2022
Đức Thánh Cha Phanxicô thăm mục vụ tại thành phố Aquila
Đức Thánh Cha Phanxicô thăm mục vụ tại thành phố Aquila
Sáng Chúa Nhật ngày 28/8, Đức Thánh Cha đã bay đến Aquila cách Roma hơn 100km để viếng thăm thành phố này và mở Cửa Thánh tại Vương cung Thánh đường Collemaggio. Năm 2009, thành phố Aquila đã bị một trận động đất khiến hơn 300 người chết và hơn 1600 người bị thương.
Đức Thánh Cha đã khởi hành lúc 8 giờ sáng từ Vatican và đến Aquila sau 25 phút bay bằng trực thăng. Ngài đã có cuộc gặp với các gia đình nạn nhân và giới chức chính quyền của thành phố. Sau đó, ngài đến Vương cung thánh đường Collemaggio để dâng thánh lễ và sau đó mở Cửa Thánh.
Bài giảng Thánh Lễ của Đức Thánh Cha
Các Thánh là những minh hoạ sống động của Tin Mừng. Cuộc đời của họ là điểm quy chiếu đặc biệt giúp chúng ta nhìn ra Tin Mừng mà Đức Giêsu đã đến để loan báo, đó là: Thiên Chúa là Cha của chúng ta và mỗi người chúng ta đều được Thiên Chúa yêu thương. Đây chính là tâm điểm của Tin Mừng. Chính cuộc Nhập Thể và dung mạo của Đức Giêsu là minh chứng hữu hình của tình yêu ấy.
Hôm nay, chúng ta cử hành Thánh Lễ trong một ngày đặc biệt của thành phố này và Giáo Hội nơi đây: Ngày Lễ Xá Giải (hoặc Ngày Xá Tội) được thành lập bởi Đức Giáo Hoàng Celestino V. Nơi đây có lưu giữ thánh tích của vị Giáo Hoàng này. Ngài là hiện thân tròn đầy của những gì chúng ta nghe trong bài đọc I hôm nay: “Càng làm lớn con càng phải khiêm hạ, như thế con sẽ được ân nghĩa trước mặt Chúa” (Cn 3,8). Chúng ta thường sai khi nhớ đến Đức Celestino V, như một “kẻ từ chối vĩ đại”, theo như một kiểu nói trong tác phẩm Thần Khúc của Đan-tê. Thật ra, Đức Celestino V không phải là kẻ từ chối (khi Ngài từ nhiệm ngôi vị Giáo Hoàng). Ngài không phải là người nói không, nhưng là con người của lời đáp “xin vâng”.
Thật ra, chẳng có cách nào để thực thi Thánh Ý của Thiên Chúa nếu không phải là khởi đi từ nỗ lực của con người: không có con đường khác. Dưới mắt của người đời, có những người bị xem là yếu đuối và thất bại, nhưng họ mới là những người chiến thắng thật sự, bởi vì họ là những kẻ cuối cùng đặt trọn vẹn niềm tin vào Thiên Chúa và nhìn nhận Thánh Ý của Người. “Thiên Chúa mặc khải những mầu nhiệm của Người cho những kẻ hiền lành… Người được tôn vinh nơi những người khiêm hạ” (Cn 3,19-20). Trước tinh thần thế gian nhuốm đầy mùi kiêu căng, Lời Chúa hôm nay mời chúng ta trở nên hiền lành và khiêm hạ. Khiêm nhường không có nghĩa là hoàn toàn phủ nhận chính mình, nhưng là nhìn nhận một cách đúng đắn những giá trị của chúng ta cũng như những thiếu hụt và yếu kém của chúng ta. Khởi đi từ những thiếu hụt yếu kém của mình, sự khiêm hạ dạy chúng ta không tập trung nhìn vào chính mình nhưng là hướng mắt về Thiên Chúa, Đấng có thể làm mọi sự và là Đấng sở hữu trọn vẹn chúng ta ngay cả khi tự sức mình chúng ta chẳng thể sở hữu được gì. “Mọi sự đều có thể đối với những ai có lòng tin” (Mc 9,23).
Sức mạnh của những người khiêm hạ là chính Thiên Chúa, chứ không phải là những chiến thuật, những phương tiện nhân loại theo lẽ khôn ngoan của thế gian này. Theo nghĩa ấy, Đức Celestino V là một chứng nhân can đảm của Tin Mừng, một người không để cho mình bị tù hãm hay lèo lái bởi thúc đẩy của quyền lực. Nơi Ngài, chúng ta ngưỡng mộ một Giáo Hội tự do, được giải phóng khỏi những suy nghĩ kiểu trần thế và là một chứng nhân trọn vẹn cho Danh của Thiên Chúa, là Đấng Thương Xót. Đây chính là tâm điểm của Tin Mừng, bởi vì thương xót nghĩa là nhận ra chúng ta là những kẻ được yêu thương ngay chính trong tình trạng khốn cùng của chúng ta: hai điều này đi với nhau. Không thể hiểu lòng thương xót nếu chúng ta không hiểu chính nỗi khốn cùng của chính mình. Làm một người tín hữu không phải là bước theo một Thiên Chúa mù mờ và khiến chúng ta sợ hãi. Thư gởi tín hữu Do-thái đã nhắc chúng ta về điều này: “Anh em đã chẳng đến gần một điều gì đó có thể sờ thấy được, có lửa đang cháy, có mây mù, có bóng tối, có tiếng kèn vang dậy, có tiếng nói gầm thét đến độ khiến cho những ai nghe thấy phải van xin Chúa đừng nói với họ nữa”. Không, thưa anh chị em, chúng ta đến gần Đức Giêsu, là con một của Thiên Chúa, là Lòng Thương Xót của Chúa Cha, là Tình Yêu cứu độ chúng ta. Chính Người là lòng thương xót: chỉ với lòng thương xót, chúng ta mới có thể nói về nỗi khốn cùng của mình. Nếu ai muốn đến với lòng thương xót bằng một lối khác thì người ấy đã lạc đường. Vì vậy, điều quan trọng là hiểu thực tại của mình.
Trải qua hàng thế kỷ, thành phố Aquila đã gìn giữ sống động món quà mà Đức Thánh Giáo Hoàng Celestino V đã để lại cho mình. Tôi được vinh dự nhắc nhở tất cả mọi người rằng nhờ Lòng Thương Xót, và chỉ có nhờ Lòng Thương Xót mà thôi, mỗi người chúng ta mới có thể sống cuộc sống của mình trong niềm vui. Thương Xót là kinh nghiệm nhận ra mình được đón nhận, được phục hồi, được tăng sức, được chữa lành, được khích lệ. Kinh nghiệm về ơn được tha thứ là một kinh nghiệm gần gũi thiết thân với sự phục sinh, tại đây và ngay lúc này. Ơn tha thứ là hành trình đi từ sự chết đến sự sống, từ kinh nghiệm lo sợ vì tội lỗi của mình đến kinh nghiệm tự do và vui mừng. Ước gì Đền Thánh này luôn là nơi chốn mà chúng ta được hoà giải, được có kinh nghiệm về ơn phục hồi và được thấy những khả thể khác được ban tặng cho chúng ta. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của những khả thể, của bảy mươi lần bảy. Ước gì nơi này là ngôi Đền Thánh của ơn tha thứ, không chỉ mỗi năm một lần, nhưng là mãi mãi. Và như thế mỗi người chúng ta có thể xây dựng hoà bình nhờ vào kinh nghiệm đón nhận và trao ban ơn tha thứ. Khởi đi từ nỗi khổ của mình và nhìn vào đó để làm sao đến được với ơn tha thứ, bởi vì trong nỗi khốn khổ, chúng ta sẽ luôn tìm thấy một ánh sáng nào đó như là con đường dẫn đến với Chúa. Ví dụ, sáng nay tôi nghĩ về điều này. Khi chúng tôi bay đến Aquila, chúng tôi không thể đáp xuống được vì sương mù dày đặc, mịt mù. Phi công trực thăng bay vòng quanh, vòng quanh… và cuối cùng đã nhìn thấy một lỗ nhỏ và ra hiệu là sẽ xuống bằng lỗ đó, và đã làm được. Tôi đã nghĩ về sự khốn khổ: với nỗi khốn khổ cũng xảy ra tương tự. Chúng ta thấy mình chẳng còn gì và chúng ta chạy quanh… rồi Chúa mở ra một lỗ nhỏ. “Hãy đặt mình vào đó, vào những vết thương của Chúa. Ở đó có lòng thương xót, dù trong nỗi khốn cùng.”
Anh chị em thân mến,
Anh chị em đã đau khổ nhiều do cuộc động đất gây ra. Như một dân tộc, anh chị em đã cố gắng chỗi dậy và phục hồi. Những ai đã đau khổ cần phải biết trân trọng và nhận ra giá trị của đau khổ mà mình đã trải qua, cần phải hiểu rằng bóng tối mà mình đã trải qua chính là một quà tặng giúp cho mình có khả năng thấu hiểu được đau khổ của những người khác. Anh chị em có thể là những chứng nhân cho lòng Thương Xót, bởi lẽ anh chị em đã có kinh nghiệm mất tất cả, đã nhìn thấy sự sụp đổ của những gì con người xây dựng, đã phải từ bỏ tất cả những gì là thân thương nhất, đã phải trải qua nỗi đau mất đi những người thân yêu nhất. Anh chị em có thể là những người biết trân giữ lòng Thương Xót, bởi vì chính anh chị em đã kinh nghiệm về sự khố cùng.
Trong cuộc sống của chúng ta, không cần phải trải qua những cơn động đất, mỗi chúng ta đều có thể có kinh nghiệm về điều mà tôi tạm gọi là “những cuộc động đất của tâm hồn”. Kinh nghiệm ấy đặt chúng ta đối diện với sự mỏng manh của chính mình, với những giới hạn của chính mình, với chính sự nghèo khó khốn cùng của mình. Đó là có thể là kinh nghiệm mất tất cả, nhưng đó cũng là kinh nghiệm có thể dạy cho chúng ta về sự khiêm hạ thật sự. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy, hoặc người ta sẽ nổi giận với cuộc đời, hoặc người ta sẽ học bài học về sự hiền lành khiêm hạ. Do đó, hiền lành và khiêm hạ là đặc tính của những ai có sứ mạng trân giữ và làm chứng cho lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
Nếu chúng ta có lạc bước trên đường đời, bài Tin Mừng hôm nay chính là một tiếng chuông gióng lên để nhắc nhở chúng ta (Lc 14,1.7-14). Đức Giêsu được mời đến dùng bữa tại nhà một người Pharisêu và Người quan sát thấy có nhiều người muốn ngồi ở chỗ tốt nhất. Trong dịp ấy, Người kể một dụ ngôn vẫn còn giá trị cho chúng ta ngày hôm nay: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối”. Rất thường xuyên, người ta đánh giá nhau qua những vị thế mà người ta chiếm được trong thế giới này. Thế nhưng giá trị của một con người không phụ thuộc vào cái chỗ người ấy ngồi; đúng hơn, giá trị của một con người phụ thuộc vào sự tự do mà người ấy có được và sống được ngay cả khi phải ngồi ở chỗ cuối, ngay cả khi chỗ dành cho người ấy là trên Thập Giá.
Người Kitô hữu biết rằng cuộc đời mình không phải là một hành trình xây dựng sự nghiệp theo kiểu thế gian, nhưng là một sự nghiệp theo cung cách của Đức Kitô, Đấng không đến để được phục vụ nhưng là để phục vụ (Mc 10:45). Nếu chúng ta không hiểu được tính cách mạng của lời Tin Mừng giải phóng này, chúng ta sẽ lại tiếp tục hưởng ứng chiến tranh, cổ vũ bạo lực và bất công. Tất cả đều là dấu hiệu của việc thiếu tự do nội tâm. Nơi nào không có tự do nội tâm, nơi ấy mở ra những con đường cho chủ nghĩa ích kỷ, cá nhân, lợi nhuận và bất công.
Anh chị em thân mến, ước gì thành phố Aquila trở thành một thủ phủ thật sự của sự tha thứ, của hoà bình và của hoà giải. Ước gì thành phố này có thể trao ban cho tất cả mọi người kinh nghiệm về sự biến đổi mà chính Đức Maria đã hát trong lời kinh Magnificat: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1, 52). Ấy là sự biến đổi mà chính Đức Giêsu đã nhắc nhở chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nhấc lên” (Lc 14,11). Chúng ta hãy phó thác nơi Đức Maria, Đấng mà anh chị em đã tôn kính với tước hiệu là Mẹ cứu rỗi của dân thành Aquila, ước nguyện được sống theo Tin Mừng. Nhờ sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ, xin cho thế giới của chúng ta được tràn đầy ơn tha thứ và bình an.
—
Cuối Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã chào thăm người dân Aquila hiện diện cũng như tham dự từ xa. Trước khi đọc Kinh Truyền Tin, ngài đặc biệt nhớ đến người dân Pakistan hiện đang vật lộn với những trận lũ lụt khiến nhiều người chết, mất tích và bị thương. Ngài kêu gọi tình liên đới của cộng đồng quốc tế để hỗ trợ những nạn nhân.
Sau khi kết thúc Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã đến Cửa Thánh của Vương cung Thánh Đường Collemaggio để làm nghi thức mở Cửa Thánh. Ngài mở cửa, cầu nguyện và đi qua Cửa Thánh, sau đó đoàn đồng tế cũng đi qua Cửa Thánh và viếng mộ ĐGH Celestino V.
Cuối buổi cử hành, Đức Thánh Cha ra sân vận động Gran Sasso lúc 12:25pm trưa để lên trực thăng trở về lại Vatican.
Ảnh: Vatican Media
2022
Câu chuyện ly kỳ về việc rửa tội của vua Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam
Câu chuyện ly kỳ về việc rửa tội của vua Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam
Vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam là một người Công giáo và hai người vợ của ông là những tác nhân lớn nhất cho cuộc trở lại của ông.
Một năm trước khi qua đời, khi đang sống lưu vong ở Pháp từ năm 1955, Bảo Đại đã xuất bản cuốn sách rất hay về hoàng cung với tên gọi “Huế, la cité interdite” (“Huế, Tử Cấm Thành”), nơi ông đã trị vì trong 20 năm.
Thật khó để tưởng tượng ông đã từng bị giam hãm bên trong những bức tường của cung điện cổ kính này vì những bộ quần áo thời trang đã mang lại cho ông vẻ bề ngoài hoàn toàn thuộc về một doanh nhân Tây phương. Sở thích săn bắn, chơi gôn và xe thể thao dường như đã khiến ông vĩnh viễn xa rời truyền thống và tôn giáo của cha ông mình. Nhưng số phận của vị hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam này còn đáng kinh ngạc hơn, bởi cả tính cách trái ngược lẫn câu chuyện trở lại đạo Công giáo của ông, những điều được đan xenvới lịch sử thuộc địa của Pháp.
Vị hậu duệ thứ 13 của triều Nguyễn này quả thực là một nhân vật phức tạp. Như Frédéric de Natal, một chuyên gia về hoàng tộc, giải thích với Aleteia rằng: “Trong suốt cuộc đời của mình, Bảo Đại vừa là một người có học thức (bon vivant) vừa là một người có lòng đạo.”
Hoàng đế Bảo Đại, hoàng cung Huế, những năm 1930. Ảnh: Public Domain
Hoàng tử Vĩnh Thụy, vốn là con trai của vua Khải Định, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913 và lớn lên trong hoàng cung ở Huế. Trong khi Đông Dương sống dưới chế độ bảo hộ của Pháp, thì ông lên ngôi năm 1926 ở tuổi 12. Ông đã lấy niên hiệu là Bảo Đại (“người bảo vệ sự vĩ đại”). Nhưng sau khi bị quản thúc cho đến năm tuổi 19, cậu thiếu niên trẻ tuổi ngay lập tức rời đến Paris để du học: cậu theo học tại Cours Hattemer, Lycée Condorcet, Lycée Lakanal, và sau đó là École libre des sciences politiques (Học viện nghiên cứu chính trị).
Vị hoàng đế trẻ tuổi thích nghi khá tốt với cuộc sống ở Pháp. Sau khi làm hướng đạo sinh, cậu đã chơi gôn và quần vợt. Cậu còn yêu thích những chiếc xe hơi thể thao. Là một công tử thực thụ, cậu đã phân chia thời gian của mình giữa dinh thự riêng ở quận 16 thuộc Paris (một khu phố đầy công viên, bảo tàng, tượng đài và tư gia của những người giàu có) và ở Deauville, một khu nghỉ mát bên bờ biển danh tiếng ở Tây Bắc nước Pháp.
Bảo Đại rất thích lối sống Tây phương nên không vội vàng trở về Việt Nam. Frédéric de Natal nói thêm: “Cậu ấy không muốn từ bỏ lối sống của mình, và cậu ấy biết rằng khi trở về, cậu sẽ phải sống giam mình trong cung điện. Tuy nhiên, vào năm 1932, các nhà chức trách Pháp đã thành công trong việc thuyết phục cậu rằng cậu có thể sống cuộc đời tương tự như thế ở đất nước của mình. Hơn nữa, ngay khi trở về, cậu ấy đã nhanh chóng bắt tay vào thực hiện nhiều cải cách. Đặc biệt, cậu ấy muốn thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến.”
Yêu từ cái nhìn đầu tiên ở Đà Lạt
Năm 1933, khi đang đi nghỉ mát tại một khu nghỉ dưỡng sang trọng ở miền Trung Việt Nam, Bảo Đại đã gặp Jeanne-Marie-Thérèse. Hai con người trẻ tuổi ngay lập tức rất hợp ý nhau: Họ đã cùng tiếp thu một nền giáo dục của Châu Âu. Thật vậy, cô gái trẻ này, vốn xuất thân từ một gia đình địa chủ giàu có, một trong những gia đình Công giáo lâu đời nhất nước, vừa học xong ở Pháp, nơi cô đã được gửi đi du học vào năm 12 tuổi, giống như Bảo Đại. Đầu tiên, cô đã theo học tại trường nội trú Notre-Dame, và sau đó tại nhà kín Les Oiseaux ở Neuilly.
Nam Phương hoàng hậu tương lai, Đà Lạt, những năm 1930. Ảnh Public Domain
Vì chân thành yêu nhau, nên sau một vài tháng, vị vua trẻ tuyên bố đính hôn với một phụ nữ Công giáo Việt Nam. Thật đáng mừng, cha mẹ của cô gái trẻ, những người Công giáo nhiệt thành đã dành thời gian xây dựng nhà thờ và các công trình tôn giáo trong nước, đã tận mắt chứng kiến sự thành hình cuộc hôn nhân của con gái mình với vị hoàng đế.
Tin tức gây chấn động này được triều đình đón nhận rất dữ dội. Đối với triều đình, đó là một thảm họa thực sự ở một đất nước chủ yếu theo Phật giáo, nơi những người theo Kitô giáo, vốn là một dân tộc rất nhỏ, đã bị bắt bớ từ rất lâu, thậm chí là từ cả người cha và ông nội của Bảo Đại.
Kết hôn với một phụ nữ Công giáo
Một vụ bê bối đã nổ ra trong bối cảnh có một tin đồn được phát tán trước đó từ một tờ báo cộng hòa khi cho rằng vị hoàng đế này đã được rửa tội.
Frederic de Natal nói rằng: “Không có bằng chứng nào cả; điều này hoàn toàn sai sự thật. Nhưng tin đồn đã lan rộng. Tại sao? Bởi vì Bảo Đại thực sự quan tâm đến đạo Công giáo.”
Vì sự náo động của dư luận do tin đồn gây ra, chính phủ Pháp cuối cùng đã nhận thức được vấn đề này và kiểm duyệt tất cả các bài báo đăng tin sai sự thật về việc rửa tội của Bảo Đại.
Cặp đôi hoàng gia, Huế, những năm 1930
Về phía Tòa Thánh, ngay từ đầu Đức Giáo Hoàng Piô XI đã từ chối ban miễn trừ theo giáo luậtcần thiết cho hôn nhân khác đạo, mặc dù vị hoàng đế này đã đưa ra thỉnh cầu. Đức Giáo Hoàng yêu cầu con cái trong tương lai phải được nuôi dạy trong đạo Công giáo. Frédéric de Natal giải thích thêm: “Điều này thực tế là không thể; triều đình sẽ phản đối. Nhưng Bảo Đại đã ký một nghị định thư bí mật, theo đó, ông sẽ bí mật nuôi dạy các con của mình theo đức tin Công giáo.”
Chính trong bối cảnh đó, lễ cưới kéo dài bốn ngày, với một phần nghi lễ nghiêm cấm công khai, đã diễn ra tại hoàng cung ở Huế, từ ngày 20 tháng 3 đến ngày 24 tháng 3 năm 1934. Vì được phú bẩm cho một cá tính mạnh mẽ, nên cô dâu đã yêu cầu được phong tước hiệu “Nam Phương” hoàng hậu.
Những lớp giáo lý trong bí mật
Hoàng hậu đã nuôi dạy các con của mình theo đạo Công giáo bên cạnh nền giáo dục Phật giáo. Cô đã bí mật rửa tội cho chúng. Và khi cô cho chúng học các lớp giáo lý, chồng cô cũng không ở đâu xa, và ông đã nghe lời cô.
“Nam Phương đã làm thấm nhuần nền giáo dục về đạo cho ông, đặc biệt là bằng cách đọc Kinh Thánh cho con trai trước mặt ông. Bầu không khí khác xa với các nghi thức hoàng tộc mà người ta có thể tưởng tượng được! Bảo Đại gìn giữ mọi thứ bên trong mình, giống như một kho báu bí mật mà cuối cùng sẽ nở rộ vào ngày ông xin được rửa tội,” vị chuyên gia về hoàng tộc cho biết.
Là một phụ nữ đầy tinh thần trách nhiệm, Nam Phương đã cùng với các nữ tu của Dòng Đức Bà ở Đà Lạt tận tụy mở mang một nhà kín Les Oiseaux, nơi mà cô đã cho các con gái của mình theo học. Nam Phương cũng có một dự án lớn mà cô muốn giao phó cho chồng: đó là đưa Việt Nam trở thành quốc gia Công giáo đầu tiên ở Châu Á. Mặc dù không bao giờ xuất hiện trước công chúng cùng với giới chức Công giáo, nhưng ông đã bí mật nghiên cứu Kinh Thánh.
Cuộc lưu vong của vị hoàng đế sa cơ
Năm 1945, Nhật Bản tuyên bố độc lập cho Việt Nam với Bảo Đại làm hoàng đế. Nhưng ông đã thoái vị ngay sau đó khi nền cộng hòa ra đời. Sau đó, ông bị giáng xuống cấp bậc “cố vấn tối cao” và sống lưu vong ở Hồng Kông. Ông được người Pháp phục chức vào năm 1949, với chức danh nguyên thủ quốc gia nhưng không còn là hoàng đế, và cuối cùng bị lật đổ vào tháng 10 năm 1955 bởi thủ tướng Ngô Đình Diệm. Từ đó, Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam, đã rời bỏ chính trường.
Vị cựu vương này đã lưu vong cùng vợ và năm người con của họ ở Pháp, năm 42 tuổi, để sống một cuộc đời hưu trí rất dài và kín đáo ở Cannes, và sau đó là ở Paris.
Ông vốn có một ít tiền và một nhóm nhỏ các quần thần cũng sống lưu vong xung quanh ông. Bà Nam Phương, đau khổ vì sự không chung thủy của chồng, đã rời bỏ ông bất chấp việc đó là sai trái và đến cư trú tại nơi thuộc quyền sở hữu của bà ở Corrèze, nơi bà qua đời ở tuổi 52. Về phần Bảo Đại, ông đã lại tìm thấy ở Pháp lối sống của thời trai trẻ, tiếp tục săn bắn, chơi gôn và xe hơi thể thao. Ông đã tiếp tục làm nẩy nở nhiều cuộc phiêu lưu tình ái của mình… cho đến khi gặp Monique Baudot, một phụ nữ 23 tuổi đến từ Lorraine, vào năm 1969.
Hoàng phi Monique trong lễ tang của Bảo Đại. Ảnh: AFP
Hoàng phi Monique và Saint-Louis des Invalides
Chính tại đại sứ quán Zairean, ánh mắt họ đã bắt gặp nhau. Khi đó, Monique Baudot phụ trách văn phòng báo chí của đại sứ quán. Bà kết hôn với vị hoàng đế này vào năm 1972. Được gọi là hoàng phi Monique, bà là một phụ nữ có lòng đạo đức với tính cách kín đáo, thường xuyên đi lễ tại nhà thờ Saint-Louis des Invalides ở Paris. Cuối cùng, bà đã thuyết phục được chồng mình gia nhập vào cộng đoàn Kitô giáo. Năm 1988, ông được rửa tội và lấy tên thánh là Jean-Robert.
Mặc dù buổi lễ diễn ra trong sự bí mật hết sức có thể, nhưng một số người thân cận với cả gia đình và Đức Hồng y Lustiger, Tổng Giám mục Paris vào thời điểm đó, xác nhận về sự chuẩn bị lâu dài của Bảo Đại cho việc rửa tội, đây có thể được coi là một con đường rất đặc biệt hướng tới đức tin Kitô giáo được đánh dấu bởi chứng từ sống động từ hai người vợ: vợ trước là Nam Phương hoàng hậu, và vợ sau là hoàng phi Monique.
Thánh lễ An táng Bảo Đại tại Nhà thờ Saint-Pierre de Chaillot, ngày 6 tháng 8 năm 1997 ở Paris. Ảnh: AFP
Vị chuyên gia về hoàng tộc đã đưa ra kết luận sau: “Sau khi được rửa tội, Bảo Đại đã toàn tâm toàn lực gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Ông đã trở thành một Kitô hữu sốt sắng. Sau khi trở thành một vị hoàng đế sa cơ thất thế và một người đàn ông cô đơn, ông ấy đã tìm thấy ơn cứu chuộc dưới ánh nhìn của Đức Kitô. Ông ấy đã chết theo cách như thế, mặc dù ông ấy vẫn còn cách xa với việc trở thành một vị thánh.”
Tác giả: Marzena Devoud
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2022
Tin buồn: Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên vừa được Chúa gọi về
Tin buồn: Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên vừa được Chúa gọi về
Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên vừa được Chúa gọi về vào lúc 13h00 ngày 29/8/2022, tại bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Hiện tại, thi hài của Đức cha đã được đưa về Tòa Giám mục Xã Đoài. Mọi thông tin về tang lễ của Đức cha Phaolô Maria sẽ được cập nhật sau. Kính xin cộng đoàn dân Chúa hiệp ý cầu nguyện cho ngài.
TIỂU SỬ
ÐỨC CHA PHAOLÔ MARIA CAO ĐÌNH THUYÊN
Đức cha Phaolô Maria sinh ngày 07/01/1927
tại giáo xứ Tràng Lưu, xã Lộc Yên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Thân sinh ngài là cụ GB. Cao Ðình Tùng (mất 1967) và bà cụ Anna Nguyễn Thị Ðích (mất 1968). Gia đình gồm có 5 con trai, 2 con gái mà ngài là con đầu lòng.
Cậu Phaolô đã sớm dâng mình cho Chúa, lên 11 tuổi, cha Phaolô Kim, quản xứ Thượng Nậm nhận đỡ đầu và gửi đi Trường Tập Xuân Phong.
Ngày 13/8/1938: nhập học Trường Tập Xuân Phong.
Ngày 13/8/1942: vào học Tiểu Chủng Viện Xã Ðoài.
Ngày 1/7/1950: mãn trường Tiểu Chủng Viện, thầy Phaolô về giúp Sở Quản lý Nhà Chung Xã Ðoài, giúp cha Phêrô Cát, quản lý.
Ngày 1/1/1955: được gọi vào Ðại Chủng Viện Xã Ðoài.
Ngày 1/5/1957: nhập hàng Giáo sỹ.
Ngày 21/12/1957: chịu bốn chức nhỏ.
Ngày 31/1/1959: chịu chức Phụ Phó tế.
Ngày 1/2/1959: chịu chức Phó tế.
Ngày 14/5/1960: chịu chức linh mục do bàn tay Ðức Cha GB. Trần Hữu Ðức.
Từ đây, trên bước đường tông đồ, cha Phaolô Maria Cao Ðình Thuyên hoạt động hết mình, không quản mệt nhọc gian lao.
Ngày 12/7/1960: phó xứ Bảo Nham.
Ngày 31/1/1961: quản xứ Quy Hậu. 11 năm phục vụ giáo xứ miền núi.
Ngày 13/8/1971: đảm nhiệm chức Quản lý Tòa Giám mục.
Năm 1977: khởi công xây dựng lại Nhà thờ Chính tòa.
Năm 1988: giữ chức Tổng Đại diện, kiêm 2 hạt Nhân Hoà và Xã Ðoài.
Ngày 6/7/1992: được cử làm Giám mục Phó.
Ngày 01/11/1992: nhận Tông sắc Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục phó.
Ngày 19/11/1992: thánh lễ tấn phong được tổ chức tại Xã Đoài.
Khẩu hiệu Giám mục: “Cùng chịu đóng đinh vào Thập giá với Chúa Kitô”.
Ngày 11/12/2000: ngài làm Giám mục Chính tòa thay Ðức cha Phêrô Gioan Trần Xuân Hạp nghỉ hưu.
Ngày 13/5/2010: sau 10 năm làm chủ chăn coi sóc Giáo phận, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chấp nhận đơn xin từ nhiệm của ngài, đồng thời đặt cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp làm Giám mục Chính tòa kế nhiệm.
Ngày 7/12/2015, thánh lễ mừng đại thọ được tổ chức tại giáo xứ Tân Lộc, giáo hạt Cửa Lò.
Ngày 16/11/2017: Thánh lễ Tạ ơn mừng kỷ niệm Ngân khánh Giám mục (1992 – 2017) của Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên đã diễn ra tại Nhà thờ Chính tòa Xã Đoài.
Ngày 29/8/2022: Đức cha Phaolô Maria được Chúa gọi về lúc 13h00 ngày 29/8/2022, tại bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An.
R.I.P
2022
Giám mục Ấn Độ Jacob Muricken từ bỏ chức vụ của mình để thành… ẩn sĩ
Giám mục Ấn Độ Jacob Muricken từ bỏ chức vụ của mình để thành… ẩn sĩ
Tháng 8 năm nay, giám mục thần học gia Jacob Muricken, giám mục phụ tá giáo phận Pala, thuộc giáo hội Syro-Malabar bang Kerala, miền nam Ấn Độ đã rời nhiệm sở để vào sống trong một ẩn thất.
Giám mục Jacob Muricken, giám mục phụ tá giáo phận Pala, thuộc giáo hội Syro-Malabar bang Kerala, miền nam Ấn Độ, trong một lần Đức Phanxicô tiếp kiến.
Từ giám mục đến ẩn sĩ đôi khi chỉ có một bước. Giám mục Jacob Muricken, 59 tuổi, tháng 8 vừa qua, giám mục đã vượt qua bước này, ngài rời nhiệm sở để đến định cư trong một ẩn thất do ngài xây tại Nallathanni trong giáo phận Kanjirappally, cũng thuộc bang Kerala. Ngày 22 tháng 8, linh mục Joseph Maleparampil của giáo phận trả lời trên trang UCA News: “Từ năm 2017 ngài đã chia sẻ ước mong được là ẩn sĩ, sau khi được Thượng hội đồng Giáo hội Syro-Malabar chấp thuận, ngài đã rời tòa giám mục.” Năm 2016, giám mục Jacob Muricken được mọi người biết đến khi ngài tặng một quả thận cho một tín hữu hinđu bị bệnh.
Theo trang UCA News, giám mục Muricken muốn “đến gần hơn với Thiên Chúa và thiên nhiên, ngài mong dành phần đời còn lại của mình để cầu nguyện và suy gẫm, hướng đến cuộc sống gần gũi với môi trường, tránh xa cuộc sống bận rộn hàng ngày của một giám mục”. Ngài nói: “Khi một người bình thường muốn là tu sĩ hoặc ẩn sĩ, họ không được chú ý nhiều, nhưng khi một giám mục thành ẩn sĩ, điều này thu hút sự chú ý của nhiều người. Có lẽ đến lượt họ, họ sẽ suy nghĩ về ý Chúa.”
Lời cầu nguyện của ngài chắc chắn sẽ thúc đẩy Giáo hội công giáo.
Linh mục Maleparampil nói tiếp: “Giám mục Muricken sống thanh đạm đến mức trước khi làm giám mục, ngài chưa bao giờ đi giày. Ngài bắt đầu đi giày sau khi là giám mục phụ tá. Ngài ăn chay rất đơn sơ, ăn hai lần một ngày. Ngài là nguồn cảm hứng cho tất cả chúng tôi. Đây là trường hợp đầu tiên trong Giáo hội công giáo Ấn Độ, một giám mục trở thành một ẩn sĩ. Lời cầu nguyện của giám mục chắc chắn sẽ thúc đẩy Giáo hội công giáo”.
Marta An Nguyễn dịch
