến từ Paraguay và Đức cha Aurelio José Kühn dòng Salêdiêng; những người hướng dẫn các bạn trẻ này trước đây cũng đã từng là những người nghiện ma túy
Đời sống tinh thần, lao động và đời sống cộng đoàn
Các nhà giáo dục giải thích, các liệu pháp để giúp các bạn trẻ phục hồi cuộc sống rất đơn giản, dựa trên ba nền tảng: tâm linh, lao động và đời sống cộng đoàn. Ngôi làng đón tiếp các bạn trẻ độc thân và cả các bà mẹ trẻ cùng với con của họ.
Trong ngôi làng này, mọi người đều làm việc như trồng rau, các xưởng thủ công, nuôi gia cầm. Các sản phẩm được bán ra ra bên ngoài hoặc cho người thân của các các bạn trẻ tới thăm các bạn mỗi tháng một lần. Việc điều trị kéo dài 12 tháng và cam kết của gia đình và người đang tham gia phục hồi là nền tảng cho sự phục hồi thành công của người cai nghiện.
“Ứng cử viên trở thành người mới”
Nhà giáo dục người Brazil của tổ chức khẳng định: “Đối với chúng tôi khi một người nghiện bước vào căn nhà của chúng tôi, có nghĩa là họ không còn là người nghiện nữa mà là một ứng cử viên để trở thành người tốt”. Điều ông quả quyết cũng là điều 90% các vị lãnh đạo các trung tâm của Fazenda quyết tâm. Hiện nay, Fazenda hiện diện tại hơn 20 quốc gia ở Mỹ Latinh, châu Âu, châu Phi và châu Á. Đa số các nhà giáo dục là những người đã từng nghiện ma túy.
Đức cha Aurelio José Kühn cho biết ở đây mọi người được sống một bầu không khí yên bình và mọi thứ dường như có vẻ hoàn hảo, nhưng không đơn giản như thế. Không phải làm việc với những người tự nguyện cai nghiện lúc nào cũng dễ dàng. Các nhà giáo dục phải thường xuyên đồng hành với họ, phải lắng nghe và hiểu họ. Vì đa số họ có vấn đề trong cuộc sống và khó giải quyết.
Không ai bị bắt buộc ở lại
Đức cha khẳng định trong Fazenda mọi người sống bầu khí gia đình và tình bạn. Các bạn trẻ đến đây hoàn toàn tự do, không ai bị bắt buộc ở lại. Nhưng Đức cha cũng cho biết những điều rất rõ ràng: không có vấn đề lãng phí thời gian. Khi đến đây, ngay lập tức họ được biết những nguyên tắc cần phải thực hiện. Chính họ là những người muốn được phục hồi, vì thế họ phải cộng tác với các nhà giáo dục trong suốt quá trình cai nghiện.
Ban lãnh đạo biết rõ tình trạng pháp lý của những người đến đây. Thời gian lưu lại đây là 12 tháng và khi họ rời Fazenda, họ tiếp tục được theo dõi bởi một nhóm hỗ trợ của trung tâm. 65% hoàn thành quá trình phục hồi, nghĩa là trọn vẹn 12 tháng. Điều này chỉ cho thấy rất thành công.
Lịch sử bắt đầu ở Brazil vào năm 1983
Lịch sử của các cộng đoàn Fazenda da Esperança bắt đầu vào năm 1983 tại thành phố Guaratinguetá, Brazil, cách Sao Paulo 163 km. Đó là trực giác của cha Hans Stapel dòng Phanxicô và của một bạn trẻ Công giáo Nelson Giovanelli Rosendo dos Santos. Cả hai muốn đưa vào cuộc sống thực hành Lời Chúa “Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người”. (1Cr 9, 22). Một tư tưởng của Thánh Phaolô đã truyền cảm hứng cho đặc sủng hiệp nhất của Phong trào Focolare.
Đặc sủng của Thánh Phanxicô và tinh thần của Phong trào Focolare
Các trung tâm phục hồi chức năng lấy cảm hứng từ đặc sủng của thánh Phanxicô và của tinh thần Phong trào Focolare giúp cho các ứng viên muốn phục hồi có đủ động lực bước vào một năm tự phục hồi hoàn toàn miễn phí. Họ được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, học cách sống trong xã hội và có được tinh thần trách nhiệm. Sau khi kết thúc một năm, các bạn trẻ có thể tiếp tục trải nghiệm trong một nhóm gọi là “Sống niềm hy vọng” được thành lập tại địa phương.
Ngọc Yến
2020
Phân biệt chủng tộc hay là tên gọi khác của lòng ‘tôn thờ bản thân’
Phân biệt chủng tộc hay là tên gọi khác của lòng ‘tôn thờ bản thân’
Nước Mỹ những ngày này đang sục sôi quanh vấn đề phân biệt chủng tộc sau cái chết của một người Mỹ gốc Phi trong tay cảnh sát. Phân biệt chủng tộc chẳng phải là vấn đề riêng của nước Mỹ hay của người da trắng nói chung, mà là của cả thế giới loài người.
- Chuyện không của riêng ai
Nước Mỹ những ngày này đang sục sôi quanh vấn đề phân biệt chủng tộc sau cái chết của một người Mỹ gốc Phi trong tay cảnh sát. Sự giận dữ của công chúng đã dẫn đến các cuộc biểu tình, và gây bạo loạn ở một số nơi; hơn nữa, nó đã bắt đầu trở thành một phong trào lan rộng ra nhiều vùng trên thế giới. Có lẽ đây là một trong những hiện tượng gây chia rẽ lớn nhất đối với nước Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Đó đây người ta đã phân tích và tranh cãi về nguồn gốc của nạn kỳ thị chủng tộc, về tính chính đáng của việc biểu tình, và về các chính sách gây thêm căng thẳng. Nhưng dù tranh cãi theo hướng nào chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nó là hậu quả từ một lịch sử tội lỗi của người da trắng đối với người da đen. Tổ tiên của những cư dân gốc Phi này đã từng bị bắt làm nô lệ, bị xem như món hàng mua qua bán lại; và vì thế, họ bị chia cách với gia đình, bị tách khỏi cấu trúc cộng đồng dân tộc, bị cắt đứt khỏi gốc rễ quê hương và mất liên hệ với cội nguồn văn hoá. Nói ngắn gọn, họ bị vong thân. Vì thế, nếu những cư dân gốc Phi có lối sống ‘lạ lẫm’ ở đất Tây Phương thì cũng chẳng có gì khó hiểu!
Nhưng phân biệt chủng tộc (và phân biệt sắc tộc) chẳng phải là vấn đề riêng của nước Mỹ hay của người da trắng nói chung, mà là của cả thế giới loài người. Ngay trong lòng Châu Phi cũng không thiếu những dân tộc tỏ ra ‘kẻ cả’, xem thường những dân tộc khác, điển hình như Nigeria. Tương tự, ở Châu Á, não trạng ‘Đại Hán’ của người Trung Quốc dường như chưa bao giờ mai một. Nội cái tên nước cũng phần nào nói lên tính phân biệt chủng tộc của họ rồi. Nhưng đó chỉ là những ví dụ điển hình, còn xét cho cùng thì tất cả mọi dân tộc đều ít nhiều mang não trạng phân biệt và khinh miệt như thế, theo quy luật: nước mạnh xem thường nước yếu, dân tộc phát triển khinh rẻ dân tộc kém phát triển hơn.
Người Việt cũng không ngoại lệ; thậm chí, não trạng phân biệt chủng tộc của người Việt có thể được xếp vào loại mạnh. Đơn cử như nhiều người Việt hải ngoại gọi một số sắc dân khác là ‘bọn Mễ’, ‘bọn Thổ’, ‘bọn mọi đen’, vv. Còn ở trong nước, không ít người Kinh vẫn gọi những đồng bào dân tộc anh em là ‘dân thượng’, hay ‘dân tộc’, với hàm ý khinh miệt.
Và nếu xét theo quy mô nhỏ hơn, nhưng lại mang tính chung hơn, chúng ta có thể gọi vấn đề trên là não trạng ‘phân biệt đối xử’: nhóm phát triển hơn coi khinh nhóm kém phát triển; người mạnh hơn, khôn hơn xem thường người yếu thế hơn, kém trí hơn.
- Vấn đề nguyên nhân
Đâu là nguyên nhân của não trạng ‘phân biệt chủng tộc’? Có một hiện tượng đáng chú ý là khi một nhóm người bị khinh miệt, chính họ lại có nguy cơ gia tăng lòng phân biệt chủng tộc đối với các nhóm thấp kém hơn, như một cách tự nâng mình lên để giải toả sự ẩn ức. Nhưng nhìn chung, có thể nói nguyên nhân chính yếu khiến người ta dễ khinh thường người khác hay dân tộc khác là vì họ cho rằng mình thông mình hơn, tài giỏi hơn, dân tộc mình tiến bộ hơn, văn minh hơn.
Nhưng liệu thật sự có phải có những dân tộc thông minh thượng đẳng bên cạnh những dân tộc thấp kém trí tuệ? Có lẽ những bước phát triển của công nghệ đã khiến người ta loá mắt, và sự giải thích sai lầm trong quá khứ của thuyết tiến hoá và ngành di truyền học đã gây ra một tâm thức chung rằng những dân tộc nào còn sơ khai về khoa học và công nghệ chính là những dân tộc có gen di truyền kém cỏi hơn về trí tuệ. Nếu chúng ta nhìn lại lịch sử nhân loại ở tầm mức đủ xa và đủ rộng, đến cả trước thời gian xuất hiện chữ viết (cách nay tầm 5000 năm), chắc hẳn chúng ta sẽ có quan niệm khác. Như nhà nghiên cứu nổi tiếng Jared Diamond đã chỉ ra, không hề có bất cứ một bằng chứng nào cho thấy có sự khác biệt về khả năng trí tuệ ở tầm mức sinh học giữa các dân tộc trên thế giới. Nói cách khác, về cơ bản chẳng có dân tộc nào thông minh hơn dân tộc nào. Sự khác biệt về tiến bộ khoa học kỹ thuật không đến từ yếu tố di truyền chủng tộc, mà từ các điều kiện tự nhiên và diễn trình lịch sử, đúng như nhận xét xác đáng của Jared Diamond trong Súng, vi trùng và thép: “nguyên nhân nằm ở những ngẫu nhiên về địa lý và địa sinh học, cụ thể là sự khác biệt giữa hai lục địa [châu Âu và châu Phi] về diện tích, trục chính, chủng loại cây dại và thú hoang ở đó… Diễn trình lịch sử của mỗi dân tộc một khác, đấy là do những khác biệt giữa môi trường sống của các dân tộc, chứ không phải do những khác biệt sinh học giữa bản thân các dân tộc đó.”
Còn thế nào là văn minh, thế nào là tiến bộ? Tiêu chuẩn văn minh – tiến bộ lại do chính những người, những nước có sức mạnh về quân sự và khoa học kỹ thuật phát triển tự đặt ra. Vì vậy, thước đo căn bản của loại văn minh này chính là những bước tiến về khoa học công nghệ của một nhóm người, vốn kéo theo cấu trúc xã hội và hệ thống luật lệ để vận hành, cùng những gì tích hợp theo nó mà chúng ta có thể gọi chung là ‘văn hoá’. Chắc hẳn rằng cái hệ thống được xây đắp qua bao nhiêu thế kỷ đó có nhiều giá trị xứng đáng được gọi là văn minh. Nhưng liệu rằng những giá trị khác ngoài nó không được gọi là văn minh ư? Nói cho cùng, thước đo cho trí tuệ văn minh và khôn ngoan đích thật của con người phải thể hiện ở ‘chất lượng cuộc sống’, qua những yếu tố căn bản: hiểu biết và hài hoà với thiên nhiên, tương quan tốt lành với tha nhân, phát triển tính tự do và lòng thiện tâm (hay đời sống thiêng liêng nói chung). Xét trên nền tảng này, liệu chúng ta có gì hơn khi so sánh với những sắc dân sơ khai về mặt công nghệ, với những nhóm người có đời sống còn mang tính ‘săn bắt hái lượm’ và có cấu trúc xã hội kiểu bộ lạc? Liệu ta còn dám lớn tiếng tự khen mình là ‘văn minh’, khi nhìn lại sự lệ thuộc của mình vào cấu trúc xã hội hiện đại, vào những lối sống bị kiểm soát bởi công nghệ, những tội ác giết hại giữa con người với nhau, và một môi trường bị huỷ hoại?
- Nhìn về hướng giải quyết
Trước cuộc khủng hoảng này, nhiều cá nhân và tổ chức khắp nơi trên thế giới đang kêu gọi tinh thần hoà giải. Nhưng phải bắt đầu từ đâu và phải đi tới đâu? Hiện tại, người ta đang bắt đầu bằng biểu tình. Âu đó cũng là một cách tốt, vì nước Mỹ vốn được hình thành và phát triển từ các cuộc biểu tình và đấu tranh, dù nó thường có nguy cơ kèm theo một số hình thức cực đoan nhất định.
Giáo dục và thăng tiến công bình xã hội là một giải pháp tốt lành khác. Việc gia tăng sự hiểu biết, nhất là về lịch sử nhân loại và các loại hình thái xã hội, sẽ phần nào thu hẹp những định kiến hẹp hòi và sai lầm. Còn khi các cơ cấu bất công được giảm thiểu, con người sẽ có điều kiện để phát triển một cách đồng đều và cân bằng hơn.
Tuy nhiên, chắc chắn các giải pháp trên không bao giờ giải quyết rốt ráo được vấn đề. Có thể chúng giúp giảm thiểu phần nào não trạng phân biệt đối xử, nhưng thường thì chúng chỉ giảm thiểu ở biểu hiện bề mặt, hoặc biến thành một số hình thức nguỵ tạo tinh vi nào đó, thậm chí có thể mang tấm mặt nạ là ‘hành xử nhân văn’, nhưng bản chất không thay đổi nhiều. Lý do là vì căn bản của não trạng phân biệt chủng tộc không nằm ở cấu trúc xã hội, mà là ở thâm tâm con người. Nó là vấn đề của con người, của cái tôi.
Xét một cách sâu hơn nữa, gốc gác của não trạng đó chính là thứ tư duy tự lấy mình làm quy chuẩn cho mọi giá trị. Nói cách khác, đó là kiểu não trạng tự đặt mình thay cho vị trí của Thượng Đế, hay tự tôn thờ bản thân. Quả vậy, nếu thật lòng có đức tin vào Thiên Chúa, chúng ta phải thực sự nghiệm thấy sự bình đẳng của mỗi nhân vị, bởi tất cả đều được tạo dựng và mang hình ảnh của Người; vì thế, ở mức nào đó, có thể nói rằng đối diện với một con người là ta đang đối diện với Thiên Chúa. Lòng tin cũng phải thể hiện ở tâm niệm rằng thước đo của mọi giá trị không phải đến từ phạm vi của bản thân, mà từ phạm vi vượt trên mình. Ngoài ra, nếu không tự quy vào mình, chúng ta sẽ có tâm trí đủ rộng mở để thấy giá trị của những khác biệt, để hiểu rằng chính điều đó làm nên vẻ đẹp và sự phong phú của gia đình nhân loại.
Vì vậy, bên cạnh các giải pháp nói trên, thiết tưởng chúng ta cần chú trọng thêm hai giải pháp sau đây:
Thứ nhất, làm sao giúp nhau ý thức được rằng chúng ta đang là những thành phần của một xã hội mang cấu trúc và lịch sử của tội lỗi, của bất công. Ý thức này không chỉ đến từ những bài học lịch sử, mà còn phải từ các hoạt động dấn thân cho tha nhân, nhất là cho người nghèo và người bị gạt bên lề xã hội. Có như thế thì con mắt và trái tim của mỗi người mới được soi rọi để thấy rằng chẳng có gì đáng tự hào khi những ‘tiến bộ’, những thành công của mình hay của dân tộc mình thực ra là kết quả của một diễn trình lịch sử hà hiếp, cướp bóc và chinh phạt; chẳng có gì đáng kiêu ngạo khi chúng ta là hậu duệ của những kẻ giết người và áp bức tha nhân.
Thứ hai, làm sao giúp nhau thấy được điều ‘linh thiêng’ trong mỗi người. Nghĩa là phải nhấn mạnh đến giá trị tôn giáo nội tại của bản chất con người. Ví dụ, với Ki-tô giáo, giá trị đó là ‘hình ảnh của Thiên Chúa’, hay với Phật giáo là ‘Phật tính’. Vì vậy, thiết tưởng phải cổ võ nhau suy nghĩ, cảm nghiệm và thực hành những khía cạnh tinh thần thâm sâu nơi mỗi người, như tiếng nói lương tâm, lòng yêu mến sự thiên, vv.
Cộng gộp hai điều đó, mỗi người chúng ta sẽ thấy mình được mời gọi để xin lỗi nhau, tha thứ cho nhau, và cho nhau một cơ hội bắt đầu lại. Đó là bước đi hoà giải đích thực, và là cách chúng ta để cho mình được giải thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của thói phân biệt đối xử, vốn là tên gọi khác của thứ não trạng loại trừ Thiên Chúa.
Khắc Bá, SJ
2020
Các Giám mục Colombia tố cáo bạo lực, đe dọa các lãnh đạo xã hội và người dân bản địa
Trong những ngày vừa qua, trước tình hình căng thẳng của đất nước do những vụ tấn công bạo lực vào các lãnh đạo xã hội và người dân bản địa, qua một tài liệu về mục vụ xã hội, Hội đồng Giám mục Colombia đã lên tiếng tố cáo và yêu cầu chấm dứt ngay các hành động phi pháp này.
Gia tăng các vụ giết người
Trong tài liệu, các Giám mục chỉ cho thấy chỉ trong bốn tháng đầu năm 2020, con số vụ giết người liên quan đến nhóm người này đã gia tăng. Thực tế, đã có 8 cựu chiến binh Farc và 3 phụ nữ lãnh đạo xã hội và người bản địa của các vùng Meta và Vichada đã bị giết. Ngoài các vụ giết người, báo cáo còn tố cáo những vụ khủng bố liên tục nhắm đến các nhà lãnh đạo xã hội và các cộng đồng. Ở các đô thị, tác động của tình trạng này có liên quan đến thỏa thuận hòa bình với các nhóm du kích Farc.
Đàn áp trong các cuộc biểu tình
Hình sự hóa phản kháng xã hội là một trong những mối quan tâm chính được báo cáo nhấn mạnh. Có ít nhất năm cuộc biểu tình của công nhân chống lại các công ty dầu mỏ của Meta trong quý đầu của năm nay. Các cuộc biểu tình bùng nổ vì trong các biện pháp cách ly xã hội để ngăn chặn Covid-19, các công ty tiếp tục thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu và các hoạt động khác, khiến dân chúng bị lây nhiễm.
Tài liệu tố cáo, trong các cuộc biểu tình này, có một hành vi thái quá của lực lượng an ninh nhà nước. Các nhân viên an ninh này bắt giữ và kỳ thị các nhà lãnh đạo cộng đồng, buộc tội họ làm hư hại tài sản tư nhân, chặn đường công cộng và kích động phá hoại và khủng bố.
Người dân bản địa bị tổn thương
Tiếp theo, báo cáo cho thấy hoàn cảnh dễ bị tổn thương của người dân bản địa Amazon gia tăng, có nguy cơ bị diệt chủng, do thiếu các dịch vụ y tế hiệu quả, lãnh thổ không được công nhận, các vụ tấn công trực tiếp chống lại các quyền tập thể đối với lãnh thổ, tự chủ như các dân tộc và an ninh.
Hòa giải bao hàm công bằng xã hội
Tài liệu nhấn mạnh: “Chúng tôi ý thức rằng hòa giải không chỉ giới hạn trong thực hành tha thứ và tìm kiếm hòa bình, nhưng trái lại, hòa giải bao hàm sự tiến triển ổn định cho tất cả những ai tham gia vào cuộc sống của các lãnh thổ này và trong công bằng xã hội”. HĐGM kêu gọi chính quyền và xã hội dân sự “từ bỏ thái độ dửng dưng trước các mối đe dọa các nhà lãnh đạo xã hội” và chú ý đến nhu cầu của người dân bản địa đang trong tình trạng bị bỏ rơi và dễ bị tổn thương, không chỉ đối với mối đe dọa của đại dịch Covid-19 mà còn vì “các áp lực, bạo lực và đe dọa đến từ các lĩnh vực khác”.
Ngọc Yến
