2022
Linh mục Hương Cảng nhận định Trung Quốc cố gắng kiểm soát tôn giáo ở lãnh thổ này
Linh mục Hương Cảng nhận định Trung Quốc cố gắng kiểm soát tôn giáo ở lãnh thổ này
Lần đầu tiên phát biểu trước công chúng dưới tên riêng của mình, một linh mục Hương Cảng nói rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc đang sử dụng các chiến thuật ý thức hệ như cải tạo và tuyên truyền để xóa bỏ quyền tự do tôn giáo ở Hương Cảng, được nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc từ năm 1997.
The Cathedral of the Immaculate Conception in Hong Kong. Credit: Volodymyr Dvornyk/Shutterstock
Phát biểu trong chương trình “The World Over” của EWTN ngày 21 tháng 4, Cha Vinh Sơn Vũ, một linh mục của Giáo phận Hương Cảng và là một luật sư giáo luật, nói rằng bởi vì Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn kiểm soát mọi khía cạnh của xã hội, điều đó đương nhiên bao gồm việc thực hành tôn giáo.
Cha Vũ nói rằng ngài đã quan sát thấy rằng nhiều nhà lãnh đạo Kitô giáo miễn cưỡng lên tiếng chống lại các hành động của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì sợ bị chính quyền dân sự giam giữ, hoặc tệ hơn. Ngài lưu ý rằng gần đây, một mục sư Tin lành đã bị giam giữ và bị buộc tội dụ dỗ vì đã phát biểu trên kênh YouTube của mình để ủng hộ một người tổ chức một buổi cầu nguyện tại Quảng trường Thiên An Môn.
Ngài nói: “Là những linh mục và giám mục, chúng ta được kêu gọi trở thành những nhà tiên tri, lên tiếng chống lại sự bất công trong xã hội của chúng ta”.
“Nhưng tấm gương đó của mục sư Tin lành cho các linh mục và giám mục ở Hương Cảng thấy rằng nếu bạn rao giảng điều gì đó chống lại chính phủ, thì sẽ có hậu quả to lớn, và vì thế trong hai năm qua, bạn hiếm khi thấy bất kỳ linh mục hay giám mục nào ở Hương Cảng dám nói điều gì đó công khai chống lại chính quyền Hương Cảng hoặc Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cha Vinh Sơn Vũ nhắc mọi người nhớ rằng vào ngày 31 tháng 10, một cuộc họp chưa từng có đã diễn ra trong thành phố, ban đầu được giữ bí mật nhưng sau đó được hãng tin Reuters cho biết trong một phúc trình ngày 30 tháng 12.
Cuộc họp được bảo trợ bởi Văn phòng Liên lạc Chính phủ Trung ương của Bắc Kinh tại Hương Cảng, với sự giám sát từ đại lục của Cục Quản lý Tôn giáo Nhà nước.
Về phía Trung Quốc có ba giám mục và 15 linh mục và nam nữ tu sĩ của Giáo Hội quốc doanh được chính quyền Bắc Kinh công nhận. Về phía Hương Cảng có hai giám mục và 13 linh mục và nam nữ tu sĩ.
Trưởng phái đoàn Hương Cảng là Cha Phêrô Thái Huệ Văn (Choy Wai-man – 蔡蕙文), vị linh mục ngoan ngoãn mà chính quyền Trung Quốc rất vui khi được nhìn thấy đứng đầu giáo phận. Cha Stêphanô Châu, vị giám mục mới được chỉ định, chỉ tham gia cuộc họp một thời gian ngắn khi bắt đầu, trong khi sự kiện được khai mạc và bế mạc bởi Đức Hồng Y Gioan Thang Hán (Tong Hon 湯漢), giám mục hiệu tòa của Hương Cảng và đang là Giám Quản Tông Tòa của giáo phận. Đương nhiên là vắng mặt vị Hồng Y chín mươi tuổi Giuse Trần Nhật Quân (陈日君, Zen Ze-kiun), biểu tượng cho sự phản đối bọn cầm quyền Trung Quốc và chỉ trích gay gắt thỏa thuận giữa Vatican và Bắc Kinh.
Các đại biểu từ đại lục nhấn mạnh rằng Hương Cảng cũng phải hoàn toàn nằm dưới chính sách của cái gọi là “sự Trung Quốc hóa” các tôn giáo, với sự phục tùng rõ rệt hơn của Giáo Hội Công Giáo đối với những đặc điểm riêng biệt của Trung Quốc, là những điều do Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc quy định.
“Trung Quốc hóa” các tôn giáo là nền tảng chính sách của họ Tập, là người mà chương trình nghị sự thực tế đã được những người tham gia cuộc họp biết rõ. Trong suốt cả ngày, không ai đề cập đến chủ tịch Trung Quốc, nhưng “ông Tập là con voi trong phòng”, một thành viên của phái đoàn Hương Cảng nói với Reuters. “Một số người trong chúng tôi coi ‘Trung Quốc hóa’ chỉ là mật mã cho ‘Tập Cận Bình hóa’”. Xin mở ngoặc để giải thích thêm cụm từ “con voi trong phòng”, tiếng Anh là “the elephant in the room”, được dùng trong thế giới nói tiếng Anh để chỉ một vấn đề, hay một nhân vật sờ sờ ra đó và có một tầm ảnh hưởng lớn nhưng người ta cố ý không đề cập đến.
Cuộc họp ở Hương Cảng hoàn toàn không phải là một sáng kiến đơn lẻ. Vào đầu tháng 12, ông Tập đã có bài phát biểu tại Bắc Kinh trong khuôn khổ “Hội nghị quốc gia về công việc liên quan đến các vấn đề tôn giáo”, trong đó ông nhắc lại rằng tất cả các tôn giáo ở Trung Quốc đều phải phục tùng Đảng Cộng sản, là đảng có quyền “thiết lập đường lối cho hoạt động tôn giáo”, vì lợi ích của một “xã hội Trung Quốc hóa toàn diện”.
Nhưng trên hết, phải tính đến văn kiện cơ bản được Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua ngày 11 tháng 11, với tiêu đề “Nghị quyết về những thành tựu chính và kinh nghiệm lịch sử của Đảng trong một thế kỷ qua.”
Một nghị quyết như vậy là nghị quyết lần thứ ba trong toàn bộ lịch sử của cộng sản Trung Quốc. Lần thứ nhất là với Mao Trạch Đông năm 1945, lần thứ hai với Đặng Tiểu Bình năm 1981, và lần thứ ba, theo lệnh của Tập Cận Bình, liên quan đến những nghị quyết khác như một kiểu tổng hợp Hegel, với tham vọng kết hợp những gì tốt nhất mà Mao đã làm, những luận điểm, và những sửa sai bởi Đặng Tiểu Bình, hay những phản đề.
Trong phần thứ năm, nghị quyết chỉ trích hệ thống dân chủ Tây phương, được tạo thành từ chủ nghĩa hợp hiến, sự luân phiên của các chính phủ và sự phân chia quyền lực, một hệ thống mà nếu được thông qua được cho là “có thể dẫn đến sự hủy hoại của Trung Quốc”.
Nhưng đặc biệt, Tập từ chối “tự do tôn giáo kiểu Tây phương.” Ở Trung Quốc, “các tôn giáo phải được định hướng theo kiểu Trung Quốc” và liên tục chịu sự “chỉ đạo tích cực” của Đảng Cộng sản “để các tôn giáo thích ứng với xã hội xã hội chủ nghĩa”.
Đặng Tự Do
2022
Hồng Y Đoàn sau sự qua đi của Đức Hồng Y Carlos Amigo Vallejo
Hồng Y Đoàn sau sự qua đi của Đức Hồng Y Carlos Amigo Vallejo
Số cử tri của Hồng Y đoàn hiện nay là 117 vị, nghĩa là thấp hơn con số 120 vị do Đức Giáo Hoàng Montini đề nghị. Vào cuối tháng 12 năm 2022, dựa trên quy tắc theo đó các Hồng Y trên 80 tuổi mất quyền bầu cử, số Hồng Y cử tri sẽ chỉ còn 110 vị, nếu như Đức Thánh Cha Phanxicô không mở công nghị tấn phong Hồng Y.
Ảnh: CNS photo/Paul Haring
Danh sách các Hồng Y sẽ tròn 80 tuổi tính đến tháng 12 năm 2022:
Đức Hồng Y Norberto Rivera Carrera của Mễ Tây Cơ, sinh ngày 06.06.1942
Gregorio Rosa Chávez của El Salvador, sinh ngày 09.09.1942
Rubén Salazar Gómez của Colombia, sinh ngày 22.09.1942
Giuseppe Bertello của Ý, sinh ngày 01.10.1942
Gianfranco Ravasi của Ý, sinh ngày 18.10.1942
André Armand Vingt-Trois /vanh troa/ của Pháp, sinh ngày 07.11.1942
Óscar Andrés Rodríguez Maradiaga của Honduras, sinh ngày 29.12.1942
Trong số 117 Hồng Y cử tri hiện nay
12 vị được tấn phong bởi Đức Gioan Phaolô II (10%)
38 vị được tấn phong bởi Đức Bênêđíctô XVI (32%)
67 vị được tấn phong bởi Đức Thánh Cha Phanxicô (58%)
Các Hồng Y đã mất quyền bầu Giáo Hoàng là 92 vị
41 vị được tấn phong bởi Đức Gioan Phaolô II
26 vị được tấn phong bởi Đức Bênêđíctô XVI
25 vị được tấn phong bởi Đức Thánh Cha Phanxicô
Tổng số các vị Hồng Y ngày nay là 209
53 vị được tấn phong bởi Đức Gioan Phaolô II
64 vị được tấn phong bởi Đức Bênêđíctô XVI
92 vị được tấn phong bởi Đức Thánh Cha Phanxicô
Đức Thánh Cha Phanxicô đã triệu tập các công nghị tấn phong Hồng Y vào các ngày sau
1) ngày 22 tháng 2 năm 2014
2) ngày 14 tháng 2 năm 2015
3) ngày 19 tháng 11 năm 2016
4) ngày 28 tháng 6 năm 2017
5) ngày 28 tháng 6 năm 2018
6) ngày 5 tháng 10 năm 2019
7) ngày 28 tháng 11 năm 2020
Năm ngoái, 2021 là năm đầu tiên không có công nghị tấn phong Hồng Y.
Các quan sát viên nhận định rằng Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ mở công nghị tấn phong Hồng Y vào tháng 6 tới đây, trùng vào thời gian khi Tông Hiến mới về Giáo triều Rôma bắt đầu có hiệu lực.
Đặng Tự Do
2022
Người Công giáo có được tham dự nghi thức thành hôn và tiệc cưới cặp hôn nhân đồng tính không?
Người Công giáo có được tham dự nghi thức thành hôn và tiệc cưới cặp hôn nhân đồng tính không?
Hỏi : xin cha giải thích hai thắc mắc sau đây:
- Người Công giáo có được tham dự đám cưới của hôn nhân đồng tính không?
2.Trong Thánh Lễ thì khi nào thì Chúa Giêsu hiện diện trong bánh và rượu, vì có linh mục kia nói là khi linh mục đặt tay trên chén lễ thì Chúa bắt đầu ngự xuống trên bánh và rượu. Điều này có đúng vậy không ?
Trả lời:
1-Là người tín hữu Công Giáo, chúng ta có bổn phận sống và chu toàn mọi giáo lý và lề luật của Giáo Hội, là Mẹ đang thay mặt Chúa là Cha trong trách nhiệm dạy dỗ con cái mình tuân giữ mọi điều cần thiết cho được rỗi linh hồn để hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Cụ thể, giáo lý hôn nhân dạy mọi tín hữu biết rằng hôn nhân chỉ có giữa một người nam và một người nữ mà thôi, vì đây là ý muốn của Thiên Chúa từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữa và truyền cho họ phải “ sinh sản cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị địa cầu.” ( St 1:28).
Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích và truyền cho con người mệnh lệnh
Là “ sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” ( Mt 9: 6)
( giáo luật số 1055 &1)
Như Thế, Giáo Hội không thể chiều theo su hướng của thời đại tục hóa để công nhận hôn nhân đồng tính (same sex mariage) , tức là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được, vì đây là điều trái tự nhiên và vô luân, dựa trên chính lời Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê để truyền lại cho dân Do Thái xưa như sau:
“ khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm,…” ( Levi 20: 13)
Vậy mà các xã hội bệnh hoạn như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức…là những quốc gia có đông người theo Kitôgiáo, lại công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này để chiều theo đòi hỏi của thiểu số người bệnh hoạn đòi công nhân cho việc trái tự nhiên này là hôn nhân. Đây quả là một tụt hậu thê thảm cho một nếp sống tinh thần và luân lý lành mạnh, khác xa với đời sống của mọi loài vật chỉ sống với bản năng và không biết gì về luân lý, thuần phong mỹ tục.
Chúng ta không ghét hay lên án những người sinh ra với khuynh hướng bất bình thường ( abnormal) về phái tính ( sexuality). Chúng ta thông cảm và tôn trọng họ như mọi người bình thường khác. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân được, vì bản chất trái tự nhiên, trái luân lý của sự phối hợp giữa hai người nam hay hai người nữ. Hôn nhân mà họ đòi công nhận- và đã được các xã hội bệnh hoạn kia công nhận- là thứ hôn nhân không thể đạt được mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giáo dục chúng thành những người biết sống tự nhiên, phát triền bình thường về mọi mặt tinh thần và tình cảm.
Do đó, nếu các trẻ em mà những cặp hôn nhân đồng tính này nhận làm con nuôi thì những trẻ này sẽ nghĩ sao và học được gì trong gia đình chỉ có hai người cha hay hai người mẹ ? Tệ hại hơn nữa là khi thấy hai người cha hay hai người mẹ của chúng ngủ chung với nhau một giường ..thì chúng sẽ nghĩ gì về sự chung sống này
Đấy là những vấn nạn đặt ra cho những cặp hôn nhân đồng tính, cho các nhà giáo dục, các nhà xã hội học và luân lý học, và cách riêng, cho các xã hội bệnh hoạn đã công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này.
Trên bình diện luân lý, đạo đức, Giáo Hội không bao giờ công, nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này vì tự bản chất nó là vô luân, trái tự nhiên và không thể đạt mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập cho mục đích bảo tồn và phát triển sự sống của con người trên trần thế này cho đến ngày mãn thời gian,
Vì Giáo Hội không công nhận, nên người tín hữu Công giáo cũng không được phép tham dự đám cưới của những cặp đồng tính này, kể cả dự tiệc cưới của họ. Lý do là tham dự như vậy, có nghĩa là công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân theo luật của Chúa và của Giáo Hội, và phù hợp với luân lý đạo đức của con người.
Tiện đây cũng xin nói thêm điều này : ngay cả những đôi hôn phối Công Giáo, vì lý do riêng nào đó, không được chứng hôn trong nhà thờ,tức là thành hôn trong Giáo Hội, mà vẫn tổ chức tiệc cưới bên ngoài như những cặp hôn phối hợp pháp khác, thì người Công giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới này , vì tham dự như vậy, cũng có nghĩa là công nhận sự thành hôn của họ là hợp pháp theo giáo lý của Giáo Hội.
Cũng cùng lý do này, người cử tri Công giáo cũng không được bỏ phiếu cho những ứng cử viên nào đã công khai chống lại Giáo Hội vì tán thành việc phá thai, ly dị, chết êm dịu ( euthanasia) và hôn nhân đồng tính.Các ứng viên này có tham dự Thánh Lễ thì cũng không được rước Mình Thánh Chúa như những người tín hữu sống theo giáo lý, giáo luật của Giáo Hội,
2-Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau:
Mỗi khi Thánh Lễ được cử hành thì , một cách thiêng liêng, Chúa Giêsu hiện diện trong linh mục cử hành, trên bàn thờ, trong Sách Phúc Âm ( Gospel Book) và trong cộng đoàn giáo dân tham dự., đúng như lời Chúa đã phán bảo:
“ Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy Thì có Thầy ở đấy , giữa họ.” ( Mt 18: 20)
Nghĩa là khi linh mục mặc lễ phục , bước lên cung thánh để cứ hành Thánh lễ thì Chúa Giêsu đã hiện diện cùng với linh mục và giáo dân tham dự để diễn lại bữa ăn sau cùng của Chúa với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, Và nhất là dâng lại Hy Tế thập giá mà một lần Chúa đã dâng trên thập giá năm xưa để xin Chúa Cha tha tội cho cả loài người đáng phải phạt vì tội.
Ngày nay trên bàn thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội, Chúa đã liên tục mượn tay và miệng của các Thừa tác viên có chức thánh là Giám mục và Linh mục để dâng lại Hy tế thập giá của Người cùng thể thức và mục đích Chúa đã một lần dâng lễ đền tội lên Chúa Cha trên thập giá cách nay trên 2000 năm để xin ơn tha thứ cho con người ngày nay như cho con người xưa kia. Vì thế Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist là việc thờ phượng, ca ngượi , cảm tạ , và xin ơn cao trọng và quan trọng nhất mà Giáo Hội hiệp nhất cùng với Chúa Giê-su Kitô để dâng lên Chúa Cha cho mục đích cứu rỗi con người tội lỗi ngày nay và và còn tiếp tục cho tới ngày mãn thời gian.
Khi cử hành Thánh Lễ hay bất cứ Bí tích nào, thì giám mục và linh mục đều phải làm nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) chứ không nhân danh chính mình bao giờ.
Như thế, chính Chúa Kitô rửa tội, thêm sức , cử hành Thánh Lễ , tha tội, và sức dầu bệnh nhân (và truyền chức thánh dành riêng cho giám mục) qua tay giám mục và linh mục. Phải nói lại điều này để lưu ý mọi người là linh muc , hay giám mục chỉ là công cụ hữu hiệu Chúa dùng để ban phát ơn thánh của Người cho những ai muốn lãnh nhận cách nhưng không ( gratuitously)
Cũng chính vì linh mục hay giám mục chỉ là thừa tác viên, nên sự hữu hiệu( validity) của bí tích không liên hệ gì đến phẩm chất của thừa tác viên con người ( ex opera operato). Do đó, đừng ai thắc mắc hay nghi ngờ Thánh Lễ của linh mục này hay linh mục kia không thành sự vì cho là linh mục đó có đời sống bất xứng.Nếu thực sự có đời sống bất xứng , mà vẫn cử hành các bí tích hay Thánh Lễ, thì tất cả vẫn thành sự ( validly), nhưng người cử hành sẽ mắc tội phạm thánh ( sacrilege). Tội phạm thánh hay tội trọng là tội cấm làm lễ ( linh mục) và rước lễ ( giáo dân)
x.giáo luật số 916, SGLGHCG, số 1415)
Trở lại câu hỏi khi nào Chúa Giê su hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu.
Khi linh mục đặt tay và cấu xin trên chén thánh ( chalice) thì đó mới chỉ là phút nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần (Epiklesis, Epiclesis) để Người biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô.Nhưng Chúa Kitô chỉ thực sự hiện diện trong bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép ( consecration) mà thôi. Nghĩa là khi linh mục giơ tay trên lễ vật để xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc đó bánh và rượu nho chưa được biến đổi bản thể ( transubstantiation) để trở nên Mình và Máu Chúa Kitô, cho nên Chúa chưa thực sự hiện diện trong bánh và rượu lúc này.Chúa chỉ thực sự hiện diện sau khi linh mục đọc lời truyền phép là : Đây là Mình Thầy…, đây là chén Máu Thầy..đúng như chữ đỏ ( rubric) qui định.
Chính vì thế mà trước đây khi Thánh Lễ còn cử hành bằng tiếng La tinh, và linh mục quay lưng lại với giáo dân, thì sau khi linh mục đọc lời truyền phép và dâng Mình Thánh Chúa lên thì người giúp lễ phải rung chuông để báo cho công đoàn tham dự lễ biết rằng Chúa Giêsu đã thưc sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho để mọi người cúi đầu thờ lậy.
Tóm lại, trong phụng vụ thánh, thì Chúa Giêsu luôn có mặt trong các Thừa tác viên con người là linh mục và giám mục, nghĩa là chính Chúa hiện diện trong các Thừa tác viên này để rửa tội, thêm sức, tha tội, sức dầu bệnh nhân và nhất là dâng lại Hy tế thập giá của Người một lần nữa trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích mà xưa Chúa đã một lần dâng Hy Tế này lên Chúa Cha trên núi Sọ để đền tội thay cho cả nhân loại.
Nhưng trong Thánh Lễ Tạ Ơn hằng ngày được dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội, thì Chúa chỉ thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép mà thôi.
Việc linh mục giơ tay trên lễ vật và đọc lời cầu xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc này Chúa Kitô chưa thực sự ngự xuống trong bánh và rượu nho.
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
2022
Đức Thánh Cha: Đức Mẹ dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc
Đức Thánh Cha: Đức Mẹ dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc
Trong buổi gặp gỡ 2.800 thành viên của Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt ở Treviglio, bắc Ý, thứ Bảy 23/4, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng thế giới ngày nay không còn khả năng “khóc bằng con tim” như Đức Mẹ trước những thảm trạng. Ngài khích lệ các thành viên không xấu hổ khi khóc trước những đau khổ của nhân loại.
ĐTC tiếp Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt (Vatican Media)
Năm nay, Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt cử hành 500 năm (28/02/1522) Đức Trinh Nữ cứu thành phố khỏi quân Pháp qua phép lạ nước mắt chảy ra từ một bức ảnh Đức Mẹ với Hài Nhi, được tôn kính trong một tu viện dòng Augustinô. Khi đó, quân Pháp do tướng Lautrec, một người có lòng sùng kính Đức Mẹ dẫn đầu, đang chuẩn bị tấn công làng này, chứng kiến phép lạ cùng với binh lính đã bỏ vũ khí và nhờ đó thành phố đã được cứu.
Nói với các thành viên của Cộng đoàn đến Roma hành hương, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng nước mắt của Đức Mẹ đối với đức tin Kitô. Vì khi Mẹ khóc chính là nước mắt của Chúa Giêsu trước sự khốn cùng của chúng ta. Ngài giải thích rằng khi Đức Maria, môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu khóc, thì những giọt nước mắt đó là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Chúa, Người đau đớn vì tội lỗi chúng ta, vì những sự dữ đang gây ra cho nhân loại, đặc biệt cho những người bé nhỏ, những người vô tội.
Đức Thánh Cha tiếp tục chỉ ra rằng những giọt nước mắt của Mẹ cũng là dấu hiệu tiếng kêu của Thiên Chúa dành cho các nạn nhân chiến tranh và không chỉ ở Ucraina. Ngài nói: “Chúng ta hãy phó thác khẩn cầu Trái tim Vô nhiễm Nguyên tội Mẹ, và chúng ta tin chắc Mẹ chúng ta, Nữ Vương Hoà Bình đã đón nhận lời cầu xin và đang khẩn xin bình an cho chúng ta”.
Nói về phép lạ Đức Mẹ khóc, Đức Thánh Cha mời gọi “Đức Maria dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc. Vì khóc có nghĩa là mở lòng ra với Cha nhân lành và với anh chị em, làm chúng ta xúc động trước vết thương của những người chúng ta gặp gỡ trong hành trình cuộc sống, giúp chúng ta biết chia sẻ, chào đón, vui với người vui và khóc với người khóc”. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha lưu ý “xã hội ngày nay đã mất khả năng khóc với con tim như Đức Maria đã khóc, hoặc như Thánh Phêrô khóc khi ăn năn”.
Ngài nói tiếp: “Đó là lý do tại sao chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn biết khóc trước những gì chúng ta chứng kiến: không chỉ chiến tranh, nhưng cả với những người nghèo, người già, trẻ thơ chưa chào đời bị vứt bỏ. Những khốn cùng của thời nay phải làm cho chúng ta khóc và chúng ta cần phải khóc”.
Kết thúc bài nói chuyện với Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt, Đức Thánh Cha ca ngợi tinh thần của Cộng đoàn được tóm trong chính tên gọi. Điều này nói lên sự chăm sóc mục vụ dịu dàng, trắc ẩn và gần gũi theo mẫu gương Đức Mẹ.
Ngọc Yến
