2021
Sơ Fatima Emmanuel – người Samaria nhân hậu của người vô gia cư và người nghèo Malaysia
Sơ Fatima Emmanuel – người Samaria nhân hậu của người vô gia cư và người nghèo Malaysia
Sơ Fatima Emmanuel là một nữ tu Công giáo 57 tuổi, sống ở thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia. Từ năm 2018, sơ điều hành” Ngôi nhà Hy vọng Samaria”, một trung tâm dành cho người nghèo, người vô gia cư, với mục đích cung cấp cho họ nơi trú ẩn và các dịch vụ hỗ trợ để họ có thể hòa nhập với cuộc sống. Cầu nguyện đã thêm sức mạnh giúp sơ vượt qua những khó khăn thử thách.
Ảnh: UCAN
Cơ hội cộng tác với các tôn giáo
Mỗi ngày, sơ Fatima và một số tình nguyện viên cung cấp 350 gói đồ ăn thức uống cho người nghèo tại trung tâm Ngôi nhà Hy vọng Samaria. Nhưng những hạn chế của đại dịch đã cản trở các dịch vụ quan trọng của sơ. Khi đại dịch Covid-19 tấn công Malaysia và lệnh cấm vận trên toàn quốc được áp dụng vào tháng 3 năm ngoái, sơ rất đau lòng trước hoàn cảnh của người nghèo. Sơ chia sẻ: “Mọi người không được phép tụ tập và do đó những người vô gia cư không thể đến Ngôi nhà Hy vọng Samaria để dùng bữa. Vì vậy, chúng tôi đã phải thay đổi cách làm của mình để đóng gói thực phẩm và phân phát trước cửa trung tâm”.
Tuy nhiên, cách làm này cũng không có hiệu quả vì Kuala Lumpur áp dụng phong tỏa nghiêm ngặt, những người vô gia cư bị buộc phải rời khỏi đường phố và tạm trú trong các ký túc xá cộng đồng. Sơ Fatima và các tình nguyện viên quyết định đến các nơi này để cung cấp ít nhất 200 gói thực phẩm mỗi ngày. Đối với sơ, “đây là cơ hội vàng để làm việc cùng với những người thuộc các tín ngưỡng khác nhau và làm chứng cho tình yêu của Chúa Ki-tô”.
Những điều kỳ diệu Chúa đã làm
Sơ Fatima phải được cảnh sát cho phép đặc biệt để thực hiện các dịch vụ của mình. Sơ nói: “Thật là căng thẳng khi phải giữ cân bằng giữa những khuôn mặt đói khát và những quy định mới”. Việc chuẩn bị và giao thức ăn còn khó khăn hơn vì các tình nguyện viên thường xuyên làm việc cho Ngôi nhà Hy vọng Samaria gặp khó khăn khi đến trung tâm. Những người anh em vô gia cư của Nhà trọ Samaria đã hỗ trợ họ. Sơ rất vui mừng khi thấy sự biến đổi của những người vô gia cư giờ đây đã trở thành tình nguyện viên tại nơi họ lấy thức ăn để sinh sống.
Trung tâm cũng nhận được điện thoại từ các gia đình tị nạn và lao động nhập cư nước ngoài đang rất cần được giúp đỡ trong bối cảnh mất việc làm và thu nhập. Sơ Fatima cung cấp cho họ những gì có thể nhưng cũng giới thiệu họ với những người cùng chí hướng và cộng đồng. Sơ chia sẻ: “Trong những thời điểm tốt và xấu, Chúa đã ban cho chúng ta sức mạnh để tiếp tục. Tôi có thể làm chứng cho nhiều điều kỳ diệu đã xảy ra tại Ngôi nhà Hy vọng Samaria, nơi chúng tôi đã chứng kiến hai con cá và năm chiếc bánh được gia tăng lên nhiều”.
Ơn gọi phục vụ người nghèo cao tuổi
Sơ Fatima Emmanuel sinh ra trong một gia đình Công giáo vào ngày 5 tháng 3 năm 1964, tại thị trấn Taiping thuộc bang Perak của Malaysia. Sơ là con thứ hai trong gia đình có bốn người con. Gia đình sơ không chỉ có tinh thần tôn giáo trong việc cầu nguyện mà còn trong hành động vì ông nội của sơ là một giáo lý viên. Sơ kể: “Từ khi còn nhỏ, ông nội và cha mẹ tôi đã dạy tôi cách chia sẻ với người nghèo những gì chúng tôi có”. Niềm khao khát được phục vụ người nghèo được gieo vào lòng sơ từ thời thơ ấu đã thôi thúc sơ trở thành một nữ tu.
Năm 20 tuổi, Fatima gia nhập dòng Tiểu muội người nghèo, một dòng nữ do thánh nữ Jeanne Jugan người Pháp thành lập năm 1839. Dòng có khoảng 2.300 thành viên ở 31 quốc gia và đặc sủng chính của dòng là phục vụ những người nghèo cao tuổi. Theo trang web của dòng, các nữ tu của dòng đang phục vụ khoảng 13.000 người cao tuổi nghèo khổ trên toàn cầu. Tinh thần của Thánh Jeanne Jugan đã truyền cảm hứng cho sơ Fatima; sơ đã tìm thấy niềm vui trong “sự nhỏ bé và khiêm nhường trong Giáo hội và phục vụ những người nghèo cao tuổi”.
Kinh nghiệm đức tin tại châu Phi
Sơ Fatima đã truyền giáo ở nhiều nước khác nhau ở Châu Âu, Châu Phi và Châu Á trong hơn 30 năm. Sơ trở lại Malaysia vào năm 2014. Những kinh nghiệm truyền giáo đã dạy cho sơ những bài học tuyệt vời về cuộc sống. Sơ chia sẻ: “Ở Châu Phi [Congo, Nigeria và Kenya], người dân đã dạy tôi rằng người ta có thể hạnh phúc và hài lòng với những gì mình có. Người dân đã dạy tôi niềm tin vui vẻ giữa đau khổ và chấp nhận hoàn cảnh mà chúng tôi đang gặp phải. Họ dạy tôi nhìn thấy bàn tay của Chúa ngay cả giữa chiến tranh”.
Người dân châu Phi cũng để lại một ấn tượng sâu đậm khác đối với sơ. “Họ không bao giờ chất vấn Chúa giữa lúc đau khổ. Thay vào đó, họ biết ơn về sự chăm sóc quan phòng của Thiên Chúa. Cộng đồng Châu Phi đã xây dựng đức tin của tôi để tôi mạnh mẽ hơn và vui vẻ hơn trong cuộc sống”.
Trở về nhà ở Malaysia, sơ Fatima phục vụ dòng ở Kuala Lumpur. Vào năm 2015, sơ đã đến thăm Carl’s Kitchen Feeding Program, một bếp súp do Tổng giáo phận Kuala Lumpur điều hành. Cho đến tháng 6 năm 2018, bếp ăn đã cung cấp những suất ăn miễn phí cho những người nghèo và người gặp khó khăn. Sơ Fatima vô cùng xúc động trước vẻ mặt buồn bã và bối rối của những người đến lấy thức ăn tại Carl’s Kitchen. Tuy nhiên, sơ chưa sẵn sàng tham gia vào sứ vụ vì sơ đã phục vụ người nghèo trong nhiều thập kỷ.
Ảnh: Twitter
Phục vụ tất cả người nghèo
Sau đó, sơ quyết định phục vụ người nghèo ở mọi lứa tuổi, không chỉ người già. Sau hai năm phân định, thông qua các khóa tĩnh tâm và linh hướng, vào năm 2018 sơ đã rời khỏi dòng để hoạt động độc lập, phục vụ tất cả những người vô gia cư. Đức Tổng Giám mục Julian Leow của Kuala Lumpur đã cho phép sơ thi hành sứ vụ cho những người vô gia cư trong tổng giáo phận. Sơ nói: “Thật không dễ dàng để rời khỏi khu vực quen thuộc của tôi và cộng đoàn của tôi, nhưng Chúa có một giấc mơ khác cho tôi và cho công việc của Người”.
Sơ Fatima bắt đầu đến thăm những người vô gia cư và nghèo khổ trên đường phố để cung cấp thực phẩm và vật dụng y tế cho họ. Ngay sau đó, một nhóm tình nguyện viên đã tham gia cùng sơ. Họ cùng nhau giải cứu một số người đàn ông vô gia cư, đưa họ đến các cơ sở cai nghiện và giúp họ tìm việc làm.
Ngôi nhà Hy vọng Samaria
Vào tháng 11 năm 2018, sơ đã thành lập Ngôi nhà Hy vọng Samaria cho những người vô gia cư. Tại trung tâm, những người vô gia cư được ăn sáng và ăn trưa từ thứ Hai đến thứ Bảy. Họ có thể tắm rửa và giặt quần áo. Họ có thể ở lại bao lâu họ không có nơi nào để đi. Hai lần một tháng, các bác sĩ Công giáo khám bệnh miễn phí cho họ. Các tù nhân giúp đỡ trong việc duy trì trung tâm. Sơ Fatima và các tình nguyện viên tổ chức sinh nhật cho các tù nhân và các lễ hội như Tết Nguyên Đán, Eid, Diwali và Giáng sinh tại trung tâm như một cử chỉ thấm nhuần tinh thần gia đình và tình cảm thân thuộc.
Sơ Fatima nói rằng họ cần một nơi lớn hơn và tốt hơn để phục vụ và cải tạo nhiều người vô gia cư hơn. Vào tháng 4 năm 2020, sơ thuê một tòa nhà hai tầng ở Selangor. Nhà trọ Samaria mới này là một nơi trú ẩn tạm thời và có bảy tù nhân.
Cầu nguyện là sức mạnh để vượt qua thử thách
Niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa và lời cầu nguyện đã mang lại cho sơ Fatima nghị lực để vượt qua mọi thử thách. Sơ tin rằng Chúa đã và đang cung cấp tất cả các nhu cầu về tinh thần và vật chất cho Ngôi nhà Hy vọng Samaria bao gồm các tình nguyện viên, nhà hảo tâm, những đóng góp và việc cải tạo người vô gia cư. Sơ nói: “Chúng ta không thể là người truyền giáo nếu không cầu nguyện vì cầu nguyện là một phần thiết yếu của sứ mệnh truyền giáo. Chúng ta phải tin rằng Chúa sẽ không bỏ rơi người nghèo và họ rất quý giá đối với Người”.
Hồng Thủy
2021
Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!
Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!
Khi đọc Cựu ước, đừng cho rằng nó sai lầm chỉ vì có những điểm không tương đồng với cảm thức đương đại.
Cựu ước chứa đựng nhiều luật lệ khác nhau, nhưng chúng lại không phù hợp với cảm thức hiện nay và có thể gây ra những trở ngại cho việc đọc Kinh thánh. Có một số cách để giải quyết chuyện này.
Đầu tiên, đừng cho rằng Cựu ước sai lầm chỉ vì một số lập trường của nó không tương đồng với cảm thức đương đại. Quan niệm rằng tư tưởng của chúng ta ngày nay tự động vượt trội so với tư tưởng của thế giới cổ đại phản ánh một hình thức của lỗi ngụy biện dựa vào cái mới; cần phải chất vấn liệu những tư tưởng hiện đại có vấn đề hay không.
So với những người thời xưa, chúng ta hưởng một cuộc sống rất nhẹ nhàng và thoải mái, vì thế thật hợp lý để chất vấn liệu một số những quan điểm của chúng ta có thể trở nên phi thực tế hay thậm chí là suy đồi hay không.
Tiếp nữa, chúng ta cần thừa nhận rằng, một số các luật lệ bị đặt vấn đề đều nằm trong bộ Ngũ thư (các sách từ Sáng thế đến Đệ nhị luật) và như thế, chúng phản ánh về tình trạng sơ khai của một mặc khải tiệm tiến. Chính Đức Giêsu khẳng định rằng Môsê đưa ra một số luật lệ cho dân Israel chỉ vì họ lòng chai dạ đá (Mc 10,5). Thiên Chúa sẵn lòng khoan thứ cho một số thực hành nhất định của dân Israel trong một thời gian, cuối cùng Người mới mặc khải toàn bộ thánh ý của Người qua Đức Kitô. Vì lẽ ấy, sự khó hiểu do một luật lệ cụ thể mang lại, thực ra lại thể hiện việc Thiên Chúa đã khoan thứ vì dân Israel chưa đạt đến tình trạng tiến triển hơn về văn hóa và tâm linh.
Thứ ba, việc đọc cẩn trọng những bản văn luật cho thấy rằng, thay vì hàm ý một sự cho phép, lề luật thực ra đang cố gắng hạn chế thiệt hại xảy ra trong một tình huống. Chẳng hạn, một số người cảm thấy bị sốc bởi những quy định nói về điều mà đàn ông Israel có thể làm khi họ bắt giữ được phụ nữ trong giao chiến và muốn cưới họ (Đnl 21,10-14), tuy nhiên, mục đích của luật này thật ra là để kiềm chế những hành vi khác của nam giới và cung cấp những sự bảo vệ cho các tù nhân nữ.
Theo đó, người đàn ông không được phép cưới người phụ nữ ngay lập tức. Có một giai đoạn chờ đợi mà người phụ nữ được ăn vận kém hấp dẫn và để tang cho cha mẹ mình, khoảng thời gian này giúp người đàn ông có cơ hội xem xét lại (Đnl 21,12-13). Bản văn cảnh báo người đàn ông, người vẫn cố muốn cưới người phụ nữ này, rằng anh ta đã “làm nhục cô ấy” (Đnl 21,14), và nếu anh ta quyết định ly dị, thì cô ta có quyền đi bất cứ đâu mình muốn, bao gồm việc quay trở lại nhà mình. Người đàn ông không được phép bán hay đối xử với cô ta như một nô lệ. Do đó, bản văn có mục đích hạn chế cách mà những người Israel đối xử với tù nhân nữ.
Thứ tư, chúng ta cần hiểu về những nguyên tắc mà lề luật đặt nền tảng trên đó. Chẳng hạn, nhiều người thời nay phê phán những tuyên bố gây ấn tượng khắc nghiệt của Cựu ước, như việc cho phép chuyện “mắt đền mắt, răng đền răng”. Tuy nhiên, hiểu cách chính xác, những đoạn văn này diễn tả về nguyên tắc công bằng và hướng đến việc tăng triển ích chung.
Ba đoạn văn đề cập đến nguyên tắc “mắt đền mắt” gồm: Xuất hành 21,22-25; Lêvi 24,17-21 và Đệ nhị luật 19,16-21. Đoạn văn thứ nhất giải quyết tình huống những người đàn ông đánh nhau và vô tình gây thương tổn cho một phụ nữ có mang, làm cô ta sẩy thai. Đoạn văn thứ hai giải quyết việc một người đàn ông tấn công và làm thương tật người khác. Bản văn thứ ba giải quyết trường hợp một người làm chứng gian ở tòa để hãm hại người vô tội. Mỗi bản văn đều xuất hiện một qui tắc chung: “Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm” (Xh 21,23-25).
Lưu ý rằng những đoạn văn này có mục đích để tòa án sử dụng khi một tội ác đã được thực hiện. Chúng không phải là những chỉ dẫn dạy người ta trả thù cá nhân. Mục đích của việc có một hệ thống tòa án là để ngăn con người thực hiện những hành vi này bằng cách đảm bảo cho công lý được thực thi khi bên vô tội bị làm hại.
Nếu con người tự trả thù, họ thường thực hiện điều đó cách thái quá. Chẳng hạn, một người bị gây thương tích hay nhìn thấy người mình yêu thương bị thương tổn có thể sẽ sát hại thủ phạm. Các tòa án và luật lệ tồn tại để giữ cho điều này không diễn ra. Để thực hiện đúng vai trò của mình, các tòa án cần thực thi luật pháp cách công bằng. Nếu họ quá khoan nhượng, mọi người có thể giải quyết vấn đề theo cách của riêng họ. Do đó mới có những đoạn về “mắt đền mắt”. Chúng hướng dẫn cho các tòa án đưa ra hình phạt phù hợp với tội phạm, đây là một nguyên tắc nền tảng của công lý. Nguyên tắc này thúc đẩy công ích và trật tự xã hội bằng cách ngăn cản người khác tự tiện trả thù.
Trong một thế giới không có hệ thống nhà tù với số lượng lớn, điều này có thể được hiểu theo nghĩa đen là “mắt đền mắt”, dù nó không luôn là như vậy. Sách Dân số 35,31 định rõ không một khoản tiền chuộc nào được chấp nhận trong trường hợp giết người, điều này ám chỉ rằng trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, bên phạm tội có thể trả một khoản bồi thường. Như vậy, một người có thể tránh “mắt đền mắt” nếu trao trả một khoản bồi thường thích đáng cho bên bị hại.
Công lý cũng có thể được lòng thương xót tôi luyện theo những cách khác. Vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khuyên các cá nhân “hãy giơ má kia nữa” thay vì cứ bám sát vào thứ công lý “mắt đền mắt” (Mt 5,38-39).
2021
Không bao giờ là quá muộn khi muốn tìm ân sủng của Chúa.
Không bao giờ là quá muộn khi muốn tìm ân sủng của Chúa.
Vào ngày 24-2-1954, Jacques Fesch đã sát hại một cảnh sát và làm bị thương 3 người khác ở gần đó. Tội phạm thật rõ ràng. Trong quá trình cố ăn trộm từ một nhà buôn tiền, mọi thứ đã không diễn ra êm xuôi. Jacques bị kết tội giết người và bị kết án tử hình. Ngày 1-10-1957, anh bị xử tử.
Jacques sinh ra trong một gia đình giàu có. Cha của anh là một chủ ngân hàng thành công đến từ nước Bỉ. Ông cũng là một nghệ sĩ và một người vô thần, rất ít quan tâm đến cậu con trai. Được mẹ nuôi dưỡng thành tín hữu Công giáo, Jacques là một người hay mơ mộng. Anh cũng lười biếng và chẳng có tham vọng gì. Cha mẹ anh ly hôn khi anh 17 tuổi. Jacques trở nên khép kín, và có hạnh kiểm tồi tệ đến mức bị trường đuổi học. Cha anh đã giao cho anh một công việc tại ngân hàng của ông, nhưng Jacques, người đã từ bỏ đức tin Công giáo, bắt đầu ăn chơi và gặp rắc rối.
Bạn gái của Jacques là Pierrette đã có thai. Khi Jaques 21 tuổi, anh và Pierrette đã kết hôn trong một đám cưới dân sự. Anh nghỉ việc ở ngân hàng của cha mình, bắt đầu chè chén say sưa và không làm được việc gì có ý nghĩa. Anh bỏ bê vợ con của mình, và có con với một người phụ nữ khác.
Jacques lúc đó 24 tuổi. Anh đã có vợ và một con gái, và một đứa con khác nữa với nhân tình. Anh quá mệt mỏi căng thẳng nên đã ngỏ lời xin người cha giàu có của mình mua cho anh một chiếc thuyền để đi Tahiti. Cha anh từ chối. Không hy vọng thoát khỏi cuộc sống mà anh đã tạo ra cho chính mình, Jacques Fesch mua một khẩu súng và toan tính đi ăn cướp của một nhà buôn tiền.
Tên người buôn tiền là Alexander Silberstein. Fesch đánh vào đầu hắn, nhưng Silberstein đã bấm chuông báo động. Một cảnh sát tên Jean Vergne ở gần đó đã chạy đến hiện trường. Jacques, chạy ra khỏi hiện trường, quay lại và bắn trả dữ dội vào viên cảnh sát đang lao tới. Jean Vergne chết tại hiện trường. Ba người chứng kiến bị thương. Jacques Fesch bị bắt vài phút sau đó khi anh cố gắng chạy vào tàu điện ngầm.
Tội ác này đã tạo ra một cơn chấn động. Các bài báo về sự tàn bạo này bùng nổ trên khắp nước Pháp, và đám tang của viên cảnh sát bị giết đã xuất hiện trên tất cả các bản tin truyền hình. Báo chí theo dõi phiên tòa của Jacques, và bầu không khí “kịch tính” đã khiến cả nước theo dõi diễn tiến phiên tòa sát sao cho đến hồi kết. Vào ngày 6-4-1957, Jacques Fesch bị kết án tử hình vì (các) tội ác của mình. Cách hành quyết ở Pháp là xử tử hình bằng máy chém.
Jacques bị biệt giam tại nhà tù La Sante ở Paris. Khi vị tuyên úy nhà tù lần đầu tiên tiếp cận người đàn ông bị kết án, Jacques đã đuổi ngài đi. Nhưng vị tuyên úy vẫn tiếp tục nỗ lực, và sau cùng hai người trở nên thân thiết. Trong thời gian này, một người bạn cũ của Jacques đã được thụ phong linh mục. Ngài bắt đầu đến thăm anh. Và còn một nhân vật thứ ba nữa đã khiến Jacques hoán cải, chính là luật sư của anh. Tên ông là Baudet, một người Công giáo sùng đạo.
Với Chúa, mọi sự đều có thể
Ba nhân vật này đã làm việc cùng nhau như những công cụ của ân sủng ban xuống từ trời cao. Người đàn ông bị kết án tử này bắt đầu xem xét lại cuộc sống của mình. Khi nhìn nhận mình đã gây ra nỗi đau và thống khổ cho quá nhiều người, anh đã đi vào một hành trình hoán cải. Jacques đã trở lại với đức tin Công giáo của mình, đã ôm lấy nó với cả con tim.
Jacques bấy giờ đã coi phòng giam của mình như một tu viện. Anh đọc tiểu sử tâm linh của Thánh Phanxicô Assisi và Thánh Têrêxa thành Lisieux. Anh thường xuyên liên lạc với gia đình, đặc biệt với người anh trai và mẹ kế của anh. Anh viết nhật ký tâm linh hằng ngày – mà một ngày kia sẽ thành cuốn sách thu hút trí tưởng tượng của nhiều người. Anh đã làm hòa với vợ vào đêm trước khi chết. Vào ngày 1-10-1957, gần 6 tháng sau khi bị tuyên án, Jacques Fesch đã bị xử tử vì tội ác của mình.
Pierrette – vợ của Jacques, và Veronica – con gái của anh, đã tìm cách công bố những bức thư của anh như là điển hình của ơn cứu độ. Lúc đầu, không ai quan tâm. Nhưng với sự giúp đỡ của nữ tu Veronique Dòng Cát Minh và linh mục Augustin-Michel Lemonnier, họ đã xuất bản các tác phẩm của anh. Từ những năm 1970 cho đến hôm nay, những tác phẩm này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người.
Vào ngày 21-9-1987, Đức Hồng y Jean-Marie Lustiger – Tổng Giám mục Paris – đã mở một cuộc điều tra cấp giáo phận về cuộc đời của Jacques Fesch (nhằm phong chân phước cho anh). Năm 1993, án phong thánh cho anh chính thức được mở tại Rôma, mang lại cho Jacques danh hiệu Tôi tớ của Chúa.
Chúng tôi đã mở đầu bài viết này bằng hai câu của dụ ngôn “Đứa Con Hoang Đàng”, một Phúc âm về sự tha thứ. Chúng tôi sẽ kết thúc bài viết này bằng hai câu khác cũng của Phúc âm Luca, phản ánh sự hoán cải đáng chú ý nhất mọi thời đại. Kẻ trộm lành Dismas đã nói với Chúa Giêsu khi Ngài bị treo trên thập giá:
“Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Đức Giêsu nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 42-43)
Vâng, đối với Chúa, lòng thương xót và sự tha thứ luôn hằng tồn tại đến muôn đời.
Larry Peterson (Aleteia)
Tóc Ngắn chuyển ngữ
2021
Mahira Bergallo Brzezicki – vận động viên bại não bẩm sinh – vượt thắng nghịch cảnh nhờ đức tin
Mahira Bergallo Brzezicki – vận động viên bại não bẩm sinh – vượt thắng nghịch cảnh nhờ đức tin
Trong số hàng trăm vận động viên khuyết tật về thể chất hoặc trí tuệ tham dự Thế vân hội dành cho người khuyết tật diễn ra tại Tokyo từ ngày 24/8 đến 5/9 năm nay có vận động viên trẻ Mahira Bergallo Brzezicki, 19 tuổi, người Argentina, bị bại não bẩm sinh. Cô tự hào vì đã vượt qua nghịch cảnh và chắc chắn rằng việc cô được chọn thi đấu là một câu trả lời của Chúa.
Từ Oberá, Argentina, Bergallo tham dự sự kiện với tinh thần phó thác chính bản thân cho Chúa và đeo một chiếc vòng đeo tay có Thánh giá.
Từ bại não bẩm sinh đến trở thành vận động viên
Bergallo không tưởng tượng được mình sẽ chọn thi đấu cho Argentina, bởi vì cô luôn chỉ đặt những “mục tiêu nho nhỏ” phù hợp với tình trạng thể chất của mình. Cô rất ngạc nhiên khi được chọn tham gia Paralympics ở Tokyo và cô chỉ được biết vào cuối tuần cuối tháng 6. Kể từ đó, cô đã đan xen những ngày của mình giữa việc học đại học về truyền thông với một lịch trình luyện tập căng thẳng và nhóm canh tân trong Thánh Linh mà cô là thành viên.
Bergallo sinh ngày 22/8/2001, khi thai được sáu tháng. Ca sinh nở rất phức tạp. Bergallo chào đời sau chị gái song sinh và do thiếu oxy nên cô bị bại não. Điều này ảnh hưởng đến khả năng di chuyển, nhưng không ảnh hưởng đến trí tuệ của cô. Không có bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán tình trạng thể chất của cô, lên 4 tuổi cô mới bắt đầu biết đi. Thậm chí, gia đình còn cho rằng cô bị khuyết tật nhẹ là do di truyền.
Trong khi Bergallo đang cố gắng vượt thắng nạn bắt nạt ở trường, cô bắt đầu chơi thể thao một cách khó khăn. Chỉ đến năm cô 14 tuổi, các chuyên gia mới chẩn đoán được vấn đề của cô.
Kể từ đó, các chuyên gia đã hướng sự nhiệt tình và cống hiến của cô gái trẻ này cho các môn thể thao thích hợp. Thật không dễ dàng để Bergallo chấp nhận điều đó, nhưng qua nhiều năm, lắng nghe câu chuyện của các bạn học khác của mình, cô đã hiểu ra rằng mọi thứ là như vậy và cô tự hào về mình.
Bergallorất gần gũi với gia đình, bao gồm cha mẹ, chị gái sinh đôi, em trai và bà, những người “không bao giờ đối xử khác biệt với cô”. Cô biết ơn đội điền kinh, huấn luyện viên, người giống như một người cha và người đã giúp cô vượt qua nhiều điều, những người bạn và những người mà cô đã gặp trong cuộc đời. Họ đã giúp cô hiểu rằng đó là con người cô đã từng là và cô đã khám phá ra một Mahira Bergallo khác mà cô không hề biết.
Bám vào đức tin
Nhưng trên hết, Bergallo chia sẻ, “Tôi bám vào đức tin rất nhiều. Thiên Chúa chiếm một vị trí rất lớn trong cuộc đời tôi. Chúa đã hướng dẫn tôi và Người đã hướng dẫn tôi đến vị trí của ngày hôm nay”. “Tôi luôn xin với Chúa cho tôi thấy tôi là ai. Khi còn nhỏ, tôi đã tự hỏi mình ‘tôi là ai’, ‘tôi ở trên thế giới này để làm gì’ và Người đã chỉ cho tôi những điều mà chỉ có thể đến từ Người”. “Hôm nay tôi biết con đường của mình là gì và tôi phải đi theo con đường nào và tôi rất vui khi xác nhận điều đó. Tôi nghĩ đây là và đã là điều tôi đã hy vọng, và nó thậm chí còn tốt hơn”.
Kinh nghiệm sống này là điều mà Mahira Bergallo cố gắng chia sẻ với những người trẻ cùng cô tham gia trong nhóm cầu nguyện dành cho giới trẻ tại nhà nguyện Đức Mẹ Fatima. Cùng với chị gái song sinh của mình, cả hai đều hướng dẫn và đồng hành với nhóm, nơi cô thích cầu nguyện, ca ngợi, rao giảng và chia sẻ với những người bạn cùng lứa, những người cũng đang tìm kiếm câu trả lời từ Chúa và những người ủng hộ cô. Cô chia sẻ: “Họ giống như anh chị em của tôi, họ quan tâm đến sức khỏe của tôi, về lịch trình của tôi, thậm chí họ sẽ giúp tôi mọi thứ cho chuyến đi”.
Thể thao đã thay đổi cuộc sống của Bergallo: “Nó ở trong cuộc sống hàng ngày của tôi, mọi thứ đều liên quan đến nó, nó hoạt động trong mọi việc và tôi không thể ngừng tập luyện nữa. Và nếu không còn thi đấu được nữa, tôi nghĩ mình sẽ cống hiến cho nghề báo, chuyên về thể thao”.
Hồng Thủy
