Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tin tức

Home / Tin tức
05Tháng Chín
2021

Từ bỏ Thiên Chúa, sự suy giảm của tôn giáo khắp hoàn cầu

05/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Từ bỏ Thiên Chúa, sự suy giảm của tôn giáo khắp hoàn cầu

 

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, tôn giáo dường như đang trên đà phát triển. Sự sụp đổ của cả chủ nghĩa cộng sản và Liên bang Xô viết đã để lại một khoảng trống ý thức hệ đang được lấp đầy bởi Kitô giáo Chính thống ở Nga và các quốc gia hậu Xô Viết khác. Cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ của Tổng thống George W. Bush, một Kitô hữu theo đạo Tin lành, người không giấu giếm lòng mộ đạo của mình, gợi ý rằng Kitô giáo Tin lành đang xuất hiện như một lực lượng chính trị trong nước. Và vụ tấn công 11/9 đã hướng sự chú ý của quốc tế vào sức mạnh của Hồi giáo chính trị trong thế giới Hồi giáo.

Cách đây chục năm, tôi và đồng nghiệp Pippa Norris đã phân tích các dữ kiện về xu hướng tôn giáo ở 49 quốc gia, bao gồm một số vùng lãnh thổ nhỏ như Bắc Ái Nhĩ Lan, nhờ đó, bằng chứng thăm dò từ năm 1981 đến năm 2007 đã sẵn có (những quốc gia này chứa 60% dân số thế giới). Chúng tôi không tìm thấy sự hồi sinh phổ biến của tôn giáo, bất chấp những tuyên bố về điều đó – hầu hết các quốc gia có thu nhập cao trở nên ít tôn giáo hơn – nhưng chúng tôi nhận thấy ở 33 trong số 49 quốc gia mà chúng tôi nghiên cứu, mọi người trở nên sùng đạo hơn trong những năm đó. Điều này đúng ở hầu hết các nước cộng sản trước đây, ở hầu hết các nước đang phát triển, và thậm chí ở một số nước có thu nhập cao. Các phát hiện của chúng tôi đã làm rõ rằng kỹ nghệ hóa và việc truyền bá kiến thức khoa học không làm cho tôn giáo biến mất, như một số học giả đã từng giả định.

Nhưng kể từ năm 2007, mọi thứ đã thay đổi với một tốc độ đáng ngạc nhiên. Từ khoảng năm 2007 đến năm 2019, phần lớn các quốc gia chúng tôi đã nghiên cứu — 43 trong số 49 — trở nên ít tôn giáo hơn. Sự suy giảm niềm tin không chỉ giới hạn ở các quốc gia có thu nhập cao nhưng xuất hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Càng ngày nhiều người càng không còn thấy tôn giáo là nguồn hỗ trợ cần thiết và có ý nghĩa trong cuộc sống của họ. Ngay cả Hoa Kỳ – từ lâu đã được coi là bằng chứng cho thấy một xã hội tiên tiến về kinh tế vẫn có thể có tính tôn giáo mạnh mẽ – hiện đã cùng các nước giàu có khác rời bỏ tôn giáo. Một số lực lượng đang thúc đẩy xu hướng này, nhưng lực lượng mạnh mẽ nhất là sự suy yếu của một tập hợp các niềm tin liên kết chặt chẽ với yêu cầu duy trì sinh suất cao. Các xã hội hiện đại đã trở nên ít tôn giáo hơn một phần vì họ không còn cần phải duy trì các loại chuẩn mực về phái tính và giới tính mà các tôn giáo lớn trên thế giới đã khắc ghi trong nhiều thế kỷ.

Mặc dù một số người bảo thủ tôn giáo cảnh cáo rằng việc rút lui khỏi đức tin sẽ dẫn đến sự sụp đổ của tính gắn kết xã hội và đạo đức công cộng, nhưng bằng chứng không ủng hộ lập trường này. Xem ra có vẻ bất ngờ, nhưng các quốc gia ít tôn giáo thực sự có xu hướng ít thối nát hơn và có tỷ lệ giết người thấp hơn các quốc gia nhiều tôn giáo hơn. Không cần phải nói, bản thân tôn giáo không khuyến khích thối nát và tội phạm. Hiện tượng này phản ảnh sự kiện này là khi các xã hội phát triển, sự sống còn trở nên an toàn hơn: nạn đói, trước đây vốn tràn lan, trở nên không phổ biến; tuổi thọ tăng lên; giết người và các hình thức bạo lực khác giảm dần. Và khi mức độ an ninh này tăng lên, mọi người có xu hướng trở nên ít tôn giáo hơn.

SỰ THĂNG TRẦM CỦA ĐỨC TIN

Nghiên cứu trước đó của chúng tôi, được công bố năm 2011, đã so sánh mức độ niềm tin tôn giáo được đo lường từ đầu năm 1981 với những phát hiện từ các cuộc thăm dò mới nhất có sẵn lúc đó, từ khoảng năm 2007, bao gồm khoảng một phần tư thế kỷ. Trong mỗi cuộc khảo sát, những người trả lời được yêu cầu cho biết Thiên Chúa quan trọng như thế nào trong cuộc sống của họ bằng cách chọn một giá trị trên thang điểm từ 1 – “Không quan trọng chút nào” – đến 10 – “Rất quan trọng”.

Việc khảo sát mức độ tôn giáo của một quốc gia thay đổi như thế nào theo thời gian đã dẫn đến một số phát hiện nổi bật. Đa số các quốc gia được thăm dò đều cho thấy một sự gia tăng niềm tin vào tầm quan trọng của Thiên Chúa. Mức tăng lớn nhất là ở các nước cộng sản trước đây. Thí dụ, từ năm 1981 đến năm 2007, điểm trung bình của công chúng Bulgaria đã tăng từ 3.6 lên 5.7. Ở Nga, nó đã tăng từ 4.0 lên 6.0. Một phần, sự gia tăng lòng đạo này là phản ứng đối với sự suy giảm nghiêm trọng của an ninh kinh tế, thể lý và tâm lý cảm thấy sau khi Liên bang Xô viết tan rã; tôn giáo đã lấp đầy khoảng trống ý thức hệ do sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản để lại. Các niềm tin tôn giáo cũng tăng lên ở nhiều nước đang phát triển bên ngoài Liên Xô cũ, bao gồm Brazil, Trung Quốc, Mexico và Nam Phi. Mặt khác, tôn giáo suy giảm ở hầu hết các quốc gia có thu nhập cao.

Kể từ năm 2007, đã có một xu hướng xa rời tôn giáo rõ rệt. Ở hầu hết mọi quốc gia có thu nhập cao, tôn giáo tiếp tục suy giảm. Đồng thời, nhiều quốc gia nghèo, cùng với hầu hết các quốc gia cộng sản trước đây, cũng trở nên ít tôn giáo hơn. Từ năm 2007 đến 2019, chỉ có năm quốc gia trở nên tôn giáo hơn, trong khi phần lớn các quốc gia được nghiên cứu đi theo hướng ngược lại.

Ấn Độ là ngoại lệ quan trọng nhất đối với khuôn mẫu suy giảm tín ngưỡng chung. Thời gian của cuộc nghiên cứu gần trùng hợp với sự trở lại nắm quyền của Đảng Bharatiya Janata theo chủ nghĩa dân tộc Hindu, đảng mà khẩu hiệu chính trị là tìm cách kết hợp bản sắc dân tộc với bản sắc tôn giáo. Chính phủ của Đảng Bharatiya Janata đã ủng hộ các chính sách phân biệt đối xử chống lại những người theo các tôn giáo khác, đặc biệt là dân tộc thiểu số Hồi giáo lớn của Ấn Độ, bằng cách phân cực các cộng đồng và thúc đẩy các tình cảm tôn giáo.

Sự chuyển dịch mạnh mẽ nhất xa rời tôn giáo đã diễn ra trong công chúng Mỹ

Một sự chuyển dịch mạnh mẽ xa rời tôn giáo đã diễn ra trong công chúng Mỹ. Từ năm 1981 đến năm 2007, Hoa Kỳ được xếp hạng là một trong những quốc gia có nhiều tinh thần tôn giáo hơn trên thế giới, với mức độ tín ngưỡng thay đổi rất ít. Kể từ đó, Hoa Kỳ đã cho thấy một trong những chuyển dịch lớn nhất xa rời tôn giáo của bất cứ quốc gia nào mà chúng tôi có dữ kiện. Gần cuối giai đoạn đầu được nghiên cứu, xếp hạng trung bình của người Mỹ về tầm quan trọng của Thiên Chúa trong cuộc sống của họ là 8.2 trên thang điểm mười. Trong cuộc thăm dò gần đây nhất về Hoa Kỳ, từ năm 2017, con số này đã giảm xuống còn 7.0. Trong nhiều năm, Hoa Kỳ là trường hợp chủ chốt chứng minh rằng việc hiện đại hóa kinh tế không cần thiết phải tạo ra việc thế tục hóa. Theo thước đo này, Hoa Kỳ hiện được xếp hạng là quốc gia ít tôn giáo thứ 32 mà chúng tôi có dữ kiện.

Các nhà tư tưởng có ảnh hưởng từ Karl Marx, Max Weber đến Émile Durkheim đã tiên đoán rằng sự truyền bá kiến thức khoa học sẽ xua tan tôn giáo trên toàn thế giới, nhưng điều đó đã không xảy ra. Đối với hầu hết mọi người, đức tin tôn giáo có tính xúc cảm hơn là nhận thức. Và trong phần lớn lịch sử loài người, sự sống còn vẫn luôn là điều không chắc chắn. Tôn giáo cung cấp sự bảo đảm này là thế giới nằm trong tay của một quyền lực (hoặc những quyền lực) cao hơn và không thể sai lầm, Đấng từng hứa rằng, nếu người ta tuân theo các quy tắc, mọi sự cuối cùng sẽ diễn ra tốt đẹp nhất. Trong một thế giới mà mọi người thường sống với cảnh gần chết đói, tôn giáo đã giúp họ đối phó với sự bất ổn và căng thẳng nghiêm trọng. Nhưng khi sự phát triển kinh tế và kỹ thuật diễn ra, con người ngày càng có thể thoát khỏi nạn đói, chống chọi với bệnh tật và đàn áp bạo lực. Họ trở nên ít phụ thuộc hơn vào tôn giáo – và ít sẵn sàng chấp nhận những ràng buộc của tôn giáo, bao gồm cả việc giữ phụ nữ ở trong bếp và những người đồng tính trong nơi kín đáo – khi sự bất an của đời sống giảm đi và tuổi thọ tăng lên.

Việc thế tục hóa không xảy ra ở mọi nơi cùng một lúc; nó xảy ra khi các quốc gia đã đạt được mức sống an ninh cao, và thậm chí sau đó nó thường di chuyển với tốc độ hết sức chậm, khi thế hệ này thay thế thế hệ khác. Nó thậm chí có thể tự đảo ngược, với các xã hội trở nên tôn giáo hơn nếu họ trải qua thời gian suy giảm an ninh kéo dài. Quá trình thế tục hóa đã dần diễn ra kể từ thế kỷ XIX, bắt đầu từ những xã hội Tây Âu và Bắc Mỹ vốn được an toàn nhất về kinh tế và thể lý, sau đó ngày càng lan rộng ra nhiều nơi trên thế giới.

Mặc dù việc thế tục hóa thường xảy ra cùng tốc độ với việc thay thế dân số liên thế hệ, nhưng nó có thể đạt đến điểm có những thay đổi trọng yếu khi ý kiến đương thịnh thay đổi và bị ảnh hưởng bởi các lực lượng của chủ nghĩa thủ cựu (conformism) và ý thích xã hội, người ta bắt đầu ủng hộ quan điểm mà họ từng phản đối — tạo ra sự thay đổi văn hóa đặc biệt nhanh chóng. Các nhóm trẻ hơn và có trình độ học vấn tốt hơn ở các quốc gia có thu nhập cao gần đây đã đạt đến mức này.

ĐÁNH MẤT TÔN GIÁO

Một số nhân tố khác ngoài trình độ phát triển kinh tế và kỹ thuật đang gia tăng giúp giải thích sự suy sụp của tôn giáo. Tại Hoa Kỳ, chính trị chiếm một phần trong sự suy giảm này. Kể từ những năm 1990, Đảng Cộng hòa đã tìm cách giành được sự ủng hộ bằng cách áp dụng các quan điểm bảo thủ của Kitô giáo về hôn nhân đồng tính, phá thai và các vấn đề văn hóa khác. Nhưng lời kêu gọi chính trị này đối với các cử tri tôn giáo đã có một hệ quả tất yếu là đẩy các cử tri khác, nhất là những người trẻ và cấp tiến về văn hóa, rời xa tôn giáo. Trước đây, người ta thường cho rằng niềm tin tôn giáo định hình quan điểm chính trị, chứ không phải ngược lại. Nhưng bằng chứng gần đây cho thấy mối tương quan nhân quả có thể diễn ra theo hướng khác: các nghiên cứu hội thào đã phát hiện ra điều này là nhiều người thay đổi quan điểm chính trị của họ trước rồi sau đó trở nên ít tôn giáo hơn.

Việc ủng hộ mà không cần phê phán Tổng thống Donald Trump – một nhà lãnh đạo không thể được mô tả như một hình mẫu của nhân đức Kitô giáo – của nhiều người Tin Lành nổi tiếng đã khiến những người người Tin Lành khác lo sợ rằng những người trẻ tuổi sẽ bỏ nhà thờ của họ hàng loạt, tăng tốc một xu hướng đang diễn ra. Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo Rôma đã mất đi tín đồ vì những cuộc khủng hoảng của chính họ. Đầu năm nay, Trung tâm Nghiên cứu Pew phát hiện ra rằng 92% người trưởng thành ở Mỹ biết rõ các báo cáo gần đây về lạm dụng tình dục của các linh mục Công Giáo, và khoảng 80% những người được thăm dò cho biết họ tin rằng những vụ lạm dụng này là “những vấn đề liên tục vẫn đang diễn ra”. Thành thử, 27 phần trăm người Công Giáo Hoa Kỳ được thăm dò ý kiến nói rằng họ đã giảm bớt việc tham dự Thánh lễ như một phản ứng đối với những báo cáo này.

Nhưng có lẽ động lực quan trọng nhất đằng sau diễn trình thế tục hóa là một sự chuyển đổi liên quan đến các chuẩn mực điều hòa khả năng sinh sản. Trong nhiều thế kỷ, hầu hết các xã hội giao cho phụ nữ vai trò sinh ra càng nhiều con càng tốt và không khuyến khích ly hôn, phá thai, đồng tính luyến ái, ngừa thai và bất cứ hành vi tình dục nào không liên quan đến sinh sản. Các trước tác tâm linh của các tôn giáo lớn trên thế giới khác nhau rất nhiều, nhưng như tôi và Norris đã chứng minh, hầu như tất cả các tôn giáo trên thế giới đều truyền dạy những chuẩn mực ủng hộ khả năng sinh sản này nơi các tín hữu của họ. Các tôn giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng sinh sản vì nó là cần thiết. Trong thế giới tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao và tuổi thọ thấp vẫn phổ biến cho đến gần đây, trung bình một phụ nữ phải sinh từ năm đến tám đứa con chỉ để thay thế dân số.

Trong thế kỷ 20, ngày càng có nhiều quốc gia đạt được tỷ lệ giảm đáng kể tử vong ở trẻ sơ sinh và kỳ vọng sống cao hơn, khiến những chuẩn mực văn hóa truyền thống trê không còn cần thiết nữa. Diễn trình này không diễn ra trong một sớm một chiều. Các tôn giáo lớn trên thế giới đã trình bày các quy tắc ủng hộ sinh sản như là các quy tắc đạo đức tuyệt đối và kiên quyết chống lại sự thay đổi. Người ta dần dần từ bỏ những niềm tin và vai trò xã hội quen thuộc mà họ đã biết từ thời thơ ấu liên quan đến giới tính và tác phong tình dục. Nhưng khi một xã hội đạt đến mức an ninh kinh tế và vật chất đủ cao, các thế hệ trẻ lớn lên coi sự an toàn đó là điều hiển nhiên, và các tiêu chuẩn xung quanh mức sinh dần mất đi. Các ý tưởng, thực hành và luật lệ liên quan đến bình đẳng phái tính, ly hôn, phá thai và đồng tính luyến ái hiện đang thay đổi nhanh chóng.

Sự thay đổi trên có thể định lượng được. Dữ kiện được thu thập trong cuộc Khảo sát Giá trị Thế giới trong những năm qua cung cấp cái nhìn sơ lược về một biến đổi sâu xa. Cuộc khảo sát sử dụng thang điểm mười dựa trên mức độ chấp nhận ly hôn, phá thai và đồng tính luyến ái của mỗi quốc gia. Điểm chủ yếu ở khoảng giữa thang điểm, tức 5.50: điểm thấp hơn cho thấy phần lớn người dân trong nước có các quan điểm bảo thủ hơn và điểm cao hơn cho thấy phần lớn có quan điểm tự do hơn, tập chú vào sự lựa chọn của cá nhân. Vào khoảng năm 1981, phần lớn ở mọi quốc gia mà chúng tôi có dữ kiện đều ủng hộ các chuẩn mực phò sinh sản. Ngay ở các quốc gia có thu nhập cao, điểm trung bình lên xuống từ mức thấp như 3.44 (Tây Ban Nha), 3.49 (Hoa Kỳ), 3.50 (Nhật Bản), 4.14 (Vương quốc Anh) và 4.63 (Phần Lan) đến mức cao nhất là 5.35 cho Thụy Điển – khi đó là quốc gia tự do nhất nhưng với điểm số vẫn thấp hơn một chút so với điểm chủ yếu của thang điểm. Nhưng một sự thay đổi sâu xa đang diễn tiến. Đến năm 2019, điểm trung bình của Tây Ban Nha đã tăng lên 6.74, Hoa Kỳ là 5.86, Nhật Bản là 6.17, Vương quốc Anh là 6.90, Phần Lan là 7.35 và của Thụy Điển là 8.49. Tất cả các quốc gia này đều ở dưới điểm chủ yếu 5.50 khi được thăm dò lần đầu và tất cả đều ở trên mức này vào năm 2019. Những con số này cho ta một bức tranh được đơn giản hóa về một thực tại phức tạp, nhưng chúng nói lên quy mô của sự gia tốc gần đây của diễn trình thế tục hóa.

Xu hướng này đã và đang lan rộng ra phần còn lại của thế giới, với một ngoại lệ chính. Dân số của 18 quốc gia đa số theo Hồi giáo mà dữ kiện có sẵn trong Khảo sát Giá trị Thế giới vẫn ở dưới mức chủ yếu, vẫn có tôn giáo một cách mạnh mẽ và cam kết duy trì các chuẩn mực truyền thống liên quan đến phái tính và khả năng sinh sản. Mặc dù đang kiểm soát sự phát triển kinh tế, các quốc gia đa số theo Hồi giáo có xu hướng hơi bảo thủ về tôn giáo và văn hóa hơn mức trung bình.

NHỮNG ĐIỀU SẼ KHÔNG TAN BIẾN

Trong nhiều thế kỷ, tôn giáo đã đóng vai trò là động lực của liên kết xã hội, giảm thiểu tội phạm và khuyến khích tuân giữ pháp luật. Mỗi tôn giáo lớn đều khắc sâu một số phiên bản của các điều răn trong Kinh thánh “Ngươi không được trộm cắp” và “Ngươi không được giết người”. Vì vậy, có thể hiểu được rằng những người bảo thủ tôn giáo lo sợ rằng việc xa rời tôn giáo sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn xã hội, với nạn thối nát và tội phạm gia tăng. Nhưng ở một mức độ đáng ngạc nhiên, mối quan tâm đó không được hỗ trợ bởi các bằng chứng.

Kể từ năm 1993, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã theo dõi tình trạng thối nát và tính trung thực tương đối của các viên chức chính phủ và doanh nhân trên khắp thế giới. Mỗi năm, nhóm quan sát này công bố Chỉ số Tri nhận Thối nát, nhằm xếp hạng thối nát trong khu vực công ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Những dữ kiện này giúp chúng ta có thể kiểm chứng mối liên hệ thực tế giữa lòng đạo và việc tham nhũng: Tham nhũng ở các quốc gia có tôn giáo nhiều hơn liệu có ít phổ biến hơn là ở các quốc gia ít tôn giáo hơn không? Câu trả lời không mơ hồ là “không” – thực thế, các quốc gia có tôn giáo thực sự có xu hướng tham nhũng hơn các quốc gia thế tục. Các quốc gia Bắc Âu có tính thế tục cao có một số mức độ tham nhũng thấp nhất thế giới và các quốc gia tôn giáo cao, chẳng hạn như Bangladesh, Guatemala, Iraq, Tanzania và Zimbabwe, có mức tham nhũng cao nhất.

Rõ ràng, lòng đạo không gây ra tham nhũng. Các quốc gia có mức độ an ninh kinh tế và vật chất thấp có xu hướng có mức độ tôn giáo cao và mức độ tham nhũng cũng cao. Mặc dù tôn giáo có thể đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đạo đức công cộng, nhưng vai trò đó sẽ thu hẹp lại khi các xã hội phát triển về mặt kinh tế. Người dân các nước theo tôn giáo hơi có xu hướng lên án tham nhũng so với người dân của các quốc gia ít tôn giáo hơn, nhưng tác động của tôn giáo đối với hành vi kết thúc ở đó. Tôn giáo có thể làm cho con người trở nên thích trừng phạt hơn, nhưng nó không làm cho họ ít tham nhũng hơn.

Khuôn mẫu trên cũng áp dụng vào các tội phạm khác, chẳng hạn như giết người. Xem ra có vẻ đáng ngạc nhiên, nhưng tỷ lệ giết người ở các quốc gia có tôn giáo nhất cao gấp mười lần hơn so với các quốc gia ít tôn giáo nhất. Một số quốc gia tương đối nghèo có tỷ lệ giết người thấp, nhưng nhìn chung, các quốc gia thịnh vượng, tức có thể cung cấp cho cư dân của họ sự an ninh vật chất và pháp lý, an toàn hơn nhiều so với các quốc gia nghèo. Tất nhiên, không phải là tôn giáo gây ra các vụ giết người, mà cả tội phạm lẫn tôn giáo đều có xu hướng cao trong các xã hội có mức độ an ninh thấp về hiện sinh.

Các quốc gia có tôn giáo thực sự có xu hướng tham nhũng nhiều hơn các quốc gia thế tục.

Bằng chứng cho thấy các xã hội hiện đại sẽ không rơi vào hỗn loạn hư vô chủ nghĩa nếu không có đức tin tôn giáo để ràng buộc họ, nhưng điều đó có thể không phải lúc nào cũng vậy. Trong các xã hội nông nghiệp sơ khai, khi hầu hết mọi người sống trên mức sinh tồn, tôn giáo có thể là cách hữu hiệu nhất để duy trì trật tự và sự liên kết. Nhưng hiện đại hóa đã thay đổi phương trình. Khi tôn giáo truyền thống suy giảm, một bộ chuẩn mực đạo đức mạnh mẽ không kém dường như đang xuất hiện để lấp đầy khoảng trống. Bằng chứng từ Khảo sát Giá trị Thế giới cho thấy rằng ở các quốc gia an ninh và thế tục cao, người dân ngày càng dành ưu tiên cao hơn cho việc tự phát biểu và tự do lựa chọn, với việc ngày càng nhấn mạnh đến quyền con người, lòng khoan dung với người ngoài, bảo vệ môi trường, bình đẳng phái tính và tự do phát biểu.

Các tôn giáo truyền thống có thể gây chia rẽ nguy hiểm trong xã hội hoàn cầu đương thời. Các tôn giáo vốn có xu hướng trình bày các chuẩn mực của họ như là các giá trị tuyệt đối, mặc dù thực tế là chúng chỉ phản ảnh lịch sử và các đặc điểm kinh tế xã hội của xã hội họ. Sự cứng ngắc của bất cứ hệ thống tín ngưỡng tuyệt đối nào cũng có thể dẫn đến sự bất khoan dung cuồng tín, như các cuộc xung đột lịch sử giữa Công Giáo và Thệ phản và giữa các Kitô hữu và người Hồi giáo đã chứng minh.

Khi các xã hội phát triển từ nông nghiệp sang công nghiệp đến dựa trên nhận thức, thì an ninh hiện sinh gia tăng có xu hướng làm giảm tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống người ta và người ta trở nên ít vâng lời các nhà lãnh đạo và định chế tôn giáo truyền thống hơn. Xu hướng đó xem ra sẽ tiếp tục, nhưng tương lai luôn không chắc chắn. Các đại dịch như COVID-19 làm giảm cảm giác an toàn hiện sinh của mọi người. Nếu đại dịch kéo dài nhiều năm hoặc dẫn đến một cuộc Đại suy thoái mới, thì những thay đổi văn hóa trong những thập niên gần đây có thể bắt đầu đảo ngược.

Nhưng sự thay đổi đó vẫn khó xảy ra, bởi vì nó sẽ đi ngược lại xu hướng mạnh mẽ, lâu dài, do kỹ thuật thúc đẩy của sự thịnh vượng ngày càng tăng và tuổi thọ cũng ngày gia tăng đang giúp thúc đẩy mọi người ra khỏi tôn giáo. Nếu xu hướng đó tiếp tục, ảnh hưởng mà các thẩm quyền tôn giáo truyền thống vốn tác động trên đạo đức công cộng sẽ tiếp tục thu hẹp khi văn hóa khoan dung ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Bài viết của Ronald F. Inglehart

Read More
05Tháng Chín
2021

Tổ Tiên, Ông Bà trong tôn giáo nội sinh tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

05/09/2021
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

Tổ Tiên, Ông Bà trong tôn giáo nội sinh tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

 

Không giống với các vùng miền khác trên lãnh thổ Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long là quê hương của nhiều tôn giáo nội sinh, như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo… và rất nhiều những Ông Đạo khác, kiểu đạo Dừa, đạo Nằm, đạo Ngồi, đạo Tưởng v.v…

Các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm. Ngọn cờ giải phóng dân tộc, bảo vệ nòi giống, giữ gìn truyền thống cha ông, hướng về tổ tiên… luôn được tín đồ đặt lên hàng đầu trong quan niệm đạo lý, hành đạo cũng như trong ứng xử hằng ngày.

Các tôn giáo nội sinh Đồng bằng sông Cửu Long đều có mục đích, tôn chỉ, hệ thống giáo lý, nghi thức hành đạo, đối tượng tôn thờ riêng. Nhưng chúng ta dễ dàng nhận thấy hầu hết các tôn giáo này đều hướng về tổ tiên, ông bà. Tổ tiên ông bà là một trong những đối tượng tôn thờ chính của các tôn giáo nội sinh trên vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. Trong quan niệm đạo lý, cách thức hành xử, lễ nghi tôn giáo, tổ tiên ông bà giữ một vị trí hết sức quan trọng, thậm chí có những tôn giáo xem tổ tiên ông bà là đối tượng trung tâm của sự tôn thờ. Từ đạo lý truyền thống phát triển thành giáo thuyết tôn giáo mà tổ tiên, ông bà trở thành đối tượng tín ngưỡng chính là đặc trưng cơ bản của tôn giáo nội sinh Đồng bằng sông Cửu Long.

Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (được hiểu là núi báu [núi Cấm-Thất Sơn] có hương lạ) ra đời từ năm 1849. Đây là tôn giáo địa phương đầu tiên của Nam Bộ. Sự ra đời của nó ảnh hưởng trên nhiều mặt đối với đời sống nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long lúc ấy cũng như quan niệm đạo lý của các tôn giáo địa phương ra đời sau này…

Người sáng lập và truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là Đoàn Minh Huyên (1807-1856). Năm Kỷ Dậu (1849), Đoàn Minh Huyên về làng Kiến Thạnh, giữa lúc dịch thời khí đang hoành hành, số người mắc bệnh chết rất nhiều… Ông đã chữa bệnh cho nông dân bằng pháp thuật và bùa chú: dùng nước cúng trên bàn thờ, bao nhang, giấy vàng bạc, bông vạn thọ dâng Phật… Theo lưu truyền cách chữa bệnh của ông đạt kết quả rất cao, không những đối với bệnh thời khí mà những bệnh khác ông cũng đều chữa khỏi. Ông vừa chữa bệnh vừa khuyên mọi người hãy tu niệm theo những quan niệm đạo lý đơn giản, dễ đi vào lòng người, trước là khuyên bảo với những người được chữa bệnh, sau đó rộng rãi trong nhân dân, đã cuốn hút rất nhiều người tin theo… Do nhu cầu chữa bệnh và truyền đạo ngày càng lớn, dân chúng đến thọ giáo ngày một đông nên Đoàn Minh Huyên đã cho đệ tử dựng một ngôi chùa, sau này gọi là Tây An Cổ Tự, chính thức khai đạo, mở đường lối tu hành riêng, hình thành cơ cấu, nghi thức thờ phượng lễ bái của một tôn giáo mới.

Ở làng Long Kiến vừa chữa bệnh, vừa truyền đạo được tín đồ tin theo rất đông một thời gian, Đoàn Minh Huyên bị chính quyền địa phương cho là “gian đạo sỹ”, tụ họp người làm loạn, chống triều đình. Ông bị bắt đưa về Châu Đốc. Sau đó, quan Trấn Châu Đốc đã thả ông ra, cho hành đạo tại chùa Tây An núi Sam (vì vậy sau này Đoàn Minh Huyên được gọi là Phật Thầy Tây An). Có thể nói Đoàn Minh Huyên “bị quản thúc” tại đây đúng hơn là ông đã chọn nơi này để hành đạo (vì Tây An vốn là một ngôi chùa Phật giáo). Tại đây, Đoàn Minh Huyên đã tiếp tục những công việc còn bỏ dở ở làng Long Kiến ngày trước, tức truyền bá, phát triển một mối đạo mà đến lúc này ông gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương.

Các đại đệ tử nổi tiếng của Đoàn Minh Huyên có ông Cố Quản (Trần Văn Thành-lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp ở Bảy Thưa, Láng Linh 1867-1873), ông Tăng Chủ (người được Đoàn Minh Huyên giao cho nhiệm vụ trông coi trại ruộng Thới Sơn), ông Đình Tây (Bùi Văn Tây, một người có tinh thần chống Pháp tích cực), ông Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), ông Đạo Lập, ông Đạo Sỹ, ông Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng), ông Đạo Chợ, ông Đạo Đọt, ông Nguyễn Đa (Cử Đa, một người giàu lòng yêu nước, tích cực chống Pháp)… Hầu hết họ là những người quê ở An Giang và các tỉnh miền Tây Nam Bộ. họ không chỉ giúp Đoàn Minh Huyên trong việc khai phá đất mới, xây dựng trại ruộng, chùa chiền, mà còn là những người truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương một cách tích cực, rộng khắp Đồng bằng sông Cửu Long.

Những ngôi chùa Bửu Sơn Kỳ Hương không bài trí một hình ảnh hay cốt tượng Phật giáo nào, chỉ cho thờ một tấm vải màu đỏ, gọi là Trần Điều, treo trước tường chính điện. Bàn thờ bày hoa, nước lã, nhang đèn, không có chuông, mõ… Tấm Trần Điều được hiểu là tiêu biểu cho tấm lòng từ bi, bác ái, đoàn kết, yêu mến đồng bào, nhân loại… Trong chùa cũng không có hình bóng màu áo tu sỹ nhà Phật (người quản tự mặc áo quần đen), không có tiếng tụng kinh, gõ mõ. Mọi người, từ đại đệ tử đến tín đồ đều được tự do để tóc, để râu, không bị kiêng cấm việc dựng vợ gả chồng. Tất cả đều có gia đình riêng và tự làm ăn sinh sống.

Theo Đoàn Minh Huyên, muốn được dự Hội Long Hoa, mỗi người phải loại trừ cái xấu, vượt lên trên bằng cách thực hiện tu nhân học Phật. Tu nhân được cắt nghĩa là rèn sửa tâm tính, làm lành lánh dữ để tích đức. Tu nhân, trước nhằm đem con người trở lại đường thiện, nẻo ngay, sống đúng với đạo làm người đối với gia đình, xã hội, phù hợp với luân thường đạo lý, theo tiêu chuẩn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Muốn tu nhân phải thực hiện Tứ đại trọng ân, tức coi trọng việc thực hiện đền trả bốn ân lớn. Đó là ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và ân đồng bào, nhân loại. Theo Phật Thầy Đoàn Minh Huyên: muốn tròn cái đạo làm người thì không ai không có bổn phận đền đáp bốn cái ơn ấy, vì đó là căn bản của cả cái đạo làm người, là nấc thang thứ nhất đưa con người tiến trên đường đạo hạnh. Tứ đại trọng ân là nền tảng đạo lý của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, chi phối tư tưởng, đời sống của tín đồ theo yêu cầu của tôn giáo này.

Học Phật là niệm Phật, tức trì niệm danh hiệu Phật-A-di-Đà, không phải khó nhọc nhiều công gì là đã có thể được vãng sanh, được về cõi Tây phương cực lạc. Phật Thầy Tây An không thuyết giáo nhiều và không đặt nặng vấn đề học Phật đối với tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương-thực tế cho thấy tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ chú trọng tứ đại trọng ân (đền trả bốn ơn) và trì niệm danh niệm Phật A-Di-Đà. Học Phật tức là noi gương theo đức Phật mà thôi…

Tất cả tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đều không phải ly gia cát ái, không phải ăn chay trường. Họ được xem là cư sỹ tại gia. Phật Thầy dạy cho tín đồ nghi thức thờ cúng tại nhà như sau: Trong nhà, ngoài bàn thờ Tổ tiên, ông bà, cha mẹ còn có ngôi Tam bảo, trên chỉ bài trí một tấm Trần Điều, hương hoa, nườc lã, giống như ở chùa Bửu Sơn Kỳ Hương. Như vậy, gia đình tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ có hai bàn thờ, đó là bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bàn thờ Tam Bảo…

Mục đích cuối cùng của việc tu nhân là để được dự Hội Long Hoa-Đại hội để chọn người hiền đức, hầu tạo dựng xã hội mới an lạc, sau đó tiếp tục học đạo để trở lại cứu vớt cuộc đời trần thế. Về mặt xã hội, nội dung của tu nhân học Phật, mà cốt lõi là lý thuyết Tứ Ân, đặc biệt ân đất nước, được Đoàn Minh Huyên nhấn mạnh, rất có ý nghĩa trong công việc bảo vệ độc lập dân tộc trong hoàn cảnh thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên chúng ta thấy các đại đệ tử của Bửu Sơn Kỳ Hương đều là những lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX… Họ tham gia kháng chiến chống Pháp với khẩu hiệu hết sức rõ ràng, có sức lay động mọi tầng lớp nhân dân bấy giờ là: đền trả ân đất nước, giữ gìn truyền thống tổ tiên, báo đáp công ơn ông bà, cha mẹ đã gầy dựng giang sơn…

Hiện nay, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng vài chục ngàn tín đồ với nhiều cơ sở thờ tự (vẫn giữ được truyền thống như thời kỳ đầu) ở vùng Bảy Núi, An Giang và một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long…

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Trong thời gian tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Bảy Thưa-Láng Linh đang chuẩn bị và thực hiện cuộc khởi nghĩa chống Pháp (1867), do người đứng đầu tôn giáo của họ là Trần Văn Thành lãnh đạo, thì ở vùng Châu Đốc (An Giang) dân chúng xôn xao về một người vừa được giáng thế, truyền đạo cứu đời. Người ấy có tên là Ngô Lợi (1831-1890) và tôn giáo do ông truyền dạy đó, sau này, được gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoặc gọi tắt theo cách của người Nam Bộ là đạo Hiếu Nghĩa.

Ngô Lợi vừa khuyên người đời tu niệm, vừa chữa bệnh (dịch) cho mọi người theo phương pháp như trước đây Đoàn Minh Huyên đã làm: cho bệnh nhân uống nước lã, giấy vàng vẽ bùa và có thêm niệm thần chú. Ông đã cứu sống được nhiều người, danh tiếng vang dội khắp nơi, thu hút hàng ngàn người tìm đến ông để chữa bệnh và học đạo.

Tháng 5 năm 1867, Ngô Lợi chính thức khai đạo và dạy nghi thức hành đạo cho nông dân. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lúc mới ra đời chưa có tên gọi chính thức. Nhiều người theo ông học đạo, hay gia nhập tôn giáo của ông, hỏi danh xưng của đạo là gì? Ông đáp vắn tắt là Đạo Thờ Ông Bà, đúng như tinh thần đạo lý đã truyền giảng. Sau này, khoảng năm 1870 trở đi, tôn giáo do Ngô Lợi sáng lập mới được gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa (cũng có tài liệu nói danh xưng này chỉ xuất hiện khi thực dân Pháp bắt xưng danh mối đạo để tiện việc kiểm tra sau khi Ngô Lợi đã mất, 1890). Các tên gọi của đạo phản ánh nội dung hành xử của giáo lý. Đạo Thờ Ông Bà là nhằm chỉ một trong những đối tượng quan trọng nhất của nghi thức thờ cúng, đồng thời cũng nhấn mạnh tinh thần “hiếu nghĩa” đối với tổ tiên của những người theo tôn giáo này. Trong Kinh Hiếu Nghĩa, phần Phụng bái Bác Như Lai, Ngô Lợi viết: “Hiếu Nghĩa là đầu mối của tứ ân, thực hành được hiếu nghĩa (theo tinh thần của kinh này), thì đền trả được ơn tổ tiên, cha mẹ, đất nước, đồng bào, nhân loại và tam bảo… công đức của đạo Hiếu thật là rộng lớn”. Như vậy, tên gọi đạo Hiếu Nghĩa đã phản ánh cứu cánh quan trọng của tôn giáo này… Không giống với các tôn giáo khác, tên gọi thường gắn với đấng sáng lập, hay đức tin, hoặc địa điểm ra đời. Tứ Ân Hiếu Nghĩa là tên gọi bao hàm chỉ mục đích và nội dung hành đạo mà chỉ mới nghe qua tên gọi người chưa biết về giáo lý của đạo cũng đã phần nào hình dung đây là một tôn giáo chú trọng đạo hiếu, đền trả ơn nghĩa tổ tiên, ông bà...

Tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872), Ngô Lợi cùng rất nhiều tín đồ dùng thuyền ngược dòng Cửu Long đến xã An Lộc, tổng An Lương, An Giang truyền giảng giáo pháp. Đến tháng 7, ông đã xây cất ngôi chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa đầu tiên tại xã Bình Long. Từ đây, Ngô Lợi mở rộng việc truyền đạo ra khắp vùng (sang cù lao Ba, xã Vĩnh Thành nay là Vĩnh Trường, An Phú; ngược miền Thất Sơn). Đầu năm 1876, Đức Bổn Sư Ngô Lợi đã cử một đại đệ tử trung tín là Trần Tịnh đi thám sát núi Tượng, chọn địa điểm thuận tiện để đưa tín đồ vào đây khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống ổn định. Sau khi công việc tiền trạm đạt kết quả, Ngô Lợi đã dẫn nhiều tín đồ vào núi Tượng “trảm thảo khai sơn”, xây dựng xóm làng, hình thành các làng mới An Định, An Hòa, An Thành, An Lập với 100% dân chúng là tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa[1]. Ông khuyên tín đồ phải tự lực, siêng năng khai mở đất đai, trồng tỉa nuôi thân, đốn cây rừng, lấy đá núi cất nhà mà ở, cùng chung sức giúp đỡ nhau làm ăn, sinh sống và tu niệm. Dân chúng khắp nơi không quản ngại xa xôi, khó khăn gian khổ đã tụ họp về đây rất đông, nhà cửa mới cất lên san sát như “bánh ếch sắp trên sàng” (theo cách gọi trong các tài liệu của người Pháp lúc ấy). Để có nơi thờ phượng, lễ bái trong thời gian đầu đến núi Tượng, Ngô Lợi đã cho dựng tạm một ngôi chùa tại vị trí của ngôi Phi Lai hiện nay (thị trấn Ba Chúc). Cuối năm 1877, khi cuộc sống tín đồ tạm ổn định bước đầu, Ngô Lợi đã bắt tay vào việc xây dựng một ngôi đình và một ngôi chùa. Đó là đình làng An Định thờ trăm quan cựu thần, anh hùng liệt sĩ và phía sau, nối tiếp với đình là chùa Phi Lai. Chùa Phi Lai, bên trong thờ Trần Điều ở chính điện, Tứ Đại Thần Châu xung quanh bàn thờ Chư Phật, hai bên tả hữu thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền... Trong quá trình ổn định cuộc sống của tín đồ tới khai hoang núi Tượng xây dựng chùa miếu, thực hành nghi lễ… Ngô Lợi còn đẩy mạnh việc truyền đạo rộng rãi ở vùng Thất Sơn và lân cận. Ông đến kênh Vĩnh Tế, qua Giang Thành (nay là Vĩnh Điều, Hà Tiên, Kiên Giang)… truyền đạo, thu nhận tín đồ. Số tín đồ ở đây tin theo ông rất đông. Cho đến trước khi Ngô Lợi mất (1890), chỉ riêng bốn làng đạo vùng núi Tượng ông đã xây dựng hoàn thành 12 ngôi đình, chùa, miếu khá quy mô để làm nơi thờ tự của bổn đạo. Nhiều cơ sở thờ tự đó hiện nay đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tin rằng thời kỳ Đức Bổn sư giáng thế, truyền đạo, loài người đang bước vào giai đoạn cuối của đời Hạ Nguyên-giai đoạn khổ cực, điêu linh, loạn lạc vì bệnh tật, chiến tranh và bất công đang làm xã hội suy đồi. Hạ Nguyên mạt pháp sẽ mãn bằng Hội Long Hoa với sự xuất hiện của Phật Di Lặc. Hội Long Hoa được mở ra để cứu độ người hiền, tiêu diệt kẻ ác, theo tinh thần: Hạ Nguyên nay đã hết rồi, Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Nguyên. Quan điểm này được kế thừa và vận dụng từ đạo Phật cũng như một số tôn giáo khác ra đời trước nhưng có sức lay động lòng tin của dân chúng vì nó được nhấn mạnh và đề cao vào đúng thời kỳ đen tối của xã hội Nam Bộ lúc ấy.

Điều mới mẻ trong quan niệm (được kế thừa từ Bửu Sơn Kỳ Hương) của người sáng lập và tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là lòng tin về Hội Long Hoa do Phật Di Lặc khai mở vào một ngày gần kề không diễn ra ở một nơi nào khác trên thế giới mà ngay tại núi Cấm-Thất Sơn, Nam Bộ-Việt Nam.

Như vậy, đức tin của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa kế thừa từ căn bản đức tin của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, vốn được tiếp thu từ Phật giáo. Nhưng tuyệt nhiên không đề cập tới cõi Niết bàn như đạo Phật. Hội Long Hoa được nói đến như là một cái đích và cũng là cái mốc của sự đổi đời…

Tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là “tu nhân học Phật” cho cư sỹ tại gia. Mọi người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không phân biệt chức sắc, ngôi thứ, hay đảm nhận bất cứ một trọng trách nào của bổn đạo đều không bị kiêng cấm trong làm ăn và sinh hoạt đời thường. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xem việc hạn chế sát sinh đặc biệt là việc cữ ăn 12 con giáp như một thành tựu trên bước đường tu thân. Những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng mỗi một con người đều “cầm tinh” một trong 12 con giáp. Vì vậy nếu ăn thịt (dùng bữa) có một trong 12 con giáp nói trên tức là đã ăn đồng loại của mình (có thể hiểu tượng trưng là đã ăn linh hồn của đồng loại).

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng đạo Phật, đạo Nho và đạo Lão có cùng một nguồn gốc. Do đó, yêu cầu tín đồ kính trọng chung tam giáo: Phật-Thánh-Tiên. Tinh thần ấy được biểu hiện trong thực tiễn: “Cúng dường trì niệm theo hình thức Phật giáo. Lễ nghi, học vấn, văn tự theo hình thức Nho giáo. Rèn luyện tinh, khí, thần theo hình thức Lão giáo”. Điều này thể hiện rõ nét trong cách tu học, luyện tập của những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Tôn chỉ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa dành cho mọi người tự nguyện nhập đạo, không phân biệt giữa ông Trò, ông Gánh, thông tín, cư sỹ, người hộ tự (trông coi, thực hiện nghi lễ tại chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa) hay tín đồ. Tất cả phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, cách thức hành đạo, các lễ nghi, cúng bái tại chùa, miếu, Tam bửu gia và tại nhà riêng do người lập đạo truyền dạy và quy định.

Tóm lại, có thể khái quát tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa trong bốn chữ Tu Nhân Học Phật để so sánh sự khác biệt với đạo Phật-vốn lấy Hư Vô, và đạo Lão-vốn lấy Thanh Tịnh Tự Nhiên, làm tôn chỉ. Tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng có một số điểm cụ thể khác hẳn với Bửu Sơn Kỳ Hương: chẳng hạn ở việc cữ ăn thịt 12 con giáp, ở tinh thần kính trọng chung tam giáo, cũng như những quy định chặt chẽ, có tính bắt buộc trong nghi thức cúng lễ ở chùa, miếu, Tam bửu gia[2]… là những điểm mà Bửu Sơn Kỳ Hương không có. So với học Phật của Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên truyền dạy thì học Phật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có nhiều điểm mới. Tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương với học Phật chỉ cần niệm danh hiệu Phật A di đà là đủ, trong khi tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ngoài việc tưởng niệm danh hiệu đó còn thực hiện việc đánh chuông, gõ mõ, lần pháp trường (xâu chuỗi) và trì niệm kinh chú do Đức Bổn Sư Ngô Lợi soạn ra. Trong khi đó thinh, âm, sắc, tướng là những điều Phật Thầy Tây An bài bỏ…

Nội dung căn bản chỉ đạo hành động (tức nguyên lý) của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng giống như Bửu Sơn Kỳ Hương là Tu nhân Học Phật. Tuy nhiên, so với Bửu Sơn Kỳ Hương, tu nhân học Phật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được phát triển ở nhiều khía cạnh, cụ thể hóa hơn và cũng có những điểm tương phản. Nguyên lý tu nhân học Phật trình bày không thành hệ thống nhưng thể hiện rõ trong các sách kinh sách, sấm vãn Ngũ giáo và lưu truyền rộng rãi trong tín đồ, được xem là lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Ngô Lợi…

Theo Đức Bổn sư, sở dĩ tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa hay con người nói chung phải tu nhân vì có trau dồi được đạo đức làm người thì mới có thể làm tốt được mọi việc, sống tốt với mọi người-cả người sống lẫn người đã khuất, có ích cho đất nước, cho xã hội và cho nhân loại nói chung. Hơn nữa đã nhập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tức là phải học Phật. Muốn học Phật thì phải tu nhân: “Nhân đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ” (muốn tu đạo Tiên trước hết phải trau dồi đạo làm người, không làm trọn bổn phận con người thì khó mong thành tiên được). Muốn tu nhân phải thực hiện Tứ đại trọng ân là ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Đức Bổn sư lưu ý với tín đồ câu nói của người xưa “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên” (muôn ngàn sách vở đều dạy nghĩa thảo làm đầu). Trong Hiếu Nghĩa kinh, quyển Hạ, ông viết (đại ý): con người ta do sự phối hợp âm dương của cha mẹ mà sinh ra. Do đó, công ơn của cha mẹ rộng lớn như trời đất ta phải lo đền ơn cao nghĩa dày ấy. Làm được như thế mới đúng là tu nhân, mới xứng đáng đạo làm người. Và, có được trọn đạo làm người mới nói đến chuyện học được đạo cao xa hơn. Mặt khác, khi biết ơn cha mẹ đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta nên người thì cũng phải biết ơn ông bà, tổ tiên là những người ở thế hệ trước đã sinh ra cha mẹ ta. Để trả được ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên, trước hết phải làm tròn bổn phận làm người, làm những điều tốt đẹp để cha mẹ vui và tự hào về mình. Tránh làm những điều xấu ảnh hưởng đến tổ tông. Đền ơn cha mẹ, tổ tiên còn phải biết hy sinh vì đạo nghĩa, biết chăm lo cúng kiến tổ đường. Đức Bổn Sư cũng lưu ý là: “Song thân ân lớn bằng trời/ Làm con lo trả biết đời nào xong”…

Chính quan niệm không ly gia cát ái và lấy hiếu nghĩa với cha mẹ làm đầu của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã rất phù hợp, thích ứng với quan niệm “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu” và “Vô chùa thấy Phật muốn tu, về nhà thấy mẹ công phu chưa đành” của người Nam Bộ. Dân tộc Việt Nam vốn xem đạo hiếu là giềng mối của đạo nhân, là sợi dây truyền thống của các thế hệ. Đó là một truyền thống tốt đẹp. Với Tứ Ân Hiếu Nghĩa đặt hiếu nghĩa làm đầu trong “tứ ân” cũng không ngoài sự kế thừa truyền thống đó.

Nho giáo có câu “Hiếu giả bách hạng chi tiên” (Tăng Tử, có nghĩa là đạo hiếu đứng đầu trong trăm hạng tốt), hoặc lấy chuyện Nhị thập tứ hiếu làm điều răn dạy sự hiếu thảo với cha mẹ. Phật giáo cũng nói: Thờ cha mẹ chẳng ra gì, dù hằng ngày ăn chay niệm Phật cũng vô ích. Trong mười điều răn của Đức Chúa Trời, điều thứ tư dạy rằng: Làm con phải thảo kính cha mẹ…

Như vậy, ân tổ tiên, cha mẹ-ân đầu tiên trong Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một đức tính tốt đẹp của dân tộc, của nhiều tôn giáo, được chỉ định như một bài học bắt buộc trước hết cho tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa…

Đối với Ân đất nước, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng trong gia đình có làm được một người con hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ thì ra ngoài xã hội mới mong làm được một con người có ích cho đất nước. Mặt khác, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bản thân chúng ta, ai cũng có quê hương đất nước. Do đó, muốn đền ơn đất nước phải có bổn phận bảo vệ đất nước khi giặc ngoài xâm lăng, giày xéo, phải góp sức xây dựng quê hương xứ sở cường thịnh. Đền ơn đất nước cũng chính là giúp ích cho gia đình, bản thân. Vì đất nước giàu mạnh thì bản thân mới được ấm no. Trong cuộc sống cần tránh sơ suất làm cho đất nước nghèo khổ hay tiếp tay cho ngoại xâm làm tổn hại đến đất nước, dân tộc[3]…

Tháng 9 năm 2006, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được Nhà nước công nhận là một tổ chức tôn giáo. Hiện nay, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có trên 80.000 tín đồ tại 16 tỉnh thành trong cả nước với 74 cơ sở thờ tự (12 tỉnh thành có cơ sở thờ tự). Tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa chủ yếu sống ở An Giang, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, một số ở Đồng Nai và các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ.

Đình, chùa, miếu, Tam bửu gia… đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ rất nhiều đối tượng (chỉ có bàn thờ, tuyệt đối không có tượng, ảnh). Mỗi cơ sở thờ tự có hàng chục bàn thờ. Nhưng dù đình, chùa, miếu hay Tam bửu gia tùy theo mục đích mà có những đối tượng thờ cúng khác nhau thì tất cả các cơ sở thờ tự của đạo (đình, chùa, miếu, Tam bửu gia) đều có rất nhiều bàn liên quan đến tổ tiên, ông bà, anh hùng dân tộc… được đặt ở vị trí trang trọng, như bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền, bàn thờ Cửu huyền bá tánh, bàn thờ Cửu huyền thất tổ, bàn thờ Chư vị, bàn thờ trăm quan đằng cựu, anh hùng liệt sỹ hy sinh vì nước…

Trong nghi thức hành lễ tại các cơ sở thờ tự cũng như ở nhà bàn thờ tổ tiên, ông bà luôn được dâng những lễ vật quý và thực hiện những nghi thức trang trọng.

Nói chung, đối với đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, tổ tiên ông bà là một đối tượng quan trọng của tín ngưỡng xuyên suốt trong quan niệm đạo lý cũng như trong hành lễ (theo nghi thức tôn giáo).

 
Ðức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo

Năm 1939, Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Hòa Hảo tại làng Hòa Hảo (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An khởi xướng 90 năm trước.

Về mặt giáo lý, đạo Hòa Hảo tiếp thu căn bản giáo lý Học Phật, Tu Nhân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Kinh sách của Đức Huỳnh Giáo chủ nói rằng: đạo Phật từ xưa đến nay luôn phân hai hạng người: xuất gia và tại gia. Xuất gia là nhà sư, ni cô đã hoàn toàn li khai với gia đình, quê hương, bạn bè và dựa vào cửa thiền để lo kinh kệ, trau luyện đức lành, không còn thiết đến việc đời… Còn hạng người tại gia gồm tất cả thiện nam, tín nữ chưa đủ điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với Tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội nên chưa thể làm như nhà sư và ni cô. Tuy vậy họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi, bác ái đại đồng của nhà Phật. Cho nên dù ở tại nhà họ thờ phượng Phật, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều luật giới, sửa tánh, răn lòng… dần dần cũng lên con đường giải thoát. Tu tại gia như vậy là thực hiện Học Phật Tu Nhân, lo tròn câu hiếu nghĩa. Và muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân phải hy sinh, thật nhiều cố gắng mới mong làm tròn. Đó là đền trả ân Tổ tiên cha mẹ; đất nước; Tam bảo; đồng bào và nhân loại. Quan niệm về “tứ ân” và đền trả “tứ ân” của Hòa Hảo cũng tương tự Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa. “Luận về tam nghiệp” giáo lý Hòa Hảo dạy: con người sinh ra, dù muốn hay không cũng phải chịu chi phối của Đạo. Đạo của con người là “Đạo Nhân”-một con đường mà nếu đi đúng thì sống, bước trật tất chết. Muốn làm tròn Nhân Đạo phải giữ vẹn “tứ ân”, nhưng trước hết phải tránh “tam nghiệp” (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và chừa “thập ác” (sát sanh, đạo tặc, tà dâm, lưỡng thiệt, ý ngôn, ác khẩu, vọng ngữ, tham lam, sân nộ, mê si). Sự tiến bộ của cư sĩ Hòa Hảo đòi hỏi phải hành luôn Đạo Bát Chánh (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh tin tấn, Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh định)[4]…

Tín đồ Hòa Hảo là cư sĩ tại gia. Việc đi lễ chùa chỉ được thực hiện trong những dịp lễ trọng, như: lễ khai đạo (18-5 âl), lễ Vía Phật Thầy Tây An (12-8 âl), lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (25-11 âl), lễ Phật thành đạo (8-12 âl)…

Đạo Hòa Hảo không thờ hình tượng. Đức Huỳnh giáo chủ chủ trương thờ phượng đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn là sự hào nhoáng bên ngoài. Nơi thờ tự bày biện đơn giản, “sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do lễ bái ở ngoài”[5]. Trên bàn thờ gia đình Hòa Hảo chỉ có tấm Trần Dà (màu đà, là màu kết hợp của tất cả các màu khác-tượng trưng cho sự hòa hiệp, là màu biểu hiện của sự thoát tục, tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật)[6], lư hương. Trước sân nhà có bàn thờ Thông thiên, trên chỉ có lư hương, chung nước. Vật phẩm dâng trong lễ cúng cũng chỉ có nước lạnh (tiêu biểu cho sự trong sạch), bông hoa (tiêu biểu cho sự tinh khiết) và nhang (dùng tẩy mùi uế trược). Đối với bàn thờ tổ tiên ông bà vào các ngày lễ hiếu dâng cúng món gì cũng được, không quy định.

Những người theo đạo Hòa Hảo chỉ thờ lạy đức Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và các anh hùng cứu quốc, không thờ tà thần nào nếu không rõ căn tích. Bàn thờ trong nhà và bàn thờ Thông thiên được thắp đèn sáng suốt đêm.

Khi cúng lạy trước bàn thờ tổ tiên, ông bà, tín đồ Hòa Hảo niệm hương: “cúi kính dâng hương trước cửu huyền/ Cầu trên Thất tổ chứng lòng thành/ Nay con tỉnh ngộ quy y Phật/ Chí dốc tu hiền tạo phước duyên/ Cúi đầu lạy tạ tổ tông/ Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn/ Rày con xin giữ đạo hằng/ Tu cầu Tổ tông siêu thăng Phật đài/ Nguyện làm cho đẹp mặt mày/ Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên/ Mong nhờ đức cả bề trên/ Độ con yên ổn vững bền cội tu”. Tiếp đến nguyện hương trước bàn thờ Phật (Tam bảo), tín đồ xin Phật Tổ, Phật Thầy, quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn thần, chư vị năm non bảy núi cảm ứng chứng minh cho sự ăn năn hối cải, làm lành lánh dữ… Sau đó tín đồ ra bàn thờ Thông thiên cũng cầu nguyện với tinh thần đó. Lời cầu nguyện của tín đồ Hòa Hảo thể hiện rõ tinh thần trọng ân, đạo lý với tổ tiên ông bà được đặt lên hàng đầu, vừa thể hiện sự điều chỉnh cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, vừa bày tỏ tri ân tổ tiên ông bà, đó cũng là nâng thang đầu tiên của “tu hiền” để học Phật (học phẩm hạnh, trí tuệ của Phật tổ để đạt chân thiện mỹ, “tứ vô lượng tâm” của Phật).

Trong cuộc sống, những người theo đạo Hòa Hảo quan tâm giúp đỡ người nghèo. Họ quan niệm dùng tiền giúp người có hoàn cảnh khó khăn hơn là để xây dựng chùa chiền, tổ chức lễ hội, tang chế, hôn nhân tốn kém.

Hiện nay, trong cả nước có khoảng 2 triệu tín đồ, nhưng chỉ có 39 cơ sở thờ tự. Chủ trương tu tại gia và tu tại tâm (Phật tại tâm, tâm tức Phật) của tín đồ Hòa Hảo với tiêu chí đền trả ơn đất nước, ơn tổ tiên cha mẹ… không những giúp tôn giáo này giữ được tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống mà hơn thế đã nâng tinh thần đó thành giáo thuyết tôn giáo.

*

Những nét cơ bản trên cho chúng ta thấy các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có những nét khác nhau trong quan niệm đạo lý, cách thức hành đạo, đối tượng tín ngưỡng, cách bài trí bàn thờ, thực hành nghi lễ… Sự phát triển của tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long khởi đầu với sự ra đời của Bửu Sơn Kỳ Hương, phát triển tiếp theo ở Tứ Ân Hiếu Nghĩa và trở lại ở một bước phát triển mới với sự xuất hiện của Hỏa Hảo trong vòng 90 năm tính từ khi Bửu Sơn Kỳ Hương khai đạo. Mặc dù có sự kế thừa, phát triển với nhiều điểm tương đồng, nhưng danh xưng mối đạo khác nhau, các cộng đồng tín đồ không có mối liên hệ với nhau về mặt tôn giáo, do đó sự tồn tại của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Hòa Hảo hoàn toàn độc lập. Điểm giống nhau từ quan niệm cho đến thực hiện nghi lễ, vị trí của đối tượng tôn thờ trong cả ba tôn giáo nội sinh nói trên đó là tổ tiên, ông bà. Đền đáp tổ tiên, ông bà chi phối toàn bộ đường lối tu đạo và hành động thực tiễn; xuyên suốt quá trình phát triển của các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long-trong bối cảnh đất nước chìm đắm trong ách nô lệ thực dân, buộc họ phải cầm vũ khí, tổ chức chống lại xâm lược của ngoại bang. Đó cũng là một lý do giải thích vì sao trong nhiều thời kỳ các tôn giáo này cũng đồng thời là tổ chức tôn giáo-chính trị…

Đinh Văn Hạnh

[1] Ngày 17-10-2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới thành phố, xã, thị trấn trong đó có việc thành lập thị trấn Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn, An Giang với bốn làng trên. Như vậy, vùng đất xa xôi, vốn rất hoang vu được Ngô Lợi tổ chức khẩn hoang, lập làng cuối thế kỷ XIX sau hơn 100 năm phát triển đã trở thành một thị trấn.

[2] Tam bửu gia là nhà thờ của dòng họ nhưng cũng là nơi thờ cúng của một gánh đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa theo tinh thần “Làng (đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) có Tam bửu tự, gánh (họ) có Tam bửu gia”. Tam bửu gia thể hiện mối liên kết đồng đạo của những tín đồ cùng một gánh, đồng thời cũng thể hiện mối liên kết dòng họ của Trưởng gánh đạo. Chức Trưởng gánh đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng được cha truyền con nối (xem thêm: Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam Bộ, 1867-1975, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1999).

[3] Cũng xin nói thêm: đạo Phật quan niệm Tứ Ân (hay còn gọi là Tứ trọng ân) là bốn ơn: cha mẹ (phụ mẫu), chúng sinh, vua trong nước (quốc vương thủy thổ) và tam bảo. Thực ra, khái niệm Tứ đại trọng ân của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không đơn thuần chỉ là sự cụ thể hóa và Việt hóa khái niệm “tứ trọng ân” của Phật giáo. Ở đây còn có sự nâng cao về chất trong mục đích của việc đền trả tứ ân, đó là chưa nói đến thứ tự quan trọng của từng “ân” không giống nhau giữa Phật giáo và Tứ Ân Hiếu Nghĩa (đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đề cao ân đất nước ở vị trí thứ hai). Mục đích của ân cha mẹ (phụ mẫu) trong Phật giáo là cầu cho cha mẹ mau thoát khỏi vòng sinh tử, của ân chúng sinh là cầu cho tất cả đều được giải thoát, của ân quốc vương thủy thổ là để độ cho vua chúa, của ân tam bảo là để cho chính bản thân sẽ được giải thoát. Trái lại, mục đích của việc đền trả Tứ ân của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không nhằm vào việc giải thoát hay đắc quả như đạo Phật mà nhằm vào những nhu cầu thực tiễn cuộc sống đời thường hằng ngày luôn đòi hỏi ở đạo lý của con người-hướng vào cuộc sống, nhập thế, chứ không xuất thế. Điều này đáp ứng được hoàn cảnh lịch sử cụ thể bấy giờ, đồng thời cũng phù hợp với bản sắc văn hóa và tiêu chuẩn đạo đức của người dân Nam Bộ.

[4] Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2010.

[5] Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, sđd.

[6] Trên bàn thờ Bửu Sơn Kỳ Hương là tấm Trần Điều (màu đỏ), Huỳnh Phú Sổ chủ trương phát triển sự nghiệp Đoàn Minh Huyên nhưng đổi Trần Điều thành Trần Dà vì cho rằng: có nhiều kẻ thờ Trần Điều tự xưng cùng tông phái với Hòa Hảo nhưng “làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể Đạo đổi lại màu dà” (Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, sđd).

Read More
05Tháng Chín
2021

Nhìn lại Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Cebu năm 2016

05/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Nhìn lại Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Cebu năm 2016

 

Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại thủ đô Budapest của Hungary từ ngày 5-12/9/2021 tới đây sẽ là Đại hội Thánh Thể lần thứ 52 trong 130 năm, kể từ năm 1881, khi Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ nhất được tổ chức tại thành phố Lille của Pháp. Đại hội Thánh Thể được tổ chức 4 lần tại Á châu: tại Manila, Philippines, năm 1937; Bombay, Ấn Độ, năm 1964; Seoul, Hàn Quốc, năm 1989; và Cebu, Philippines, 2016. Đại hội Thánh Thể tại Cebu cũng là Đại hội lập kỷ lục về số người tham dự.

Đại hội Thánh Thể lần thứ 51 được tổ chức tại Cebu, Philippines, từ ngày 24-31/1/2016. Đại hội này đã cho thấy những con số kỷ lục và một đức tin mạnh mẽ. Một tuần lễ đặc biệt, trong đó, giữa những cử hành, các bài giáo lý, các chứng từ, những giây phút lễ hội, Bí tích Thánh Thể được loan báo như nguồn mạch và đỉnh điểm sứ vụ của Giáo hội.

Thành phố phong phú về đức tin, quảng đại và hiếu khách

Thành phố Cebu là thành phố lớn thứ hai ở Philippines, sau Manila, nằm trên hòn đảo cùng tên ở miền trung Philippines, một nơi tương đối nghèo nhưng phong phú về đức tin, với một dân tộc quảng đại và hiếu khách. Tại thành phố được xem là cái nôi của Kitô giáo ở phương Đông này do nhà thám hiểm Magellan đã trồng cây Thánh giá ở đây khi đến nơi vào năm 1521, Đại hội Thánh Thể đã tìm thấy một môi trường nhân văn vô cùng phong phú, lòng hiếu khách chân thành và thân thiện, sự tham gia nồng nhiệt.

Trong số tín hữu hành hương và đại biểu từ 75 quốc gia trên thế giới đến tham dự Đại hội Thánh Thể Quốc tế, có hàng chục Hồng y, khoảng 250 giám mục, hàng ngàn linh mục, tu sĩ nam nữ, khách hành hương từ Đài Loan, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Bangladesh, Sri Lanka, Pakistan, Australia và nhiều quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Phi.

Thánh Thể trong đời sống Giáo hội châu Á

Việc tổ chức Đại hội Thánh Thể lần thứ 51 tại trung tâm về địa lý của Châu Á là dịp để biểu lộ rõ ràng ơn gọi truyền giáo của Giáo hội địa phương ở lục địa này. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chọn Đức Hồng y Charles Bo, tổng giám mục của Yangon ở Myanmar, làm Đại diện của ngài. Việc lựa chọn một giám mục châu Á xác nhận mức độ quan tâm đặc biệt của ngài đối với lục địa này.

Chúa Nhật 24/1/2016, Đức Hồng Y Bo đã chủ sự Thánh lễ khai mạc trọng thể Đại hội tại Quảng trường Độc lập. Trước khoảng nửa triệu người, ngài đã đưa ra khẩu hiệu: “Chúng ta phải tuyên bố chiến tranh thế giới thứ ba thực sự: cuộc chiến chống đói nghèo”. Sau đó, sau khi định nghĩa Đức Thánh Cha Phanxicô như “vị ngôn sứ của thiên niên kỷ mới” và ca ngợi Philippines là “một quốc gia vĩ đại, ánh sáng cho châu Á”, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng sự hiện diện của người Philippines ở mọi nơi trên thế giới có nghĩa là truyền giáo. Ngài nói rằng “Philippines, với những thảm hoạ thiên nhiên tàn phá nước này, dường như là thủ đô của thế giới về thảm hoạ thiên nhiên” nhưng cư dân của đất nước này đã thể hiện một khả năng vượt khó phi thường. Cuối cùng, ngỏ lời với các tín hữu hiện diện, ngài nói thêm rằng “sùng đạo là điều tốt, nhưng chưa đủ vì chúng ta được kêu gọi trên hết là trở thành các môn đệ: đối với một người tin theo thì Thánh lễ kết thúc sau một giờ, nhưng Thánh lễ của một môn đệ thì vô hạn, tiếp tục trên các con đường của thế giới”.

Trong tuần lễ diễn ra Đại hội, có 15.000 khách hành hương và các đại biểu đăng ký đã có thể tham gia tích cực vào các hoạt động. Một số sự kiện của Đại hội được phụ trách bởi những nhân vật tên tuổi và nổi tiếng như các Đức Hồng y người Philippines: Tagle, Vidal, Quevedo và Rosales; hay Đức Hồng y Dolan của New York, Onaiyekan của Abuja, Nigeria; Trần Nhật Quân của Hong Kong, Peter Erdő của Budapest; Nguyễn Văn Nhơn của Hà Nội, Lacroix của Quebec, Kovithavanij của Bangkok…

Chủ đề chính của sự kiện: Bí tích Thánh Thể như là nguồn gốc và đỉnh cao sứ mạng của Giáo hội, đã được thảo luận hàng ngày qua các hội nghị lớn, các chứng từ lôi cuốn và các buổi cử hành. Trong số nhiều bài phát biểu quan trọng, đặc biệt gây xúc động là chứng từ của một phụ nữ trẻ người Philippines, Georgia Coctas; sau khi sống bằng cách nhặt rác trên đường phố, cô đã được giúp đỡ và hiện đang hoạt động để mang lại tương lai cho trẻ em bị bỏ rơi, nơi chốn để thăng tiến con người và loan truyền Tin Mừng bên cạnh việc cung cấp nơi ở, thực phẩm và giáo dục.

Gương mặt tươi vui của Giáo hội Philippines

Tuần lễ của Đại hội sau đó được đánh dấu bởi một loạt các sự kiện lớn liên quan đến toàn thành phố: cuộc gặp gỡ của những người hành hương từ các quốc gia khác nhau với các giáo xứ trong giáo phận, cuộc rước Thánh Thể, Thánh lễ Rước lễ lần đầu và Thánh lễ bế mạc. Cuộc gặp gỡ của những người hành hương với các giáo xứ đã cho phép họ hòa mình vào đời sống của các cộng đoàn Kitô giáo địa phương. Mỗi giáo xứ của thành phố đón một đoàn khách hành hương đến từ một quốc gia cụ thể.

Chiều Thứ Sáu, 29/1/2016, Thánh lễ được cử hành tại quảng trường trước trụ sở chính quyền của thành phố, với đông đảo dân chúng tại quảng trường và trên những con đường đối diện. Cuộc rước Thánh Thể long trọng bắt đầu vào cuối Thánh lễ, đi qua khắp các con đường chính của thành phố trong gần ba giờ đồng hồ. Một dòng người đông đảo, hơn một triệu, với nến sáng trên tay đi theo xe kiệu Mình Thánh Chúa, trong khi hai bên đường, các thiếu niên và thanh niên nam nữ làm thành rào chắn dài. Cuộc rước kết thúc ở Quảng trường Độc lập, bên cạnh bãi biển mà gần 500 năm trước, Tin Mừng đã đến những vùng đất đó lần đầu tiên.

Ngày hôm sau, thứ Bảy 30/1/2016, tại Trung tâm Thể thao Cebu, Thánh lễ Rước lễ Lần đầu được cử hành cho 5.000 trẻ em, trong đó có 500 “trẻ em đường phố”, trong những năm chuẩn bị cho Đại hội, được hưởng chương trình giáo dục đặc biệt và truyền giáo do giáo phận và các tổ chức tình nguyện khác nhau thực hiện. Những đứa trẻ, cùng với cha mẹ của các em, hiện diện tại khu vực trung tâm, đã được khoảng một trăm giám mục cho rước lễ. Bầu không khí lễ hội tiếp tục sau buổi lễ với màn trình diễn điệu múa Sinalog đáng kinh ngạc, một điệu múa dân gian rất đặc biệt, trong đó tượng Santo Niño – Chúa Hài Đồng – được rước, được nâng niu trong một bữa tiệc âm thanh và màu sắc đích thực.

Thánh lễ kết thúc Đại hội

Sự kiện cuối cùng và quan trọng nhất chính là Thánh lễ kết thúc Đại hội, được tổ chức ở South Road Properties vào ngày 31/1. Đông đảo tín hữu đã tham dự Thánh lễ do Đức Hồng Y Đặc sứ Charles Maung Bo chủ sự, với hơn 200 giám mục và hàng trăm linh mục. Trong bài giảng, Đức Hồng y người Myanmar nhắc lại rằng “Những người Philippines, quốc gia Công giáo lớn nhất ở châu Á, là những người mang niềm hy vọng to lớn” và bất chấp những thách thức về nghèo đói, bất an xã hội và di cư, đất nước “có tiềm năng to lớn đối với toàn thế giới Công giáo”. Ngài khuyến khích: “Anh chị em Philippines, hãy đi và gia tăng những nhà truyền giáo của anh chị em! Hãy đi và trở thành dân cư ở những quốc gia mà Kitô giáo đã trở thành một thiểu số. Hãy đến những quốc gia mà vật nuôi nhiều hơn trẻ em”.

Sau đó, Đức Hồng y nói với các gia đình: “Châu Á và Châu Phi đang đấu tranh cho sự tồn tại của các gia đình… Các quốc gia giàu có đã không còn chú ý đến nghèo đói và áp bức, và nói về các hình thức mới về gia đình và cha mẹ. Một hiểm họa sinh tử mà toàn thể nhân loại phải đối mặt, thậm chí còn hơn cả bom nguyên tử, khủng bố, bởi vì một số quốc gia đã chọn con đường hủy diệt gia đình thông qua luật pháp… Gia đình là hạt nhân chính của Giáo hội và là nơi tấm bánh được bẻ ra. Vì thế, nó phải được bảo vệ, thúc đẩy và nuôi dưỡng”. Cuối cùng, Đức Hồng Y Bo nhắc lại rằng chủ đề này, cùng với sự tôn trọng công trình sáng tạo và công lý, cũng là trung tâm các mối quan tâm của Đức Thánh Cha Phanxicô.

Trong số những món quà mà Philippines đã được ưu ái, Đức Hồng y nhắc nhở: “Sự gắn kết trong gia đình của anh chị em rất mạnh mẽ. Anh chị em có tỷ lệ ly hôn thấp nhất trong khu vực. Nhiều quốc gia giàu có có tiền nhưng không có gia đình. Và anh chị em có một đông đảo người trẻ; đây là một phúc lành!”. Kết thúc bài giảng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha đã nhắc lại trọng tâm của Bí tích Thánh Thể, vốn vẫn là nguồn gốc và đỉnh điểm của đời sống Kitô hữu: “Chúng ta hãy nhớ rằng Thánh lễ đầu tiên được cử hành bởi một người bị kết án, một người không có quyền lực… Nhưng quyền lực của Thánh Thể tuôn chảy từ đôi bàn tay trắng ấy. Và tiếp tục truyền cảm hứng cho chúng ta. Thánh Thể là sự hiện diện đích thực, Thánh Thể là truyền giáo, Thánh Thể là phục vụ”.

Sứ điệp của Đức Thánh Cha

Trước khi Đức Hồng y ban phép lành cuối lễ, mọi người nhận sứ điệp video của Đức Thánh Cha Phanxicô. Khi nhắc lại chủ đề của Đại hội: “Chúa Kitô trong anh em, niềm hy vọng vinh quang”, Đức Thánh Cha nhận xét rằng “sự hiện diện của Chúa Kitô giữa chúng ta không chỉ là một niềm an ủi, mà còn là một lời hứa và một lời mời. Một lời mời gọi hãy ra đi, với tư cách là những nhà truyền giáo, để mang thông điệp về sự dịu dàng của Chúa Cha, về sự tha thứ và lòng thương xót của Người cho mọi người nam nữ và các trẻ em”.

Sau đó, Đức Giáo Hoàng mời gọi suy tư về hai cử chỉ của Chúa Giêsu liên quan đến “chiều kích truyền giáo của Bí tích Thánh Thể”: đức tin và việc rửa chân. Ngài nói: “Chúng ta biết rằng việc Chúa Giê-su chia sẻ bữa ăn với các môn đệ, và đặc biệt là với những người tội lỗi và những người bị gạt ra ngoài lề thì quan trọng như thế nào”. “Tại mỗi Thánh lễ, chúng ta phải được thôi thúc để noi gương Chúa, ra đi gặp gỡ người khác”. “Ở Châu Á, nơi Giáo hội dấn thân vào việc đối thoại, tôn trọng các tín đồ của các tôn giáo khác, chứng tá ngôn sứ này rất thường xảy ra, như chúng ta biết, qua cuộc đối thoại của cuộc sống”.

Đối với Đức Thánh Cha, “việc làm chứng của những cuộc đời được tình yêu của Thiên Chúa biến đổi là cách tốt nhất để công bố lời hứa về vương quốc hòa giải, công lý và hiệp nhất cho gia đình nhân loại”. Sau đó, ngài giải thích việc rửa chân là một “dấu hiệu của sự phục vụ khiêm nhường, của tình yêu vô điều kiện mà Chúa đã hiến mạng sống mình trên Thánh giá để cứu độ thế giới. Thánh Thể là trường học của sự phục vụ khiêm nhường. Nó dạy chúng ta sẵn sàng ở đó vì người khác. Đây cũng là trung tâm của người môn đệ truyền giáo”.

Ước muốn của Đức Thánh Cha là Đại hội Thánh Thể vừa kết thúc này “có thể củng cố anh chị em trong tình yêu của anh chị em đối với Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể. Chớ gì Đại hội làm cho anh chị em, như những môn đệ truyền giáo, có thể mang kinh nghiệm tuyệt vời về sự hiệp thông trong Giáo hội và sự dấn thân truyền giáo cho các gia đình, các giáo xứ và cộng đoàn của anh chị em và cho các Giáo hội địa phương của anh chị em. Chớ gì nó là một thứ men hòa giải và hòa bình cho toàn thế giới”.

Hồng Thủy

Read More
05Tháng Chín
2021

Cha Guillaume Conquer, linh mục truyền giáo tại Campuchia

05/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Cha Guillaume Conquer, linh mục truyền giáo tại Campuchia

 

Cha Guillaume Conquer là một linh mục trẻ thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), đã ở Campuchia gần hai năm qua. Ngoài hoạt động mục vụ, cha còn phụ trách trang tiếng khmer của Wikipedia. Cha chia sẻ về những thách đố và hy vọng trong khi loan báo Tin Mừng qua văn hoá, ngay cả khi bách khoa toàn thư trực tuyến “không phải là một công cụ để chiêu dụ tín đồ, nhưng là một công cụ tìm kiếm Chân Lý”.

Ảnh: Asianews

Là một nhà truyền giáo trẻ của Hội Thừa sai Paris, cha Guillaume Conquer được truyền chức linh mục tại Giáo phận của công quốc Monaco và sau đó đến Campuchia thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Hiện nay, cha đang dấn thân hoà mình trong cánh đồng truyền giáo tại làng Chom Lak, hướng dẫn đàn chiên bé nhỏ khiêm tốn.

Là biên tập viên của Wikipedia từ năm 2008, vào ngày 17/8 vừa qua, cha Conquer đã tổ chức một hội thảo trực tuyến về Wikimania với 15 người tham dự. Wikimania là một hội nghị thường niên nhằm tôn vinh khả năng tự do tiếp cận kiến thức nhờ các tình nguyện viên khắp nơi trên thế giới. Được tổ chức và tài trợ bởi Tổ chức Wikimedia, lẽ ra năm nay, hội thảo sẽ diễn ra tại Bangkok nhưng đã được chuyển sang trực tuyến từ Campuchia theo ý muốn của cha Conquer.

Cha cho biết, trang Wikipedia tiếng Khmer đã được tạo ra cách đây 15 năm, nhưng từ năm 2016, số biên tập viên đã giảm. Hiện nay trang này phụ thuộc vào thế hệ trẻ để phát triển. Mục tiêu của cha là tăng gấp đôi số lượng bài viết của trang trong năm tới.

Khi được hỏi sứ vụ của cha có liên quan gì đến Wikipedia? Cha giải thích: “Điều này thực tế có liên quan đến một truyền thống lâu đời của pháp. Vào thế kỷ 19, tại châu Á, các học giả quan tâm đến tiếng Pali và tiếng Phạn, như tại châu Âu là tiếng Latinh. Tiếng Campuchia là ngôn ngữ nói, phổ biến. Các cuốn từ điển tiếng Pháp-Khmer đầu tiên được các nhà truyền giáo thực hiện và một số cuốn chính xác đến mức chúng vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Công việc của tôi với WIkipedia cũng vậy. Đó là một nhiệm vụ to lớn, nhưng nó đang sống”.

Tới đây, mọi người có thể đặt ra câu hỏi khác: “Nhưng trong từ điển, đâu là sứ vụ?”. Linh mục truyền giáo 32 tuổi giải thích tiếp: “Đó là sự nhập thể của Ngôi Lời. Kiến thức trở thành xác phàm”. Nhưng cha cũng chỉ ra: “Wikipedia không phải là công cụ phù hợp để chiêu dụ tín đồ. Thành công của nó được đưa ra bởi quan điểm trung lập. Đó là không gian dành cho kiến thức, không phải để rao giảng. Và điều này vẫn là một thách đố lớn. Tôi đã viết trang về thánh Tôma Aquinô. Nhưng làm thế nào để người Campuchia hiểu rằng vị thánh này đã cách mạng hóa triết học? Điều này không dễ dàng”.

Cha cho biết, còn có những khó khăn khác liên quan đến ngôn ngữ. Ví dụ, trong làng mọi người rất tôn trọng cha, nhưng khi cha đi ra ngoài họ không biết ứng xử với cha như thế nào. Đối với một tín đồ Phật giáo, linh mục nghĩa là gì họ vẫn chưa hiểu thấu đáo. Do đâu mà Giáo hội đã đến một đất nước có lịch sử phong phú như vậy? Đôi khi rất khó dịch ngay cả những khái niệm cơ bản của Kitô giáo cho người dân.

Rồi còn có khó khăn về vật chất. Đa phần người dân không có máy tính. Mỗi tháng, trang có 3 triệu lượt truy cập, nhưng chỉ có khoảng chục người đóng góp cho lĩnh vực này. Cha khám phá nhiều điều khi xem dữ liệu của những người truy cập các trang Wikipedia tiếng Campuchia, như độ tuổi, nội dung quan tâm. Người Campuchia quan tâm đến lịch sử, các chính trị gia của họ. Mọi người sử dụng điện thoại, nhưng trong các trường học không có phòng máy. Bên cạnh đó còn có những thách đố do đại dịch gây ra, như tỷ lệ học sinh bỏ học và sợ hãi do chính phủ siết chặt các quy định. Trong chế độ Khmer Đỏ, các trường học đã từng bị đóng cửa trong bốn năm. Mọi người sợ rằng điều tương tự có thể xảy ra hoặc chính phủ sẽ không nói sự thật về số người chết vì Covid-19”.

Và cuối cùng là khó khăn về kinh tế. Vì chính phủ Campuchia yêu cầu phải thực hiện cách ly ít nhất trong 2 tuần khi đến đất nước này, vì vậy không có khách du lịch. Tất cả những người làm việc trong lĩnh vực này đều đã không còn việc làm.

Cha nói: “Các sự kiện lớn bị cấm, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục cử hành Thánh lễ.  giáo xứ của tôi, có 20 người, thực tế là một ngôi nhà bình thường của người dân Campuchia! Nhưng chưa bao giờ có nhiều Kitô hữu trong cả nước và khắp các tỉnh thành như vậy. Đó là một khoảnh khắc duy nhất đối với Giáo hội. Chúng tôi nhận ra mình đang sống trong một thời điểm hồng ân”.

Ngọc Yến

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 418
  • Page 419
  • Page 420
  • …
  • Page 720
  • Next page
Bài viết mới nhất
BẮT ĐẦU CUỘC GẶP GỠ GIỚI TRẺ TAIZÉ CHÂU Á TẠI HỒNG KÔNG
04/05/2026
ĐỨC THÁNH CHA TIẾP BAN QUẢN TRỊ VÀ THÀNH VIÊN CỦA "QUỸ GIÁO HOÀNG"
04/05/2026
Chương trình MỤC VỤ HUẤN GIÁO  
04/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.