Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: GH Việt Nam

Home / Tin tức / GH Việt Nam
05Tháng Chín
2021

Tổ Tiên, Ông Bà trong tôn giáo nội sinh tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

05/09/2021
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

Tổ Tiên, Ông Bà trong tôn giáo nội sinh tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

 

Không giống với các vùng miền khác trên lãnh thổ Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long là quê hương của nhiều tôn giáo nội sinh, như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo… và rất nhiều những Ông Đạo khác, kiểu đạo Dừa, đạo Nằm, đạo Ngồi, đạo Tưởng v.v…

Các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm. Ngọn cờ giải phóng dân tộc, bảo vệ nòi giống, giữ gìn truyền thống cha ông, hướng về tổ tiên… luôn được tín đồ đặt lên hàng đầu trong quan niệm đạo lý, hành đạo cũng như trong ứng xử hằng ngày.

Các tôn giáo nội sinh Đồng bằng sông Cửu Long đều có mục đích, tôn chỉ, hệ thống giáo lý, nghi thức hành đạo, đối tượng tôn thờ riêng. Nhưng chúng ta dễ dàng nhận thấy hầu hết các tôn giáo này đều hướng về tổ tiên, ông bà. Tổ tiên ông bà là một trong những đối tượng tôn thờ chính của các tôn giáo nội sinh trên vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. Trong quan niệm đạo lý, cách thức hành xử, lễ nghi tôn giáo, tổ tiên ông bà giữ một vị trí hết sức quan trọng, thậm chí có những tôn giáo xem tổ tiên ông bà là đối tượng trung tâm của sự tôn thờ. Từ đạo lý truyền thống phát triển thành giáo thuyết tôn giáo mà tổ tiên, ông bà trở thành đối tượng tín ngưỡng chính là đặc trưng cơ bản của tôn giáo nội sinh Đồng bằng sông Cửu Long.

Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (được hiểu là núi báu [núi Cấm-Thất Sơn] có hương lạ) ra đời từ năm 1849. Đây là tôn giáo địa phương đầu tiên của Nam Bộ. Sự ra đời của nó ảnh hưởng trên nhiều mặt đối với đời sống nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long lúc ấy cũng như quan niệm đạo lý của các tôn giáo địa phương ra đời sau này…

Người sáng lập và truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là Đoàn Minh Huyên (1807-1856). Năm Kỷ Dậu (1849), Đoàn Minh Huyên về làng Kiến Thạnh, giữa lúc dịch thời khí đang hoành hành, số người mắc bệnh chết rất nhiều… Ông đã chữa bệnh cho nông dân bằng pháp thuật và bùa chú: dùng nước cúng trên bàn thờ, bao nhang, giấy vàng bạc, bông vạn thọ dâng Phật… Theo lưu truyền cách chữa bệnh của ông đạt kết quả rất cao, không những đối với bệnh thời khí mà những bệnh khác ông cũng đều chữa khỏi. Ông vừa chữa bệnh vừa khuyên mọi người hãy tu niệm theo những quan niệm đạo lý đơn giản, dễ đi vào lòng người, trước là khuyên bảo với những người được chữa bệnh, sau đó rộng rãi trong nhân dân, đã cuốn hút rất nhiều người tin theo… Do nhu cầu chữa bệnh và truyền đạo ngày càng lớn, dân chúng đến thọ giáo ngày một đông nên Đoàn Minh Huyên đã cho đệ tử dựng một ngôi chùa, sau này gọi là Tây An Cổ Tự, chính thức khai đạo, mở đường lối tu hành riêng, hình thành cơ cấu, nghi thức thờ phượng lễ bái của một tôn giáo mới.

Ở làng Long Kiến vừa chữa bệnh, vừa truyền đạo được tín đồ tin theo rất đông một thời gian, Đoàn Minh Huyên bị chính quyền địa phương cho là “gian đạo sỹ”, tụ họp người làm loạn, chống triều đình. Ông bị bắt đưa về Châu Đốc. Sau đó, quan Trấn Châu Đốc đã thả ông ra, cho hành đạo tại chùa Tây An núi Sam (vì vậy sau này Đoàn Minh Huyên được gọi là Phật Thầy Tây An). Có thể nói Đoàn Minh Huyên “bị quản thúc” tại đây đúng hơn là ông đã chọn nơi này để hành đạo (vì Tây An vốn là một ngôi chùa Phật giáo). Tại đây, Đoàn Minh Huyên đã tiếp tục những công việc còn bỏ dở ở làng Long Kiến ngày trước, tức truyền bá, phát triển một mối đạo mà đến lúc này ông gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương.

Các đại đệ tử nổi tiếng của Đoàn Minh Huyên có ông Cố Quản (Trần Văn Thành-lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp ở Bảy Thưa, Láng Linh 1867-1873), ông Tăng Chủ (người được Đoàn Minh Huyên giao cho nhiệm vụ trông coi trại ruộng Thới Sơn), ông Đình Tây (Bùi Văn Tây, một người có tinh thần chống Pháp tích cực), ông Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), ông Đạo Lập, ông Đạo Sỹ, ông Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng), ông Đạo Chợ, ông Đạo Đọt, ông Nguyễn Đa (Cử Đa, một người giàu lòng yêu nước, tích cực chống Pháp)… Hầu hết họ là những người quê ở An Giang và các tỉnh miền Tây Nam Bộ. họ không chỉ giúp Đoàn Minh Huyên trong việc khai phá đất mới, xây dựng trại ruộng, chùa chiền, mà còn là những người truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương một cách tích cực, rộng khắp Đồng bằng sông Cửu Long.

Những ngôi chùa Bửu Sơn Kỳ Hương không bài trí một hình ảnh hay cốt tượng Phật giáo nào, chỉ cho thờ một tấm vải màu đỏ, gọi là Trần Điều, treo trước tường chính điện. Bàn thờ bày hoa, nước lã, nhang đèn, không có chuông, mõ… Tấm Trần Điều được hiểu là tiêu biểu cho tấm lòng từ bi, bác ái, đoàn kết, yêu mến đồng bào, nhân loại… Trong chùa cũng không có hình bóng màu áo tu sỹ nhà Phật (người quản tự mặc áo quần đen), không có tiếng tụng kinh, gõ mõ. Mọi người, từ đại đệ tử đến tín đồ đều được tự do để tóc, để râu, không bị kiêng cấm việc dựng vợ gả chồng. Tất cả đều có gia đình riêng và tự làm ăn sinh sống.

Theo Đoàn Minh Huyên, muốn được dự Hội Long Hoa, mỗi người phải loại trừ cái xấu, vượt lên trên bằng cách thực hiện tu nhân học Phật. Tu nhân được cắt nghĩa là rèn sửa tâm tính, làm lành lánh dữ để tích đức. Tu nhân, trước nhằm đem con người trở lại đường thiện, nẻo ngay, sống đúng với đạo làm người đối với gia đình, xã hội, phù hợp với luân thường đạo lý, theo tiêu chuẩn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Muốn tu nhân phải thực hiện Tứ đại trọng ân, tức coi trọng việc thực hiện đền trả bốn ân lớn. Đó là ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và ân đồng bào, nhân loại. Theo Phật Thầy Đoàn Minh Huyên: muốn tròn cái đạo làm người thì không ai không có bổn phận đền đáp bốn cái ơn ấy, vì đó là căn bản của cả cái đạo làm người, là nấc thang thứ nhất đưa con người tiến trên đường đạo hạnh. Tứ đại trọng ân là nền tảng đạo lý của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, chi phối tư tưởng, đời sống của tín đồ theo yêu cầu của tôn giáo này.

Học Phật là niệm Phật, tức trì niệm danh hiệu Phật-A-di-Đà, không phải khó nhọc nhiều công gì là đã có thể được vãng sanh, được về cõi Tây phương cực lạc. Phật Thầy Tây An không thuyết giáo nhiều và không đặt nặng vấn đề học Phật đối với tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương-thực tế cho thấy tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ chú trọng tứ đại trọng ân (đền trả bốn ơn) và trì niệm danh niệm Phật A-Di-Đà. Học Phật tức là noi gương theo đức Phật mà thôi…

Tất cả tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đều không phải ly gia cát ái, không phải ăn chay trường. Họ được xem là cư sỹ tại gia. Phật Thầy dạy cho tín đồ nghi thức thờ cúng tại nhà như sau: Trong nhà, ngoài bàn thờ Tổ tiên, ông bà, cha mẹ còn có ngôi Tam bảo, trên chỉ bài trí một tấm Trần Điều, hương hoa, nườc lã, giống như ở chùa Bửu Sơn Kỳ Hương. Như vậy, gia đình tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ có hai bàn thờ, đó là bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bàn thờ Tam Bảo…

Mục đích cuối cùng của việc tu nhân là để được dự Hội Long Hoa-Đại hội để chọn người hiền đức, hầu tạo dựng xã hội mới an lạc, sau đó tiếp tục học đạo để trở lại cứu vớt cuộc đời trần thế. Về mặt xã hội, nội dung của tu nhân học Phật, mà cốt lõi là lý thuyết Tứ Ân, đặc biệt ân đất nước, được Đoàn Minh Huyên nhấn mạnh, rất có ý nghĩa trong công việc bảo vệ độc lập dân tộc trong hoàn cảnh thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên chúng ta thấy các đại đệ tử của Bửu Sơn Kỳ Hương đều là những lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX… Họ tham gia kháng chiến chống Pháp với khẩu hiệu hết sức rõ ràng, có sức lay động mọi tầng lớp nhân dân bấy giờ là: đền trả ân đất nước, giữ gìn truyền thống tổ tiên, báo đáp công ơn ông bà, cha mẹ đã gầy dựng giang sơn…

Hiện nay, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng vài chục ngàn tín đồ với nhiều cơ sở thờ tự (vẫn giữ được truyền thống như thời kỳ đầu) ở vùng Bảy Núi, An Giang và một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long…

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Trong thời gian tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Bảy Thưa-Láng Linh đang chuẩn bị và thực hiện cuộc khởi nghĩa chống Pháp (1867), do người đứng đầu tôn giáo của họ là Trần Văn Thành lãnh đạo, thì ở vùng Châu Đốc (An Giang) dân chúng xôn xao về một người vừa được giáng thế, truyền đạo cứu đời. Người ấy có tên là Ngô Lợi (1831-1890) và tôn giáo do ông truyền dạy đó, sau này, được gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoặc gọi tắt theo cách của người Nam Bộ là đạo Hiếu Nghĩa.

Ngô Lợi vừa khuyên người đời tu niệm, vừa chữa bệnh (dịch) cho mọi người theo phương pháp như trước đây Đoàn Minh Huyên đã làm: cho bệnh nhân uống nước lã, giấy vàng vẽ bùa và có thêm niệm thần chú. Ông đã cứu sống được nhiều người, danh tiếng vang dội khắp nơi, thu hút hàng ngàn người tìm đến ông để chữa bệnh và học đạo.

Tháng 5 năm 1867, Ngô Lợi chính thức khai đạo và dạy nghi thức hành đạo cho nông dân. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lúc mới ra đời chưa có tên gọi chính thức. Nhiều người theo ông học đạo, hay gia nhập tôn giáo của ông, hỏi danh xưng của đạo là gì? Ông đáp vắn tắt là Đạo Thờ Ông Bà, đúng như tinh thần đạo lý đã truyền giảng. Sau này, khoảng năm 1870 trở đi, tôn giáo do Ngô Lợi sáng lập mới được gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa (cũng có tài liệu nói danh xưng này chỉ xuất hiện khi thực dân Pháp bắt xưng danh mối đạo để tiện việc kiểm tra sau khi Ngô Lợi đã mất, 1890). Các tên gọi của đạo phản ánh nội dung hành xử của giáo lý. Đạo Thờ Ông Bà là nhằm chỉ một trong những đối tượng quan trọng nhất của nghi thức thờ cúng, đồng thời cũng nhấn mạnh tinh thần “hiếu nghĩa” đối với tổ tiên của những người theo tôn giáo này. Trong Kinh Hiếu Nghĩa, phần Phụng bái Bác Như Lai, Ngô Lợi viết: “Hiếu Nghĩa là đầu mối của tứ ân, thực hành được hiếu nghĩa (theo tinh thần của kinh này), thì đền trả được ơn tổ tiên, cha mẹ, đất nước, đồng bào, nhân loại và tam bảo… công đức của đạo Hiếu thật là rộng lớn”. Như vậy, tên gọi đạo Hiếu Nghĩa đã phản ánh cứu cánh quan trọng của tôn giáo này… Không giống với các tôn giáo khác, tên gọi thường gắn với đấng sáng lập, hay đức tin, hoặc địa điểm ra đời. Tứ Ân Hiếu Nghĩa là tên gọi bao hàm chỉ mục đích và nội dung hành đạo mà chỉ mới nghe qua tên gọi người chưa biết về giáo lý của đạo cũng đã phần nào hình dung đây là một tôn giáo chú trọng đạo hiếu, đền trả ơn nghĩa tổ tiên, ông bà...

Tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872), Ngô Lợi cùng rất nhiều tín đồ dùng thuyền ngược dòng Cửu Long đến xã An Lộc, tổng An Lương, An Giang truyền giảng giáo pháp. Đến tháng 7, ông đã xây cất ngôi chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa đầu tiên tại xã Bình Long. Từ đây, Ngô Lợi mở rộng việc truyền đạo ra khắp vùng (sang cù lao Ba, xã Vĩnh Thành nay là Vĩnh Trường, An Phú; ngược miền Thất Sơn). Đầu năm 1876, Đức Bổn Sư Ngô Lợi đã cử một đại đệ tử trung tín là Trần Tịnh đi thám sát núi Tượng, chọn địa điểm thuận tiện để đưa tín đồ vào đây khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống ổn định. Sau khi công việc tiền trạm đạt kết quả, Ngô Lợi đã dẫn nhiều tín đồ vào núi Tượng “trảm thảo khai sơn”, xây dựng xóm làng, hình thành các làng mới An Định, An Hòa, An Thành, An Lập với 100% dân chúng là tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa[1]. Ông khuyên tín đồ phải tự lực, siêng năng khai mở đất đai, trồng tỉa nuôi thân, đốn cây rừng, lấy đá núi cất nhà mà ở, cùng chung sức giúp đỡ nhau làm ăn, sinh sống và tu niệm. Dân chúng khắp nơi không quản ngại xa xôi, khó khăn gian khổ đã tụ họp về đây rất đông, nhà cửa mới cất lên san sát như “bánh ếch sắp trên sàng” (theo cách gọi trong các tài liệu của người Pháp lúc ấy). Để có nơi thờ phượng, lễ bái trong thời gian đầu đến núi Tượng, Ngô Lợi đã cho dựng tạm một ngôi chùa tại vị trí của ngôi Phi Lai hiện nay (thị trấn Ba Chúc). Cuối năm 1877, khi cuộc sống tín đồ tạm ổn định bước đầu, Ngô Lợi đã bắt tay vào việc xây dựng một ngôi đình và một ngôi chùa. Đó là đình làng An Định thờ trăm quan cựu thần, anh hùng liệt sĩ và phía sau, nối tiếp với đình là chùa Phi Lai. Chùa Phi Lai, bên trong thờ Trần Điều ở chính điện, Tứ Đại Thần Châu xung quanh bàn thờ Chư Phật, hai bên tả hữu thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền... Trong quá trình ổn định cuộc sống của tín đồ tới khai hoang núi Tượng xây dựng chùa miếu, thực hành nghi lễ… Ngô Lợi còn đẩy mạnh việc truyền đạo rộng rãi ở vùng Thất Sơn và lân cận. Ông đến kênh Vĩnh Tế, qua Giang Thành (nay là Vĩnh Điều, Hà Tiên, Kiên Giang)… truyền đạo, thu nhận tín đồ. Số tín đồ ở đây tin theo ông rất đông. Cho đến trước khi Ngô Lợi mất (1890), chỉ riêng bốn làng đạo vùng núi Tượng ông đã xây dựng hoàn thành 12 ngôi đình, chùa, miếu khá quy mô để làm nơi thờ tự của bổn đạo. Nhiều cơ sở thờ tự đó hiện nay đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tin rằng thời kỳ Đức Bổn sư giáng thế, truyền đạo, loài người đang bước vào giai đoạn cuối của đời Hạ Nguyên-giai đoạn khổ cực, điêu linh, loạn lạc vì bệnh tật, chiến tranh và bất công đang làm xã hội suy đồi. Hạ Nguyên mạt pháp sẽ mãn bằng Hội Long Hoa với sự xuất hiện của Phật Di Lặc. Hội Long Hoa được mở ra để cứu độ người hiền, tiêu diệt kẻ ác, theo tinh thần: Hạ Nguyên nay đã hết rồi, Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Nguyên. Quan điểm này được kế thừa và vận dụng từ đạo Phật cũng như một số tôn giáo khác ra đời trước nhưng có sức lay động lòng tin của dân chúng vì nó được nhấn mạnh và đề cao vào đúng thời kỳ đen tối của xã hội Nam Bộ lúc ấy.

Điều mới mẻ trong quan niệm (được kế thừa từ Bửu Sơn Kỳ Hương) của người sáng lập và tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là lòng tin về Hội Long Hoa do Phật Di Lặc khai mở vào một ngày gần kề không diễn ra ở một nơi nào khác trên thế giới mà ngay tại núi Cấm-Thất Sơn, Nam Bộ-Việt Nam.

Như vậy, đức tin của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa kế thừa từ căn bản đức tin của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, vốn được tiếp thu từ Phật giáo. Nhưng tuyệt nhiên không đề cập tới cõi Niết bàn như đạo Phật. Hội Long Hoa được nói đến như là một cái đích và cũng là cái mốc của sự đổi đời…

Tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là “tu nhân học Phật” cho cư sỹ tại gia. Mọi người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không phân biệt chức sắc, ngôi thứ, hay đảm nhận bất cứ một trọng trách nào của bổn đạo đều không bị kiêng cấm trong làm ăn và sinh hoạt đời thường. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xem việc hạn chế sát sinh đặc biệt là việc cữ ăn 12 con giáp như một thành tựu trên bước đường tu thân. Những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng mỗi một con người đều “cầm tinh” một trong 12 con giáp. Vì vậy nếu ăn thịt (dùng bữa) có một trong 12 con giáp nói trên tức là đã ăn đồng loại của mình (có thể hiểu tượng trưng là đã ăn linh hồn của đồng loại).

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng đạo Phật, đạo Nho và đạo Lão có cùng một nguồn gốc. Do đó, yêu cầu tín đồ kính trọng chung tam giáo: Phật-Thánh-Tiên. Tinh thần ấy được biểu hiện trong thực tiễn: “Cúng dường trì niệm theo hình thức Phật giáo. Lễ nghi, học vấn, văn tự theo hình thức Nho giáo. Rèn luyện tinh, khí, thần theo hình thức Lão giáo”. Điều này thể hiện rõ nét trong cách tu học, luyện tập của những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Tôn chỉ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa dành cho mọi người tự nguyện nhập đạo, không phân biệt giữa ông Trò, ông Gánh, thông tín, cư sỹ, người hộ tự (trông coi, thực hiện nghi lễ tại chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa) hay tín đồ. Tất cả phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, cách thức hành đạo, các lễ nghi, cúng bái tại chùa, miếu, Tam bửu gia và tại nhà riêng do người lập đạo truyền dạy và quy định.

Tóm lại, có thể khái quát tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa trong bốn chữ Tu Nhân Học Phật để so sánh sự khác biệt với đạo Phật-vốn lấy Hư Vô, và đạo Lão-vốn lấy Thanh Tịnh Tự Nhiên, làm tôn chỉ. Tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng có một số điểm cụ thể khác hẳn với Bửu Sơn Kỳ Hương: chẳng hạn ở việc cữ ăn thịt 12 con giáp, ở tinh thần kính trọng chung tam giáo, cũng như những quy định chặt chẽ, có tính bắt buộc trong nghi thức cúng lễ ở chùa, miếu, Tam bửu gia[2]… là những điểm mà Bửu Sơn Kỳ Hương không có. So với học Phật của Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên truyền dạy thì học Phật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có nhiều điểm mới. Tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương với học Phật chỉ cần niệm danh hiệu Phật A di đà là đủ, trong khi tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ngoài việc tưởng niệm danh hiệu đó còn thực hiện việc đánh chuông, gõ mõ, lần pháp trường (xâu chuỗi) và trì niệm kinh chú do Đức Bổn Sư Ngô Lợi soạn ra. Trong khi đó thinh, âm, sắc, tướng là những điều Phật Thầy Tây An bài bỏ…

Nội dung căn bản chỉ đạo hành động (tức nguyên lý) của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng giống như Bửu Sơn Kỳ Hương là Tu nhân Học Phật. Tuy nhiên, so với Bửu Sơn Kỳ Hương, tu nhân học Phật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được phát triển ở nhiều khía cạnh, cụ thể hóa hơn và cũng có những điểm tương phản. Nguyên lý tu nhân học Phật trình bày không thành hệ thống nhưng thể hiện rõ trong các sách kinh sách, sấm vãn Ngũ giáo và lưu truyền rộng rãi trong tín đồ, được xem là lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Ngô Lợi…

Theo Đức Bổn sư, sở dĩ tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa hay con người nói chung phải tu nhân vì có trau dồi được đạo đức làm người thì mới có thể làm tốt được mọi việc, sống tốt với mọi người-cả người sống lẫn người đã khuất, có ích cho đất nước, cho xã hội và cho nhân loại nói chung. Hơn nữa đã nhập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tức là phải học Phật. Muốn học Phật thì phải tu nhân: “Nhân đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ” (muốn tu đạo Tiên trước hết phải trau dồi đạo làm người, không làm trọn bổn phận con người thì khó mong thành tiên được). Muốn tu nhân phải thực hiện Tứ đại trọng ân là ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Đức Bổn sư lưu ý với tín đồ câu nói của người xưa “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên” (muôn ngàn sách vở đều dạy nghĩa thảo làm đầu). Trong Hiếu Nghĩa kinh, quyển Hạ, ông viết (đại ý): con người ta do sự phối hợp âm dương của cha mẹ mà sinh ra. Do đó, công ơn của cha mẹ rộng lớn như trời đất ta phải lo đền ơn cao nghĩa dày ấy. Làm được như thế mới đúng là tu nhân, mới xứng đáng đạo làm người. Và, có được trọn đạo làm người mới nói đến chuyện học được đạo cao xa hơn. Mặt khác, khi biết ơn cha mẹ đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta nên người thì cũng phải biết ơn ông bà, tổ tiên là những người ở thế hệ trước đã sinh ra cha mẹ ta. Để trả được ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên, trước hết phải làm tròn bổn phận làm người, làm những điều tốt đẹp để cha mẹ vui và tự hào về mình. Tránh làm những điều xấu ảnh hưởng đến tổ tông. Đền ơn cha mẹ, tổ tiên còn phải biết hy sinh vì đạo nghĩa, biết chăm lo cúng kiến tổ đường. Đức Bổn Sư cũng lưu ý là: “Song thân ân lớn bằng trời/ Làm con lo trả biết đời nào xong”…

Chính quan niệm không ly gia cát ái và lấy hiếu nghĩa với cha mẹ làm đầu của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã rất phù hợp, thích ứng với quan niệm “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu” và “Vô chùa thấy Phật muốn tu, về nhà thấy mẹ công phu chưa đành” của người Nam Bộ. Dân tộc Việt Nam vốn xem đạo hiếu là giềng mối của đạo nhân, là sợi dây truyền thống của các thế hệ. Đó là một truyền thống tốt đẹp. Với Tứ Ân Hiếu Nghĩa đặt hiếu nghĩa làm đầu trong “tứ ân” cũng không ngoài sự kế thừa truyền thống đó.

Nho giáo có câu “Hiếu giả bách hạng chi tiên” (Tăng Tử, có nghĩa là đạo hiếu đứng đầu trong trăm hạng tốt), hoặc lấy chuyện Nhị thập tứ hiếu làm điều răn dạy sự hiếu thảo với cha mẹ. Phật giáo cũng nói: Thờ cha mẹ chẳng ra gì, dù hằng ngày ăn chay niệm Phật cũng vô ích. Trong mười điều răn của Đức Chúa Trời, điều thứ tư dạy rằng: Làm con phải thảo kính cha mẹ…

Như vậy, ân tổ tiên, cha mẹ-ân đầu tiên trong Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một đức tính tốt đẹp của dân tộc, của nhiều tôn giáo, được chỉ định như một bài học bắt buộc trước hết cho tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa…

Đối với Ân đất nước, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng trong gia đình có làm được một người con hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ thì ra ngoài xã hội mới mong làm được một con người có ích cho đất nước. Mặt khác, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bản thân chúng ta, ai cũng có quê hương đất nước. Do đó, muốn đền ơn đất nước phải có bổn phận bảo vệ đất nước khi giặc ngoài xâm lăng, giày xéo, phải góp sức xây dựng quê hương xứ sở cường thịnh. Đền ơn đất nước cũng chính là giúp ích cho gia đình, bản thân. Vì đất nước giàu mạnh thì bản thân mới được ấm no. Trong cuộc sống cần tránh sơ suất làm cho đất nước nghèo khổ hay tiếp tay cho ngoại xâm làm tổn hại đến đất nước, dân tộc[3]…

Tháng 9 năm 2006, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được Nhà nước công nhận là một tổ chức tôn giáo. Hiện nay, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có trên 80.000 tín đồ tại 16 tỉnh thành trong cả nước với 74 cơ sở thờ tự (12 tỉnh thành có cơ sở thờ tự). Tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa chủ yếu sống ở An Giang, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, một số ở Đồng Nai và các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ.

Đình, chùa, miếu, Tam bửu gia… đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ rất nhiều đối tượng (chỉ có bàn thờ, tuyệt đối không có tượng, ảnh). Mỗi cơ sở thờ tự có hàng chục bàn thờ. Nhưng dù đình, chùa, miếu hay Tam bửu gia tùy theo mục đích mà có những đối tượng thờ cúng khác nhau thì tất cả các cơ sở thờ tự của đạo (đình, chùa, miếu, Tam bửu gia) đều có rất nhiều bàn liên quan đến tổ tiên, ông bà, anh hùng dân tộc… được đặt ở vị trí trang trọng, như bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền, bàn thờ Cửu huyền bá tánh, bàn thờ Cửu huyền thất tổ, bàn thờ Chư vị, bàn thờ trăm quan đằng cựu, anh hùng liệt sỹ hy sinh vì nước…

Trong nghi thức hành lễ tại các cơ sở thờ tự cũng như ở nhà bàn thờ tổ tiên, ông bà luôn được dâng những lễ vật quý và thực hiện những nghi thức trang trọng.

Nói chung, đối với đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, tổ tiên ông bà là một đối tượng quan trọng của tín ngưỡng xuyên suốt trong quan niệm đạo lý cũng như trong hành lễ (theo nghi thức tôn giáo).

 
Ðức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ

Phật giáo Hòa Hảo

Năm 1939, Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Hòa Hảo tại làng Hòa Hảo (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An khởi xướng 90 năm trước.

Về mặt giáo lý, đạo Hòa Hảo tiếp thu căn bản giáo lý Học Phật, Tu Nhân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Kinh sách của Đức Huỳnh Giáo chủ nói rằng: đạo Phật từ xưa đến nay luôn phân hai hạng người: xuất gia và tại gia. Xuất gia là nhà sư, ni cô đã hoàn toàn li khai với gia đình, quê hương, bạn bè và dựa vào cửa thiền để lo kinh kệ, trau luyện đức lành, không còn thiết đến việc đời… Còn hạng người tại gia gồm tất cả thiện nam, tín nữ chưa đủ điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với Tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội nên chưa thể làm như nhà sư và ni cô. Tuy vậy họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi, bác ái đại đồng của nhà Phật. Cho nên dù ở tại nhà họ thờ phượng Phật, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều luật giới, sửa tánh, răn lòng… dần dần cũng lên con đường giải thoát. Tu tại gia như vậy là thực hiện Học Phật Tu Nhân, lo tròn câu hiếu nghĩa. Và muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân phải hy sinh, thật nhiều cố gắng mới mong làm tròn. Đó là đền trả ân Tổ tiên cha mẹ; đất nước; Tam bảo; đồng bào và nhân loại. Quan niệm về “tứ ân” và đền trả “tứ ân” của Hòa Hảo cũng tương tự Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa. “Luận về tam nghiệp” giáo lý Hòa Hảo dạy: con người sinh ra, dù muốn hay không cũng phải chịu chi phối của Đạo. Đạo của con người là “Đạo Nhân”-một con đường mà nếu đi đúng thì sống, bước trật tất chết. Muốn làm tròn Nhân Đạo phải giữ vẹn “tứ ân”, nhưng trước hết phải tránh “tam nghiệp” (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và chừa “thập ác” (sát sanh, đạo tặc, tà dâm, lưỡng thiệt, ý ngôn, ác khẩu, vọng ngữ, tham lam, sân nộ, mê si). Sự tiến bộ của cư sĩ Hòa Hảo đòi hỏi phải hành luôn Đạo Bát Chánh (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh tin tấn, Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh định)[4]…

Tín đồ Hòa Hảo là cư sĩ tại gia. Việc đi lễ chùa chỉ được thực hiện trong những dịp lễ trọng, như: lễ khai đạo (18-5 âl), lễ Vía Phật Thầy Tây An (12-8 âl), lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (25-11 âl), lễ Phật thành đạo (8-12 âl)…

Đạo Hòa Hảo không thờ hình tượng. Đức Huỳnh giáo chủ chủ trương thờ phượng đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn là sự hào nhoáng bên ngoài. Nơi thờ tự bày biện đơn giản, “sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do lễ bái ở ngoài”[5]. Trên bàn thờ gia đình Hòa Hảo chỉ có tấm Trần Dà (màu đà, là màu kết hợp của tất cả các màu khác-tượng trưng cho sự hòa hiệp, là màu biểu hiện của sự thoát tục, tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật)[6], lư hương. Trước sân nhà có bàn thờ Thông thiên, trên chỉ có lư hương, chung nước. Vật phẩm dâng trong lễ cúng cũng chỉ có nước lạnh (tiêu biểu cho sự trong sạch), bông hoa (tiêu biểu cho sự tinh khiết) và nhang (dùng tẩy mùi uế trược). Đối với bàn thờ tổ tiên ông bà vào các ngày lễ hiếu dâng cúng món gì cũng được, không quy định.

Những người theo đạo Hòa Hảo chỉ thờ lạy đức Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và các anh hùng cứu quốc, không thờ tà thần nào nếu không rõ căn tích. Bàn thờ trong nhà và bàn thờ Thông thiên được thắp đèn sáng suốt đêm.

Khi cúng lạy trước bàn thờ tổ tiên, ông bà, tín đồ Hòa Hảo niệm hương: “cúi kính dâng hương trước cửu huyền/ Cầu trên Thất tổ chứng lòng thành/ Nay con tỉnh ngộ quy y Phật/ Chí dốc tu hiền tạo phước duyên/ Cúi đầu lạy tạ tổ tông/ Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn/ Rày con xin giữ đạo hằng/ Tu cầu Tổ tông siêu thăng Phật đài/ Nguyện làm cho đẹp mặt mày/ Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên/ Mong nhờ đức cả bề trên/ Độ con yên ổn vững bền cội tu”. Tiếp đến nguyện hương trước bàn thờ Phật (Tam bảo), tín đồ xin Phật Tổ, Phật Thầy, quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn thần, chư vị năm non bảy núi cảm ứng chứng minh cho sự ăn năn hối cải, làm lành lánh dữ… Sau đó tín đồ ra bàn thờ Thông thiên cũng cầu nguyện với tinh thần đó. Lời cầu nguyện của tín đồ Hòa Hảo thể hiện rõ tinh thần trọng ân, đạo lý với tổ tiên ông bà được đặt lên hàng đầu, vừa thể hiện sự điều chỉnh cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, vừa bày tỏ tri ân tổ tiên ông bà, đó cũng là nâng thang đầu tiên của “tu hiền” để học Phật (học phẩm hạnh, trí tuệ của Phật tổ để đạt chân thiện mỹ, “tứ vô lượng tâm” của Phật).

Trong cuộc sống, những người theo đạo Hòa Hảo quan tâm giúp đỡ người nghèo. Họ quan niệm dùng tiền giúp người có hoàn cảnh khó khăn hơn là để xây dựng chùa chiền, tổ chức lễ hội, tang chế, hôn nhân tốn kém.

Hiện nay, trong cả nước có khoảng 2 triệu tín đồ, nhưng chỉ có 39 cơ sở thờ tự. Chủ trương tu tại gia và tu tại tâm (Phật tại tâm, tâm tức Phật) của tín đồ Hòa Hảo với tiêu chí đền trả ơn đất nước, ơn tổ tiên cha mẹ… không những giúp tôn giáo này giữ được tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống mà hơn thế đã nâng tinh thần đó thành giáo thuyết tôn giáo.

*

Những nét cơ bản trên cho chúng ta thấy các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có những nét khác nhau trong quan niệm đạo lý, cách thức hành đạo, đối tượng tín ngưỡng, cách bài trí bàn thờ, thực hành nghi lễ… Sự phát triển của tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long khởi đầu với sự ra đời của Bửu Sơn Kỳ Hương, phát triển tiếp theo ở Tứ Ân Hiếu Nghĩa và trở lại ở một bước phát triển mới với sự xuất hiện của Hỏa Hảo trong vòng 90 năm tính từ khi Bửu Sơn Kỳ Hương khai đạo. Mặc dù có sự kế thừa, phát triển với nhiều điểm tương đồng, nhưng danh xưng mối đạo khác nhau, các cộng đồng tín đồ không có mối liên hệ với nhau về mặt tôn giáo, do đó sự tồn tại của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Hòa Hảo hoàn toàn độc lập. Điểm giống nhau từ quan niệm cho đến thực hiện nghi lễ, vị trí của đối tượng tôn thờ trong cả ba tôn giáo nội sinh nói trên đó là tổ tiên, ông bà. Đền đáp tổ tiên, ông bà chi phối toàn bộ đường lối tu đạo và hành động thực tiễn; xuyên suốt quá trình phát triển của các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long-trong bối cảnh đất nước chìm đắm trong ách nô lệ thực dân, buộc họ phải cầm vũ khí, tổ chức chống lại xâm lược của ngoại bang. Đó cũng là một lý do giải thích vì sao trong nhiều thời kỳ các tôn giáo này cũng đồng thời là tổ chức tôn giáo-chính trị…

Đinh Văn Hạnh

[1] Ngày 17-10-2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới thành phố, xã, thị trấn trong đó có việc thành lập thị trấn Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn, An Giang với bốn làng trên. Như vậy, vùng đất xa xôi, vốn rất hoang vu được Ngô Lợi tổ chức khẩn hoang, lập làng cuối thế kỷ XIX sau hơn 100 năm phát triển đã trở thành một thị trấn.

[2] Tam bửu gia là nhà thờ của dòng họ nhưng cũng là nơi thờ cúng của một gánh đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa theo tinh thần “Làng (đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) có Tam bửu tự, gánh (họ) có Tam bửu gia”. Tam bửu gia thể hiện mối liên kết đồng đạo của những tín đồ cùng một gánh, đồng thời cũng thể hiện mối liên kết dòng họ của Trưởng gánh đạo. Chức Trưởng gánh đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng được cha truyền con nối (xem thêm: Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam Bộ, 1867-1975, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1999).

[3] Cũng xin nói thêm: đạo Phật quan niệm Tứ Ân (hay còn gọi là Tứ trọng ân) là bốn ơn: cha mẹ (phụ mẫu), chúng sinh, vua trong nước (quốc vương thủy thổ) và tam bảo. Thực ra, khái niệm Tứ đại trọng ân của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không đơn thuần chỉ là sự cụ thể hóa và Việt hóa khái niệm “tứ trọng ân” của Phật giáo. Ở đây còn có sự nâng cao về chất trong mục đích của việc đền trả tứ ân, đó là chưa nói đến thứ tự quan trọng của từng “ân” không giống nhau giữa Phật giáo và Tứ Ân Hiếu Nghĩa (đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đề cao ân đất nước ở vị trí thứ hai). Mục đích của ân cha mẹ (phụ mẫu) trong Phật giáo là cầu cho cha mẹ mau thoát khỏi vòng sinh tử, của ân chúng sinh là cầu cho tất cả đều được giải thoát, của ân quốc vương thủy thổ là để độ cho vua chúa, của ân tam bảo là để cho chính bản thân sẽ được giải thoát. Trái lại, mục đích của việc đền trả Tứ ân của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không nhằm vào việc giải thoát hay đắc quả như đạo Phật mà nhằm vào những nhu cầu thực tiễn cuộc sống đời thường hằng ngày luôn đòi hỏi ở đạo lý của con người-hướng vào cuộc sống, nhập thế, chứ không xuất thế. Điều này đáp ứng được hoàn cảnh lịch sử cụ thể bấy giờ, đồng thời cũng phù hợp với bản sắc văn hóa và tiêu chuẩn đạo đức của người dân Nam Bộ.

[4] Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2010.

[5] Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, sđd.

[6] Trên bàn thờ Bửu Sơn Kỳ Hương là tấm Trần Điều (màu đỏ), Huỳnh Phú Sổ chủ trương phát triển sự nghiệp Đoàn Minh Huyên nhưng đổi Trần Điều thành Trần Dà vì cho rằng: có nhiều kẻ thờ Trần Điều tự xưng cùng tông phái với Hòa Hảo nhưng “làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể Đạo đổi lại màu dà” (Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, sđd).

Read More
31Tháng Tám
2021

TGP Hà Nội: Thư gửi học sinh, sinh viên Công giáo nhân dịp khai giảng năm học 2021 – 2022

31/08/2021
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

Các con rất thân mến,

Năm học mới sắp khởi đầu, một năm học hẳn sẽ có nhiều thách thức do đại dịch Covid-19. Dẫu trong hoàn cảnh nào, năm học mới vẫn là quà tặng thời gian của Thiên Chúa. Ngài muốn học sinh, sinh viên các con sử dụng quà tặng này sao cho ý nghĩa! Ai cũng chỉ có một tuổi trẻ. Tuổi trẻ là một phúc lành quý giá Thiên Chúa ban tặng. Tuổi trẻ tựa cây xanh đầy nhựa sống. Nếu không muốn nhựa đó trở nên khô cằn uổng phí, đây chính là lúc các con phải tự hỏi chính mình: tôi phải làm gì với đời mình? Năm học mới này, cha mời gọi các con cùng Học biết, Yêu mến và Loan truyền Chúa Kitô.

1. Học biết Chúa Kitô

Người trẻ ngày nay tiếp thu nhiều kiến thức qua các phương tiện kỹ thuật số hiện đại. Tuy nhiên, các con đừng quên: “Tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Đức Chúa” (x. Hc 1, 1). Không ai khác, các con được mời gọi học nơi Chúa Giêsu Đấng hiền lành và khiêm nhường. Tại trường Khiêm Nhường này, các con được học biết nhận lỗi; học nhu hòa, nhẫn nhục; học thấu hiểu; học cách buông bỏ và học sự cảm thương. Ai hạ mình khiêm nhường, người ấy học được nhiều điều. Thất vọng, tức là khi lòng tự ái đã đi xa quá mức. Người khiêm nhường thì không thất vọng, họ không sợ thất bại mà nhận ra ý Chúa qua từng biến cố. Người ấy không tự cho mình có khả năng giải quyết được hết mọi việc, nhưng biết cậy dựa vào Thầy để có được bình an nội tâm và có lý trí phân định. Học với Thầy Giêsu như thế, các con sẽ biết Thánh Ý Chúa Cha là lẽ sống đời mình khi dấn thân phục vụ và yêu thương.

2. Yêu mến Chúa Kitô

Hạnh phúc và niềm vui phát xuất từ Thiên Chúa. Ngài là Nguồn Tình Yêu. Chỉ khi trong tim tràn đầy lòng mến, các con mới có thể yêu cuộc sống bởi vì chính Chúa đã yêu thế gian này. Khi ấy dù lắm bất công, cuộc đời vẫn luôn có một ý nghĩa cao cả để vươn tới. Ta yêu con người dù họ khác ta nhưng đó là hình ảnh sống động của Thiên Chúa. Chỉ với tình yêu, các con mới có những sáng kiến để dệt nên mạng lưới sự sống ôm lấy nhân loại. Tình yêu sẽ giúp các con đủ sức vượt qua những nỗi sợ hãi, những tị hiềm ghen ghét, biết nhận lãnh và trao ban. Học yêu như Chúa đã yêu và học sống như Người đã sống.

Có bao giờ các con thấy mình sống quá vội, không kịp dừng lại để cho con tim có cơ hội rung cảm trước những thân phận khốn cùng? Tiếng kêu của người nghèo chính là tiếng Chúa Giêsu hằng gọi tên, thôi thúc các con hãy chạy đến ôm lấy họ. Chạnh lòng thương là dám bước vào cuộc đời ai đó để đồng cảm, để sẻ chia. Trong những ngày này, thứ vi-rút bé nhỏ ngăn cản chúng ta tiếp xúc thể lý nhưng lại gắn kết con người với nhau trong tình đồng loại. Giãn cách nhưng không xa cách, đừng để dịch bệnh chia cắt tình người. Tình yêu, sự hy sinh và lòng trắc ẩn nơi người trẻ các con phải được biểu lộ ngay trước những vết thương, những nỗi khốn cùng của tha nhân. Trong lúc ngặt nghèo tuyệt vọng nhất, niềm hy vọng là sức mạnh nội tâm nơi những trái tim biết yêu thương.

Sống trong một thế giới đầy biến động về khoa học công nghệ đòi hỏi các con phải luôn tỉnh thức. Hãy biết làm chủ chính mình để công nghệ không ngăn cản nhưng là phương tiện giúp các con học cách sống khôn ngoan, suy nghĩ sâu sắc và bày tỏ tình thương. Đừng để mạng xã hội đánh mất sự hấp dẫn đích thực vào Thiên Chúa. Một ngày sống cần “tăng kết nối, tương tác và trò chuyện” với Người Bạn Giêsu. Phòng khi bị “nghẽn mạng”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chỉ dẫn các con “truy cập đường link: Theo gương các nhân vật trẻ trong Kinh Thánh” để học cách sống tỉnh thức, vui tươi, dám thay đổi, dám ước ao dâng hiến để phục vụ tha nhân.

3. Loan truyền Chúa Kitô

Cha ít khi thấy người trẻ nói về Chúa Giêsu cho bạn của mình, trong khi trên mạng xã hội có hàng ngàn lượt chia sẻ về những câu chuyện thần tượng và về những biến cố vui buồn. Vì thế cùng với gia đình Tổng Giáo phận Hà Nội, trong năm Mục vụ tới đây Cha mời gọi các học sinh, sinh viên thực thi sứ mệnh Truyền Giáo. Để giới thiệu Chúa một cách trọn vẹn hơn các con phải “có” Chúa trước đã, bởi “không ai cho cái mình không có”. Hãy siêng năng đọc Kinh Thánh, học Giáo lý để có thể kể cho bạn bè các con nghe về Chúa Giêsu. Hãy làm cho Ngài lớn lên trong lòng người khác. Và quan trọng là mỗi chúng con cũng phải trở thành một Giêsu gần gũi giữa cuộc đời, sẵn sàng dấn thân để làm cho nhiều người được hạnh phúc. Các trang mạng xã hội, Blogs hay Podcasts có thể trở nên những công cụ đắc lực để truyền rao Tin Mừng. Cha tin với những sáng kiến và nhiệt huyết tuổi trẻ, các con sẽ mang Chúa đến cho nhiều người một cách gần gũi, như chính cách mà Thiên Chúa yêu thương và ở lại với họ vậy.

Trong năm mục vụ 2022, Hội đồng Giám mục Việt Nam mời gọi mọi thành phần Dân Chúa “đồng hành với người trẻ trong đời sống Giáo Hội và xã hội”. Khái niệm “công dân Nước Trời” không làm cho người Kitô hữu xa lạ với Quê hương Dân tộc mình. Trái lại, người tin Chúa có bổn phận gắn bó với vận mệnh Quê hương, làm cho Tin Mừng toả ngát hương thơm trong môi trường mình đang sống. Cha ước mong các con, vừa cảm nhận được sự hiện diện của Chúa qua mối quan tâm của Giáo Hội, vừa hăng say nhiệt huyết giới thiệu với bạn bè về Đức Kitô đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.

Các con rất thân mến! Hãy ước ao những điều cao đẹp vì các con được sinh ra cho những gì cao quý. Đó là tự do nội tâm sâu xa, là tình yêu chân thật có thể làm cho đời các con trở nên đáng sống và sống hạnh phúc. Một lần nữa, cha tha thiết mời gọi các con: Tuổi trẻ, đừng để dành!

Cha cầu chúc các con được an mạnh trong Chúa Kitô. Chúc các con năm học mới tràn đầy niềm hứng khởi để cùng Học biết, yêu mến và loan truyền Chúa Kitô.

Hà Nội, ngày 30 tháng 8 năm 2021

+Giuse Vũ Văn Thiên
Tổng Giám mục Hà Nội

 

Read More
30Tháng Tám
2021

Giáo phận Phú Cường: Thư kêu gọi tham gia thiện nguyện hỗ trợ chống dịch đợt II

30/08/2021
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

THƯ KÊU GỌI THAM GIA THIỆN NGUYỆN ĐỢT II
TRONG CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19

TÒA GIÁM MỤC PHÚ CƯỜNG
104 Lạc Long Quân, P. Phú Cường, Tp. Thủ Dầu Một, T. Bình Dương
Đt: 0274 3822 860; Email: [email protected]

Số 81/2021/TB-TGM

Toà Giám mục Phú Cường, ngày 29 tháng 8 năm 2021

Kính gửi: Quý Cha; Quý Bề trên các dòng tu; Quý Tu sĩ nam nữ; Quý Chủng sinh; và toàn thể anh chị em giáo dân Giáo phận Phú Cường.

Kính thưa Quý Cha, Quý Bề trên và toàn thể anh chị em,

Hiện nay, tình trạng dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến rất nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh Bình Dương, số ca nhiễm mới mỗi ngày tăng cao, các khu cách ly, các bệnh viện điều trị ngày càng quá tải và rất thiếu nguồn nhân lực phục vụ.

Nhóm Thiện nguyện của giáo phận, lên đường từ ngày 15/8/2021, theo sự sắp xếp của Lãnh đạo tỉnh Bình Dương, đã đến phục vụ tại thị xã Tân Uyên, một vùng rất “nóng” của tỉnh về tình hình dịch bệnh. Dù tất cả các thiện nguyện viên đã hăng say phục vụ trong hai tuần qua, với nhiều thành quả rất tích cực, nhưng chỉ có thể góp phần thật khiêm tốn đối với một nhu cầu quá lớn. Theo chương trình, nhóm thiện nguyện chỉ còn làm việc một tuần nữa thôi.

Trong tình hình thực tế hiện nay, Lãnh đạo tỉnh Bình Dương tiếp tục ngỏ lời với Giáo phận Phú Cường với ước mong được sự hỗ trợ trong công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19 ở các tuyến đầu.

Vì tinh thần bác ái Kitô giáo và để chia sẻ trách nhiệm với Chính quyền tỉnh Bình Dương nhằm phục vụ cộng đồng, tôi tiếp tục gửi đến Quý Cha, Quý Bề trên và toàn thể anh chị em lời kêu gọi tham gia thiện nguyện đợt II trong công tác hỗ trợ phòng chống dịch bệnh COVID-19.

Để thuận tiện cho việc di chuyển trong điều kiện giãn cách, với đợt thiện nguyện lần II này, chỉ xin đón nhận các tình nguyện viên cư ngụ trong tỉnh Bình Dương.

Để giúp cho các tình nguyện viên an tâm đăng ký phục vụ, tôi xác định một vài điểm cần lưu ý:

  1. CÔNG VIỆC PHỤC VỤ: Góp phần tuỳ khả năng trong công việc điều trị, giúp chuyển bệnh nhân, chăm sóc bệnh nhân trong công việc vệ sinh, phục vụ bữa ăn trong các khu điều trị…

* Các tình nguyện viên cần:

   – Có sức khỏe tốt, không có bệnh nền.

   – Có tinh thần phục vụ, không ngại hy sinh gian khổ.

   – Nếu có chuyên môn và kỹ năng về Y tế càng tốt.

* Các tình nguyện viên sẽ được xét nghiệm, chích ngừa và tập huấn trước khi tham gia.

* Chương trình và công việc cụ thể sẽ có thông báo sau.

  1. ĐĂNG KÝ THAM GIA THIỆN NGUYỆN:

* Đối với các giáo xứ:

   – Xin Quý Cha chánh xứ trên địa bàn tỉnh Bình Dương tiếp tục thông báo và mời gọi những anh chị em tín hữu từ 18 tuổi trọn, có tinh thần phục vụ nhiệt thành, đặc biệt là những người có kiến thức và kỹ năng y tế, tham gia công việc thiện nguyện này, để góp phần phục vụ tùy theo khả năng.

   – Việc đăng ký:

          . Xin đăng ký với cha Tađêô Lý Nguyễn Anh Thy – Chánh văn phòng Tòa giám mục Phú Cường

          . Email: [email protected] 

          . Điện thoại: 0937.184.124 (zalo cùng số)

* Đối với các cộng đoàn dòng tu:

   – Xin Quý Bề trên tiếp tục kêu gọi các tu sĩ đang hiện diện và phục vụ trong Giáo phận Phú Cường trên địa bàn tỉnh Bình Dương hưởng ứng và tình nguyện tham gia công việc thiện nguyện đầy ý nghĩa này.

   – Việc đăng ký:

          . Xin đăng ký với cha Giuse Phan Trọng Quang MF – Đặc trách Tu sĩ Giáo phận Phú Cường

          . Email: [email protected] 

          . Điện thoại: 0913.718.644 (zalo cùng số)

Khi đăng ký tham gia, vui lòng cung cấp thông tin theo Phiếu đăng ký đính kèm.

Thời hạn đăng ký tham gia thiện nguyện: từ ngày 30/8 đến 05/9 năm 2021. 

Đây là công việc phục vụ rất ý nghĩa và có giá trị chứng tá. Rất mong anh chị em nhiệt thành và quảng đại tham gia.

Nguyện xin Thiên Chúa ban phúc bình an cho Quý Cha, Quý Bề trên và toàn thể anh chị em.

(đã ấn ký)

Giuse Nguyễn Tấn Tước
Giám mục Giáo phận Phú Cường

Read More
23Tháng Tám
2021

Lược sử hình thành Hội Thừa Sai Paris

23/08/2021
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH HỘI THỪA SAI PARIS

Tác giả: Michel Trương

Mục lục

1. Đôi dòng thành kính ghi ân

2. Những tháng ngày ảm đạm trong xứ Cochin

3. Vận động bước đầu tại Rôma

4. Thánh Bộ Truyền bá Đức tin

5. Tiến triển mối quan hệ khi đến Paris

6. Nhóm thừa sai đầy khả năng và nhiệt huyết

7. Hành trình Rôma vận động xin duyệt xét

8. Sắc chỉ Super Cathedram

9. Tổ chức Chủng viện Thừa sai và nguồn kinh phí

10. Vài nhận định kết thúc

1. Đôi dòng thành kính ghi ân

Hầu như mọi đồng bào tín hữu Công giáo sinh hoạt nơi Giáo hội Việt nam, ngay trong thời buổi hiện nay, không ai có thể quên mà không nhắc đến bao công lao của các Tiền nhân trong Hội Thừa Sai Paris. Một số đồng liêu ngoài Tôn giáo, đặc biệt vài tác giả ở các lãnh vực khác không thuộc Sử học, cũng có người tỏ vẻ khâm phục, nhưng đôi lúc thì vài kẻ vẫn buông lời luận tội. Dẫu sao thì những thành quả cống hiến của các Vị cho xứ sở, bằng tính chân thật của Lịch sử mà khẳng định, thật là vô tiền khoáng hậu. Làm sao có thể phủ nhận được đối với các công trình xây dựng nền tảng nhân bản, góp phần tạo nên một khung cảnh sinh hoạt xã hội văn minh trong vùng Đông Nam Á. Nếu chưa kể đến các yếu tố hiển nhiên mà các Ngài đã kiên trì sáng tạo như: Phát quang Chân lý Tôn giáo; Gầy dựng những Cộng đoàn tu trì chăm lo phục vụ đồng bào lương giáo; Tác chế Ngôn ngữ hòa nhập với Thế giới; Dựng nét mỹ quan tôn ti trật tự xã hội; Nhận vai Quới nhân chia sẻ tình đồng loại cho người bất hạnh v.v… Người ta còn ghi nhận ngay cả trong phong cách giao tế ứng xử tình người giữa quần thể Người Việt, cũng mang nét độc đáo riêng, mà nó được ảnh hưởng từ quá trình lâu dài do các Ngài dạy dỗ cho Dân tộc. Tất nhiên, trong môi trường nội bộ mà đàm luận nhắc lại chuyện xưa thái quá thì cũng không mấy gì hay, nhưng hiện thực quá khứ quả là như thế, khó mà cho chìm vào quên lãng.

Việc một số tác giả trong Đạo bỏ công ghi chép quá trình hoạt động của các Ngài trên Quê hương đất nước Việt Nam như là, để ôn lại Lịch sử và tỏ lòng ghi ơn thì đếm ra cũng không ít. Nếu theo dõi cặn kẽ trên các phương tiện Truyền thông đại chúng, xem ra như đã khá phong phú, nhất là một số truyền nhân ở vài Giáo phận, còn thực hiện những án văn tường thuật có pha vào những tâm tình bày tỏ nhắc lại kỷ niệm xưa với các Vị như hồi còn phục vụ tại địa phương mình, xem qua thấy thật cảm động. Trong niềm phấn khởi từ bối cảnh ấy, nhóm biên soạn cũng xin mạn phép chung bút đóng góp các tư liệu sau đây và nhã ý thân mời Quý độc giả dành ít thời gian để cùng theo dõi, và nếu có thể, cũng xin bổ túc thêm đôi điều còn thiếu sót trong bài viết, liên quan đến tiến trình hình thành của Hội Thừa Sai Paris chúng ta.

2. Những tháng ngày ảm đạm trong xứ Cochin

Bối cảnh khi Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đến hoạt động truyền giáo tại Việt Nam thì đất nước đang trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, vì thế người Tây phương đến đây gọi xứ Đàng Ngoài là Tonkin và xứ Đàng Trong có tên Cochin.

Lúc đó vào tháng 7-1644, một phụ nữ có tên Tống Thị, xem như là Chính phi của Chúa Thượng (chính danh của Chúa Nguyễn Đàng trong: Nguyễn Phúc Lan), bà ta từ lâu đã có thái độ thù ghét Đạo, đồng thời cấu kết với quan trấn Quảng Nam (ông Nghè Bộ) cũng là người mang nhiều thành tích mưu toan phá Đạo, tên quan này đã không ít lần làm cho Cha Đắc Lộ phải điêu đứng.[1] Khi vừa ở phủ Chúa về thì quan ra lệnh bắt giam một cụ già có tên Thánh là Anrê, vì người này đã công khai tuyên xưng niềm tin của mình ở Hội An. Sau đó quan cho lính tiến về nơi ở của Cha Đắc Lộ để bắt một Thầy giảng tên là Inhaxiô, nhưng trước đó không lâu Cha và Thầy Inhaxiô đã rời nhà đi lên trấn, nên chúng không gặp được người cần tìm, bèn bắt một Thầy khác đang có mặt ở đó để thế lại, Thầy này cũng trùng tên Anrê. Người ta không nắm rõ lai lịch bao nhiêu về Thầy giảng Anrê này, chỉ biết Mẹ của Thầy đem gởi để theo giúp việc và học Đạo với Cha Đắc Lộ khi còn ở Phú Yên, cũng là nơi sinh quán của Thầy. Sau đó được Cha Đắc Lộ rửa tội đặt tên Thánh là Anrê, nên mọi người quen gọi theo tên Thánh và nơi xuất xứ, Anrê Phú Yên.[2] Khi vào tù, Thầy Anrê còn rất trẻ tuổi này, gặp được cụ già giống với tên Anrê cũng mới vừa vào chung căn ngục trước đó không lâu. Suốt cả đêm hai người trao đổi với nhau những lời lẽ nhằm động viên tinh thần can đảm để sẵn sàng hy sinh vì Đạo.

Sáng hôm sau Cha Đắc Lộ cùng với vài lái buôn người Bồ Đào Nha đến trình diện với quan trấn Quảng Nam để xin miễn xá cho hai tội phạm. Cha là người được Chúa Thượng kính nể vì lý do muốn giữ mối giao hảo với người Tây phương trong quan hệ mua bán súng ống đạn dược. Quan trấn tỏ ra không nhượng bộ, nhưng rốt cuộc thì cũng phải đồng ý tha bổng cho cụ già Anrê, còn Thầy trẻ tuổi Anrê vì cứng đầu từng dám nói với ông là: “Dù có chết cũng nhất định không chịu bỏ tên người có Đạo”, nên không thể dung tha. Không còn cách cứu sống cho Thầy Anrê, vì thế Cha Đắc Lộ chỉ đành biết an ủi, động viên và ban các Bí tích sau hết cho Thầy. Thầy vui vẻ bước đi, vai mang gông nặng mà chân bước rất mau. Trước khi lãnh án, Thầy ngậm ngùi nhìn Cha Đắc Lộ lần cuối như bày tỏ lời từ biệt, Cha cũng làm dấu, chỉ lên Trời như muốn nói nơi mà Thiên Chúa đang chờ để trao Triều thiên tử đạo cho Thầy. Bọn lính liên tiếp đâm Thầy ba nhát đao, nhưng Thầy vẫn quỳ ngay ngắn, mắt nhìn lên trời, thấy thế chúng vung đao chém vào cổ Thầy, nhát thứ nhất chém hụt, nhát sau mới làm Thầy rơi đầu. Một ngày đáng kính nhớ, đó là ngày 26 tháng 7 năm 1644. Của lễ hy sinh đầu mùa của Giáo Hội Việt Nam được dâng lên cho Thiên Chúa, đồng thời đó cũng là hồi chuông cảnh báo cho các Vị anh hùng khác trên đất Việt, sẽ còn nối gót theo gương Thầy mà tuyên xưng danh Chúa trong những ngày sắp tới.

Hình Thầy Anrê tử đạo do Giacinto Brandi vẽ năm 1652

Sau khi xử xong Thầy Anrê, quan trấn Quảng Nam ra lệnh trục xuất Cha Đắc Lộ. Đối với suy nghĩ của Cha khi ấy, nếu bỏ đi trong lúc này là hèn nhát, nên Cha lên tàu người Bồ Đào Nha nhổ neo lúc ban ngày, nhưng đêm đến thì lại lén vào bờ để thăm các Giáo đoàn. Lúc đó vào trung tuần tháng 9-1644, Cha Đắc Lộ thấy tình hình ở lại đó không được ổn, Cha chia thầy Inhaxiô lên miền bắc là vùng từ Hội An ra đến Huế, phần Cha tránh về phía nam (Nam Hội An) là vùng Quảng Ngãi – Qui Nhơn. Nhiều người lũ lượt đến gặp Cha để xin nhận các Ơn Bí tích và tìm hiểu Đạo, vì là thời kỳ hoạt động trong bóng tối nên Cha phải hết sức dè dặt khi tiếp xúc cùng lúc đông người. Từ trước đến giờ tuy bách hại giáo dân, nhưng quan trấn Quảng Nam vẫn không dám phạm đến tính mạng của Cha Đắc Lộ, dẫu sao Cha cũng là người được Chúa Thượng kính nể. Mùa Sinh nhật năm 1644, một lần quan trấn đã từng bắt giam Cha nhưng rồi Chúa Thượng lại ra lệnh phóng thích.

Nguyên vào năm 1643, Trịnh Tráng đem đại binh đến Bắc Bồ Chính để đánh Chúa Nguyễn, nhưng vì tiết trời nóng bức nên bị thiệt hại quân sĩ rất nhiều, Trịnh Tráng đành phải ra lệnh rút quân trở về. Sau đó thì thuyền tuần tra của Chúa Nguyễn hoạt động rất nghiêm nhặt vì đề phòng sợ quân Trịnh sẽ thừa dịp trở lại tấn công. Lần này thuyền của Cha Đắc Lộ trong khi đi thăm các xứ đạo thì bị bắt và tình nghi là quân thám thính của phương bắc, họ thấy có Cha là người Tây phương nên đối đãi tử tế nhưng vẫn giam giữ và báo về phủ Chúa. Được tin báo, Chúa Nguyễn liền ra lệnh phải giải Cha và các Thầy về kinh.

Tại phủ Chúa, triều thần họp lại để định đoạt số phận của Cha Đắc Lộ. Chúa Thượng tuyên án xử tử tất cả và phải thi hành lệnh ngay hôm đó, nhưng nhờ có vị đại thần Thái phó là thầy dạy của Chúa Thượng, đứng ra can ngăn xin cho Cha, Ông tâu rằng, Đạo này không dạy điều chi xấu mà kết án như thế là vấy máu người vô tội. Nhờ thế Cha Đắc Lộ được miễn tội chết nhưng phải rời ngay khỏi xứ Đàng trong và không bao giờ được phép quay trở lại, còn những người khác bị bắt chung trong chuyến đó đều bị giết.[3] Sáng ngày hôm sau, chính vị quan trấn Quảng Nam được lệnh giải Cha ra cửa Hội An để đưa xuống tàu người Bồ Đào Nha mà trở về Macao.

Đến đây chúng ta có thể hơi thắc mắc vì sao trước đây có lần Cha Đắc Lộ bị các quan bắt giữ mà Chúa Thượng tỏ vẻ kiêng nể rồi ra lệnh thả, còn lần này thì nhanh chóng kết án xử tử? Các nguồn sử liên quan điểm này không có những tường thuật cặn kẽ, vài tác giả có đưa ra cách giải thích theo suy đoán, như là: Tình hình chính trị thế giới lúc đó không còn thuận lợi cho người Bồ Đào Nha tại vùng này nữa, vì có các cường quốc mới đang xuất hiện như Tây Ban Nha, Hòa Lan, Anh Quốc, cũng đều đến gạ gẫm giao thương với Việt Nam. Đồng thời tin tức từ cuộc cấm đạo ở Nhật lan dần đến Việt Nam qua các thương gia ngoại quốc, các Chúa Nguyễn chịu ảnh hưởng của các hoàng đế Trung Hoa, các Mạc Phủ và những tin tức đồn đại xuyên tạc, nên dần dần chuyển sang thái độ nghi ngờ và ác cảm với Đạo Công giáo.[4] Và như thế chúng ta hiểu, Cha Đắc Lộ trên danh nghĩa lúc đầu là người đã theo đoàn tàu Bồ Đào Nha để đến Việt Nam.

Hôm đó ngày 03 tháng 7 năm 1645, Cha Đắc Lộ vĩnh viễn từ giã đất Việt thân yêu sau bao nhiêu năm ra sức truyền giáo và để lại di sản chữ Quốc ngữ cho dân tộc này. Ngày Cha ra đi có mang theo bảo vật quí giá, đó là chiếc thủ cấp của Thầy Anrê Phú Yên. Trên đường đi khi ngang qua đảo Hải Nam thì tàu gặp trận bão, mọi người trên tàu cầu khẩn với Vị tử đạo này nên tai qua nạn khỏi, rồi về được đến Macao bình yên, trong khi 2 chiếc tàu khác, cũng của thương buôn Bồ Đào Nha thì bị chìm trong cơn bão. Sau một thời gian lưu trú ở Macao, Bề trên ra lệnh Cha Đắc Lộ phải về Rôma để báo cáo tình hình. Ngày 20-12-1645, Cha xuống tàu trở về Châu Âu, Ngài bị người Hòa Lan bắt giam trong vòng ba tháng, sau đó thì Cha theo tàu người Anh đi một chặng đường rồi phải dùng đường bộ băng qua xứ Ba Tư đặng kết thúc hành trình. Lẽ ra chuyến đi chỉ cần sáu tháng, thế nhưng phải mất tới ba năm rưỡi thì Ngài mới về đến được Rôma.[5]

3. Vận động bước đầu tại Rôma

Cha Đắc Lộ đặt chân lên Kinh thành Rôma ngày 27-6-1649, sau đó ngài được Ðức Inôcentê X cho tiếp kiến. Một năm sau, ngày 02-8-1650 Cha đã hoàn thành xong Bản tường trình cho Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin về tình trạng Giáo Hội Việt Nam, với hiện tình nơi ấy có hơn 300.000 tín hữu và mỗi năm còn tăng thêm khoảng 15.000 tân tòng.[6] Từ số liệu bối cảnh đó, Cha Đắc Lộ tha thiết thỉnh cầu Thánh Bộ gởi Giám mục giám quản Tông tòa đến hai xứ Ðàng Trong và Ðàng Ngoài. Ngày 26-9-1650, cùng với sự hiện diện của Ðức Inôcentê X, các Hồng y đã họp lại chuẩn xét lời thỉnh cầu này. Năm 1651, Thánh Bộ đề nghị chọn Cha Ðắc Lộ đảm nhiệm chức vụ Giám mục giám quản Tông tòa, nhưng Cha lại từ chối, vịn theo lý do bởi các báo cáo của Vị thư ký Thánh Bộ là Cha Francesco Ingoli, thì các thừa sai Bồ Ðào Nha sẽ không thể nào chấp nhận được điều này và tình thế sẽ còn tệ hại hơn nữa. Nếu như không được sự đồng thuận của người Bồ Ðào Nha, Cha sẽ có nguy cơ bị cầm tù. Ngày 30-7-1652, Thánh Bộ lại họp lần nữa cũng có sự hiện diện của Ðức Giáo Hoàng, nhưng vấn đề bổ nhiệm Giám mục giám quản Tông tòa cho Việt Nam vẫn bị bế tắc, nguyên do vì những trở ngại bởi qui chế “Quyền Tài Phán” Bồ Ðào Nha, chủ yếu là vì Cha Đắc Lộ không phải gốc đào tạo và điều động bởi Bồ Đào Nha, mà là người gốc Pháp với quốc tịch của Nước Tòa Thánh. Do đấy Ðức Inôcentê X vẫn chưa thể đi đến một quyết định dứt khoát nào.

Không hy vọng tìm được giải pháp gì cho tương lai Giáo Hội Việt Nam tại Rôma, Cha Ðắc Lộ đành rời chốn Kinh thành ngày 11-9-1652 để đi Marseille, nước Pháp, rồi sau đó tới lưu trú ở Lyon. Tại đây, Ngài biên soạn quyển “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài trong giai đoạn từ năm 1627 tới năm 1646”. Vào tháng Giêng năm 1653, Cha lên đường trực chỉ Paris, tại đây sẽ có nhiều hy vọng mà Cha Ðắc Lộ nghĩ có thể tìm được giải pháp thỏa đáng cho một Giáo hội mà Ngài hết sức yêu quí: Giáo Hội Việt Nam.

4. Thánh Bộ Truyền bá Đức tin

Vừa qua ở đoạn trên có đề cập đến một cơ cấu trong Giáo Hội vào thời kỳ này, đó là Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, để tiện theo dõi tình huống, thiết nghĩ chúng ta cũng cần dành ra đôi dòng để mô tả những nguyên do hình thành và cách hoạt động của tổ chức này.

Phong trào truyền giáo phát động tại Mỹ châu và Á Châu đã làm cho Giáo Hội ý thức được rằng: Chế độ Bảo trợ (Patronato: tiếng Tây Ban Nha, hoặc Padroado: tiếng Bồ Đào Nha), được thiết lập từ Trọng sắc Inter Caetera 1493 và Hiệp ước Tordesillas 1494, mà Đức Alexandre VI ban hành và cam kết với hai Đế quốc hàng hải Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tuy nó cũng đã đóng góp và bảo vệ ít nhiều cho công cuộc truyền giáo, nhưng dần dần cũng đưa đến lắm ngăn trở cho nỗ lực rao truyền Phúc Âm ngày càng đòi hỏi cao hơn.[7] Vì mục tiêu lợi ích kinh tế và quyền khai thác thuộc địa của các Quốc gia có liên quan, mà họ luôn coi trọng ưu tiên lợi nhuận hàng đầu, nên đã gây ra không ít những phiền nhiễu cho việc Truyền giáo. Kế hoạch mở rộng thành trì Kitô giáo, nếu muốn giảm bớt tính cách thế tục mà chỉ nhắm vào mưu ích Thiêng liêng, thì tất phải trực thuộc thẩm quyền Giáo Hội một cách trọn vẹn. Đã đến lúc cần xem xét để hủy bỏ Chế độ Bảo Trợ này mà thay vào là Thẩm quyền Tòa Thánh, để nắm giữ vai trò trực tiếp đặc cử những Giám mục đại diện Tông tòa đi tới các vùng vừa mới khám phá đặng thực hiện công việc truyền giáo, như thế mới hợp lý hơn.

Xin được mở ngoặc giải thích ngôn từ: Cùng một Qui chế về thực trạng hiện hữu thời đó, nhưng các tác giả Sử hay dùng hoán chuyển cách gọi. Nếu tiền ngữ là Chế độ thì nói “Chế độ Bảo trợ”; còn với tiền ngữ Quyền thì “Quyền Tài Phán”, cả hai gần như chỉ một thực thể. Theo Trọng sắc Inter Caetera: 2 cường quốc hàng hải Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phải chiết ra một phần tỉ lệ lợi nhuận từ việc khai thác thuộc địa để chịu trách nhiệm gánh chi phí và cung cấp nhân lực cho việc truyền bá Kitô giáo trong các xứ ấy.[8]

Ý tưởng đã được manh nha từ khi Công Ðồng Trentô kết thúc năm 1563, Đức Pi-ô V đã lập một Ủy Ban lo việc hoán cải dân ngoại. Đến năm 1600, Ðức Clêmentê VIII thay thế Ủy Ban này bằng một cơ cấu khác tên là Thánh Bộ Ðức Tin. Khi Ðức Grêgôriô XV được bầu làm Giáo Hoàng năm 1621, thì Ngài rất quan tâm đến việc thiết lập Hàng Giáo sĩ địa phương, do vậy, vào ngày lễ Ba Vua 06-01-1622, Ngài đi đến quyết định thành lập Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fidei). Thánh Bộ này gồm 13 Hồng y, hai vị cao cấp khác trong Giáo Hội và một thư ký, Đức Thánh Cha giao phó bổn phận chủ yếu cho Thánh Bộ này là quản trị sứ mệnh truyền bá Ðức tin.

Vừa khi ra đời, một loạt các công việc mà Thánh Bộ có nhiệm vụ phải thực hiện: Tổ chức nội bộ của Thánh Bộ, phân chia toàn thế giới ra làm 13 tỉnh hạt truyền giáo, phổ biến lệnh cấm các vị Thừa sai không được hoạt động chính trị và loại bỏ mọi mưu toan chính trị ra khỏi mục tiêu thi hành tôn giáo và mục vụ, thiết lập trung tâm học vấn chuyên ngành truyền giáo nhằm đào tạo các Thừa sai và huấn luyện Hàng Giáo sĩ địa phương, lập ấn quán xuất bản các sách phụng vụ và giáo lý ngoại ngữ, thu thập các báo cáo về tình hình thừa sai. Đặc biệt là điều đình với triều đình Madrid và Lisbonne về những lãnh thổ hải ngoại do họ bảo trợ, bổ nhiệm Giám mục làm Giám quản Tông toà, đặc trách điều khiển các Giáo hội địa phương. Trong tất cả những công việc ấy, Cha Ingoli, thư ký Thánh Bộ, đã có công gánh vác rất nhiều.

Như vậy vào đầu thế kỷ XVII mọi người đã ý thức được những hạn chế của chính sách Chế Độ Bảo Trợ liên quan đến hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Ban đầu từ nguyên do tranh chấp về hàng hải, rồi dẫn đến tham vọng mở rộng ảnh hưởng Kitô giáo. Nhưng kết cuộc thì, nỗi bận tâm dành ưu tiên cho quyền lợi vật chất bao giờ cũng tỏ ra có ưu thế vượt trội hơn. Lịch sử thường cho thấy, khi có sự đụng chạm giữa 2 thế lực đạo đời, thì thành quả bên bổn phận vì Nước Chúa, nhiều lúc cũng có thể thu về một số lợi điểm nào đó, nhưng đều phải trải qua lắm nhiêu khê và xương máu. Bối cảnh thời Cha Đắc Lộ vận động cho Việt Nam, mọi người muốn áp dụng và hưởng nhờ theo những qui định mới như Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin chủ trương, tuy nhiên song hành cùng lúc, thì ảnh hưởng của cơ chế cũ liên quan đến Quyền Tài phán của Bồ Đào Nha hãy còn đó, tình hình bấy giờ người ta chưa có biện pháp để loại trừ hẳn. Chính vì thế mới thấy được tài khéo léo của Cha Đắc Lộ cũng như những Vị tiên khởi lãnh mệnh xuất tiến sang vùng Châu Á này. Song song đó, cũng có quyền nhận xét ở điểm này, những biểu hiện thật hiển nhiên cho thấy, dường như Ý Định Quan Phòng đã thương đoái cách riêng đến xứ sở Đất Việt chúng ta, xin hãy theo dõi tiếp câu chuyện và sẽ nhận thấy ra điều minh chứng.

5. Tiến triển mối quan hệ khi đến Paris

Ba năm lưu lại ở Rôma từ năm 1649-1652, sau nhiều lần tiếp kiến với Ðức Inôcentê X và Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Cha Ðắc Lộ nhận thấy ra chủ yếu ba điểm khó khiến cho Giáo triều chưa thể gởi Giám mục Tông tòa đi Việt Nam: Một là thiếu tổ chức hậu cần ở Châu Âu; hai là thiếu quỹ tài trợ chi phí cho việc gởi người đi, và cuối cùng là, thiếu những thừa sai đủ nhiệt huyết và khả năng để giải quyết những yêu cầu đối với truyền giáo tại xứ phương xa.[9] Mà mục tiêu công việc này hiện đang đối mặt với hai thách thức lớn: Phải thích ứng với người bản địa xứ phương Đông nhằm thu hút được tân tòng, và hai là, phải đương đầu với những thế lực của Chế độ Bảo Trợ, là kẻ tham vọng độc quyền quản trị truyền giáo tại vùng này, để nhờ song song đó, cũng bảo vệ luôn tư lợi quốc gia họ. Từ những nguyên nhân phức tạp ấy, Cha Ðắc Lộ quyết định chọn hành trình tiến về nước Pháp để tìm phương hướng cho câu giải đáp.

Tàu từ Kinh thành Rôma sau khi cặp được bến Marseille, bờ nam nước Pháp, Cha Ðắc Lộ cất bước ngay hướng về Paris, giữa chặng đường thì Ngài có dừng chân lại Roanne. Nơi đây Cha may mắn được làm quen với Ðức Cha Henri de Maupas du Tour, Giám mục Giáo phận Puy và cũng là tuyên úy của Hoàng Hậu đương thời. Dịp may lúc ấy, cũng đúng vào lúc Ðức cha De Maupas có việc và đang chuẩn bị để đi Paris, Ngài đề xuất ý mời Cha Ðắc Lộ đồng hành cùng chuyến. Hành trình 11 ngày giữa Roanne và Paris, kể từ ngày 17 đến 28-01-1653, đã cho phép Cha Ðắc Lộ được dịp kể hết mọi chuyện tại vùng Châu Á và đặc biệt cách riêng về Giáo Hội Việt Nam, những gì diễn ra ở xứ Tonkin cũng như trong xứ Cochinchine (vì bên Ấn Độ cũng có một địa danh trùng tên Cochin, nên người Phương tây gọi bên Ấn là Cochin-inde và tại Việt Nam là Cochinchine). Đồng thời Cha Ðắc Lộ cũng tường thuật cặn kẽ về tình hình rao giảng và những cuộc trở lại Đạo, về văn hóa và niềm tin của người Việt, gồm luôn những khó khăn, bách hại, nhu cầu thừa sai, niềm hy vọng tương lai cho một Giáo hội tiềm năng thịnh vượng… Thật là một cơ hội thuận lợi không thể ngờ, nhờ đó mà như là duyên cớ để dẫn đến những biến chuyển thành lập Hội Thừa Sai Paris sau này.

Ðức cha Henri de Maupas là một người đặc biệt có rất nhiều mối quan hệ quen biết tại Paris. Ngài được Vua Louis XIII và hoàng hậu Anne d’Autriche bảo trợ, đồng thời cũng là một phát ngôn viên của Hội Thánh Thể (Compagnie du Saint-Sacrement). Hội này được thành lập từ năm 1627 do Henri de Lévis, công tước Vantadour, Hội hoạt động từ thiện mạnh mẽ như: Chữa trị bệnh nhân, tài trợ dưỡng đường, cứu giúp người nghèo, hoàn lương kẻ lỡ bước, thăm viếng tù nhân, dẹp trừ tà giáo, ủng hộ các chương trình Mục vụ ở thành thị cũng như thôn quê. Hội qui tụ được nhiều Giáo sĩ và nhân vật quyền thế tiếng tăm, trong đó có Thánh Vincent de Paul (1581-1660) và nhà giảng thuyết lừng danh Bossuet (1627-1704), sau này trở thành Giám mục Giáo phận Meaux (1681-1704). Hội đặt trụ sở tại Paris, hàng tuần đều có những buổi họp cho hội nghị chung hoặc cho từng ủy ban, trên toàn quốc có 40 chi hội địa phương. Mục tiêu Truyền giáo là một trong những ưu tư chính của Hội trong những năm ấy. Năm 1639, Hội tài trợ các đoàn thừa sai Hừng đông, 1642 góp phần thành lập Hội Ðức Bà Montréal – hoạt động truyền giáo vùng Tân Pháp ở Canada. Chính bản thân Vị sáng lập Hội là công tước Vandatour, được thụ phong Linh mục vào năm 1641, còn đứng ra thành lập “Hội các chủng viện Tông đồ và Vương quốc” để truyền bá Đức tin cho dân ngoại. Vị này còn đề nghị lập Hội các thừa sai Ấn Ðộ, nhiều thân cận của Công tước Vantadour cũng đã góp phần mở mang giao thương với Ba Tư, Ấn Ðộ, Madagascar…

Ðến Paris vào cuối tháng giêng 1653, Cha Đắc Lộ đã được Đức Cha Henri de Maupas giới thiệu để gặp gỡ nhiều vị Giáo sĩ và các nhân vật quan trọng ở Paris. Cha đã được tiếp xúc với Hoàng Hậu Anne d’Autriche; Cha de Lingendes, Bề trên giám tỉnh Dòng Tên Pháp lúc bấy giờ; Cha Charles Lalemant, bề trên Nhà tập Dòng Tên; cha Charles Paulin, linh hướng của vua Louis XIV. Cũng trong dịp này, Cha Đắc Lộ đã được giới thiệu với triều đình, được tiếp xúc cấp lãnh đạo của Hội Thánh Thể, gặp cha Vincent de Paul; Nữ Bá Tước d’Aiguillon, là cháu thừa tự của Hồng y Richelieu và bà ta cũng là người điều hành một Hội phụ nữ trợ tá cho Hội Thánh Thể. Nữ Bá Tước đứng đầu nhiều hội từ thiện rất có ảnh hưởng ở Paris và Rôma, bà đặc biệt quan tâm đến hoàn cảnh của các Giám mục Pháp, cùng làm việc bên cạnh Nữ Bá Tước, có bà De Miramion và cô De Bouillon, là những Vị tích cực và hăng say đi làm việc thiện bất cứ nơi đâu.

Cũng trong khoảng thời gian này, Ðức Cha Henri de Maupas còn giới thiệu cho Cha Ðắc Lộ một nhân vật quan trọng khác, đó là Ðức Khâm Sứ “di Bagno”, biệt danh Bagni. Sau cuộc gặp gỡ, Ðức Khâm Sứ Bagni đã gởi một bản phúc trình, trong đó thấy có hết lời khen ngợi về Cha Ðắc Lộ và đệ trình lên Hồng y Fabio Chigni, Quốc Vụ Khanh của Ðức Inôcentê X, mà vị Hồng y này sau được bầu làm Giáo Hoàng trong danh hiệu Alexandre VII. Năm 1654, trong một buổi họp có Cha Ðắc Lộ tham dự, Vị phát ngôn viên Hội Thánh Thể cho hay là đã qui tụ được một quỹ tài trợ và có thể giúp cho các Giám mục thừa sai. Do vậy, nhiều dấu hiệu tích cực cho thấy các khó khăn thuộc hai khâu tổ chức hậu cần và tài trợ kinh phí, như đã manh nha tìm ra giải đáp. Thành quả ấy có được là nhờ những sáng kiến và sự nhiệt tình đóng góp của các nhân vật chủ chốt trong Hội Thánh Thể.

6. Nhóm thừa sai đầy khả năng và nhiệt huyết

Ðầu tháng 2 năm 1653, Ðức Cha Henri de Maupas còn giới thiệu cho Cha Ðắc Lộ, Cha Jean Bagot (1580-1664), giáo sư tín lý, bề trên nhà tập Dòng Tên và là người điều hành trong một hội tư, gọi là “Hội Bạn Hiền” (Associatio amicorum, Les Bons Amis).[10] Ý nghĩa “Bạn Hiền” với chí hướng như “một tâm, một lòng”, là một hội dành riêng cho các Giáo sĩ hướng tới đời sống thiêng liêng qua tình bạn, đồng thời cũng nhằm giúp đỡ những sinh viên nghèo và cô đơn. Vào thời điểm này, Cha Jean Bagot đang điều động một nhóm khoảng mười hai người trẻ, tất cả đều sẵn sàng đáp lại Tiếng gọi thừa sai mà Cha Ðắc Lộ nêu ra.

Với danh tiếng từ quyển Tự điển Việt-La-Bồ, ấn hành tại Rôma năm 1651, Cha Ðắc Lộ đã được mời để đến nói chuyện ở Nhà tập Dòng Tên trước một cử tọa gồm Tập sinh Dòng và các Ðại chủng sinh Triều sắp chuẩn bị được làm linh mục. Ðây cũng là buổi nói chuyện đầu tiên mà Cha Ðắc Lộ thực hiện trong tháng 2-1653 với các thành viên của Hội Bạn Hiền và dẫn đến một kết quả thật mỹ mãn. Cha đã hoàn toàn chinh phục được các thính giả trẻ tuổi đầy nhiệt huyết để sẵn sàng dấn thân đi thừa sai. Có ba vấn đề đã được Cha đề cập trong bài diễn văn vào dịp này, nội dung Ngài phát biểu hôm đó, người ta còn ghi lại như sau:

Trước tiên Cha thuật lại một cách cụ thể và tỉ mỉ về những chuyến mạo hiểm của Ngài ở Việt Nam, và về việc thế nào Cha thích ứng với các điều kiện sinh hoạt, văn hóa địa phương, cũng như việc học tiếng Việt, Cha nói: “Trong thời gian 12 năm lưu trú trong xứ này, ở Ðàng Trong cũng như Ðàng Ngoài, tôi đã học Tiếng Việt với dân chúng địa phương. Tôi lại còn có một người thầy dạy: Cha Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha, là cộng sự đầu tiên trong nhóm Dòng Tên nhỏ bé của chúng tôi đã hiểu biết một cách thấu đáo ngôn ngữ Việt và giảng đạo mà không cần thông dịch. Thêm vào đó, tôi dùng các tài liệu của các Linh mục dòng Tên khác, đặc biệt là những công trình của hai Cha Gasparil de Amoral và Antoine Barbosa, mỗi Cha đều đã soạn thảo một tự điển, Cha Gasparil de Amoral tự điển Việt-Bồ và Cha Antoine Barbosa tự điển Bồ-Việt. Tôi đã sử dụng công trình của các Ngài và thêm vào đó cột chữ La-tinh tương ứng. Rốt cuộc có khoảng bảy đến tám ngàn từ chữ Việt quốc ngữ được đối chiếu với ngôn ngữ Bồ và La-tinh, mà không cần sử dụng đến loại kiểu chữ nôm hay chữ nho Việt Nam.”

Kế đến sang điểm thứ hai, Cha mô tả về tổ chức thừa sai tại Ðàng Trong và Ðàng Ngoài thích ứng với những phong tục tập quán địa phương. Tổ chức đời sống của các Thầy Giảng dựa theo khuôn mẫu của các sư sãi trong các chùa Phật giáo. Sau cùng, về điểm thứ ba, Cha trình bày nhu cầu khẩn thiết phải gởi Giám mục đại diện Tông tòa đến Việt Nam để truyền chức Linh mục cho người bản địa. Những cuộc bách hại liên tục hiện nay sẽ không cho phép người ngoại quốc được ở lại trong xứ, phải tránh những sai lầm như đã từng gặp ở Nhật, vì hiện nay không còn một Linh mục ngoại quốc nào có thể lưu lại nơi đấy. Phải sử dụng hết mọi biện pháp có thể, chính Ðức Inôcentê X và Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cũng phải công nhận rằng, Giáo Hội sẽ không đủ khả năng thực hiện ý định nếu như từ khước sự nhờ cậy vào tài trợ vật chất của hoàng gia Tây Ban Nha hoặc Bồ Ðào Nha trong việc di chuyển và bảo vệ các thừa sai, cũng như việc xây cất nhà nguyện, thánh đường, nhà xứ, cơ sở… Chính Cha Ðắc Lộ, bản thân cũng phải nhờ vả tàu bè Bồ Đào Nha và Hòa Lan trên đường trở về Châu Âu.

Kế đến Cha Ðắc Lộ còn có thêm một buổi nói chuyện khác, cũng được thực hiện vào tháng 2-1653, lần này tại nhà Nữ Bá Tước d’Aiguillon và mang tính cách quan trọng hơn lần trước. Đây là buổi gặp gỡ có sự tham dự của các thành phần quan trọng trong Hội Thánh Thể mà Cha Ðắc Lộ hy vọng sẽ tìm được nguồn tài chính, nhân lực, cũng như những hợp tác khác… Nhờ lần này mà có 3 Linh mục trẻ đặc biệt gây nên sự thu hút bởi Cha Jean Bagot và Cha Ðắc Lộ, vì họ tỏ ra có đủ khả năng và xứng đáng để được phong Giám mục. Ðó là các Vị: Cha François de Montmorency-Laval, Cha François Pallu và Cha Pierre Piques.

Cha François Pallu, sinh năm 1626, là con thứ 10 trong một gia đình 18 anh em, giàu nhất thành phố Tours; 7 người chết sớm, 4 người lập gia đình, 7 người dâng mình cho Chúa, trong đó có 2 vị thuộc dòng Tên, 3 nữ tu và 2 Linh mục Triều phụ tá Giám mục. Cha Pallu xin đi tu lúc 9 tuổi, học Thần học ở trường Clermont, cư ngụ tại cư xá sinh viên “La Rose blanche”, ở chung với Cha François de Montmorency-Laval, Bernard Gontier, Luc Fermanel de Favery và Henri Boudon, sau này cùng là thành viên trong Hội Bạn Hiền. Được thụ phong Linh mục lúc 24 tuổi, tức năm 1650, Cha François Pallu đã tham dự trong một số sinh hoạt do Hội Thánh Thể tổ chức, có ý định muốn đi làm thừa sai ở Ðàng Ngoài Việt Nam, nhưng thân phụ không bằng lòng nên đành nhờ đến một người bạn của thân mẫu là Bà mẹ Marie de Saint-Bernard, nữ tu Dòng kín, can thiệp và bảo đảm rằng, Cha đã suy nghĩ chín chắn chứ không phải là một quyết định nhẹ dạ.

Còn cha François de Montmorency-Laval sinh ngày 30-4-1622, quê quán ở làng Montigny-sur-Avre, Giáo phận Chartres. Cha có tham dự trong Hội Thánh Nữ Ðồng Trinh do cha Jean Bagot điều hành. Cha Bagot cũng là giáo sư thần học của Cha François de Montmorency-Laval tại trường Clermont.

Qua các Linh mục trẻ đầy nhiệt huyết và lắm khả năng này, Cha Ðắc Lộ đã tìm ra được giải đáp cho yếu tố thứ ba về nhân sự thừa sai. Ngày 07-3-1653, Cha soạn thảo một thỉnh nguyện thư để trình lên cho Ðức Cha Bagni, Khâm Sứ Tòa Thánh. Trong đó trước tiên Cha nhắc lại rằng, từ năm 1615 ở Việt Nam đã có một cộng đồng tín hữu Công giáo được hình thành và qui tụ với trên 300.000 giáo dân; thứ đến là báo tin cho hay hiện nay trong nước Pháp, Cha đã tìm được một số Linh mục Triều với tấm lòng đầy nhiệt huyết và nhận thấy có đủ khả năng để lãnh nhận chức Giám mục, họ sẵn sàng đi đến những miền xa xôi ấy nhằm đáp ứng các nhu cầu truyền giáo của Giáo Hội.

Vậy là ba khó khăn lớn hầu như đều có được những giải pháp thỏa đáng. Vào tháng 7-1653, một thỉnh nguyện thư rất cảm động đã được soạn thảo để đệ trình lên Ðức Inôcentê X, trong đó có các chữ ký của Cha Vincent de Paul; Cha Colombet, chánh sở Saint-Germain, một Họ đạo trọng điểm của Paris; và Cha Ðắc Lộ. Nội dung chủ yếu trong thư như sau:

“… chúng con khiêm tốn thỉnh nguyện lên Ðức Thánh Cha xin tiến hành truyền chức Giám mục Hiệu tòa và trao cho họ trách nhiệm Đại diện Tông tòa trong hai vùng truyền giáo Ðàng Trong và Ðàng Ngoài. Tại Paris, chúng con đã tìm được một số Linh mục Triều có đủ khả năng thi hành những chức vụ này. Chúng con dám xin giới thiệu vì nhận thấy họ có tâm hồn trong sạch, có nhiệt tình, khôn ngoan và đủ kiến thức về Tín lý. Vả lại, họ sẵn sàng để đón nhận sự khảo hạch bởi những Vị mà do Ðức Thánh Cha đề cử … chúng con xin dâng lên lời thỉnh nguyện này với hết tấm lòng chân thành.”

Một điều đáng tiếc xảy đến, những nỗ lực hoạt động của Cha Đắc Lộ muốn dâng hiến cho Việt Nam giờ đây buộc phải đến hồi kết thúc. Do áp lực từ hoàng gia Bồ Đào Nha, Ngài được Bề trên Dòng thuyên chuyển và bổ nhiệm làm Giám tỉnh Dòng Tên trong xứ Ba Tư. Tháng 8-1654, Cha Ðắc Lộ từ giã Paris, vào phút chia tay, Cha François Pallu còn ghi lại những lời sau cùng của Ngài: “Tôi luôn luôn xác tín rằng Chúa là Đấng lo liệu và tổ chức thời gian, một ngày nào đó Người sẽ ban Ơn phù trợ cho dân chúng Ðàng Ngoài và Đàng Trong vào lúc thuận tiện nào đó, hẳn sẽ có Giám mục được gởi đến cho họ”. Cha Đắc Lộ đã cống hiến cho Giáo Hội phần còn lại của đời mình ở Ispahan (Thủ đô Ba Tư lúc bấy giờ, cách Teheran khoảng 350 km về phía nam), với chức vụ Giám tỉnh dòng Tên xứ Ba Tư. Không lâu sau, Ngài đã qua đời ngày 05 tháng 11 năm 1660 và được chôn cất tại đó.[11]

Ba vị François Pallu, François de Montmorency-Laval và Pierre Piques có hy vọng được chọn làm giám mục từ tháng 2 năm 1653, các Ngài được Ðức Khâm Sứ Bagni điều tra theo Giáo luật, nhưng rốt cuộc thì vẫn chờ đợi quyết định của Ðức Thánh Cha. Sở dĩ có sự chậm trễ vì Tòa Thánh còn đang nghi ngại những chống đối từ phía Bồ Ðào Nha, họ đe dọa sẽ cầm tù và bắt giam những Giám mục Pháp mà Tòa Thánh đang dự định gởi sang Châu Á. Vua Jean IV của Bồ Ðào Nha đã xúi dục Dòng Tên bất cộng tác với dự án nước Pháp và đề nghị một bảo trợ khác bởi 60 Tu sĩ dòng Tên. Từ đó những công việc thực hiện do Hội Thánh Thể cực lực vận động đã không tiến triển gì thêm, suốt trong năm 1654 chẳng thấy nhúc nhích chi cả.

7. Hành trình Rôma vận động xin duyệt xét

Paris năm 1655, thêm một nhân vật khác xuất hiện, Cha Vincent de Meur, người gốc Bretagne duyên hải Côtes d’Armor (tây bắc nước Pháp), đã theo học ở đây từ năm 1643, Ngài cũng là tùy viên phòng tuyên úy Hoàng triều, được thừa kế chức Tu viện trưởng Saint-André-de-la-Bellière.[12] Cha quyết định về ở chung phố Coupeau cùng với các bạn : Louis Chevreuil, Jean Dudouyt, Michel Gazil de la Bernardière, Pierre Piques … họ tất cả gồm 13 người sống quây quần với cha Jean Bagot. Mỗi thứ năm, và đôi khi cả thứ ba, Cha Vincent de Meur cùng với người bạn là Cha Vincent de Paul đi giảng thuyết cho một Hội thừa sai hoạt động khắp vùng nước Pháp, nhằm phát triển việc truyền giáo ở thành phố cũng như thôn quê. Trong một buổi họp, họ bàn bạc với nhau rồi lấy quyết định tổ chức một chuyến công du sang Rôma, coi như biện pháp quyết định cuối cùng để vận động cho chương trình thừa sai Việt Nam.

Ðược báo tin, Cha François Pallu rời ngay thành Tours để quay về Paris, rồi cùng với Cha Vincent de Meur và ba người khác, tất cả năm người đều thuộc nhóm Bạn Hiền, chuẩn bị khởi hành đi Rôma. Bấy giờ là mùa xuân 1656, họ ghé chân qua Marseille rồi lấy tàu để sang Kinh đô, đoàn đến nơi ngày 03-6-1657, chỗ lưu trú cho Phái đoàn được sắp xếp tại nhà các Ðệ Tử Thánh Vincent, đường Missione, Monte Citario. Trong khi nhóm lữ hành trên đường tiến về Rôma thì hay tin được tăng cường thêm người thứ sáu nhưng Vị này không đi cùng một lượt, đó là cha Pierre Lambert de la Motte. Vị Linh mục này sinh năm 1624 tại Lisieux, thụ phong linh mục ngày 27-12-1655 ở Coutances, từng hành nghề Luật sư và sau đó còn được bổ nhiệm làm giám đốc một bệnh viện tại thành phố Rouen. Cha Pierre Lambert de la Motte, do quen biết Cha François de Montmorency-Laval nên mỗi lần lên Paris, đều ghé qua trụ sở nhóm Bạn Hiền ở phố Couteau để thăm một người em của mình, cũng là một thành viên thuộc nhóm này.

Chính ở đây mà Ngài được hay tin về dự tính đi Rôma của các bạn Vincent de Meur và François Pallu. Bản thân mình, Ngài cũng từng mơ ước được đi Canada hay Trung Quốc, khi nói chuyện với cha Vincent de Paul thì cha Lambert De la Motte được động viên, nên quyết định cũng lấy hành trình nhằm có ý trợ giúp với đoàn công du Rôma một tay. Ghé qua Dijon, rồi Lyon, kế đến trên hành trình, Cha hay tin rằng, mình cũng là một trong ba ứng viên được đề cử chức Giám mục, thay thế cho cha Pierre Piques. Cha liền ghé Annecy viếng mộ thánh François de Sales, viếng Notre-Dame de Myans, viếng tu viện Grande Chartreuse (một Đan viện danh tiếng ở Pháp), rồi sau đó lên đường đi Toulon để chặng cuối lấy tàu tiến về Thành thánh Kinh đô Giáo hội.

Giờ đây bối cảnh Giáo triều vừa chuyển sang một bước ngoặt mới, Tân Giáo Hoàng với danh hiệu Alexandre VII được bầu lên ngày 07-4 và đăng quang ngày 18-4-1655. Ðoàn hành hương gồm các Cha François Pallu và Vincent de Meur, vừa khi đến Rôma đã được Ðức Hồng y Bagni, cựu khâm sứ Paris, tiếp đón nồng nhiệt và chỉ dẫn tận tình về những thủ tục Giáo triều. Họ được gặp Ðức Hồng y Corrado, bạn của Ðức Giáo Hoàng, gặp Bộ trưởng Thánh Bộ Truyền giáo là Ðức Hồng y Mario Alberici, và sau cùng đã xin được cuộc hẹn để yết kiến Ðức Alexandre VII, ấn định vào ngày 17-7-1657. Cha Vincent de Meur dịp này được trình bày lời thỉnh cầu với Ðức Giáo Hoàng về tình hình Kitô giáo tại Trung Quốc, Bắc và Nam Việt Nam. Trong thỉnh nguyện thư lần này Cha Vincent de Meur đã tỏ ý với Ðức Alexandre VII về một vài điểm tương đối tế nhị, đại khái qua những lời sau đây :

“… Chính vì lẽ đó mà chúng con dám đích thân mạo muội đệ trình công việc này với Ðức Thánh Cha … , xác tín về những thành công mà các thừa sai sẽ mang lại trong những vùng truyền giáo này. Chúng con không dám đề cập đến vấn đề Giám mục vĩnh viễn, mà chỉ xin Ðức Thánh Cha gởi các Giám mục hiệu tòa. Còn như việc thực hiện dự án này, chúng con xin hứa tự lo liệu mọi chi phí mà không có ý đòi hỏi gì nơi Thánh Bộ Truyền Giáo. Chúng con sẵn sàng làm một đảm bảo đặt tại thành phố Avignon, mà thấy là đủ để lo liệu phương tiện cho các thừa sai sẽ được gởi đi. Ngoài ra chúng con cũng hy vọng rằng, chính quyền Bồ Ðào Nha từ hai năm nay đã thuận phép cho 12 thừa sai quốc tịch khác, lưu chuyển trên đất Bồ và những miền thuộc địa của họ, thì tin rằng cũng sẽ giúp chúng con như vậy. Giả như họ có muốn gây ra khó dễ, thì chúng con vẫn có hướng đi khác không phải lệ thuộc họ, bằng cách dùng đường băng qua Ba Tư và Mông Cổ…”

Nhiệt tình của nhóm linh mục trẻ này đã làm Ðức Alexandre VII rất cảm động, chính bản thân Ngài hồi còn trẻ cũng từng mơ ước để trở thành thừa sai. Nghe phúc trình xong, Ngài khích lệ họ và hứa sẽ triệu tập một ủy ban gồm 4 Hồng y Rospigliosi, Spada, Albizzi và Azzolini để lo xúc tiến thủ tục. Như vậy mọi chuyện đều đã ổn, Cha François Pallu vui mừng báo tin cho Nữ Bá Tước d’Aiguillon. Các thành viên đoàn hành hương đều trở về Pháp chỉ còn một mình Cha François Pallu ở lại Rôma để theo dõi hồ sơ. Tại đây Cha được Linh mục Guillaume Lesley, thư ký của hai Ðức Hồng y Charles Barberini và Mario Alberici, tận tình giúp đỡ nhưng vẫn là, công việc xúc tiến rất chậm.

Bốn tháng sau vào ngày 18-11-1657, Cha Pierre Lambert de la Motte cuối cùng thì cũng tới được Rôma. Đây là một con người mưu lược và lắm tài ngoại giao, Cha Lambert đã tìm dịp để xin được yết kiến Ðức Hồng y Alberici, trưởng Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin. Qua suốt 11 giờ bàn thảo, cuộc yết kiến đã đề cập đến hết mọi khía cạnh của công việc, trong đó có hai vấn đề đặc biệt quan trọng được đem ra mổ xẻ. Khó khăn thứ nhất: Vấn đề ngân khoản tài trợ cho các thừa sai, Cha Lambert đang thừa hưởng một tài sản khá dồi dào, Ngài liền làm giấy tại chỗ với một luật sư người Ý, xin lấy tài sản riêng này để đảm bảo chu cấp cho các thừa sai. Khó khăn thứ hai: Vấn đề mối cấu kết gần đây được thiết lập giữa Dòng Tên và chính quyền Bồ Ðào Nha, nhằm cản trở việc gởi các thừa sai Pháp đến những miền trong khu vực Quyền Tài Phán của họ. Cha thư ký Guillaume Lesley trong ý phát biểu tại buổi họp cho rằng, dẫu biết đây là một khó khăn lớn, có khi nó còn lớn hơn cả việc rao giảng Phúc Âm cho lương dân nữa, nhưng Ngài bày tỏ vẫn chủ trương phải quyết chí tiến hành trong nhẫn nại.

Với biết bao nhiêu nỗ lực của nhiều con người rốt cuộc thì, cũng tới lúc phải đi đến kết quả. Ngày 13-5-1658 Thánh Bộ Truyền Giáo đệ trình đề nghị nhằm bổ nhiệm Cha François de Montmorency-Laval làm Giám mục đi Canada, Cha François Pallu và Cha Pierre de la Motte làm Đại diện tông tòa đi các xứ truyền giáo ở Trung hoa và các nước lân cận. Ngày 08-6-1658, Ðức Alexandre VII chuẩn y các đề nghị này. Sau đó qua bổ nhiệm thư đề ngày 29-7-1658, Ðức Alexandre VII bổ nhiệm Cha François Pallu làm Giám mục hiệu tòa Héliopolis, Cha Pierre Lambert de la Motte làm Giám mục hiệu tòa Béryte, cả hai làm Giám Quản Tông Tòa cho các xứ truyền giáo Nam Trung Hoa và Việt Nam.[13] Chính ngày này được coi là ngày thành lập Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris, tên tiếng Pháp: La Société des Missions Etrangères de Paris (cách viết tắt: Les MEP, sở dĩ phải có thêm chữ “de Paris”, vì muốn phân biệt với một Hội thừa sai khác tại Pháp do Cha Vincent de Paul thành lập để đào tạo người đi truyền giáo Ba Tư). Ngày 17-11-1658, Cha Pallu được tấn phong Giám mục tại Rôma và ngày 02-6-1660, Cha Lambert thụ phong Giám mục tại Paris.

8. Sắc chỉ Super Cathedram

Ngày 09-9-1659, Ðức Alexandre VII ban hành Sắc chỉ Super Cathedram thiết lập 2 Giáo phận truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam: Ðức Cha François Pallu được bổ nhiệm làm Giám Quản Tông Tòa Đàng Ngoài, kiêm quyền cai quản 5 tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Hồ Nam, Hồ Bắc và Tứ Xuyên của Trung Quốc cùng với nước Lào. Đức Cha Pierre Lambert de la Motte được bổ nhiệm làm Giám Quản Tông Tòa Đàng Trong, kiêm quyền các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Đảo Hải Nam của Trung Quốc và gồm cả Chiêm Thành. Theo đề nghị của 2 Ðức Cha Pallu và Lambert, ngày 20-9-1660, Cha Ignace Cotolendi cũng được tấn phong Giám mục hiệu tòa Métellopolis, bổ nhiệm Giám Quản Tông Toà Nam Kinh, Vị này được tiến hành tấn phong Giám mục vào ngày 07-11-1660 tại Nhà tập Dòng Tên Paris.

Với biến cố ngày ra Sắc chỉ Truyền giáo này, cũng được coi là ngày mở đầu chuyển sang thời kỳ thứ hai trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam: đó là Thời kỳ phát triển với Hàng giáo phẩm Tông tòa. Cần nắm sơ qua, các tác giả khi ghi lại quá trình hình thành Giáo hội Việt nam, thường hay phân chia thành 3 thời kỳ: Một là, Bước thăm dò và bảo trợ; kế đến là thời kỳ Phát triển, cai quản bởi Giáo phẩm Tông tòa; và sau hết là Trưởng thành trong cơ chế tự lập Hàng giáo phẩm Việt nam.[14]

Có thể xem rằng Sắc chỉ Super Cathedram được ví như một “Sứ vụ lệnh” mà Đức Alexandre VII ban cho hai Đức Cha, Lambert de la Motte và François Pallu, được hiểu như là lệnh bổ nhiệm Giám Mục Tông Tòa, mỗi bản giao cho từng người được viết giống nhau, chỉ khác ở mục ghi tên và nhiệm sở Tông tòa. Trong đó có ba ý tưởng chính, xin được trích yếu lược mô tả sau đây:

Về mục tiêu: “… Nới rộng tầm nhìn trên toàn thể thế giới Kitô, để lo lắng tận tâm có thể được và trong Ơn Chúa, hầu hướng dẫn và săn sóc tinh thần cho toàn tín hữu trong các quốc gia chỉ định”.

Về sứ mệnh và công việc: “… Ta cắt đặt và đề cử Ngài (Tên Đức Cha Pallu) làm Đại diện Tông Tòa (xứ Đàng Ngoài), với quyền cai quản các tỉnh mà Ta đã nêu ra ở phần trên, cùng khả năng được nới rộng địa hạt cai quản ra các tỉnh khác. Được quyền phân chia cho một Giám mục khác, nếu Ngài thấy rằng đó là điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu tinh thần cho các giáo dân, hầu để họ không phải rơi vào hoàn cảnh không có Mục tử”.

Về quyền hạn: “… Để cho việc phong chức các Linh mục bản xứ được dễ dàng hơn, và để cho Đạo Công giáo được thiết lập một cách chắc chắn hơn. Với sự chúc lành của Chúa, với uy tín và nội dung của Sắc lệnh này, Ta cho phép và nhượng quyền cho Ngài, trong tư cách là Đại Diện Tông Tòa, chỉ trong vòng bảy năm, được miễn trừ cho các Giáo sĩ nói trên trong Giáo phận của Ngài không cần hiểu biết tiếng La-tinh, miễn là họ phải biết đọc tiếng La-tinh và biết giải thích qui định của Giáo Luật về Thánh lễ và về thể thức của các phép Bí tích trong Giáo Hội”.

Và còn thêm “Trong những điều kiện trên, những Giáo sĩ địa phương sẽ có thể được tiến chức vào mọi Chức thánh, kể cả chức Linh mục, miễn là họ phải biết chấp hành mọi luật định. Ngài sẽ có toàn quyền giản lược việc đọc các Nghi thức Thánh, nghĩa là đối với việc thi hành các Giờ kinh phụng vụ theo Giáo luật, họ có thể đọc những Lời kinh nguyện ấy bằng ngôn ngữ địa phương”.

Về hiện tình và hướng hoạt động cho hai Địa phận Ðàng Trong và Ðàng Ngoài trong tương lai như vậy đã được định đoạt, những nhiệm vụ cần phải hoàn thành là: Truyền chức Linh mục để thiết lập Hàng Giáo sĩ địa phương. Ngoài ra các vị Đại diện Tông tòa còn phải làm gương sáng cho Hàng Giáo sĩ bản địa, tuyệt đối không dính líu vào chính sự, phải thích ứng với tập tục và thói quen địa phương. Song song đó còn lo thiết lập các Chủng viện hay Học viện để đào tạo Linh mục bản xứ, liên lạc chặt chẽ và vâng phục tuyệt đối vào Tông Tòa.[15]

Vậy là giờ đây đến phần các Vị phải bắt đầu nghĩ đến nhu cầu lo chuẩn bị hậu cần, một tương lai đường dài. Làm sao vẫn còn người tiếp nối theo sau công việc của kẻ đi trước và lo toan đảm bảo cung cấp tài chánh để gánh vác cho mọi nhu cầu đòi hỏi của tất cả sinh hoạt của Hội trong thời gian tới.

9. Tổ chức Chủng viện Thừa sai và nguồn kinh phí

Song song với ý định tiến hành ra đi truyền giáo, những Vị sáng lập Hội Thừa Sai Paris, ngay từ buổi ban đầu đã nghĩ đến việc đào tạo nhân lực. Hồi còn bên Rôma đang khi vận động thành lập Hội, thì trong hồi ký hai Vị Lambert và Pallu có đề ra phương án thành lập một chủng viện chuyên lo việc hoán cải cho dân ngoại.[16] Ngày 01-7-1658, ba Đấng là François de Laval, François Pallu và Pierre Lambert de la Motte đã làm một thỉnh nguyện thư lên Thánh Bộ Truyền Giáo xin phép mở một chủng viện mà mục đích duy nhất chỉ là đào tạo kỹ năng rao giảng tin mừng cho các Thừa sai. Trong kế hoạch đó người ta sẽ nhận tất cả các Linh mục nào muốn sống thử Ơn gọi thừa sai của mình và sẽ tiến hành đào tạo họ bằng mọi cách để có thể thích ứng với khả năng và môi trường hoạt động truyền giáo xa xôi. Thánh Bộ tiếp nhận thỉnh nguyện thư một cách thuận lợi, nhưng cũng để cho 3 Vị sáng lập ấy hoàn toàn tự do, lấy sáng kiến của mình áp dụng trong việc gầy dựng và tổ chức.

Từ buổi sơ khai tại Paris, cũng vẫn luôn là hai nhóm Hội này đảm nhận dự án: Hội Bạn Hiền tuyển chọn nhân sự thừa sai, còn Hội Thánh Thể huy động ngân quỹ tài chánh đồng thời lo xây dựng cơ sở.[17] Ðức Cha François Pallu ngay sau khi thụ phong Giám mục ở Rôma, thì đầu năm 1659 đã quay về Paris gặp lại Hội Bạn Hiền ở phố Coupeau và phố Saint-Dominique, nhằm tìm kiếm và tuyển chọn các thừa sai trẻ cho chương trình huấn luyện để gửi sang Việt Nam. Nhóm Bạn Hiền ở Paris và các tỉnh đã gởi về khoảng 20 Linh mục trẻ sẵn sàng tình nguyện đi truyền giáo. Một người trong thân tộc Cha Pallu, bà De Miramion, đã bằng lòng cấp dưỡng nơi ăn chốn ở cho các ứng sinh tại một dinh thự của bà trong trấn La Couarde gần La Queue-les-Yvelynes, cách Paris khoảng 50 cây số về phía đông nam. Nơi đây, Ðức Cha Pallu đã thiết lập một chương trình đào tạo gồm 2 lãnh vực: giảng dạy lý thuyết bằng cách học hiểu các tác phẩm nói về Châu Á và cho thử việc qua thực tập cụ thể các phương pháp giảng đạo bình dân nơi ba làng quê trong nước Pháp: Haute-Marne, Oise và Dreux. Ngày 27-9-1659 người ta cũng giới thiệu thêm cho Ðức Cha khoảng 40 ứng viên mới tại La Couarde, vì xét thấy phù hợp với những tiêu chuẩn do Ngài đã đề ra, là sức khoẻ, khả năng khoa học, tinh thần vâng lời, nhân đức siêu thoát … Ðức Cha chỉ chọn được có 6 người.

Như vậy Chủng Viện Thừa Sai có được một nơi đóng cứ tại La Couarde từ mùa hè cho đến cuối năm 1659, sang đầu năm 1660 thì dời về Paris, đường Quincampoix, cạnh bên nhà thờ Saint-Josse. Lúc ấy nhân lực tất cả gồm 2 Giám mục, 11 Linh mục, 5 Tu sĩ và 8 giáo dân. Vậy là chương trình đào tạo đã được khởi động, còn tiếp đến tình hình cơ sở chủng viện và ngân quỹ truyền giáo sẽ diễn biến ra sao ? Hội Thánh Thể chính là nhân tố tích cực chủ động trong việc kiến tạo Chủng Viện Thừa Sai. Năm 1658 Hội đã lập một Hội Ðồng Thừa Sai và chỉ định những ủy viên để lo xây dựng một cơ sở chủng viện dành cho “Thừa Sai hải ngoại”, một trong những ủy viên này là ông Du Plessis, người đã tỏ ra rất hăng say tích cực. Để huy động nguồn tài chánh và nhân lực, năm 1659, Hội Thánh Thể cho phát hành một tờ bướm tin và một tập tư liệu nhỏ để phổ biến trong toàn nước Pháp. Tờ loan tin đó mang tựa đề “Thông báo về các phái đoàn thừa sai đến xứ Bắc Việt và Nam Việt”, trong đó đề cập tới tình hình hiện có khoảng từ 20 đến 30 thừa sai đang chuẩn bị hành trang để cùng lên đường với hai Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa, và kêu gọi các ân nhân hãy rộng lượng giúp đỡ hầu gầy dựng một ngân khoản tài trợ cho chuyến hành trình và cuộc sống hải ngoại xa xôi của các thừa sai.

Trước khi lên đường đi nhận nhiệm sở mình, bốn Giám mục thừa sai tiên khởi, cũng là các Đấng sáng lập Hội Thừa Sai Paris là Laval, Pallu, de la Motte và Cotolendi đã chỉ định cho 6 nhà quản lý để lo việc quản trị cơ sở ở Paris trong khi các Ngài vắng mặt. Sáu người quản lý ấy gồm 3 Giáo sĩ, đó là các Cha Vincent de Meur, Luc Fermanel de Favery và Michel Gazil de la Bernardière; 3 giáo dân là các ông Jean de Garibal, René de Voyer và Antoine Pajot de la Chapelle. Năm 1660, Ðức Cha Lambert de la Motte cũng đã ký một giấy ủy quyền khác cho các quản lý của Ngài, trao phó trách nhiệm phải kiến thiết một chủng viện để đào tạo thừa sai nhằm phục vụ cho các Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa. Năm 1663, Ông Du Plessis, được sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè, đã điều đình để mua lại căn nhà của Ðức Cha Bernard de Sainte-Thérèse. Đến ngày 16-3-1663 thì Ðức Cha này đã ký giấy bán các dãy nhà của Ngài ở địa chỉ: 128, Rue du Bac, Paris quận 7 để làm cơ sở Chủng Viện Thừa Sai, cơ sở này vẫn còn tiếp tục duy trì điều hành cho đến ngày nay.

Sau khi lo xong cơ sở, các Vị quản lý bắt đầu tiến hành thủ tục xin được chính thức công nhận bởi chính quyền và giáo quyền cho Chủng Viện Thừa Sai này. Ngày 26-7-1663 vua Louis XIV ký ngự chỉ công nhận Chủng Viện Thừa Sai, Vua xác nhận hợp đồng được ký kết mua bán giữa đôi bên và thừa nhận tính hợp pháp của “Chủng Viện truyền giáo cho lương dân tại các xứ hải ngoại”, ngày 07-9-1663 Nghị viện Paris đã tiến hành thủ tục đăng ký tính pháp quyền của ngự chỉ ấy. Ngày 10-10-1663, Viện trưởng tu viện Saint-Germain-des-Prés, Henry de Verneuil, phê chuẩn xác nhận cho hai nhà quản lý Gazil de la Bernardière và Armand Poitevin được toàn quyền điều hành Chủng viện. Ngày 11-6-1664, đại hội đầu tiên của Chủng Viện được triệu tập, Cha Vincent de Meur được bầu làm Bề Trên tiên khởi cho Chủng Viện Thừa Sai; François Bésard làm phụ tá và Luc Fermanel làm quản lý. Ðại hội cũng đã chỉ định ra một giáo sư thần học coi chuyên khoa và một giám đốc đặc trách chủng sinh vụ. Tất cả các nhân viên điều hành tiên khởi của Chủng Viện Thừa Sai đều xuất thân từ nhóm Bạn Hiền, do cha Jean Bagot điều động.

Được bầu làm bề trên, Cha Vincent de Meur lo liệu ngay việc xin Tòa Thánh công nhận Chủng Viện Thừa Sai. Ngày 11-8-1664, Ðức Hồng Y Chigni, là cháu của Ðức Giáo Hoàng Alexandre VII đang làm đại diện tại Paris, đã nhân danh Tòa Thánh cấp Thánh chỉ công nhận Chủng Viện Thừa Sai Hải Ngoại. Như vậy, Chủng Viện này dẫu là được thành lập do các Đấng Bậc chức quyền trong Giáo hội Pháp, nhưng họ cũng sát cánh cùng với Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin và Các Giám Mục Ðại Diện Tông Tòa để đào tạo và tiếp tục gởi đi khắp nơi những nhân sự mà Thánh Bộ có yêu cầu cho công việc mở mang Kitô giáo.

Sau khi được bổ nhiệm Giám mục Tông tòa và thu xếp xong việc hậu cần, các Ngài chuẩn bị lên đường để nhận nhiệm sở. Lực lượng từ Châu Âu khởi hành sang Viễn đông gồm Giám mục, Linh mục và giáo dân tất cả có 16 nhân sự, thì hết 8 Vị phải bỏ mạng trên đường đi. Trong số đó đau buồn nhất là có cả Đức Cha Ignace Cotolendi. Sau cuộc hành trình vất vả xuyên Ấn Độ, khi đến cảng Masulipatam để lấy tàu đi Ayuthia, Ngài mắc bệnh ruột và lên cơn sốt nặng, rồi vì kiệt sức nên đành vĩnh viễn bỏ cuộc ngày 16-8-1662, thi thể Ngài được mai táng ngay tại bờ biển Đông Ấn.[18] Số còn lại, kẻ thì đến trước người tới sau, các Vị chọn điểm dừng chân đầu tiên để khởi sự cho Sứ vụ là tại Ayuthia, kinh đô nước Xiêm thời bấy giờ. Với số còn lại gồm 8 người, thì 3 người thuộc phái đoàn thừa sai Ðàng Trong đã đến nhiệm sở trước vào ngày 22-08-1662, là các Vị: Ðức Cha Lambert với 2 Cha Jacques de Bourges và François Deydier. Năm người thuộc đoàn thừa sai Ðàng Ngoài đến ngày 27-01-1664, đó là Ðức cha Pallu và 4 Cha: Pierre Brindeau, Louis Laneau, Louis Chevreuil và Antoine Hainques. Tuy nhiên trước đó, ngày 14-10-1663 Cha Jacques de Bourges được Ðức Cha Lambert ủy thác trở về Châu Âu với sứ mệnh trình bày cho Tòa Thánh biết về những khó khăn gặp phải trên đường đi đối với các Cha Dòng tên Bồ Ðào Nha và xin nới rộng quyền cho các Giám mục Đại diện Tông tòa. Như vậy tính vào thời điểm đầu năm 1664, thì số có mặt tại Ayuthia chỉ có 7 nhân sự để khởi phát cho một công trình truyền giáo trường kỳ lịch sử của Hội Thừa sai Paris tại Châu Á.[19]

10. Vài nhận định kết thúc

Đến đây bài tường trình xin được mạn phép dừng lại việc ghi chép những bối cảnh về quá trình hình thành của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris. Về sau nếu trong một dịp nào để tìm hiểu thêm phần hoạt động của lực lượng Thừa sai này, thì nội dung nối tiếp sẽ là những gì mà Hội cống hiến cho Giáo Hội Việt Nam. Dĩ nhiên chúng ta không thể phác họa hết cho đầy đủ, dù chỉ là ngắn gọn, của khoảng thời gian hơn 350 năm hoạt động truyền giáo của Hội. Dẫu vậy, hẳn là cần thiết để dựng lại một nội dung trình thuật về buổi gầy dựng ban đầu, mà họ đã trải qua một thời kỳ với không biết bao nhiêu nghịch cảnh và thử thách. Đồng thời người ta cũng không quên ghi nhận lại các thành tích đạt được cũng như những phương pháp ngoạn mục mà Hội đã vận dụng để đi tới thành công mỹ mãn. Nỗ lực trọng yếu của các Ngài và các Đấng kế tục là làm sao thực thi cho phù hợp với những chỉ dẫn của Tòa Thánh, thể hiện vai trò Đại diện Tông tòa, quan tâm đến việc đào tạo các Linh mục bản xứ.

Sau khi đến Ayuthia, từ tháng Giêng 1663 Ðc Lambert lập một địa sở thường trực tại đây và đặt tên là Nhà Thánh Giuse, có thể xem đây như là địa chỉ đầu tiên của Tòa Giám Mục Ðịa phận Ðàng Trong. Ngày 31-3-1668, vọng lễ Phục Sinh tại Ayuthia, Đức Cha Lambert de la Motte đã tiến hành nghi thức tấn phong cho Linh mục người Việt đầu tiên là thầy Giuse Trang, một người thuộc Đàng Trong quê ở An Chỉ, Quảng Ngãi, nay thuộc Giáo phận Qui Nhơn, lúc ấy Thầy chỉ mới 29 tuổi. Biến cố này như đánh dấu cho một bước ngoặt quan trọng hình thành Giáo hội Việt nam.[20] Hơn 2 tháng sau, đến phiên hai thầy từ Đàng ngoài, là Gioan Huệ và Bênêđictô Hiền, được thụ phong Linh mục vào ngày 8-6-1668; cũng trong năm ấy, có thêm một người Đàng Trong được chịu chức là thầy Luca Bền. Thật đáng tiếc vài năm sau đó, chính quyền Siam (nay là Thái Lan) bắt đầu bách hại những người Kitô hữu và Chủng viện buộc phải dời sang nơi khác. Đầu tiên, được chuyển đến Cam Bốt, rồi Ấn Độ và cuối cùng trụ về đến Penang thuộc Malaysia, và nơi đấy vẫn còn duy trì sinh hoạt cho đến ngày nay. Thời gian sau đó, các nhà Thừa sai Paris đã tiếp tục mở thêm những tiểu và đại chủng viện trong nhiều quốc gia khác nhau. Năm 1850 họ điều hành 19 chủng viện, năm 1900: con số là 41, năm 1939 lên đến 75. Rồi dần dần các chủng viện này đều được giao lại cho các Giám mục điều hành sở tại.[21]

Đồng thời với việc thi hành bổn phận đào tạo các Linh mục được coi như là trọng tâm hoạt động chính yếu, thì ở lãnh vực khác rộng lớn hơn, chính là lo thành lập các cộng đồng Tân Giáo hội địa phương. Từ hình ảnh được ghi nhận vào tháng 10-1663, cộng đoàn người Công giáo coi như đầu tiên sinh hoạt với các Thừa sai Paris đếm được khoảng 150 người, mà đa số là Việt Nam và Nhật Bản.[22] Thì cho đến ngày nay đã có hơn một trăm Giáo phận tại Châu Á do các Nhà truyền giáo của Hội Thừa Sai Paris giữ vai trò thiết lập, truyền bá Tin Mừng và khai sinh những cộng đồng Kitô hữu. Họ đã dạy giáo lý, mua đất đai, xây dựng nhà thờ, mở các trường học, các chủng viện, bệnh viện và tất cả những cơ sở này về sau, đều chuyển giao lại cho Giáo Hội địa phương.

Ngày nay song song với việc gửi người ra hải ngoại, Hội còn lo điều hành một chương trình hoạt động Thừa sai tại chỗ, thường xuyên có khoảng hơn 100 Linh mục, Tu sĩ đến từ các Xứ truyền giáo khi xưa, nay đang được cứu mang trên nước Pháp để theo học các khóa tu nghiệp hoặc nâng cấp trình độ Thần học. Rất nhiều Giám mục hiện tại và sẽ còn thêm không ít trong tương lai, nhờ chương trình này mà được tiến chức, đồng thời cũng do sự cống hiến đó, mà các Giám mục hội đủ mọi kỹ năng cần thiết để phục vụ đắc lực cho Giáo Hội địa phương mình.

Cần phải có một trường thiên bất tận về Lời cảm tạ mà tỏ bày dâng lên cùng Đấng Quan Phòng, và hẳn nhiên, cũng hướng tấm lòng tri ân đến các vị Tiền nhân Đáng kính trong một Hội Thừa Sai thật là huyền diệu./.

WHĐ (20.8.2021)

[1] x. Lm Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam; Quyển I; chương VI: Cha Đắc lộ với những trang sử máu đầu tiên.

[2] x. VPPK Tông đồ VN hải ngoại, Sơ lược tiểu sử Chân phước Anrê Phú Yên, trang Web: vntaiwan.catholic.org.tw/andre/4andre.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[3] x. Bùi Đức Sinh OP, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Phần Nhì, Ấn bản 1972, trang 325.

[4] x. Antôn Nguyễn Trường Thăng, Tìm hiểu lịch sử Công giáo tại Việt nam, chương VI: Lý do Dòng Tên đến Đàng Trong; Phụ lục: Dấu ấn Công giáo Nhật Bản. Trang Web: antontruongthang.wordpress.com/tim-hieu-lich-su-cong-giao-tai-viet-nam/ (truy cập ngày 20.8.2021)

[5] Ibid: Chương VIII, Linh mục Alexandre de Rhodes; mục E, Hoạt động ở Macau.

[6] x. Gs. Trần văn Cảnh, Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 2, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP03.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[7] Ibid, Mục 6: Thành lập Thánh Bộ Truyền giáo.

[8] x. Antôn Nguyễn Trường Thăng; Tìm hiểu lịch sử Công giáo tại Việt nam, chương II: Quyền Bảo trợ và thành lập Thánh bộ Truyền giáo.

[9] x. Gs. Trần văn Cảnh. Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 3, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP04.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[10] Ibid, Mục 2: Qui tụ được một nhóm Thừa sai.

[11] x. Lm. Đỗ Quang Chính, Sj, Tu sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes Từ Trần.

[12] x. Gs. Trần văn Cảnh. Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 3, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP04.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[13] Nếu cần hiểu thêm về ý từ gọi chuyên: Hiệu Tòa, xin tham khảo ý giải thích ở: Lm. Nguyễn Hồng; Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam quyển II, trang 31.

[14] x. Những mốc Lịch sử quan trọng của GH Công giáo VN, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/nhung-moc-lich-su-quan-trong-cua-ghcgvn-31228 (truy cập ngày 20.8.2021)

[15] x. Gs Trần văn cảnh, đề mục: Sắc chỉ Super Cathedram ngày 09.9.1659; trang Web: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHLichSuTruyenGiaoVietNam01.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[16] x. Tạp chí Hội Thừa sai bằng Pháp ngữ, Revue des Missions Etrangerès de Paris, Asie et Océan Indien (hors série No1 mars 2009) trang 15.

[17] x. Gs. Trần văn Cảnh. Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 4, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP05.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[18] x. Lm. Nguyễn Hồng; Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam quyển II, trang 44.

[19] x. Gs. Trần văn Cảnh. Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 6, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP07.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[20] x. Lm. Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam quyển II, trang 106.

[21] Dựa theo số liệu: Père Raymond Rossignol; MEP d’ Asie.

[22] Gs. Trần văn Cảnh. Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 5, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP06.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 60
  • Page 61
  • Page 62
  • …
  • Page 94
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.