2022
Kính Nhớ Tổ Tiên Ngày Tết
Kính Nhớ Tổ Tiên Ngày Tết
Đối với dân tộc Việt Nam, mùa Xuân bắt đầu bằng những ngày Tết, là những ngày đoàn tụ gia đình. Những ngày giáp Tết, ông bà cha mẹ ở nhà trông ngóng con cháu đi xa trở về, còn con cháu ở nơi xa dù đã thành danh, công tác hay còn đi học… cũng trông mong được trở về sum vầy bên những người thân trong ba ngày Tết. Sự trở về của những con, cháu – dù sống trên quê hương hay phiêu bạt khắp năm châu – còn là dịp để thể hiện lòng thành kính, tri ân và nhớ về tổ tiên.
Không chỉ là ngày lễ của người sống, những người đã chết cũng thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu trong ba ngày Tết. Trong truyền thống dân tộc, ngày 23 tháng Chạp, người ta tổ chức tiễn ông Táo về trời, và sau đó là mời tổ tiên về cùng “ăn” Tết với gia đình. Vào thời khắc giao thừa và sáng mùng Một tết, gia đình giàu sang hay nghèo khó đều cố gắng sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn hoặc chí ít là mâm cơm đạm bạc để dâng lên ông bà, mong ông bà phù hộ cho một năm mới bình an, vạn sự như ý.
Tứ thời xuân tại thủ
Bách hạnh hiếu vi tiên.
(Xuân khởi đầu bốn mùa
Hiếu đứng trên trăm nết)
Còn trong đời sống người Kitô hữu, chữ Hiếu càng được quý trọng hơn vì đó là một trong 10 Điều Răn mà Thiên Chúa trao ban cho con người: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi (Xh 20,12).
Chúa Giêsu cũng nhắc lại lời ông Mô-sê: “Ngươi phải thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử” (Mc 7,10). Ngài phản đối việc hiếu kính “giả tạo” của con người, mặc dù đã được che đậy qua nhiều lễ nghi, phong tục, truyền thống. Ngài khiển trách những luật sĩ và biệt phái về việc áp dụng sai luật Chúa, vì đối với họ, đã dâng lễ vật cho Chúa rồi thì họ không còn bổn phận giúp cha mẹ nữa: “Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa”. (Mt 15,4-6)
Người Công giáo Việt Nam ngay từ lúc học giáo lý vỡ lòng đã được dạy dỗ: “Thảo kính cha mẹ là yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời”. (sách giáo lý Tân Định)
Với các tín đồ Công giáo vùng Á Đông, huấn thị “Plane compertum est” của Đức Thánh Cha Piô XII ngày 08/12/1939 đã công nhận những nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã có những quy định và những giáo huấn liên quan đến việc thờ phượng ông bà tổ tiên trong sứ mạng truyền giáo tại Việt Nam.
Từ đó nhiều phong tục đẹp mà cha ông đã lưu truyền từ đời này sang đời khác được đưa vào trong các nghi lễ Công giáo. Những ngày giáp tết, gia đình nào cũng sửa sang bàn thờ (trên là Thiên Chúa – dưới là gia tiên), ra nghĩa trang sửa sang, chăm sóc phần mộ ông bà. Và trong ngày đầu Xuân, nhiều gia đình đã đến nhà chờ Phục Sinh, hoặc ra nghĩa trang giáo xứ viếng mộ ông bà, cha mẹ hoặc những người thân yêu trong gia đình.
Cũng trong truyền thống đạo hiếu của dân tộc trong những ngày khởi đầu một năm mới, Giáo hội Công giáo Việt Nam dành ngày mồng Hai tết để kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, là những bậc có công thông truyền sự sống cho chúng ta. Ai cũng mong được đón nhận những giờ phút linh thiêng nhất của ngày đầu năm bên cha mẹ, ông bà dù còn sống hay đã qua đời.
Ngày đó, các người thân trong gia đình cùng nhau đến nhà thờ với tâm trạng bồi hồi xúc động. Có những gia đình đông vui với những mái đầu xanh bên mái đầu bạc, có những gia đình quạnh quẽ vơi bóng người thân… Nhưng tất cả đều cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ thật sốt sắng để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người thân đã qua đời của mình.
Trong Chúa Giêsu Kitô phục sinh, họ tin rằng niềm vui tết của họ chỉ là tạm bợ và chỉ là hình bóng của niềm vui vĩnh cửu trên thiên đàng. Nơi mà tổ tiên, ông bà cha mẹ và những người thân đi trước đang hưởng một mùa xuân đích thực, bất tận và hạnh phúc viên mãn.
Khi cha mẹ còn sống nếu con cái chỉ tỏ lòng yêu mến và biết ơn thì chưa đủ, còn phải thực hiện bằng việc làm là giúp đỡ cha mẹ, nhất là khi các ngài đã về già. Tuổi già với những khó khăn, hạn chế về thể xác là kết quả của những tháng ngày dài vất vả nuôi dạy con cái, vì thế việc chăm sóc cha mẹ già không phải là dễ. Nhiều người đã coi cha mẹ già là một gánh nặng nên đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, hoặc cung phụng cho cha mẹ tiền bạc rồi cho đó là thảo hiếu cha mẹ, nhưng không hề về thăm hỏi cha mẹ dù là ngày lễ, tết (vì bận đi du lịch, thư giãn…!).
Khi cha mẹ qua đời, con cái vẫn còn bổn phận giúp đỡ cha mẹ qua Thánh lễ và kinh nguyện hàng ngày vì các ngài chỉ an nghỉ về mặt thể xác nhưng phần hồn vẫn còn hiện diện và trông chờ con cháu cầu nguyện cho các ngài. Nhất là trong những ngày đầu năm mới, ngày linh thiêng của người Kitô hữu, ngày mà bất kỳ người con nào cũng không được phép quên cha mẹ đã qua đời của mình, dù tóc đã bạc, răng đã long. Mỗi người con phải để cao bổn phận làm con của mình cho thế hệ mai sau được biết, để thế hệ này qua đi, vẫn còn có thế hệ kế tiếp sẽ làm công việc đền ơn báo nghĩa trong những ngày đầu năm mới.
Thắp lên những nén hương thơm ngày tết, chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là cội nguồn sự sống đã tạo dựng nên muôn loài, tứ thời Xuân Hạ Thu Đông; tạ ơn Thiên Chúa đã cho ông bà cha mẹ sinh ra chúng ta làm người. Chúng ta tri ân các ngài vì công ơn sinh thành, dưỡng dục và không chỉ thông truyền sự sống làm người cho chúng ta mà còn thông truyền cả sự sống đức tin cho chúng ta.
Chúng ta có được như ngày hôm nay chính là nhờ công ơn của các ngài: những giọt mồ hôi, những vất vả, những lắng lo và hy sinh tột bực có khi phải đổ cả máu đào để nuôi dưỡng không chỉ phần xác mà còn cả phần hồn chúng ta. Các ngài như gốc mai đại thụ xù xì già cỗi để cho chúng ta là những cánh hoa vàng rực rỡ khoe sắc trong nắng xuân. Công ơn ấy cao ngất tựa Thái Sơn, bao la như biển Thái Bình mà những kẻ làm con không bao giờ đáp đền cho đủ.
Xin các ngài bầu cử cho chúng ta là con cháu, mỗi năm thêm một tuổi mới được sống xứng đáng hơn với kỳ vọng của các ngài. Biết dạy cho con cháu nhìn lại quá khứ để hãnh diện với công lao của tổ tiên và bảo tồn truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cao đẹp. Góp phần làm rạng rỡ gia phong, cùng như góp phần xây dựng cộng đồng mỗi ngày một tốt đẹp hơn.
Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những bậc sinh thành của chúng ta còn tại thế. Xin Chúa ban cho các ngài được hồn an xác mạnh, vui hưởng tuổi già bên “con đàn cháu đống”, mỗi ngày một thêm phúc đức, làm trụ cột cho con cháu noi theo.
Jos. Hoàng Mạnh Hùng
2022
Người Công giáo với Tết cổ truyền dân tộc
Người Công giáo với Tết cổ truyền dân tộc
Đạo Công giáo ra đời ở Trung Á nhưng lại phát triển mạnh ở châu Âu nên mang nhiều dấu ấn văn hóa của châu lục này. Một trong các dấu ấn đó chính là lịch Phụng vụ của giáo hội tính theo dương lịch.
Dương lịch, chính là lịch được công bố dưới triều Giáo hoàng Grigori XIII, năm 1582. Lịch này tính toán ngày tháng năm dựa trên cơ sở vòng quay của mặt trời khác với cách tính của các nước phương Đông ( trong đó có Việt Nam) dựa trên chu kỳ của mặt trăng. Khi đạo Công giáo du nhập vào nước ta cũng mang theo cách ghi ngày tháng theo dương lịch. Vì vậy, lịch Phụng vụ trong đạo cũng được ghi theo dương lịch. Nhưng người Công giáo Việt Nam vẫn phiên lịch Phụng vụ đó sang lịch ta tức âm lịch. Thể hiện rõ qua lịch lễ hội ở vùng Bùi Chu- Phát Diệm:
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai ngắm đứng, tháng ba ra Mùa.
Tháng tư tập trống rước hoa,
Kết đèn làm Tạm, chầu giờ tháng Năm.
Tháng sáu, kiệu ảnh Lái Tim,
Tháng bảy chung tiền đi lễ Phú Nhai.
Tháng tám đọc ngắm Mân Côi
Trở về tháng chín xem nơi chồng mồ
Tháng mười mua giấy sao tua,
Quay qua một, chạp, sang mùa ăn chay (1).
Do đó, dù vẫn dùng dương lịch, vẫn có lễ tạ ơn cuối năm dương lịch và đón năm mới theo dương lịch trong Phụng vụ nhưng người Công giáo Việt Nam vẫn gắn bó với văn hóa dân tộc qua cách dùng lịch âm và đón Tết cổ truyền dân tộc.Họ cũng có cách nhắc lịch Tết qua câu tục ngữ: “Lễ Nến ( 2-2) Tết đến sau lưng”.
Người Việt vốn coi trọng Tết cổ truyền, coi đó là thời khắc thiêng liêng mở đầu một năm mới. Thành ra những công nợ phải lo thu xếp trả trong năm cũ, những bất hòa, mâu thuẫn với láng giềng phải được hòa giải trước giao thừa…Họ cũng có thói quen vẽ vôi xung quanh nhà để ngăn chặn yêu ma, dựng một cây nêu trước cửa nhà, trên có một cái giỏ đựng tiền vàng để cho cha mẹ, ông bà, tiên tổ dùng. Alexandre de Rhodes có ghi lại những tục lệ này khi đến Đàng Ngoài năm 1627:
“Còn những người khác có phận sự trong nhà như gia trưởng thì vào cuối năm họ có thói dựng gần cửa nhà một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một cái túi đục thủng nhiều lỗ và đựng đầy những thứ tiền bằng giấy vàng, giấy bạc. Họ điên dại tưởng tượng là cha mẹ đã mất, vào cuối năm có thể bị túng thiếu và cần đến vàng hay bạc để trả nợ. Cũng còn có một tục lệ khác là không một ai, từ những người giàu sang tới kẻ nghèo khổ khất nợ quá hạn năm mà họ đã vay mượn,từ trường hợp không thể trả nổi mà thôi” (2).
Người Công giáo, theo giáo lý không được tin có chuyện ông bà tiên tổ về lấy tiền để tiêu sau khi qua đời nhưng theo tập tục cổ truyền, ngày Tết họ vẫn dựng cây nêu trước sân nhưng có mang biểu tượng của đạo. Cũng A. Rhodes mô tả ngày Tết cổ truyền ở kinh thành Thăng Long năm 1627 như sau:
“ Tới ngày đầu năm, theo tục lệ lương dân, thường có những cúng bái mê tín dị đoan trong ba ngày Tết. Chúng tôi truyền cho giáo dân làm những việc đạo đức trong ba ngày này. Để thay thế cái hộp treo ở đầu cây nêu cao dựng ngay ở cửa nhà, như chúng tôi đã nói ở trên, thì chúng tôi khuyên họ đặt cây Thánh giá. Họ làm theo. Thế là trong khắp phố phường trong kinh thành người ta xem thấy biểu hiệu đáng kính của việc cứu rỗi được dựng cao chót vót qua mái nhà làm cho ma qủi sợ hãi và các thiên thần vui mừng…Trong ba ngày đầu, chúng tôi đã cho huấn dụ và cho giữ như sau: Ngày mồng một Tết kính công việc tạo thành và gìn giữ muôn loài, kính dâng Thiên Chúa Cha. Ngày mồng hai, nhận biết ơn cứu chuộc, cao cả khôn sánh, kính dâng Con Thiên Chúa và ngày mồng ba, khiêm tốn cảm tạ Chúa Thánh Linh vì ơn được gọi vào đạo Kitô. Và không ai là không hăm hở làm các việc này, không ai là không vui mừng sung sướng” (3).
Vì tin vào sự linh thiêng của Thánh giá và nước phép nên người Công giáo thường vẽ hay treo Thánh giá trước cổng, trước cửa nhà và cũng sái nước phép quanh nhà tối 30 Tết để ngăn đuổi ma quỷ.
Người Việt vẫn có thói quen: “ Mồng một tết cha, mồng hai tết chú, mồng ba tết thày”, có nghĩa là ngày tết phải nhớ đến các bậc sinh thành, bề trên, thày dạy dỗ của mình. Người Công giáo cũng giữ thói quen tốt lành đó nhưng còn thêm kính cha phần hồn nữa. Cho nên, cứ sáng mồng một, sau lễ đầu năm, giáo dân trong xứ lại vào chúc tuổi cha xứ rồi mới về chúc tuổi cha mẹ, ông bà. Trước tết, người Công giáo cũng lo dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ cho sạch sẽ, bày hoa mới, thêm câu đối trên bàn thờ. Họ cũng lo sửa mộ tiên tổ, dọn cỏ, quét vôi ve “ để ông bà có nhà mới đón Tết”. Bận mấy, họ cũng chuẩn bị sẵn nồi nước tắm có nấu lá mùi thơm để tắm rửa trước giao thừa. Còn về phần hồn, họ cũng lo xưng tội để dọn tâm hồn đón Chúa đến trong năm mới. Cứ sang giao thừa, người ta lại ra nhà thờ mừng tuổi Đức Mẹ bằng cách dâng hoa, đọc kinh và trước đây là đốt pháo. Sau đó xin “lộc” bằng cách rút một tờ giấy có in “ Lời Chúa” đưa về coi như là lời dạy về cách sống của mình trong năm mới. Thông thường hiện nay, sau thánh lễ đầu năm và chúc tuổi cha xứ, giáo dân lại qua nhà văn hóa xã dự lễ chào cờ đầu năm cùng nhân dân địa phương rồi đi viếng nghĩa trang liệt sĩ. Bây giờ lịch Phụng vụ Công giáo quy định: ngày mồng một Tết cầu bình an cho năm mới; Ngày mồng hai Tết: kính nhớ tổ tiên; Ngày mồng ba Tết: thánh hóa công ăn việc làm. Thành ra, các nghĩa trang của người Công giáo trong ngày mùng hai và mùng ba Tết rất đông người ra viếng, đọc kinh cầu nguyện cho tiên tổ. Vì lịch phụng vụ thứ tư lễ Tro mở đầu Mùa Chay thường rơi vào Tết. Ví dụ năm 2002, năm 2013, ngày thứ tư ăn chay kiêng thịt đúng vào ngày mùng 4 Tết nên các giáo phận thường cho lui ngày ăn chay kiêng thịt vào thứ sáu hoặc thứ tư tuần sau nữa để không làm ảnh hưởng đến không khí đón xuân của mọi người.
Ngày Tết, từ đời Giáo hoàng Gioan Phao lô 2, mỗi dịp Tết của người Á Đông trong đó có Việt Nam, Giáo hoàng vẫn có lời chúc Tết đến dân chúng Á Đông. Ở Việt Nam, các vị chủ chăn cũng thường có thông cáo hay thư chúc tết để nhắc nhở giáo dân sống tốt lành trong năm mới. Tết Giáp thân năm 2004, Giám mục Thái Bình FX. Nguyễn Văn Sang đã có thông cáo:
“2. Ngày Xuân nên đi lại thăm hỏi ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè nhưng nên tránh ăn uống chè chén say sưa, sinh nhiều bệnh tật và thói hư nết xấu. Vui chơi giải trí, song tránh cờ bạc, xì ke ma túy, tin dông, tin dài, bói toán kẻo tiền mất tật mang, nhiều khi sai phạm pháp luật xã hội.
Nên dùng thời giờ đi thăm viếng những người ốm đau bệnh tật, khó khăn thiếu thốn và tới nhà thờ dâng lễ, đọc kinh như đã khuyên cáo trong lịch Công giáo về ba ngày Tết nguyên đán” (4).
Hồng y JM Phạm Đình Tụng trong dịp Tết cổ truyền 2001( Tân Tỵ) sau khi chúc bình an cho năm mới đã viết:
“Bình an không phải là lời chúc suông, tự nhiên nó đến. Bình an cũng không phải là một mâm cỗ dọn sẵn, cứ việc ngồi mà hưởng thụ. Bình an là một hồng ân của Thiên chúa, vì trừ Chúa không ai có thể ban ơn cứu độ cho ta được. Bình an cũng là một công trình kéo dài cần phải xây dựng mỗi ngày, xây dựng bằng chừa cải tội lỗi, hãm dẹp nết xấu và tuyệt đối tin cậy vào tình yêu của Thiên chúa…
Đi đôi với việc chừa cải tội lỗi, chúng ta phải ra sức hãm dẹp các nết xấu: kiêu ngạo, hà tiện, dâm ô, mê ăn, nóng giận, ghen ghét, lười biếng. Đó là những nết xấu mà ta thường gọi là bảy mối tội đầu, là mầm mống nảy sinh tội lỗi và phá hoại sự bình an” (5).
Nhờ những giáo huấn như vậy, nên người Công giáo ít phạm tội hơn trong dịp Tết từ cờ bạc, rượu chè, bói toán đến các tội phạm hình sự khác. Các giáo xứ, dòng tu thường gói bánh chưng, chuẩn bị quà tết đi thăm các trại phong cùi, nhà trẻ mồ côi hay các bệnh nhân HIV/AIDS…Đấy cũng là nét đẹp mà đạo Công giáo đóng góp cho văn hóa dân tộc.
Phạm Huy Thông
Chú thích:
1- Mùa ngắm đứng chính là Mùa chay thường rơi vào cuối tháng 3 dương lịch. Tháng Hoa vào tháng 5. Tháng Trái tim là tháng 7. Lễ đầu dòng ở Phú Nhai vào 8-8. Tháng Văn Côi ( hay Mân Côi) vào tháng 10. Mua giấy làm sao để đón Giáng sinh vào 25-12.
2- 3- A. Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Đại kết 1994, tr.66-67 và 129-130.
4-GM Nguyễn Văn Sang: Giáo huấn phục vụ: Nói với giáo dân, Lưu hành nội bộ 2001, tr.244-245
5- Hồng y JM Phạm Đình Tụng: Những chặng đường mục vụ tại Tổng giáo phận Hà Nội 1994-1999, Lưu hành nội bộ 2002, tr.229-230
2022
Kitô hữu và Tết
Kitô hữu và Tết
Tết đối với người tín hữu chúng ta luôn mang hai ý nghĩa, ý nghĩa phong tục và ý nghĩa tôn giáo. Vì là người Việt Nam, con Rồng cháu Tiên, nên chúng ta không thể thờ ơ với Tết, trái lại phần đông cảm thấy nôn nao, mong chờ Tết đến.
Thực vậy, “Tết là khoảng thời gian đặc biệt mà người Công giáo Việt Nam muốn dành cho Thiên Chúa, cho gia đình và cho tha nhân. Ngoài những phong tục truyền thống của ngày Tết như chúc Tết, xông đất, mừng tuổi hay mâm cỗ, người Công giáo không quên Thiên Chúa luôn là mùa xuân của mỗi người. Bởi đó, ta thấy những thánh lễ, buổi nguyện cầu thật thiêng liêng đầm ấm của người Công giáo nơi giáo đường, trong gia đình, và trong từng lời chúc” [1].
Thời gian trước và trong dịp Tết, xem ra ai cũng rất bận rộn, vì có khá nhiều việc phải làm. Như dọn dẹp nhà cửa, trang trí bàn thờ, đi mua sắm quần áo mới, đồ Tết vv. Những ai có điều kiện và thời gian thuận tiện thì đi chợ Tết, vui Xuân… Riêng những người ở xa thì lục đục kéo nhau về quê ăn Tết. Cách chung hầu như ai cũng mang tâm trạng nôn nao, háo hức hòa nhịp trong bầu không khí chào Xuân, đón Tết.
Riêng đối với Ki-tô hữu chúng ta thì việc đón Tết chào Xuân còn được thực hiện theo tinh thần “cái Tết của người có Đạo”. Do đó, trong những ngày Tết, người Công giáo chúng thường tới nhà thờ để tham dự Thánh lễ đặc biệt mừng Xuân. Và Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã qui định: a- Tối giao thừa có thánh lễ Tạ Ơn; b- Ngày mồng một Tết thánh lễ cầu bình an cho năm mới; c- Ngày mồng hai Tết thánh lễ kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ; d- Ngày mồng ba Tết thánh lễ thánh hóa công ăn việc làm.
Như vậy, cái Tết của người Ki-tô mang đầy đủ ý nghĩa của một nếp sinh hoạt thấm đượm niềm tin và tinh thần Tin Mừng Ki-tô giáo. Ta có thể liệt kê những sinh hoạt và việc làm của người Ki-tô hữu trong mấy ngày Tết, như sau:
* TẾT TẠ ƠN
Ngày cuối năm, chúng ta tham dự thánh lễ Tất niên. Và thời khắc giao thoa giữa năm cũ và mới, có thánh lễ đêm Giao thừa. Trong những giờ phụng vụ này, Hội thánh nhắc nhở chúng ta hướng về Thiên Chúa để tạ ơn. Vì thế, đối với Ki-tô hữu chúng ta, Tết trước tiên là Tết Tạ Ơn. Trong thời khắc chuyển giao từ năm cũ bước sang năm mới, chúng ta có dịp nhìn lại những ân huệ Chúa đã ban cho ta. Ân huệ phần xác cũng như phần hồn. Thực ra, không phải đợi đến dịp Tết chúng ta mới quan tâm tới việc tạ ơn Thiên Chúa, nhưng đây là mốc thời gian thuận tiện và thích hợp để chúng ta làm việc này. Như lời thánh vịnh thúc giục chúng ta: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, / muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136, 1); “Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa, / sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời” (Tv 146, 2).
Chúng ta tạ ơn Chúa vì cuộc sống này là của Chúa ban, thời gian này là quà tặng của Người cho chúng ta. Thiên Chúa làm chủ thời gian. Người là Chúa Xuân. Trong dịp Tết này, chúng ta cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta trong suốt một năm sắp qua đi, đồng thời chúng ta phó thác những ngày tháng sắp tới cho bàn tay quan phòng và yêu thương của Người. Chúng ta cũng cám ơn tất cả những người, bằng cách này hay cách khác, đã nâng đỡ, ủi an và góp phần xây dựng cuộc đời chúng ta.
Dịp Tết, ngoài việc tạ ơn Chúa, chúng ta không quên nhớ đến công ơn ông bà tổ tiên và cha mẹ còn sống cũng như đã qua đời. Chính vì vậy Hội thánh chọn ngày mùng hai để cử hành thánh lễ kính nhớ tổ tiên và cầu cho cha mẹ. Bên cạnh đó, Ki-tô hữu chúng ta cũng thường có thói quen xin lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên đã qua đời. Ngoài ra, nhiều Ki-tô hữu cũng có truyền thống viếng mộ thân nhân vào ngày Tết. Vì thế, vào những ngày trước Tết, các gia đình thường sửa sang lại phần mộ của những người đã khuất, người ta trưng bông, đặt những giỏ hoa tại phần mộ. Và ngày mồng hai Tết, các giáo xứ thường tổ chức ít là một thánh lễ ở nghĩa trang.
* TẾT MỪNG TUỔI
Một trong những cách cư xử đặc trưng nhất trong dịp Tết, đó là người ta mừng tuổi nhau. Ngày đầu năm, nhiều cộng đoàn cũng có thói quen mừng tuổi Chúa và mừng tuổi nhau. Mỗi năm mới người ta thêm tuổi, đời sống sẽ dài thêm và sẽ cơ hội đón nhận những điều mới lạ trong cuộc sống. Vì thế người chúc mừng nhau.
Dịp Tết, tại nhiều giáo xứ, cũng có tục lệ hái lộc Xuân. Một tác giả đã ghi lại như sau: “Trong đêm giao thừa và ngày đầu năm, sau khi đi lễ tại đình chùa, người Việt Nam có tục hái lộc đem về nhà. Người Công giáo, sau khi tham dự thánh lễ giao thừa, cũng hái lộc đầu Xuân. Không biết xuất phát từ đâu, mà trong khoảng thời gian hai ba chục năm nay, giáo xứ nào cũng tổ chức cây mùa Xuân để cho mọi người tới hái lộc. Lộc ở đây, không phải là một cành cây phải hái, phải bẻ, nhưng là một Lời Chúa được in rất đẹp trên giấy và được cuộn lại cũng rất đẹp. Lời Chúa được chọn theo chủ đề của mỗi năm, chẳng hạn như về gia đình, đức tin, truyền giáo vv. Mỗi gia đình nhận một Lời Chúa, như là ý lực sống cho suốt cả một năm. Tờ Lời Chúa, hay lộc đầu Xuân này, được mang về nhà và được để ở gần bàn thờ, để mọi người trong nhà cùng suy gẫm và thực hành” [2].
Đây là một việc làm đạo đức có nhiều ý nghĩa và mang lại hiệu quả sống đạo rất cao.
Bên cạnh việc mừng tuổi, người ta cũng không quên trao cho nhau những lời Chúc Xuân. Chúc Xuân qua tấm Thiệp Xuân. Chúc Xuân qua tin nhắn điện thoại hay email hay qua Facebook. Chúc Xuân trong gặp gỡ đầu năm. Chúng ta gửi đến nhau những lời cầu chúc tốt đẹp nhất. Một cách đơn giản là câu “Chúc Mừng Năm mới”, “Cung Chúc Tân Xuân” hay “Happy New Year”. Hoặc “Chúc Mừng Năm Mới Khang An Thịnh Vượng” vv. Tuy nhiên, thiết nghĩ, bên cạnh đó cũng có rất nhiều câu chúc chỉ là sáo ngữ, trống rỗng và không thích hợp với Ki-tô hữu chúng ta, cho nên tốt nhất chúng ta nên tránh dùng.
Thực vậy, “Nếu những ngày năm mới người người chúc cho nhau làm ăn phát đạt, thì người Công giáo dành cả một thánh lễ mồng ba Tết để cầu mùa. Trong thánh lễ này, họ tin Thiên Chúa là đấng làm chủ thiên nhiên, ban cho họ một năm mới với nhiều huê lợi, được mùa. Ai cũng xin Chúa ban ơn trợ giúp để công ăn việc làm trong năm mới được thuận buồm xuôi gió. Công việc ổn định và cuộc sống ấm no hạnh phúc luôn là ước vọng chính đáng của mỗi người. Chắc hẳn Thiên Chúa không quên những ước nguyện đầu năm đầy chân thành của mỗi người. Do đó, ai cũng hy vọng một năm mới với nhiều ơn lành của Chúa, từng dự định của mỗi người sẽ gặp nhiều thuận lợi, vận may. Thật ý nghĩa và dễ thương biết bao khi người Công giáo chúc cho nhau những điều tốt đẹp đến từ Thiên Chúa. Những ngày xuân tay bắt mặt mừng, họ cầu mong cho người thân, bạn bè nhận được nhiều ơn lành của Thiên Chúa. Trong từng câu chúc, họ tin vào bàn tay quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa. Khi đó, niềm vui của ngày Xuân luôn lan tỏa đến từng người mà họ có dịp gặp gỡ, chuyện trò” (x. Jos Phạm Đình Ngọc SJ, bài đd).
* TẾT XUM VẦY
Tết luôn luôn là dịp để người ta họp mặt bạn bè và đoàn tụ gia đình. Tết mà không có xum vầy thì mất đi ý nghĩa của Tết. Xum vầy để họp mặt chúc Xuân, để chia vui sẻ buồn, để vui chơi, ăn uống. Việc ăn uống trong dịp Tết là điều đương nhiên, nhưng ta không nên biến nó thành việc ăn nhậu, say sưa tốn kém. Những tai nạn giao thông trong dịp Tết thường do ăn uống nhậu nhẹt mà ra, vì khi say người ta không làm chủ tốc độ, dẫn đến những thảm kịch chết chóc kinh hoàng. Ki-tô được khuyến khích “ăn Tết” một cách lành mạnh, giản dị, đúng theo truyền thống và nhất là nên tiết kiệm.
Những lời chúc đầu năm đều mang ý nghĩa đem lại ấm no hạnh phúc, mạnh khỏe và bình an. Nếu chúng ta biết kiềm chế để sắm sửa và tổ chức một cái Tết lành mạnh thì những buổi họp mặt gia đình sẽ đem lại một bầu không khí tươi vui, đầm ấm và đáng khích lệ.
* TẾT BÁC ÁI
Trong dịp tết, nhiều giáo xứ và nhiều cá nhân Ki-tô hữu tổ chức những đợt đi thăm viếng tặng quà cho các đối tượng người già neo đơn, bệnh tật, những gia đình khó khăn và những trẻ em cơ nhỡ, khuyết tật. Những việc làm này thật ý nghĩa, nhất là nó thể hiện tinh thần bác ái yêu thương của Chúa Ki-tô. Tết khi đó không còn là cho cá nhân mình, cho gia đình mình, cho xứ đạo mình mà còn cho xã hội, cho con người bất kể là lương hay giáo.
Nếu mỗi người Ki-tô hữu, mỗi gia đình Công giáo bớt đi những chi tiêu hoang phí cho ngày Tết để đóng góp một chút phần quà tham dự vào công cuộc “mừng Xuân không quên người nghèo” thì thiết nghĩ chúng ta sẽ có một cái Tết khá ý nghĩa, đẹp lòng Chúa và đem lại niềm vui cho tha nhân và cho chính chúng ta./.
Aug. Trần Cao Khải
– – – – – – – –
* THAM KHẢO:
[1]- Jos Phạm Đình Ngọc SJ, bài “Người Công Giáo Việt Nam làm gì trong những ngày Tết?”, nguồn dongten.net ngày 23-1-2017
[2]- Gã Siêu, bài “Tết Đạo”, nguồn conggiao.info 16-2-2015
2022
“Tiếng” nước tôi và “Lời” vĩnh cửu
“Tiếng” nước tôi và “Lời” vĩnh cửu
(Nhân kỷ niệm 90 năm qua đời (1932-2022) của thừa sai Albert Schlicklin (Cố Chính Linh), người đầu tiên dịch trọn bộ Thánh Kinh sang Quốc ngữ)
Dẫn nhập: Lời Chúa nhập thể vào mảnh đất Việt Nam
Nếu chọn thời điểm 1651, năm linh mục thừa sai Đắc Lộ xuất bản hai tác phẩm Quốc Ngữ đầu tiên tại Rôma: TỰ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA và PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY, để xác nhận cột mốc khai sinh chữ Quốc ngữ, thì phải mất gần ba thế kỷ sau, người Việt nam mới có thể đọc trọn bộ Kinh Thánh bằng “tiếng mẹ đẻ”. Thật vậy, lần đầu tiên trọn bộ Kinh Thánh bằng Quốc ngữ cùng phần chú giải kĩ lưỡng đã được thừa sai Albert Schlicklin (Cố Chính Linh)[1] thuộc giáo phận Tông tòa Tây Đàng Ngoài chuyển dịch và được Hội Thừa Sai Paris xuất bản tại Hong Kong năm 1913-1914 (Cựu Ước) – 1916 (Tân Ước) với tiêu đề KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA trọn bộ bốn tập I, II, III, IV, in song ngữ với hai cột song song: bên trái tiếng Việt, bên phải tiếng La Tinh. Phải chăng đó chính là cột mốc, là cái “Giờ” để Lời Chúa chính thức “nhập thể” vào mảnh đất Việt Nam !
Thực ra, trước đó hai năm (1910), Cố Chính Linh đã hoàn thành bản dịch như chính ngài xác nhận được ghi trong phần Tựa của cuốn Kinh Thánh: “Tại nhà tràng Lý đoán Ninh Phú ( Kẻ Sở ), ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, là ngày 15 tháng Maiô năm 1910”[2]; có nghĩa là, sau chặng đường hơn “hai thế kỷ rưỡi”, tiếng Việt của thừa sai Alexandre de Rhodes (1651) và tiếng Việt của thừa sai Albert Schlicklin (1910) đã cách xa một trời một vực. Thật vậy, nếu cuốn Tự điển Việt Bồ La của Đắc Lộ chỉ với khoảng 9.000 mục từ, thì toàn bộ Kinh Thánh tiếng Việt của Cố Chính Linh không biết bao nhiêu từ tiếng Việt mà kể ! Có thể nói được, ngôn ngữ Việt hoàn toàn có đầy đủ mọi từ để chuyển tải Lời Chúa, để diễn tả các ý nghĩa và chiều kích thâm sâu của Mạc Khải. Cho nên, xét về mặt văn chương văn học, có thể nói đây là một tác phẩm Quốc Ngữ ghi dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học văn chương Công Giáo !
Riêng đối với những người Kitô hữu Việt Nam, Công Giáo hay Tin Lành hoặc các hệ phái Kitô giáo khác, vừa rất tự hào về công trình của các bậc tiền nhân vừa trân trọng biết ơn các ngài; bởi nhờ các ngài mà chúng ta dễ dàng tiếp cận Lời Chúa bằng tiếng mẹ đẻ, dễ dàng đọc, học, công bố, gẫm suy, truyền giảng… bằng chính ngôn ngữ Việt Nam của mình.
Và rồi, kể từ Bộ Kinh Thánh cứ bản Vulgata chuẩn mực nầy, cho tới hôm nay đã lần lượt xuất hiện nhiều phiên bản dịch Kinh Thánh khác nhau, hoặc trọn bộ hoặc từng phần hay một số tác phẩm…, của Giáo Hội Công Giáo cũng như Hội Thánh Tin Lành. Riêng phía Công Giáo, chúng ta có các bản dịch Kinh Thánh trọn bộ lần lượt được thực hiện như[3]:
– Bản dịch của Linh mục Gérard Gagnon do Thánh Tâm Biệt Thự Đà Lạt xuất bản năm 1963.
– Bản dịch của linh mục Trần Đức Huân do nhà xuất bản Ra Khơi Sài Gòn, xuất bản năm 1970.
– Bản dịch Kinh Thánh để dùng trong Phụng vụ của Ủy Ban Phụng Vụ năm 1973[4].
– Bản dịch của linh mục Nguyễn Thế Thuấn do Dòng Chúa Cứu Thế xuất bản năm 1976.
– Bản dịch của Đức Hồng Y G.M. Trịnh Văn Căn do Tòa Giám Mục Hà Nội xuất bản năm 1985.
– Bản dịch của Nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998. (x. PHƯỚC NGUYÊN)[5].
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm qua đời của vị dịch giả thời danh, Albert Schlicklin – Cố chính Linh (1932-2022), một thừa sai, một trí thức, một thần học gia và triết gia, và 109 năm bản dịch Kinh Thánh cứ bản Vulgata của ngài (1913-2022), xin được khái quát đôi điều về cuốn Kinh Thánh tiếng Việt đầu tiên như một nén hương kính dâng về ngài; và như một “gợi ý” để các thế hệ cháu con hôm nay trân trọng di sản quý hiếm của cha ông cũng như biết tìm về học hỏi, rút ra từ đó những giá trị tuyệt hảo mang tính “thừa thượng tiếp hạ” hay “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” !
- LỜI CHÚA VÀ CHIẾC “XIÊM Y DIỄM LỆ”
- Nhận xét tổng quát:
Linh mục Alberto Trần Phúc Nhân đã có một nhận xét tổng quan về bản dịch trọn bộ Kinh Thánh nầy như sau:
Kinh Thánh cứ bản Vulgata. Cố Chính Linh (Albertus Schlicklin) địa phận Tây Đàng ngoài dịch ra tiếng Annam và thích nghĩa. Bộ này gồm 4 cuốn khổ 18 x 24 cm, với 768, 736, 652 và 894 trang. Sách có chuẩn ấn của Đức Cha P.M. Gendreau (Đức Cha Đông) ký tại Hà Nội ngày 19- 03-1913, và in năm 1913-1916 tại Hồng Kông ở nhà in Nazareth của Hội Truyền Giáo Paris. Vậy tính đến nay là chẵn 90 năm.
Chính bản văn Kinh Thánh chia làm hai cột: bản Vulgata La-tinh và bản dịch tiếng Việt. Bên dưới mỗi trang, thường có các chú thích, dài ngắn tuỳ chỗ ; các chú thích về “Sấm truyền mới” (Tân Ước) khá dài. Ngoài ra còn có những “Lời mở đàng” chung cho mỗi loại sách và riêng cho từng cuốn sách.
Nói chung, đối với chúng ta, lối văn đã quá xưa, nhất là trong cách xưng hô. Ngay trang đầu có dẫn Ga 5,39: “Hãy lục xét Sách thánh… Sách thánh làm chứng về tao.” Hay câu Đức Giê-su “lả lời” cho bà vợ ông Dê-bê-đê và hai con: “Đức Chúa Jêsu bảo các chúng rằng: thật chén tao thì bay sẽ uống ; còn sự ngồi bên tả bên hữu tao, chẳng phải tự tao ban cho bay, bèn là những kẻ Cha tao sắm để cho nó” (Mt 20,23). Dầu sao chúng ta phải khâm phục công trình của một vị thừa sai ngoại quốc đã mở đường cho việc dịch thuật và giải thích Kinh Thánh”[6].
- “Chiếc xiêm y” diễm lệ:
2.1. Hình thức trang trọng:
Xưa nay, cuốn sách nào mang tính giá trị cao (Kinh điển, Tự điển bách khoa, Lịch sử, Kỷ yếu…) thường được thiết kế in ấn với khổ giấy lớn, bìa cứng; nếu nhiều trang thì phân thành nhiều tập. Đối với các tín đồ các tôn giáo, sách Kinh Thánh là cuốn sách quan trọng và đáng tôn kính nhất. Chắc chắn, trong cái nhìn “trân trọng” đối với Lời Chúa đó, Cố Chính Linh, khi cho xuất bản cuốn Kinh Thánh trọn bộ đầu tiên bằng Quốc Ngữ đã mặc cho tác phẩm đặc biệt nầy một hình thức “trang trọng” với khổ in 18 x 24, một hình thức mà liên tiếp về sau, cả Công Giáo, lẫn Tin Lành, không có cuốn Kinh Thánh Việt ngữ nào mang dáng vóc đặc biệt như thế. Tất cả chỉ dừng lại ở khổ giấy 14 x 20; và cũng chỉ cuốn Kinh Thánh nầy được phối trí thành bốn tập I, II, III, IV theo đúng trình tự của Quy điển bản Kinh Thánh chuẩn Vulgata. Hầu hết các cuốn Kinh Thánh sau nầy đều in chung thành một cuốn; hoặc giả chia thành hai: một Cựu Ước, một Tân ước.
2.2. Trình bày song ngữ hay vai trò của bản Vulgata:
Ngoài những phần phụ cơ bản như linh mục Trần Phúc Nhân nhận xét “Bên dưới mỗi trang, thường có các chú thích, dài ngắn tuỳ chỗ ; các chú thích về “Sấm truyền mới” (Tân Ước) khá dài. Ngoài ra còn có những “Lời mở đàng” chung cho mỗi loại sách và riêng cho từng cuốn sách…”[7], điều đáng lưu ý của cuốn Kinh Thánh nầy đó là “Kinh Thánh chia làm hai cột: bản Vulgata La-tinh và bản dịch tiếng Việt”[8], một hình thức mà cho tới hôm nay, cũng chưa thấy một cuốn Kinh Thánh tiếng Việt nào sử dụng.
Hình thức nầy có quan trọng không? Thưa rất quan trọng và cần thiết; nhất là đối với chủng viện, tu viện, hay những cộng đoàn, những cá nhân muốn tiếp cận với tác phẩm Vulgata bằng tiếng La tinh. Đừng quên, đây là một kỳ công của chính thánh tiến sĩ Giêrônimô (347-420) và là bản Kinh Thánh chuẩn mực của Giáo Hội Công Giáo tông truyền kể từ thế kỷ thứ năm như quyết định của Công Đồng Trento (1546): “Nếu có ai không tiếp nhận các sách đó nguyên vẹn cùng với tất cả các phần của chúng, như người ta đã quen đọc chúng trong Giáo Hội Công Giáo và theo bản cũ là Latin thông tục bản (vulgata), như là những Sách Thánh và đúng theo quy điển Kinh Thánh (canonique); nếu người đó, một cách ý thức và cố ý, khinh thường các truyền thống nói trên: người đó phải bị trục xuất” (DENZINGER 1504)[9]. (x. JOHN A. HARDON)[10].
Và cũng chính qua yếu tố “song ngữ Việt – La” nầy mới thấy độ tự tin của Cố Chính Linh khi chuyển dịch Lời Chúa qua ngôn ngữ Việt; phải chăng, đây cũng chính là điểm thuận lợi để các thế hệ tiếp nối khi thực hiện các bản dịch Kinh Thánh có bản văn gốc để quy chiếu hầu biết bản dịch của mình trung thực với Lời Chúa thế nào; hoặc để khỏi trệch xa khỏi nội dung căn bản của Kinh Thánh được Giáo Hội chuẩn nhận như Thánh Công Đồng Trento xác quyết: “Hơn nữa Thánh Công đồng nghĩ rằng một điều có thể là hữu ích không nhỏ cho Giáo Hội của Thiên Chúa là biết bản nào phải coi là trung thực trong các bản Latin đã được xuất bản về các Sách Thánh đang lưu hành, cho nên Công Đồng quyết định và tuyên bố rằng chính bản Latin cổ kính và thông tục (vulgata), vốn được tán thành trong Giáo Hội do được sử dụng lâu dài trong biết bao thế kỷ, phải được coi là trung thực trong các cuộc giảng giải, tranh luận, rao giảng và trình bày công khai; xin đừng có ai cả gan hoặc có ý định vứt bỏ bản đó với bất kỳ cớ nào”.[11]
2.3. Trình bày các tác phẩm và bản văn:
Cũng giống như cách trình bày chung các sách Kinh Thánh, trước mỗi tác phẩm (Sáng Thế, Xuất Hành, Tin Mừng Matthêô, Khải Huyền…) đều có một giới thiệu khái quát về tác giả và nội dung tác phẩm. Cuốn Kinh Thánh Quốc ngữ của Cố Chính Linh cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là cách trình bày các bản văn.
Thật vậy, một trong những điểm đặc trưng của bản văn Kinh Thánh đó là luôn đi kèm với “dấu chỉ bằng số” xác nhận về “Đoạn” (hay “Chương”) và “Câu”. Chắc chắn nhờ phương cách đặc biệt nầy mà việc trích dẫn, tham chiếu, chứng minh và học thuộc trở nên dễ dàng. Nếu hầu hết các sách Kinh Thánh về sau thường để số chỉ “Đoạn” ở ngay đầu bản văn (Liền kề trước câu số “1”). Ví dụ: 1 1 Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.2 Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước (St 1,1-2), thì với “Kinh Thánh cứ bản Vulgata”, đoạn được đặt phía trên bản văn và ngay chính giữa với cở chữ lớn và dùng số La Mã cùng với một đoạn ghi chú nội dung khái quát bên dưới.
Những ai lần đầu tiên tiếp xúc với Kinh Thánh mà được đọc bản văn của “Kinh Thánh cứ bản Vulgata” của Cố Chính Linh chắc chắn sẽ hài lòng về cách trình bày rõ ràng, thứ tự, lớp lang như thế.
- Chú giải phong phú:
Phần đông các bộ Kinh Thánh đều có phần “Chú giải”. Đây có thể nói được là yếu tố xác định “nền tảng Thánh Kinh và thần học, văn chương và ngôn ngữ” của dịch giả Kinh Thánh. Vì chính trong phần “chú giải” nầy, người dịch rọi sáng thêm ý nghĩa phong phú, phức tạp, các mối liên quan… của từ ngữ Kinh Thánh cũng như những cách diễn đạt của ngôn ngữ địa phương.
Trong khía cạnh này, bản dịch của Cố chính Linh có thể “chiếm giải quán quân” về lượng chú giải; bởi có nhiều đoạn, phần chú giải nhiều hơn bản văn chính; và phần chú giải đồng hành với bản văn gần như suốt bộ Kinh Thánh. Qua chính phần chú giải nầy, chúng ta có cơ hội để biết sự phong phú và khả năng của tiếng Việt khi chuyển tải Lời Chúa.
- Uy tín: khỏi bàn cải
Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, quả thật chúng ta không nghi ngờ gì trước uy tín và cái đầu uyên bác của một số linh mục thừa sai ngoại quốc hoạt động truyền giáo tại Việt nam như “nhà Việt Nam học” Cristoforo Borri với tác phẩm “Xứ Đàng Trong”,[12] “nhà ngôn ngữ học” Alexandre De Rhodes với Tự điển “Việt Bồ La”[13]; hay sau này có “nhà văn hóa” lớn là linh mục Léopold Cadière với tác phẩm để đời “Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt”[14]. Nhưng khi nói về lãnh vực Kinh Thánh, thần học và triết học thì có lẽ chúng ta phải dành cho linh mục thừa sai Albert Schlicklin – Cố chính Linh, là người đầu tiên chuyển dịch trọn bộ Kinh Thánh Vulgata sang tiếng Việt và soạn tác nhiều tác phẩm thần học, triết học bằng ngôn ngữ Việt. (x. Ghi chú 1 ở trên).
Và dĩ nhiên, ngoài việc được cọng tác và giúp đỡ của những người Công Giáo trí thức Việt Nam lúc bấy giờ, để chuyển tải Lời Chúa sang ngôn ngữ Việt Nam cách trung thực, chuẩn xác, truyền thống và hợp thời, Cố Chính Linh đã đọc, tham khảo nhiều tác giả, tác phẩm và tư liệu Kinh Thánh giá trị và uy tín đương thời, như chính ngài đã liệt kê nơi cuối phần Tựa cuốn Kinh Thánh cứ bản Vulgata:
- LỜI TUYỆT ĐỐI TRONG TIÊNG HỮU HẠN
Trong Bài Đọc II Giờ Kinh Sách của Chúa Nhật III Mùa Vọng vừa qua, Giáo Hội đã chọn trích đoạn Bài giảng của thánh Giám Mục Augustinô với tựa đề: Thánh Gioan là tiếng, Đức Kitô là Lời. Chúng ta có thể nghe lại một đoạn trong bài giảng thật thâm thúy sâu xa nầy: “Thánh Gio-an là tiếng, còn Chúa, ngay từ nguyên thuỷ, đã là Lời. Thánh Gio-an là tiếng trong thời gian, còn Đức Ki-tô, ngay từ lúc khởi đầu, đã là Lời vĩnh cửu. Bỏ lời đi, tiếng còn là gì? Ở đâu không có gì để hiểu, thì chỉ là tiếng vang trống rỗng. Không có lời, tiếng chỉ đập vào tai, chứ không cảm hoá được tâm hồn…”.
Kinh Thánh chính là Lời Chúa; mà Lời Chúa trong ngôn ngữ của Thánh sử Gioan đó chính Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Kitô – “Lời hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta” (Ga 1,14); cũng vậy, trong ngôn ngữ của Thư Do Thái, Đức Kitô chính là “Lời cuối cùng”, “Lời chóp đĩnh” trong tiến trình “phán dạy” hay “mạc khải” của Thiên Chúa: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2).
Nếu Thánh Gioan Tiền Hô đã tự nhận mình là “tiếng hô trong hoang mạc” (Ga 1,23) để dọn đường cho dân Do Thái đón nhận “Lời”; và ngài đã dùng ngôn ngữ của quê hương ngài để giới thiệu Đức Kitô, thì một cách nào đó, các thừa sai, các nhà truyền giáo, trong đó có linh mục Albert Schlicklin – Cố chính Linh, đã dùng ngôn ngữ Việt Nam, tiếng Việt Nam để chuyển tải Lời Chúa cho dân tộc Việt chúng ta, như cách cắt nghĩa của Thánh Giáo phụ Augustinô: “Như vậy, khi tìm cách làm thế nào để lời đã có trong tâm hồn tôi chuyển đến bạn và ở lại trong tâm hồn bạn, tôi dùng tiếng, và bằng tiếng ấy tôi nói với bạn: âm của tiếng chuyển tới bạn ý tưởng của lời; và khi âm của tiếng chuyển tới bạn ý tưởng của lời rồi, thì chính âm đó qua đi, nhưng lời do âm chuyển đến bạn thì vẫn ở lại trong tâm hồn bạn mà không rời bỏ tâm hồn tôi” (Bài Đọc II Giờ Kinh Sách CN III MV).
Và như thế, Kinh Thánh, Lời Chúa luôn là “Lời tuyệt đối, toàn năng, vĩnh cửu…”, còn tiếng hay ngôn ngữ của bất cứ dân tộc nào hay bất cứ thời đại nào cũng đều mang tính “hữu hạn”. Tiếng Việt cưu mang Lời, chuyển tải Lời cách đây hơn 100 năm cũng không thể vượt ra ngoài “sự thật” nền tảng đó.
- Ngôn ngữ Việt chuyển tải Lời cách đây hơn một thế kỷ:
Từ khi cuốn Tự Điển của linh mục thừa sai Đắc Lộ đặt nền móng tiếng Việt được Latinh hóa xuất hiện vào thế kỷ 17 (Việt – Bồ – La 1651), và tiếp sau đó, khi ngôn ngữ Việt đã được phát triển và hoàn chỉnh cơ bản với cuốn Tự Điển của Đức Giám Mục Jean Louis Tabert (Anamitico-Latinum 1838), tiếng Việt hoàn toàn có thể trở nên phương thế hữu hiệu để chuyển tải Lời Chúa; và điều đó đã được Cố chính Linh thực hiện với bản dịch Kinh Thánh đầu tiên: KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA chính thức ra đời năm 1913 và hoàn chỉnh trọn bộ năm 1916.
Dĩ nhiên, khi đọc bản văn Kinh Thánh qua tiếng Việt cách đây hơn 100 năm, chúng ta không thể so sánh với ngôn ngữ hiện tại để đánh giá hơn thua, thấp kém; hay chỉ căn cứ vào một số từ xưng hô như “Tao, mầy…” để phủ nhận mọi giá trị cao quý khác…!
Trong lãnh vực nầy, xin được nhường lời cho các bậc thức giả chuyên viên về Kinh Thánh hay chuyên môn ngôn ngữ học. Ở đây, chỉ xin đan cử một vài trích đoạn tiêu biểu của bộ KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA như những viên ngọc sáng chói của ngôn ngữ Việt đầu thế kỷ 20.
- 1. Lời Thánh Vịnh đơn sơ:
Ở phần đầu, chúng ta đã thấy hai bản văn Kinh Thánh bằng văn xuôi của bộ “Kinh Thánh cứ bản vulgata”. Ở đây, xin đơn cử một bản văn Thánh Vịnh (Tv 1,1-6) để chúng ta cùng cảm nhận cách chuyển ngữ Kinh Thánh đơn sơ, gãy gọn của Cố Chính Linh:
1.2. Ngôn ngữ Tin Mừng chuẩn xác:
Bài Tựa Tin Mừng Gioan được kể là Bản văn Kinh Thánh đậm chất triết học và thần học sâu xa. Ngay từ 1913 mà cha ông chúng ta đã dùng tiếng mẹ đẻ để diễn tả trích đoạn Kinh Thánh đặc biệt nầy thì phải nói là tâm phục khẩu phục. Và Cố Chính Linh đã làm được chuyện đó như một đan cử sau:
- Khi Lời “nhập thể” trong tiếng Việt
Trong cuộc “tòa đàm trực tuyến” về chuyên đề “Văn Học Công Giáo đương đại” trong năm vừa qua, tôi đã có bài tham luận và đoạn kết đã nhận xét rằng: “Chọn lựa cách “hội nhập văn hóa” để chuyển tải Tin Mừng, để loan truyền chân lý cứu độ sao cho hiệu quả và phong phú, cách làm của Cha Ông ta đó nào đâu có phải là chuyện mới mẻ gì đâu! Từ thuở xa xưa khi bộ tộc của Israel còn trong thời “ăn lông ở lỗ”, khi tổ phụ của dân tộc họ, cụ Ápraham còn lang thang trên các thảo nguyên sống đời du mục, Thiên Chúa đã áp dụng nguyên tắc “hội nhập văn hóa” mang tính “nhập thể” rồi. Có nghĩa là Lời Mạc Khải của Thiên Chúa khi đi vào thế giới đã chọn đi qua “một chiếc cửa nhân loại” là “lịch sử của dân tộc Israel” với tất cả những yếu tố nhân văn, địa lý, xã hội, chính trị, kinh tế, pháp luật, lịch sử… của dân tộc nầy. Toàn bộ tuyệt tác Thánh Kinh Cựu và Tân ước phải chăng là “Lời mạc khải nhập thể giữa lòng nhân loại qua lịch sử của dân tộc Israel”….
Cũng chính với nguyên tắc “hội nhập văn hóa” đó, mà chúng ta tìm thấy ngôn ngữ của Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước mang nhiều “dáng đứng” khác nhau, theo trào lưu lịch sử văn hóa xã hội của dân tộc Israel: Từ thể văn mang tính huyền thoại, cổ tích (Sáng Thế, Tin mừng thời thơ ấu), đến anh hùng ca lịch sử (Xuất Hành, Samuen, Macabêô…), pháp đình lề luật, phụng tự (Thứ luật, Lêvi…), khải huyền tiên tri (Đanien, Êgiêkien, Khải huyền của Thánh Gioan…), châm ngôn huấn đạo (Khôn ngoan, Châm Ngôn, Giảng Viên..), thi ca trữ tình (Diễm tình ca), truyện ngắn tình yêu (Hôsê…), ca kinh nguyện cầu (Thánh vịnh…)…”
Một khi Lời Chúa được trồng trên mảnh đất Việt Nam thân yêu, chắc chắn sẽ không đi ngoài “quy luật của muôn đời” đó. Vì thế, có gì lạ đâu, khi ngôn ngữ bên Tây rất nghèo về “đại từ nhân xưng” thì tiếng Việt chúng ta lại rất phong phú. Nếu có ai đó bị dị ứng với các từ “Tao, mầy” mà Cố chính Linh dùng thường xuyên trong “Kinh Thánh ứng bản vulgata” thì xin hiểu cho rằng: không phải lúc nào “mầy, tao, mi tớ” cũng là những từ của sự thô lỗ cục cằn, mà rất nhiều khi, đó lại là những từ của thân mật, gần gũi, như ca dao Việt Nam:
Cảm ơn cái cối cái chày,
Đêm khuya giã gạo có mầy có tao !
Cũng vậy, ông bà, cha mẹ rất thường dặn yêu con cháu: “Tết này mà tụi bay không về ăn tết với tao là bị ăn đòn á !”. Cũng đừng quên, xưng hô “tao mầy” là ngôn ngữ dành riêng cho đám bạn bè thân quen, nối khố…
Kết luận: Lời Chúa và “tác động Hiệp hành”
Cố nhạc sĩ tài danh Phạm Duy có bài hát thuộc diện “bất hủ”, bài “Tình Ca” hay quen gọi là “Tiếng nước tôi”; và ca khúc đã mở đầu với những dòng thơ mượt mà:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi! Tiếng ru muôn đời…
Và sau đó, bằng nhiều hình ảnh, cảm nhận lịch sử hay văn hóa dân tộc, ông đã thổi vào bài hát một cái hồn linh thiêng dịu vợi của tiếng Việt:
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui .
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!…
Một yêu câu hát Truyện Kiều.
Lẳng lơ như tiếng sáo diều ư diều làng ta
Và yêu cô gái bên nhà.
Miệng xinh ăn nói mặn mà ừ mà có duyên…
Từ lúc mới còn “nằm nôi” khi Tin Mừng lần đầu tiên được gieo vãi với “Phép Giảng Tám ngày”, với “Tự Điển Việt Bồ La” của cha Đắc Lộ (1651) cho đến khi vững vàng với “Sấm Truyền Ca của Lữ Y Đoan” (1670), với “Tuồng Thương khó” của Nguyễn Bá Tòng (1912)…, và rồi hoàn mỹ với với “Sứ điệp tình thương của Nguyễn Xuân Văn” (2001)…, quả thật, “tiếng nước tôi” đã được muôn thế hệ Kitô hữu vận dụng, trau chuốt với nhiều thể loại để chuyển tải Lời Chúa. Và trong cái chuỗi dài vận dụng “tiếng nước tôi” để cưu mang Lời Chúa đó phải dành một vinh dự trân trọng cho linh mục thừa sai Albert Schlicklin – Cố chính Linh, người đầu tiên dịch toàn bộ Kinh Thánh bản Vulgata sang Việt Ngữ.
Dịp kỷ niệm 90 năm qua đời của ngài (2/3/1932) nằm trong thời gian Tổng Giáo Phận Hà Nội mở Công Nghị Giáo phận. Đây phải chăng là dịp thuận lợi để cộng đoàn Dân Chúa Hà Nội tưởng nhớ về ngài và công trình “Cuốn Kinh Thánh đầu tiên bằng Quốc ngữ”; đây cũng chính là điều mà trong thư mục vụ, Đức Tổng Giám Mục Giuse Vũ Văn Thiên đã nhắc đến:
“Công nghị Giáo phận sẽ nhấn mạnh tới chiều kích mục vụ bao gồm những mục đích sau:
* Nhìn lại quá khứ với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, tri ân các bậc tiền nhân về những hồng ân trọng đại đã nhận được từ xưa đến nay…”[15].
Nhưng có lẽ, điều đáng suy nghĩ khi tìm lại một “công trình Lời Chúa” trong kho tàng “văn hóa đức tin” của Giáo Hội Việt Nam đó chính là “Lời Chúa và tác động Hiệp hành”.
Thật vậy, trong kinh cầu nguyện cho Thượng Hội Hội Đồng Giám Mục thế giới thứ XVI với chủ đề: HƯỚNG TỚI MỘT HỘI THÁNH HIỆP HÀNH: HIỆP THÔNG, THAM GIA, SỨ VỤ, có những lời như sau: “xin dạy chúng con lối đường phải đi và cách bước đi trên lối đường đó… Đừng để chúng con u mê sa vào nẻo đường lầm cũng đừng để chúng con làm theo thiên kiến. Xin giúp chúng con tìm thấy nơi Chúa sự hiệp thông giữa chúng con…”[16].
Thế nhưng người Kitô hữu nào lại không biết “Lời Chúa là đường soi bước chân con” (Tv 119,105), là trường dạy và yếu tố hiệp thông tuyệt hảo nhất. Đã hơn 400 năm đón nhận Tin Mừng, nhưng Giáo Hội Việt Nam vẫn chưa có được một bộ Kinh Thánh mang tính “Hiệp hành”, “hiệp thông”; vừa ghi dấu ấn “thừa thượng tiếp hạ” công sức và giá trị của cha ông, vừa “nhật nhật tân” của văn minh đương đại.
Ước mong định hướng “Hiệp hành” của Giáo Hội hôm nay sẽ được Dân Chúa Việt Nam biến thành hiện thực; và hiện thực căn bản đầu tiên đó là KINH THÁNH, là LỜI CHÚA.
Trương Đình Hiền (Viết xong ngày 6/1/2022)
[1] Albert Schlicklin (1857-1932), còn được biết với tên gọi Cố Chính Linh (“cố” là cố đạo, “Chính Linh” là tên âm Việt của ông), là một linh mục Công giáo La Mã người Pháp. Ông là người có công dịch bộ Kinh Thánh từ tiếng Latinh sang ngôn ngữ Việt Nam. Bản dịch của ông cho tới ngày nay vẫn là cơ sở cho các bản dịch Kinh Thánh chính thức. Ông sinh ngày 12 tháng 11 năm 1857 tại Liebsdorf, vùng Alsace (Pháp). Được Hội Thừa sai Paris gửi đến Việt Nam năm 1885, với sự giúp đỡ của các học giả Công giáo người Việt, ông nghiên cứu ngôn ngữ Việt và tập trung cho việc chuyển ngữ bộ Kinh Thánh từ bản Kinh Thánh Latin Vulgate, là bản Kinh Thánh được Tòa Thánh Vatican chính thức công nhận. Khoảng năm 1913 – 1914, Hội Thừa Sai Paris tại Hongkong cho phát hành bản Kinh Thánh Cựu ước, được in song ngữ bản Latin Vulgate với bản dịch Việt ngữ của ông. Năm 1916, Kinh Thánh Tân ước cũng được phát hành và cũng in song ngữ, một bên chữ Việt một bên chữ Latin.
Ngoài công trình dịch Kinh Thánh ra, ông còn viết một số tác phẩm bằng Việt ngữ như:
“Sách dạy về gốc tích cội rễ sự đạo”, 1908
“Thần học tín lý”, 1908
“Thần học luân lý”, 1911
“Công giáo luân lý khoa”, 1919
“Triết học khoa”, 1917
“Phép mộ sự khôn ngoan”, 1917
Ông qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội.
Nguồn: Wikipedia: https://vi.wikipedia.org/wiki/Albert_Schlicklin
[2] KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA I, Cố chính Linh địa phận Tây Đàng ngoài, dịch ra tiếng An Nam và thích nghĩa, Hong Kong 1913, Tựa, XVI Về chế độ lề lối ta cứ trong sách nầy, tr. 23.
[3] X. LINH MỤC ALBERTO TRẦN PHÚC NHÂN, Các bản dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Việt, trích từ tác phẩm “Hướng đến 400 năm Văn học Công Giáo”, tr. 776-782.
[4] Không xuất bản thành một cuốn Kinh Thánh trọn bộ; chỉ có các bản văn trong các sách Phụng vụ; đặc biệt Sách Các Bài Đọc trong Thánh lễ.
[5] PHƯỚC NGUYÊN, Quá Trình Phiên Dịch Kinh Thánh Sang Tiếng Việt, trích từ Nguyệt San Linh Lực (1996), San Diego, California, website www.thuvientinlanh.org/qua-trinh-phien-dịch-kinh-thanh-sang-tiếng-việt/ đăng tháng 1/1996
[6] LINH MỤC ALBERTO TRẦN PHÚC NHÂN, sđd, tr. 777.
[7] Sđd.
[8] Sđd.
[9] HEINRICH DENZINGER, Các Tín biểu, Định tín và Tuyên bố của Giáo Hội Công Giáo trong lãnh vực đức tin và phong tục, chuyển ngữ: lm. Nguyễn Văn Hòa O.P., nxb Tôn Giáo 2019, khoản 1504, tr. 1546.
[10] JOHN A. HARDON), S.J., Tự điển Công Giáo phổ thông, chủ biên: lm. Đặng Xuân Thành, phiên dịch: Nhóm Chánh Hưng, nxb Phương Đông 2008, tr. 304-306.
[11] HEINRICH DENZINGER, sđd, khoản 1506, tr. 1546.
[12] CRISTOFORO BORRI, Relation de la nouvelle mission des pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, Xứ Đàng Trong, Thanh Thư dịch, nxb tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 2019, trang bìa trước: Cristofor Borri (1583-1632) sinh tại Milan năm 1583, vào Dòng Tên ngày 16 tháng 9 năm 1601 và khỏi hành đi Ấn Độ năm 1615. Dạy toán tại Coimbre và Lisbonne, được vua Philippe của Tây Ban Nha mời tới Madrid để giảng cho ngài về la bàn. Quan tâm đến những vấn đề liên quan tới hàng hải, nghiên cứu về thiên văn học, đã viết một cuốn chuyên luận về nghệ thuật hàng hải và một bản thảo dang dở về hải trình tới Ấn Độ… Ông là một trong những giáo sĩ dòng Tên đầu tiên đến Đàng Trong (Đại Việt), thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, lưu trú ở đó 5 năm (1618-1622).
[13] ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, nxb Tôn giáo 2008, tr. 76, chú thích 81: Alexandre de Rhodes (1593-1660), sinh ngày 15-3-1593 tại Avignon là đất của Tòa thánh từ năm 1348-1791, nên Rhodes có quốc tịch Tòa thánh, mặc dù sống trong nền văn hóa Pháp; hoạt động truyền giáo ở ĐT qua hai thời kỳ: 1624-1626 và 1640-1645; là một trong hai người đầu tiên chính thức mở ra cuộc truyền giáo ở ĐN từ 1627-1630; Rhodes có nhiều sáng kiến, nhiệt tình, can đảm trong sứ vụ; Rhodes là thừa sai đi lại nhiều nơi nhất ở Việt Nm thời đó; cha có công rất lớn với văn học Việt nam, vì đã hoàn thành chữ Quốc ngữ và cho xuất bản sách Quốc ngữ đầu tiên năm 1651; bị trục xuất khỏi ĐT năm 1645, cha về Rôma, Pháp từ 1649-1654, vận động gửi Giám mục đi Việt Nam; bỏ Pháp cuối năm 1654, để đi Ispahan thủ đô Ba Tư (Iran) truyền giáo theo lệnh Bề trên cả DT; qua đời tại Ispahan 5-11-1660.
[14] Linh mục Léopold Cadière (1869-1955), sinh tại Aix-en-Provence Pháp năm 1869, thuộc Hội Thừa sai Paris. Đến và hoạt động tại Việt Nam từ 1892-1955, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng, dân tộc học, khảo cổ… là sang lập viên và là linh hồn của tạp chí Bulletin des amis du Vieux Hue (Đô Thành Hiếu cổ)= Tạp chí của những người bạn Huế xưa…(Theo tác phẩm “Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt”, nxb Thuận Hóa 2010, Lời Tựa, tr.9-14).
[15] GIUSE VŨ VĂN THIÊN, TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI, Thư mục vụ v/v triệu tập Công nghị Tổng giáo phận kỷ niệm 110 năm Công đồng Kẻ sở, website https://www.tonggiaophanhanoi.org/thu-muc-vu-trieu-tap-cong-nghi-tong-giao-phan-ky-niem-110-nam-cong-dong-ke-so/
[16] CẨM NANG CHO THƯỢNG HỘI ĐỒNG VỀ TÍNH HIỆP HÀNH, Kinh cầu nguyện cho Thượng Hội Đồng, tr. 3.
