2022
Đức Giê-su Ki-tô – Đường hòa hợp
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG HÒA HỢP
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Trong tiếng Hy-lạp, ‘αρμονία’ (harmonia/ hòa hợp) diễn tả sự phối kết các thành phần của thực tại phức hợp hầu thực hiện chức năng nào đó mà tự thân các thành phần đơn lẻ không thể thực hiện được. Điều này có nghĩa rằng mỗi thành phần trong thực tại phức hợp đóng vai trò bổ sung cho nhau và cùng nhau tạo nên điều tốt đẹp. Chẳng hạn, một bản giao hưởng (συμφωνία/ symphony) cần sự tham dự của nhiều người với những nhạc cụ phù hợp. Mỗi người, mỗi nhạc cụ đóng vai trò quan trọng trong việc cấu thành bản giao hưởng hầu đem lại niềm vui hay cảm giác thư giãn, bình an cho thính giả. Thuật ngữ hòa hợp được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống con người, đặc biệt, trong âm nhạc và mỹ thuật. Dưới nhãn quan một số nền văn hóa Á Châu, sự hòa hợp của thiên – địa – nhân (trời – đất – người) là nền tảng cho các hình thức hòa hợp khác trong vũ trụ.
Trong Kinh Thánh, ngoại trừ bản LXX (bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Do-thái sang tiếng Hy-lạp được thực hiện khoảng thế kỷ III trước Công Nguyên) sử dụng ‘hòa hợp’ (αρμονία) 2 lần (Ed 23,42: Âm thanh pha trộn; Ed 37,7: Các xương ăn khớp với nhau), phần còn lại thì thuật ngữ này vắng bóng. Sự vắng bóng của thuật ngữ hòa hợp trong các bản gốc Kinh Thánh có thể được giải thích rằng Ít-ra-en thuộc Á Châu nhưng lại chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hóa Âu Châu và những vùng phụ cận. Với Đức Giê-su, trong thời thơ ấu, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se đưa Người sang Ai-cập để tránh sự lùng bắt của Hê-rô-đê, phần còn lại trong hành trình dương thế của Người diễn ra trên miền đất Pa-lét-tin. Vào thời Đức Giê-su, những dân tộc ở Pa-lét-tin chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Hy-lạp và sự cai trị của đế quốc Rô-ma. Các tác giả sách Tin Mừng sống trong sự giao thoa của ba thực thể chính: (1) Về tôn giáo là Do-thái Giáo; (2) Về văn hóa là Hy-lạp; (3) Về chính trị là Rô-ma. Đặc biệt, Tin Mừng được loan báo chủ yếu sang Âu Châu trước khi lan rộng khắp hoàn cầu. Do đó, khi diễn tả Tin Mừng, nhất là khi đề cập đến tương quan giữa các thực thể, người ta thường dùng thuật ngữ hiệp thông (communion) hay hiệp nhất (unity) hơn là hòa hợp (harmony). Ngay cả hiện nay, thuật ngữ hòa hợp vẫn ít được sử dụng trong việc diễn tả nội dung đức tin Ki-tô Giáo.
Câu cửa miệng của người Do-thái khi gặp nhau hay tạm biệt là ‘שָׁלוֹם’ (shalom/ bình an). Shalom trong tiếng Do-thái còn có nhiều nghĩa khác như phồn thịnh, hoàn thành, phong nhiêu, yên tĩnh. Đặc biệt, shalom trong tiếng Do-thái được xem là từ gần nghĩa nhất với từ hòa hợp của Á Châu. Tương tự như hòa hợp, shalom cũng có nghĩa là sự cùng nhau (togetherness), tốt lành (goodness), toàn vẹn (wholeness) hay hoàn hảo (perfection), cân đối (balance). Thuật ngữ hòa hợp không xuất hiện cách minh nhiên trong Kinh Thánh bằng tiếng Do-thái hay tiếng Hy-lạp (bản gốc). Tuy nhiên, hàm ý của thuật ngữ này hiện diện trong hầu hết các sách của bộ Kinh Thánh cũng như Truyền Thống và Giáo Huấn của Giáo Hội qua dòng lịch sử. Không nghi ngờ gì nữa, hòa hợp là một trong những chủ đề trọng tâm của nội dung đức tin Ki-tô Giáo.
Với sự giao thoa ngày càng tăng giữa các nền văn hóa trên thế giới, trong các bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Do-thái và Hy-lạp (bản gốc) sang các ngôn ngữ hiện đại, thuật ngữ hòa hợp lại xuất hiện khá nhiều. Chẳng hạn, trong thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-xê, bản Kinh Thánh bằng tiếng Anh ‘the New Revised Standard Version’ dịch “ἐπὶ πᾶσιν δὲ τούτοις τὴν ἀγάπην, ὅ ἐστιν σύνδεσμος τῆς τελειότητος” là “above all, clothe yourselves with love, which binds everything together in perfect harmony” (Cl 3,14). Chúng ta thấy thuật ngữ hòa hợp (harmony) xuất hiện ở đây. Thực ra, ‘ὅ ἐστιν σύνδεσμος τῆς τελειότητος’ có thể được dịch là ‘which is a bond of perfection’, lại được dịch là ‘which binds everything together in perfect harmony’ [hòa hợp]. Trong sách Tông Đồ Công Vụ, bản Kinh Thánh bằng tiếng Anh ‘the New Jerusalem Bible’ dịch “καὶ τούτῳ συμφωνοῦσιν οἱ λόγοι τῶν προφητῶν, καθὼς γέγραπται” là “this is entirely harmony with the words of the prophets, since the scriptures say…” (Cv 15,15). ‘τούτῳ συμφωνοῦσιν’ có thể được dịch là ‘with this is in agreement’ lại được dịch là ‘this is entirely in harmony [hòa hợp]’. Như vậy, chúng ta thấy các dịch giả Kinh Thánh ý thức được tầm quan trọng của thuật ngữ hòa hợp cũng như hàm ý của thuật ngữ này và đã chuyển tải sứ điệp Kinh Thánh theo cách thức hội nhập văn hóa (inculturation) sao cho con người thời nay có thể lĩnh hội được nội dung mặc khải cách đầy đủ nhất. Cũng cần lưu ý rằng, trong Cv 15,15, động từ ‘συμφωνέω’ (symphôneô) là gốc của danh từ ‘symphony’. Tân Ước sử dụng từ này sáu lần với các nghĩa: Hợp lời (Mt 18,19); thỏa thuận, đồng ý (Mt 20,2.13), ăn khớp (Lc 5,36), đồng lòng (Cv 5,9), phù hợp (Cv 15,15).
Nội dung đức tin Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa sáng tạo mọi sự từ hư vô (2 Mcb 7,28). Sự hư vô (nothingness) được diễn tả qua những câu đầu tiên của sách Sáng Thế và cũng là những câu đầu tiên của bộ Kinh Thánh: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm” (St 1,1-2). Như vậy, chương trình sáng tạo diễn tả quyền năng của Thiên Chúa cho phép muôn vật muôn loài được hiện diện từ hư vô, từ trống rỗng, từ tối tăm. Với quyền năng của Thiên Chúa, cảnh hỗn mang (χάος/ chaos), cảnh hư vô trở thành trật tự và hòa hợp. Nói cách khác, với quyền năng của Thiên Chúa, sự hòa hợp đã chiến thắng hư vô và từ đây muôn vật muôn loài được hiện diện và vận hành theo chương trình của Thiên Chúa.
Nếu chúng ta ví vũ trụ như là bản nhạc thì mỗi thực thể trong vũ trụ là một nốt nhạc. Bản nhạc này chỉ có thể diễn tả chức năng đúng đắn khi các nốt nhạc hòa hợp với nhau. Trong vũ trụ, muôn vật muôn loài hòa hợp với nhau. Hòa hợp cho phép con người xác định căn tính của thực tại, đồng thời, xác định tương quan giữa các thực tại. Sự hòa hợp của vũ trụ (cosmic harmony), sự hòa hợp của đất trời, sự hòa hợp của muôn vật muôn loài, sự hòa hợp của con người trên bình diện cá nhân cũng như tập thể diễn tả sự hòa hợp của Thiên Chúa. Sản phẩm mang dấu ấn nhà sản xuất, thế giới thụ tạo mang dấu ấn Thiên Chúa, Đấng sáng tạo. Tuy nhiên, mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta nhận thức rằng con người đã vô ơn, kiêu ngạo nên tội lỗi xâm nhập trần gian. Vì tội lỗi, tương quan hòa hợp nguyên khởi giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau và với muôn vật muôn loài bị tổn thương, méo mó, biến dạng. Đó là lý do tại sao, xét về mặt vật lý hay thể lý, con người và vạn vật càng ngày càng tàn lụi theo thời gian.
Lịch sử thế giới thụ tạo, lịch sử nhân loại, cũng là lịch sử diễn tả tình thương của Thiên Chúa đối với con người và muôn vật muôn loài hầu biến đổi và quy tụ tất cả về với Thiên Chúa là Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối. Sách Xuất Hành cho chúng ta biết rằng khi Mô-sê hỏi tên của Thiên Chúa là gì, Thiên Chúa đáp ‘אֶהְיֶה אֲשֶׁר אֶהְיֶה’ / ‘ἐγώ εἰμι’/ ‘I am who I am’ (Ehyeh asher ehyeh/ ego eimi/ tôi là tôi) (Xh 3,14). Theo sách Thủ Lãnh, trong cảnh khó khăn, Đức Chúa đã đàm đạo với ông Ghít-ôn ở Óp-ra và an ủi ông, khuyến khích ông chu toàn sứ vụ là cứu Ít-ra-en khỏi tay quân Ma-đi-an. Sau khi ông Ghít-ôn dâng lễ vật lên Đức Chúa thì Đức Chúa phán: “Bình an cho ngươi! Đừng sợ: Ngươi không chết đâu” (Tl 6,23). Chính tại nơi này, ông đã xây bàn thờ kính Đức Chúa và ông gọi nơi này là Đức Chúa – Bình An (Tl 6,24). Như đã được đề cập ở trên, bình an (shalom trong tiếng Do-thái) gần nghĩa với hòa hợp. Do đó, Đức Chúa – Bình An cũng chính là Đức Chúa – Hòa Hợp.
Cùng với mặc khải Tân Ước, chúng ta có thể nhận thức rằng sự hòa hợp của Chúa Ba Ngôi (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần) là sự hòa hợp tuyệt đối, đồng thời là Nguồn Gốc, Tiêu Chuẩn và Cùng Đích của các hình thức hòa hợp trong thế giới thụ tạo. Mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng các Ngôi Vị Thiên Chúa luôn hòa hợp với nhau trong đời sống nội tại (ad intra) cũng như trong chương trình sáng tạo, cứu chuộc, thánh hóa con người và muôn vật muôn loài (ad extra). Thông thường, chúng ta nói rằng Chúa Cha sáng tạo, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thức rằng Ba Ngôi Thiên Chúa luôn hòa hợp với nhau trong mọi hoàn cảnh. Mầu nhiệm hòa hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa được Đức Giê-su diễn tả trong hành trình trần thế. Căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su cho phép chúng ta khẳng định rằng Người không chỉ là Đấng mang hòa hợp của Thiên Chúa cho gia đình nhân loại mà còn là Con Người Hòa Hợp giữa thế giới với muôn hình thức bất hòa hợp.
Nơi Đức Giê-su là sự hòa hợp huyền diệu giữa thiên tính và nhân tính. Nói cách khác, nơi Đức Giê-su là sự hòa hợp tuyệt đối giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính con người. Trong lịch sử hình thành các tín điều Ki-tô học, chúng ta thấy những lạc giáo phổ biến như: (1) Quá nhấn mạnh thiên tính của Đức Giê-su đến mức xem nhân tính của Người chỉ là ảo ảnh (Docetism); (2) Quá nhấn mạnh nhân tính của Đức Giê-su đến mức xem Người như là thụ tạo của Thiên Chúa (Arianism) hay (3) Đức Giê-su có hai ngôi vị riêng biệt liên quan đến hai bản tính, bản tính Thiên Chúa và bản tính con người (Nestorianism). Chúng ta có thể nói rằng những lạc thuyết này diễn tả căn tính Đức Giê-su cách bất hòa hợp. Trong khi đó, mặc dù không dùng từ hòa hợp, Công Đồng Can-xê-đô-ni-a (451 AD) tuyên tín cách hòa hợp về căn tính Đức Giê-su như sau: “Trong cùng một Đức Ki-tô duy nhất, là Đức Chúa, là Chúa Con duy nhất, chúng ta phải tin nhận có hai bản tính, không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn và hợp nhất trong cùng một ngôi vị duy nhất và một ngôi hiệp duy nhất”. Tuyên tín Ki-tô học của Công Đồng Can-xê-đô-ni-a là nền tảng cho những nghiên cứu, suy tư và khai triển căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su qua dòng lịch sử.
Sinh ra, lớn lên và hoạt động ở miền đất Pa-lét-tin, Đức Giê-su chứng kiến biết bao cảnh bất hòa hợp trong đời sống cá nhân, cộng đoàn, xã hội. Chẳng hạn, trong tuổi ấu thơ, Người phải cùng với cha mẹ trốn sang Ai-cập để tránh sự truy lùng của Hê-rô-đê; khởi đầu hành trình rao giảng, Người chịu ma quỷ cám dỗ; khi trở về Na-da-rét, Người đối diện với sự nghi kỵ của các đồng hương; nơi hội đường hay đền thờ Giê-ru-sa-lem, Người bị nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư chống đối; đến miền thôn quê, Người gặp gỡ những kẻ nghèo khổ, đau ốm, bệnh tật, bị quỷ ám. Trong mọi hoàn cảnh, Đức Giê-su minh chứng rằng sự hiện diện của Người là sự hiện diện của hòa hợp. Chẳng hạn, sau khi chịu phép rửa và trải qua bốn mươi đêm ngày chịu cám dỗ trong hoang địa, Người trở về Ga-li-lê. Sau đó, Người đến Na-da-rét và vào hội đường như những người Do-thái khác. Khi được trao sách ngôn sứ I-sai-a, mở sách ra, Người gặp đoạn này: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19; Is 61,1-3). Đức Giê-su nói với những người hiện diện: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Những người nghèo hèn, bị giam cầm, mù lòa, chịu áp bức là những người trong tình trạng bất hòa hợp. Đức Giê-su đến trần gian để đồng hành, chia sẻ và giải thoát họ. Đồng thời, Người mời gọi họ hướng về sự giải thoát chung cuộc khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết.
Đức Giê-su còn thực hiện nhiều điềm thiêng dấu lạ khác hầu minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa, Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối, mà đến và làm những công việc của Thiên Chúa. Chẳng hạn, khi giảng dạy tại Ca-phác-na-um, người ta đem đến cho Đức Giê-su một người bại liệt có bốn người khiêng. Vì đám đông, họ không thể đem người bại liệt đến gần Người nên đã dỡ mái nhà và đưa người bệnh đến ngay chỗ Đức Giê-su. Thấy lòng tin của họ, Đức Giê-su nói với người bệnh: “Này con, tội con được tha rồi” (Mc 2,5). Các kinh sư cho rằng Đức Giê-su nói phạm thượng vì chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Sau khi giải thích cho những người đó, Đức Giê-su nói với người bệnh: “Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà!” (Mc 2,11). Khi người bệnh thực hiện theo lời Đức Giê-su, mọi người vô cùng bỡ ngỡ và tôn vinh Thiên Chúa (Mc 2,12). Câu chuyện cho chúng ta thấy Đức Giê-su không chỉ quan tâm đến tình trạng bại liệt tâm hồn (tội lỗi) mà còn quan tâm đến tình trạng bại liệt thể xác của người bệnh và cho anh được khỏi. Nhờ Đức Giê-su, người bại liệt có được sự hòa hợp giữa ‘sức khỏe tâm hồn’ và ‘sức khỏe thể xác’. Tuy nhiên, Đức Giê-su cho thấy điều chính yếu không phải là sự hòa hợp xác – hồn của con người trong môi trường thế giới thụ tạo mà là sự hòa hợp xác – hồn trong môi trường vĩnh cửu.
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói riêng với các môn đệ rằng Người là Đường (Ga 14,6). Chúng ta có thể xác tín rằng Đường của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Đường Hòa Hợp. Tuy nhiên, Đường Hòa Hợp của Người không bao giờ vắng bóng những dị biệt, căng thẳng hay xung khắc. Dưới nhãn quan những người Rô-ma đang cai trị vùng Pa-lét-tin, Đức Giê-su đe dọa quyền bính của họ. Dưới nhãn quan của những người lãnh đạo tôn giáo Do-thái, Đức Giê-su gây xáo trộn truyền thống dân tộc. Trong khi đó, Đức Giê-su luôn giảng dạy mọi người sống tinh thần hòa hợp: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,38-42). Đối với nhiều người, Đường Hòa Hợp của Đức Giê-su khó có thể thực hiện được. Tuy nhiên, chính Đức Giê-su đã thực hiện và cao điểm là Biến Cố Thập Giá của Người.
Chúng ta biết rằng, vào thời Đức Giê-su, thập giá là công cụ trừng phạt rùng rợn mà con người nghĩ ra để hành xử tội nhân. Nói đến thập giá là nói đến đau khổ, hận thù, chết chóc. Hình ảnh thập giá là hình ảnh bất hòa hợp nhất trong môi trường nhân loại. Tuy nhiên, với Đức Giê-su, hình ảnh bất hòa hợp nhất lại trở thành hình ảnh hòa hợp, hòa giải giữa sự sống và sự chết, giữa tình yêu và hận thù, giữa Thiên Chúa và con người. Nhìn vào thập giá Đức Giê-su, chúng ta thấy rằng thanh đứng là dấu chỉ sự hòa hợp giữa con người và Thiên Chúa; thanh ngang là dấu chỉ sự hòa hợp giữa con người với nhau. Hòa hợp giữa con người với Thiên Chúa (chiều đứng) chỉ có thể thực hiện khi hòa hợp giữa con người với nhau (chiều ngang) được thi hành (Mt 5,16; Mc 12,31; Lc 6,31; Ga 15,12; 1 Ga 4,20). Theo thánh Phao-lô, “nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét” (Ep 2,16). Trên thập giá Đức Giê-su, Phi-la-tô cho viết dòng chữ “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái” bằng ba thứ tiếng: Do-thái, Hy-lạp và La-tinh (Ga 19,19). Khi cho viết như vậy, Phi-la-tô muốn kết án và sỉ nhục Đức Giê-su. Tuy nhiên, trong chương trình của Thiên Chúa, đây là dấu chỉ cho thấy chương trình cứu độ của Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện hướng tới sự hòa hợp của mọi người trong gia đình nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế.
Đức Giê-su chịu cảnh bất hòa hợp nhất trên thập giá đã được loan báo trong Cựu Ước (Is 53,7-10; Gr 11,18-20). Lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a cho mọi người biết rằng Đức Giê-su chính là Người Tôi Tớ Đau Khổ cho hòa hợp, hòa giải giữa lòng nhân thế: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (53,5). Dưới nhãn quan của thánh Phao-lô, cách thức Đức Giê-su mang lại hòa hợp cho gia đình nhân loại vượt quá tâm thức tôn giáo và triết lý của con người (1 Cr 1,22-23). Tại sao Đức Giê-su lại chọn cách thức hồi phục hòa hợp và diễn tả hòa hợp bi thương như vậy? Không ai có thể đưa ra câu trả lời xác đáng giúp thỏa mãn tâm trí con người khi Đức Giê-su lại chịu cảnh bất hòa hợp nhất trong môi trường thế giới thụ tạo.
Đức Giê-su là Con Người Hòa Hợp. Do đó, Tin Mừng của Người là Tin Mừng Hòa Hợp. Theo tác giả sách Tông Đồ Công Vụ, tại nhà viên đại úy có tên là Co-nê-li-ô, thánh Phê-rô nói: “Thiên Chúa đã gửi đến cho con cái nhà Ít-ra-en lời loan báo Tin Mừng bình an [hòa hợp], nhờ Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của mọi người” (Cv 10,36). Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết: “Đức Giê-su đã đến loan Tin Mừng bình an [hòa hợp]: Bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha” (Ep 2,17-18). Cũng trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô mời gọi họ trở thành những chứng nhân cho Tin Mừng Hòa Hợp của Đức Giê-su: “Hãy đứng vững: Lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an [hòa hợp]; hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin, nhờ đó anh em sẽ có thể dập tắt mọi tên lửa của ác thần” (Ep 6,14-16). Tiếp tục ý tưởng đó, Công Đồng Vatican II minh định: “Sứ điệp Phúc Âm hòa hợp với những cố gắng và khát vọng cao cả hơn của nhân loại, rực sáng lên ở thời đại chúng ta bằng luồng sáng mới, khi công bố phúc cho những người kiến tạo hòa bình ‘vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa’” (GS 77).
’Đức Giê-su là ai đối với Thiên Chúa, đối với con người và muôn vật muôn loài?’ vẫn luôn là câu hỏi quan trọng cho mọi người trong gia đình nhân loại. Kinh Thánh có hơn một trăm năm mươi hình ảnh, biểu tượng hay tước hiệu Đức Giê-su. Nếu hòa hợp là đặc tính cao quý mà mọi người trong gia đình nhân loại hằng mong ước, chúng ta có thể nói rằng những hình ảnh, biểu tượng hay tước hiệu này đều có thể diễn tả bằng ngôn ngữ hòa hợp, chẳng hạn, chúng ta có thể nói rằng: Đức Giê-su là Đức Chúa Hòa Hợp, Lời Hòa Hợp, Đấng Ki-tô Hòa Hợp, Con Người Hòa Hợp, Khôn Ngoan Hòa Hợp, Mục Tử Hòa Hợp, Chàng Rể Hòa Hợp, Đấng Giải Phóng Hòa Hợp, Đấng Trung Gian Hòa Hợp, Người Bạn Hòa Hợp, Tôi Tớ Đau Khổ Cho Hòa Hợp, Tư Tế Hòa Hợp, Ngôn Sứ Hòa Hợp, Tôn Sư Hòa Hợp, Hoàng Tử Hòa Hợp. Mỗi hình ảnh, biểu tượng hay tước hiệu của Người đều gắn liền với căn tính, đời sống và sứ mệnh hòa hợp, đồng thời, giúp chúng ta nhận ra tình yêu hòa hợp mà Người thực thi trong hành trình trần thế. Do đó, những ai đi Đường Hòa Hợp của Đức Giê-su thì được mời gọi quan tâm đến bốn hình thức hòa hợp căn bản sau đây: (1) Hòa hợp trong chính mình, (2) hòa hợp với người khác; (3) hòa hợp với muôn vật muôn loài và (4) hòa hợp với Thiên Chúa.
Về sự hòa hợp trong chính mình: Con người cần có sự hòa hợp giữa thể xác, tinh thần và tâm trí (body, spirit and mind) hay sự hòa hợp xác – hồn mới có thể được bình an, hạnh phúc thực sự. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng những người không có sự hòa hợp của các chiều kích nơi bản thân mình cũng là những người gây đau khổ cho người khác hay các hình thức cộng đoàn nơi họ sinh sống. Xét về thể lý, với thời gian, con người càng gần hơn với cái chết, tức là gần hơn với sự bất hòa hợp lớn lao nhất. Quả thật, cái chết của mỗi người hay sự phân rẽ xác – hồn dưới bất cứ hình thức nào có thể được xem là đỉnh điểm của sự bất hòa hợp (ultimate disharmony). Đó là lý do tại sao con người ham sống, sợ chết và tìm cách duy trì sự sống thể lý càng lâu càng tốt. Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng cái chết hay sự phân rẽ xác – hồn không tồn tại vĩnh viễn, bởi vì Thiên Chúa, Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối, cho phép sự hòa hợp nơi con người được tái tạo theo khuôn mẫu Đức Giê-su phục sinh. Con người trở thành thụ tạo mới, thụ tạo lành thánh và được chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa (Mt 25,34; Lc 19,11-27; 2 Pr 1,11; Cl 1,13).
Về hòa hợp với người khác: Giữa những khác biệt về nhiều mặt, chẳng hạn như môi trường văn hóa, truyền thống, xã hội, mọi người được mời gọi sống hòa hợp với anh chị em đồng loại và luôn xác tín rằng ‘không ai là một ốc đảo’ trên trần gian này. Căn tính, đời sống và sứ mệnh của mỗi người chỉ có thể được xác định trong tương quan với người khác. Mỗi người được mời gọi ‘sống với’, ‘sống cùng’ và ‘sống cho’ người khác. Đặc biệt, mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa sáng tạo, cứu độ và thánh hóa con người không phải như là những thực thể đơn lẻ nhưng là những thực thể trong cộng đoàn. Mỗi người cần ý thức sự hòa hợp giữa lợi ích bản thân và lợi ích của người khác cũng như lợi ích của các hình thức cộng đoàn mà mình đang hiện diện và hoạt động. Bằng không, lợi ích của bản thân sẽ bất hòa hợp hay xung khắc với lợi ích của người khác hay cộng đoàn. Các tương quan trong xã hội cần phải dựa trên sự hòa hợp lợi ích chung sao cho phẩm giá của mỗi cá nhân được tôn trọng, sự phát triển của cộng đoàn được thực hiện và tình liên đới giữa người với người được biểu lộ.
Về sự hòa hợp với muôn vật muôn loài: Như đã được đề cập ở trên, con người không phải là hữu thể độc lập với muôn vật muôn loài. Cái gọi là ‘con người’ và cái gọi là ‘muôn vật muôn loài’ lệ thuộc lẫn nhau. Như Đức Giê-su, con người mang lấy những yếu tố của thế giới thụ tạo. Do đó, con người được mời gọi thiết lập tương quan hòa hợp với muôn vật muôn loài, bởi vì thế giới thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên cho con người và vì con người. Do đó, con người không chỉ là ‘ông chủ’ của thế giới thụ tạo mà còn là ‘nhà quản lý’ thế giới thụ tạo. Điều này có nghĩa là con người không ngừng cộng tác với Thiên Chúa hầu làm cho thế giới thụ tạo ngày càng tốt đẹp hơn. Theo tác giả Thánh Vịnh: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,2). Quả thực, “ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8,4-5). Muôn vật muôn loài mang dấu ấn Thiên Chúa, dấu ấn của Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối. Các hình thức hòa hợp trong thế giới thụ tạo hướng về sự hòa hợp cánh chung, sự hòa hợp đích thực, sự hòa hợp mà ở đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” [ἵνα ᾖ ὁ θεὸς [τὰ] πάντα ἐν πᾶσιν] (1 Cr 15,28). Đó là lý do tại sao thánh Phao-lô khẳng định: “Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8,19).
Về sự hòa hợp với Thiên Chúa: Khi nói về sự hòa hợp giữa con người với Thiên Chúa, điều chúng ta cần quan tâm là tương quan giữa con người và Thiên Chúa không phải là tương quan ngang bằng hay tương quan hỗ trợ nhưng là tương quan lệ thuộc. Quả thực, con người hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa để hiện diện, tồn tại, phát triển và thành toàn trong Vương Quốc của Người. Con người chỉ có thể hòa hợp với Thiên Chúa khi nhận ra rằng mình cần hướng về Người trong mọi biến cố của cuộc sống. Con người hòa hợp với Thiên Chúa khi nhận thức rằng Thiên Chúa là Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối và Đức Giê-su, Con Thiên Chúa đã đi Đường Hòa Hợp để đến với gia đình nhân loại. Con người hòa hợp với Thiên Chúa khi đi trên Đường Đức Giê-su, Đường Hòa Hợp, trong hành trình trần thế này với niềm xác tín rằng Đường của Người đem lại sự hòa hợp trong đời sống cá nhân, đời sống cộng đoàn cũng như các tương quan khác của con người trong thế giới thụ tạo.
Giáo Hội là bí tích của Đức Giê-su, do đó, Giáo Hội là bí tích của Đường Hòa Hợp. Điều này có nghĩa rằng Giáo Hội là dấu chỉ và khí cụ của Đường Đức Giê-su giữa lòng nhân thế. Quả thực, căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su. Chẳng hạn, Giáo Hội loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng Hòa Hợp của Người cho anh chị em trong gia đình nhân loại. Giáo Hội cử hành các bí tích thánh hầu đem lại sự hòa hợp cho con người trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Giáo Hội hiện diện ở trần gian với mục đích đưa mọi người về với Nước Thiên Chúa, Nước Hòa Hợp Viên Mãn. Theo Công Đồng Vatican II: “Tiên vàn, Giáo Hội biết rằng sứ điệp của mình hòa hợp với những khát vọng thâm sâu nhất của tâm hồn người ta, khi Giáo Hội bảo vệ phẩm giá của ơn gọi con người, phục hồi niềm hy vọng cho những ai không còn hy vọng vào bất cứ gì cao xa hơn số mệnh hiện tại của mình” (GS 21). Là thành phần của Giáo Hội, Thân Thể mầu nhiệm Đức Giê-su, các Ki-tô hữu được mời gọi đi theo Đường của Người để được Người biến đổi và trở nên khí cụ đem lại hòa hợp cho bản thân, cho cộng đoàn cũng như tham dự vào sứ mệnh loan báo Tin Mừng Hòa Hợp cho mọi người.
Là bí tích của Đức Giê-su, Đường Hòa Hợp, Giáo Hội không chỉ là Giáo Hội giảng dạy (teaching Church) mà còn là Giáo Hội lắng nghe (listening Church) và là Giáo Hội học hỏi (learning Church) nữa. Nói cách khác, Giáo Hội luôn ý thức về sự hòa hợp giữa giảng dạy, lắng nghe và học hỏi, bằng không, Giáo Hội sẽ mất cơ hội đón nhận những gì hòa hợp, tốt đẹp, lành thánh nơi các nền văn hóa và truyền thống. Để được như vậy, Giáo Hội cần quan tâm đến tính bao gồm (inclusivity), tham dự (participation), đồng trách nhiệm (co-responsibility), cởi mở (openness), đối thoại (dialogue), hội nhập văn hóa (inculturation) trong đời sống cũng như sứ mệnh của mình. Đặc biệt, Giáo Hội cần hướng về Thiên Chúa để kín múc ánh sáng hòa hợp từ Người, đồng thời, hướng về mọi dân tộc trong các nền văn hóa để đón nhận và tích hợp những giá trị hòa hợp mà Thiên Chúa tặng ban cho họ.
Như đã được đề cập ở trên, mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng tội lỗi của con người dẫn đến biết bao hình thức bất hòa hợp trong lịch sử nhân loại. Niềm khao khát hòa bình, hòa hợp không bao giờ vắng bóng trong tâm thức của con người qua dòng lịch sử. Mặc khải Ki-tô Giáo cũng cho chúng ta biết rằng hòa hợp trước hết không phải là cố gắng của con người nhưng là ân ban của Thiên Chúa. Sự đóng góp cho hòa hợp xét về phía con người có chăng là nhờ lắng nghe, tin tưởng và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa rằng tự thân con người không thể đem lại hòa hợp đích thực cho bản thân, gia đình, xã hội hay bất cứ hình thức tập thể nào trong môi trường nhân loại. Điều đáng để chúng ta quan tâm là luôn ý thức rằng lịch sử nhân loại cũng là lịch sử Thiên Chúa diễn tả tình yêu của Người qua việc khôi phục con người và muôn vật muôn loài từ cảnh bất hòa hợp tới cảnh hòa hợp và dẫn đưa con người về với Nước Thiên Chúa.
Chúng ta đang sống giữa thế giới đa ngôn ngữ. Việc giao tiếp, trao đổi giữa người với người không phải lúc nào cũng dễ dàng. Tuy nhiên, ngôn ngữ hòa hợp là ngôn ngữ của tất cả mọi người. Ngôn ngữ hòa hợp là ngôn ngữ của kẻ mù chữ, của giới bình dân, của người khoa bảng. Ngôn ngữ hòa hợp là ngôn ngữ của bất cứ ngành khoa học nào trong gia đình nhân loại. Ở đâu ngôn ngữ hòa hợp được cổ vũ, được sử dụng, được thực hành, thì ở đó con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình. Ở đâu ngôn ngữ hòa hợp bị coi thường, ở đó con người phải đương đầu với biết bao hình thức bất hạnh. Trong bối cảnh hội nhập văn hóa (inculturation) và đối thoại liên tôn (interreligious dialogue) của thế giới hôm nay, ngôn ngữ hòa hợp phải là ngôn ngữ đóng vai trò chính yếu cho các cuộc gặp gỡ. Khi mọi người trong gia đình nhân loại ý thức rằng ngôn ngữ hòa hợp là ngôn ngữ chung và ai cũng gẫm suy, học hỏi, thực hành ngôn ngữ này thì chắc chắn rằng mọi người sẽ được bình an, hạnh phúc và thế giới sẽ được yên vui, thịnh vượng.
Con cái của gia đình nhân loại được mời gọi trở thành những người xây dựng hòa hợp (harmonymakers), cũng đồng nghĩa với xây dựng hòa bình (peacemakers). Trong Tám Mối Phúc mà Đức Giê-su công bố, Mối Phúc Thứ Bảy là “phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” [μακάριοι οἱ εἰρηνοποιοί, ὅτι αὐτοὶ υἱοὶ θεοῦ κληθήσονται] (Mt 5,9). Trong bối cảnh hội nhập văn hóa, từ hòa bình trong câu này có thể được thay bằng từ hòa hợp. Khi diễn tả Tám Mối Phúc, Đức Giê-su nói: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12). Quả thực, Đức Giê-su muốn những ai theo Người cần lắng nghe và đóng góp phần mình trong việc kiến tạo môi trường hòa hợp nơi mình hiện diện và hoạt động. Đức Giê-su cho mọi người biết rằng hòa hợp vừa là quà tặng của Thiên Chúa cho con người, vừa là tác vụ của con người trong việc cộng tác với Thiên Chúa hầu làm cho tinh thần hòa hợp ngày càng được hiển thị và thẩm thấu đến mọi chiều kích của đời sống cá nhân cũng như các tương quan xã hội. Ngỏ lời với đại diện các tôn giáo trên thế giới quy tụ tại Át-xi-di trong buổi kết thúc Ngày Cầu Nguyện cho Hòa Bình Thế Giới (27/10/1986), thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nhấn mạnh rằng: “Từ muôn phương, chúng ta tới Át-xi-di như là dấu chỉ của con đường chung mà loài người được mời gọi tiến bước. Hoặc chúng ta học cách đi cùng nhau trong bình an và hòa hợp hoặc chúng ta lìa xa nhau và hủy diệt chính mình cũng như những người khác.”
Nói đến hòa hợp là nói đến sự tôn trọng những gì khác biệt. Điều này có nghĩa rằng các thực tại có thể đi vào mối tương quan hòa hợp với nhau trong khi vẫn bảo toàn những nét đặc trưng của mình. Hòa hợp ‘tôn trọng’ sự đa dạng hay bản sắc của các thực tại. Nói cách khác, hòa hợp không có nghĩa là đồng nhất bởi vì hòa hợp ‘ủng hộ’ tính phân biệt khách quan của các thực tại. Hòa hợp không bao giờ là ‘bạn’ của những gì rập khuôn hay chủ nghĩa hổ lốn (syncretism) mà là ‘đồng minh’ của những gì đa dạng trong hiệp nhất hay trật tự trong đặc thù. Do đó, khi nói rằng Đường Đức Giê-su là Đường Hòa Hợp có nghĩa rằng Đường này không đe dọa, gây bất đồng hay xung khắc với những gì chân thực, tốt đẹp và lành thánh trong môi trường tôn giáo, văn hóa, truyền thống của muôn dân muôn nước trên mặt đất này. Đường Hòa Hợp của Đức Giê-su là Đường mở ra cho mọi người bất luận sự khác biệt về tôn giáo, văn hóa hay truyền thống. Hành trình trần thế của Đức Giê-su cũng là hành trình mời gọi mọi người ‘hãy đến mà xem’ Đường của Người hầu có thể nhận ra rằng đây chính là Đường nối kết Thiên Chúa với con người và muôn vật muôn loài.
Dưới nhãn quan chung của một số nền văn hóa Á Châu, hòa hợp thường được hiểu theo ‘chiều ngang’, nghĩa là tương quan quân bình ổn định hay cân đối bất tận giữa các thực thể tương đương nhưng trái chiều, trái dấu, chẳng hạn như tương quan âm và dương (陰 và 陽, yin và yang), trắng và đen, tốt và xấu. Dưới nhãn quan nội dung đức tin Ki-tô Giáo, như đã được trình bày ở trên, hòa hợp của muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo có tính tương đối và là ‘hòa hợp có hướng’, hướng về Thiên Chúa là Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối. Do đó, những xung khắc hay căng thẳng của muôn vật muôn loài cũng như con người trên bình diện cá nhân và tập thể là không tránh khỏi. Thay vì vội vã tìm cách thiết lập hòa hợp theo thiên kiến của mình, con người cần tập làm quen với những xung khắc hay căng thẳng. Con người cần tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, kiên nhẫn và hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn theo thánh ý Người. Như Đức Giê-su dặn các môn đệ cho phép lúa và cỏ lùng cùng tồn tại cho đến mùa gặt, con người cũng cần kiên nhẫn với những gì bất hòa hợp trong cuộc sống mình (Mt 13,24-30). Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta biết rằng con người không thể tự mình cùng lúc trả lời các câu hỏi hay đem lại sự hòa hợp tức thời cho mọi vấn đề nảy sinh.
Con người thường ‘sa chước cám dỗ’ muốn đưa ra giải pháp nhanh chóng cho mọi câu hỏi hay vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Tuy nhiên, thực tế lại không cho phép con người làm việc đó cách xứng hợp. Trong mọi hoàn cảnh, con người cần phải kiên nhẫn và tập cho mình khả năng cũng như thói quen thinh lặng cần thiết trước những sự vật, hiện tượng, biến cố khó có thể giải quyết rốt ráo trong một lúc, một thời hay một nơi nào đó. Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta biết rằng ai cũng ý thức được tầm quan trọng của hòa hợp trong đời sống cá nhân cũng như các hình thức cộng đoàn. Tuy nhiên, thay vì hướng lên Đức Giê-su và đi Đường Hòa Hợp của Người, mỗi người lại chiều theo ý riêng và muốn người khác xây dựng hòa hợp theo thiên kiến của mình. Hậu quả là sự bất hòa hợp nơi mỗi người và trong các hình thức cộng đoàn ngày càng gia tăng. Do đó, điều cần thiết là mọi người hãy hướng lên Đức Giê-su, Đường Hòa Hợp, để kín múc nguồn năng lực hòa hợp dồi dào nơi Người cho bản thân mình và cộng tác đắc lực với Người trong việc đem lại hòa hợp đích thực cho anh chị em đồng loại.
Tin Mừng Đức Giê-su là Tin Mừng Hòa Hợp và ngôn ngữ hòa hợp chính là ngôn ngữ của việc loan báo Tin Mừng. Quả thực, để có thể loan báo Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại, trước hết, người loan báo phải sống hòa hợp với họ, tôn trọng họ. Đức Giê-su đã ‘hội nhập’ hoàn toàn vào bối cảnh văn hóa của con người để gặp gỡ, lắng nghe và giúp con người nhìn sâu hơn, nhìn xa hơn tầm nhìn vốn có của mình. Đức Giê-su đã giúp mọi người mở rộng tâm hồn để đón nhận Thiên Chúa và mặc khải của Người cho gia đình nhân loại. Chúng ta không thể là nhân chứng cho Đường Hòa Hợp của Đức Giê-su nếu chúng ta không để Người hành động và biến đổi. Chúng ta hãy mở rộng tâm trí để đón nhận Người và xin Người cho chúng ta trở thành khí cụ đem lại hòa hợp cho anh chị em mình. Như vậy, trong việc loan báo Tin Mừng, các thành phần của Giáo Hội cần có tinh thần hòa hợp, tinh thần cộng đoàn. Thánh Giáo Hoàng Phao-lô VI viết: “Rao giảng Tin Mừng không phải là một việc làm cá nhân, lẻ loi, thuộc riêng một ai nhưng là một công việc của toàn thể Giáo Hội” (Evangelii Nuntiandi 60). Hơn nữa, những người loan báo Tin Mừng Đức Giê-su cần ý thức về sự tích hợp những yếu tố đem lại hòa hợp cho con người từ các nền văn hóa mới. Nói cách khác, việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người đi đôi với việc xác tín rằng những gì đem lại hòa hợp đích thực cho con người thì không xa lạ với Tin Mừng Hòa Hợp mà Đức Giê-su rao giảng và minh chứng bằng cuộc sống Người.
Lời cuối cùng của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là lời mời gọi các môn đệ đến với muôn dân muôn nước (Mt 28,18-20). Đức Giê-su không dặn các môn đệ rằng họ ở một chỗ để gọi người khác đến nhưng dặn họ ‘hãy đi’. Điều này hoàn toàn phù hợp với nghĩa của từ hòa hợp (ưu tiên là mũi tên đi ra) bởi vì hòa hợp luôn luôn giả định việc đến với người khác, đồng hành với họ và chia vui sẻ buồn với họ. Người ta sẽ đến với Tin Mừng, đến với Đức Giê-su khi ai đó có kinh nghiệm về Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cùng đi với họ. Hơn ai hết, thánh Phao-lô hiểu rõ và diễn tả đúng ý định của Thầy mình: “Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi? Như có lời chép: Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng!” (Rm 10,14-15). Trước hết, Đường Hòa Hợp của Đức Giê-su là ‘Đường hướng ngoại’. Ý tưởng này đáng được quan tâm, bởi vì nhiều lúc các Ki-tô hữu quan tâm đến ‘hướng nội’ hơn là ‘hướng ngoại’, muốn người khác đến với mình hơn là mình đến với họ như Thiên Chúa, như Đức Giê-su, luôn đi bước trước trong chương trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa con người cũng như muôn vật muôn loài. Do đó, để có thể hiệp thông hay hiệp nhất nên một (mũi tên đi vào) cần phải có hòa hợp (mũi tên đi ra). Nói cách khác, đi ra trước, đi vào sau. Đi ra và đi vào là hai thì của cùng một thực tại diễn tả cách thức Đức Giê-su đi ra (nhập thể) và đi vào (quy tụ) hầu biến đổi và dẫn đưa con người cũng như muôn vật muôn loài về với Thiên Chúa, Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối.
Chúng ta có thể kết luận rằng thuật ngữ hòa hợp không được sử dụng trong các bản gốc Kinh Thánh. Tuy nhiên, hàm ý của thuật ngữ này được diễn tả qua các hành động hay hành vi cũng như các thuật ngữ tương đương trong toàn bộ Kinh Thánh. Điều này cho phép chúng ta nhận thức tầm quan trọng của hòa hợp trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu. Đặc biệt, với thuật ngữ hòa hợp, chúng ta xác quyết rằng Thiên Chúa là Đấng Hòa Hợp Tuyệt Đối. Đức Giê-su là Con Người Hòa Hợp và cũng là Đường Hòa Hợp giữa lòng nhân loại. Nhờ Đường của Đức Giê-su, trời cao đất thấp gặp nhau; dân Do-thái và dân ngoại được liên kết; người thánh thiện và kẻ tội lỗi đều nằm trong ‘biên giới lòng thương xót Chúa’. Chính Đức Giê-su đã thiết lập Giáo Hội như là Bí Tích Hòa Hợp của Người để Giáo Hội tiếp tục là dấu chỉ và khí cụ hòa hợp đích thực trong gia đình nhân loại cho đến tận thế. Chúng ta có thể diễn tả mặc khải của Thiên Chúa theo ngôn ngữ hòa hợp như sau: (1) Thiên Chúa sáng tạo con người và muôn vật muôn loài trong cảnh hòa hợp; (2) Khi con người phạm tội cũng là khi con người làm méo mó, biến dạng các hình thức hòa hợp vốn có; (3) Thiên Chúa hứa ban Đức Giê-su, Con Người Hòa Hợp và cũng là Đường Hòa Hợp cho gia đình nhân loại; (4) Cựu Ước được xem là thời kỳ chuẩn bị cho sự xuất hiện của Đức Giê-su, (5) Tân Ước bắt đầu với sự hiện diện và hoạt động của Người, (6) Đức Giê-su đã thiết lập Giáo Hội, bí tích của Người, bí tích của Đường Hòa Hợp giữa lòng nhân loại; (7) Mọi người được mời gọi hiệp thông với Giáo Hội hầu đón nhận, sống và diễn tả Đức Giê-su, Đường Hòa Hợp, trong hành trình trần thế của mình.
2022
Bộ sưu tập hướng đến 400 năm Văn học Công giáo Việt Nam (1632-2032)
Bộ sưu tập hướng đến 400 năm Văn học Công giáo Việt Nam (1632-2032)
THƯ ĐỨC GIÁM MỤC QUI NHƠN
GỬI CÁC TÁC GIẢ BỘ SƯU TẬP
HƯỚNG ĐẾN 400 NĂM
VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM
Kính thưa quý tác giả,
Hầu hết các tôn giáo lớn tại Việt Nam đều du nhập từ nước ngoài, nhưng qua thời gian đã từng bước hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam và làm cho nó trở nên ngày càng thêm phong phú. Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng là tôn giáo lớn đã được du nhập vào Việt Nam chậm hơn so với các tôn giáo khác, nhưng ít ra cũng đã hơn 400 năm nếu tính mốc từ ngày các thừa sai dòng Tên cập bến Cửa Hàn năm 1615 và bắt đầu một công cuộc truyền giáo chính thức và có tổ chức.
Gần một nửa của thiên niên kỷ thứ II trôi qua kéo theo biết bao biến cố chính trị xã hội trên đất nước chúng ta, đã làm cho nền văn hóa Việt Nam có một bộ mặt như chúng ta thấy ngày hôm nay, trong đó có sự đóng góp không thể phủ nhận của đạo Công giáo. Mặc dù cụm từ “hội nhập văn hóa” là một thuật ngữ tương đối mới, nhưng ý nghĩa của nó luôn gắn liền với công cuộc truyền giáo qua mọi thời, nhằm mục đích làm cho Tin mừng thấm nhập vào nền văn hóa của mỗi dân tộc, đến độ đức tin Kitô giáo trở thành một phần không thể tách rời của nền văn hóa ấy. Công cuộc này được thực hiện qua việc những người loan báo Tin mừng chủ động tiếp cận, tìm hiểu, đón nhận, thanh lọc và hoàn thiện các hình thái văn hóa khác nhau theo tiêu chuẩn Tin mừng, để rồi sau đó sử dụng chúng như những phương tiện hữu hiệu làm cho Tin mừng dễ đi sâu vào lòng người, vào cuộc sống con người và xã hội.
Văn hóa là một thực thể bao trùm và chi phối toàn bộ cuộc sống của con người và xã hội. Theo định nghĩa về văn hóa của UNESCO được thông qua trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 06 tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô, thì văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Như vậy, văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục, tín ngưỡng và tôn giáo.
Với tính bao trùm như thế, văn hóa không tồn tại cách cụ thể như một thực thể độc lập, nhưng chỉ có thể hiện diện và được nhận diện qua những thực thể mà nó bao gồm trên đây, trong đó có các tác phẩm văn học. Giữa văn hóa và văn học có sự gắn bó mật thiết và tương quan biện chứng: có thể nói văn học vừa là tấm gương phản ánh văn hóa, vừa làm cho văn hóa trở nên phong phú qua những tác phẩm của nó. Văn học là một thành tố của văn hóa, nhưng là một thành tố cơ bản, bởi lẽ các tác phẩm văn học phản ánh nền văn hóa trên nhiều bình diện, từ phong tục tập quán, lối sống, đến các lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo,…
Đặc biệt, giữa văn học và tôn giáo có mối tương quan gần gũi, không những vì cả hai đều là những thành tố của văn hóa, mà còn vì giữa hai thực thể này có mối quan hệ hỗ tương. Một trong những diễn ngôn kinh điển nhất phát xuất từ tư tưởng Nho học là «văn dĩ tải đạo», nhấn mạnh đến chức năng giáo dục của văn học. Văn học được ví như một «xa khoa», tức một cỗ xe tinh thần có nhiệm vụ chuyên chở và chuyển tải các giá trị đạo đức đến cho con người, trong số đó phải kể đến các giá trị tâm linh của các tôn giáo. Về phần mình, các tôn giáo cũng cung cấp cho văn học không những các giá trị tâm linh, siêu việt, để làm chất liệu sáng tác và tạo nên những tác phẩm, mà còn cung cấp cho văn học những nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn. Trong ý nghĩa ấy, bộ Thánh Kinh của Kitô giáo vừa là một tác phẩm văn học, vừa là một tác phẩm tôn giáo, trong đó các tác giả vừa là những nhà văn và nhà thơ, vừa là những sứ giả của Thiên Chúa với một sứ mệnh rõ ràng mang tính tôn giáo.
Cũng như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, sau khi du nhập vào Việt Nam đã để lại những dấu vết trong nền văn học nước nhà, Công giáo mặc dù đến sau nhưng qua hàng mấy trăm năm chắc chắn cũng đã để lại những dấu vết riêng của mình. Phải chăng đã đến lúc cần phải suy tư, tìm kiếm và tổng hợp những dấu vết ấy để vẽ nên một bức tranh về một nền văn học Công giáo Việt Nam? Và phải bắt đầu từ đâu? Thao thức trước vấn đề này, linh mục Võ Tá Khánh, bút danh Trăng Thập Tự, trưởng ban Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn, đã có sáng kiến mời gọi quý tác giả cùng tham gia nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm về vấn đề này, từ đó hình thành quyển sách có tựa đề HƯỚNG ĐẾN 400 NĂM VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM (1632-2032).
Qua các bài nghiên cứu và chứng từ được thu tập trong quyển sách này, chúng tôi nhận thấy quý tác giả là những người có nhiều thao thức về văn học nước nhà, cách riêng về văn học Công giáo Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Làm thế nào để khám phá và đánh giá đúng mức về những tác phẩm Công giáo trong quá khứ, từ đó có thể khẳng định rằng nền văn học Công giáo đã thực sự tồn tại và đang phát triển đúng hướng, trong bối cảnh rộng lớn của nền văn học dân tộc vốn đã có một truyền thống lâu đời và phong phú?
Những bài viết của quý tác giả được sưu tập trong quyển sách này mặc dù đã ra đời trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả đều chất chứa một tâm trạng chung, là làm sao để ghi lại những suy nghĩ và những cảm nghiệm về một cái gì đó rất quan trọng đang hình thành, bằng những nét tuy còn chấm phá nhưng rất thật và rất đáng quan tâm, đó là một nền văn học Công giáo đang từng bước hình thành và phát triển, mà hơn ai hết quý tác giả là những người thợ thu hình vừa “có tâm” vừa “có tầm”, bởi lẽ không phải ai cũng có thể làm được điều đó, hoặc có nhiều người muốn làm nhưng không làm được.
Đọc xong các bài viết của quý tác giả, người ta có cảm nghiệm như một làn sương mờ buổi sớm đang dần tan biến để lộ ra một buổi sáng tinh khôi le lói ánh bình mình. Những tia sáng mà quý vị cống hiến trong tác phẩm này cho dù rất riêng tư vì chúng thuộc miền cảm nghiệm, nhưng lại có khả năng cống hiến cho mọi người một cảm giác nao nao về một cái gì đó rất tuyệt vời đang đến. Đó có thể là sự xuất hiện của những công trình biên soạn công phu mang tính tổng hợp và có giá trị trong một tương lai gần về văn học Công giáo Việt Nam với một chỗ đứng vững chắc trên nền văn học nước nhà. Mong thay!
Chúng tôi rất trân trọng những đóng góp của quý tác giả trong quyển sách này và muốn bày tỏ tâm tình biết ơn đối với quý vị. Kính chúc quý vị dồi dào sức khỏe và ngày càng có thêm những đóng góp mới cho tiền đồ của văn học Công giáo Việt Nam.
Qui Nhơn, ngày 04 tháng 11 năm 2021
+Matthêô Nguyễn Văn Khôi
Giám mục Giáo phận Qui Nhơn
2022
Thư chung Tết Nhâm Dần của Đức cha Alôisiô Nguyễn Hùng Vị – Giám mục Giáo phận Kon Tum
Thư chung Tết Nhâm Dần của Đức cha Alôisiô Nguyễn Hùng Vị – Giám mục Giáo phận Kon Tum
TOÀ GIÁM MỤC KONTUM
146 Trần Hưng Đạo – Kontum – Việt Nam
Số 25/VT/’22/Tgmkt
THƯ CHUNG
TẾT NHÂM DẦN
Kính gửi: Quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, quý Chủng sinh, và quý ông bà anh chị em trong gia đình Giáo phận.
Thưa anh chị em, tuy ba ngày Tết đã dần khép lại, nhưng năm mới Nhâm Dần chỉ mới bắt đầu. Tôi xin mượn những dòng chữ này, để cầu chúc các thành viên trong gia đình Giáo phận một Năm Mới Nhâm Dần nhiều niềm vui và phúc lành của Chúa. Như anh chị em đã biết, Giáo phận chúng ta vừa trải qua những ngày đau buồn vì sự ra đi quá đột ngột và đau thương của Cha Giuse Trần Ngọc Thanh, tu sĩ Dòng Đa Minh, người vừa được bổ nhiệm đặc trách giáo họ Sa Loong, thuộc giáo xứ Đăk Mót. Cho đến lúc này, vẫn còn nhiều uẩn khúc chung quanh sự việc thương tâm này. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi có thêm những thông tin liên quan, để tránh những hiểu lầm không đáng có, và nhất là để gia đình Giáo phận thêm hiệp thông trong lời cầu nguyện, tôi xin được có đôi lời với anh chị em.
Giáo họ Sa Loong lâu nay vốn thuộc giáo xứ Đăk Mót. Thời gian gần đây, giáo họ đang có những bước chuẩn bị để thành lập giáo xứ mới. Trong đó, có chương trình kêu gọi giúp đỡ để có thể xây dựng cho anh chị em nơi đây ngôi nhà thờ. Và để tiếp tục công việc của vị tiền nhiệm, Cha Giuse Thanh được bổ nhiệm về đây, thay thế cho người anh em cùng Dòng. Là một linh mục còn rất trẻ, Cha Giuse Thanh được biết đến là một con người ăn nói nhỏ nhẹ, hiền lành và dễ mến.
Sự việc đáng tiếc đã xảy ra vào chiều thứ bảy, 29/1/2022: anh Nguyễn Văn Kiên đã ra tay sát hại Cha Giuse Thanh, lúc Cha đang ngồi tòa giải tội sau thánh lễ. Vì vết thương trên đầu quá nặng, nên Cha Giuse Thanh đã không qua khỏi. Cha mất tại bệnh viện vào lúc 23g30 thứ bảy, ngày 29 tháng 01 năm 2022.
Tuy quá bất ngờ và rất bộn bề những ngày giáp Tết, quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân cũng đã thu xếp để đến thăm viếng, chia sẻ và dâng lễ cầu nguyện cho Cha Giuse Thanh tại Tu xá Dòng Đa Minh và tại nhà nguyện Plei Đon. Đặc biệt, gia đình Giáo phận cũng đã quây quần dâng lễ và tiễn biệt Cha, trước khi Cha được đưa về an táng tại Cộng đoàn Martinô Hố Nai, Biên Hoà (Gp. Xuân Lộc). Xin cảm ơn quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ cùng anh chị em.
Sáng mồng một Tết vừa qua (1/2/2022), Cha Simon Phan Văn Bình (nhà hưu Tòa Giám mục) cùng với Cha Gioan Baotixita Đỗ Thanh Tùng (chính xứ Đăk Mót) đã vào thăm Sa Loong và cùng với giáo dân cầu nguyện cho Cha Giuse Thanh chính nơi máu ngài đã đổ ra. Đồng thời, hai Cha cũng đã đến thăm gia đình anh Kiên, người đã ra tay sát hại Cha Giuse Thanh.
Anh Nguyễn Văn Kiên thuộc gia đình công giáo. Cha mẹ anh hiền lành, ngoan đạo. Anh có hai em trai và một em gái. Em gái học nội trú nhà các Soeurs. Tuy nhiên, bản thân anh Kiên thì lơ mơ, không sống đạo. Qua những thông tin có được từ cha mẹ anh Kiên, anh Kiên không phải là người điên khùng theo cách hiểu thông thường. Anh vẫn biết làm ruộng, làm rẫy, sửa xe,… Tuy nhiên, thỉnh thoảng, anh có thể nổi điên quậy phá, chửi bới, đập tivi, đánh đập ngay cả người nhà, thậm chí đập phá bàn thờ gia đình… Anh còn hoang tưởng bị người ta ức hiếp, ngăn cản không cho lấy vợ. Anh quát mắng mẹ anh khi bà phủ nhận lời anh nói như thế.
Kính thưa anh chị em, trên đây là một vài thông tin chúng tôi có được cho tới lúc này. Mong sao những uẩn khúc chung quanh biến cố đau thương này sớm được sáng tỏ.
Nói gì thì nói, máu người vô tội đã đổ! Trước nỗi mất mát này, là những người có niềm tin, ngoài những lời cầu nguyện dành cho Cha Giuse Thanh, ngoài những chia sẻ, ủi an và nâng đỡ dành cho gia đình Cha, cho Dòng Đa Minh, cách riêng cho các anh em Đa Minh đang phục vụ trên cánh đồng truyền giáo Kon Tum chúng ta, cho bà con giáo dân giáo họ Sa Loong, chúng ta được mời gọi sống chứng tá tình yêu và tha thứ. Mong sao hận thù và bạo lực lui xa, để yêu thương và hiệp nhất thêm tròn đầy, ngõ hầu “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên” (Tv 85,11).
Xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện cho Cha Giuse Thanh, cho gia đình Cha, cho các linh mục và tu sĩ nam nữ đang phục vụ trên cánh đồng truyền giáo Kon Tum chúng ta. Cũng xin anh chị em thương cầu nguyện cho tôi và cho gia đình Giáo phận thân yêu của chúng ta nữa.
Hiệp thông trong Đức Kitô.
Mùng 3 Tết năm Nhâm Dần (2022)
(đã ấn ký)
+ Aloisiô Nguyễn Hùng Vị
Giám Mục Giáo Phận Kon Tum
2022
Ba Ngày Tết – Ý nghĩa công giáo của Ba Ngày Tết
Ba Ngày Tết – Ý nghĩa công giáo của Ba Ngày Tết
I. Phúc – Lộc – Thọ
Ngày Tết, người ta thường cầu chúc cho nhau được ba điều ước mơ lớn nhất đó là: Phúc – Lộc – Thọ. Cái phúc của con người là công thành danh toại. Cái lộc không chỉ là con thảo cháu ngoan, mà còn là ơn trời mưa móc xuống muôn hồng ân cho gia đình dòng tộc, và thọ là tuổi già, sống lâu trăm tuổi, hay còn gọi là “bách niên giai lão”.
Ước mơ được sống hạnh phúc trường sinh bất tử là nỗi khao khát của con người vượt qua mọi thời đại. Dân tộc nào cũng ước mơ trường thọ, thời đại nào cũng mong được trường sinh bất tử. Dân tộc Việt Nam cũng biểu lộ sự khao khát trường sinh bất tử qua câu truyện Từ Thức lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Chỉ một thoáng ở chốn bồng lai tiên cảnh hạnh phúc êm đềm mà dài bằng cả đời người một trăm năm. Đến độ, Từ Thức khi trở về, chốn xưa đã không còn, người thân cũng chẳng còn ai. Hay có thể nói “chốn xưa mình ở, mà nay cũng chẳng còn biết mình”. Nỗi khao khát này còn được biểu lộ nơi chúng ta trong những dịp lễ tết đầu năm thường chúc nhau mạnh khỏe sống lâu, và trong đám cưới, người ta vẫn thường cầu chúc cô dâu chú rể trăm năm hạnh phúc.
II. Hiếu kính Cha Mẹ
Trong cuộc sống của chúng ta, không ai mà không mắc những sai lầm. Có những sai lầm thì sau đó được sửa chữa và trở nên bình thường. Nhưng có những sai lầm sau khi khắc phục rồi, nó vẫn còn để lại “một vết sẹo” mà khó có thể phai mờ được.
Có thể nói, “vết sẹo” mà chúng ta đã gây ra đối với đấng sinh thành, là đáng trách nhất. Vết sẹo đó sẽ mãi mãi ở bên chúng ta, khiến chúng ta luôn bị nhức nhối lương tâm mỗi khi nhớ đến nó. Như trong câu chuyện trên, chàng trai sau khi thức tỉnh, đã vô cùng ân hận, nhưng người cha đã không còn nữa để anh ta làm một cái gì đó, dù chỉ là một lời xin lỗi…
Ngày Tết là dịp để chúng ta về đoàn tụ bên các đấng sinh thành để xin lỗi, để cầu chúc các đấng an khang trường thọ.
Ngày Tết là dịp để con cái nhìn nhận tình thương của cha mẹ là tình thương không thể thiếu cho con bước đi trong cuộc đời.
Dầu rằng, Tình Cha, Tình Mẹ có khác nhau nhưng nhờ Ơn Cha, nhờ Nghĩa Mẹ mà con cái mới đứng vững trước những sóng gió cuộc đời.
Thực vậy, tình cảm của người cha không bao giờ như người mẹ.
Tình thương của cha luôn giấu kín trong lòng, đôi khi còn tỏ ra nghiêm nghị, cứng rằn mỗi khi dạy con. Cha giống như một thân cây vững chắc, bám rễ thật sâu dưới lòng đất để hút nhựa nuôi dưỡng cành lá, hoa, quả.
Mẹ là tình cảm, cha là lý trí, mẹ mềm lòng, cha phải giữ kỷ cương, mẹ chín bỏ làm người, cha phải cầm cân nảy mực. Cuộc sống đòi buộc cha lăn lộn với đời để kiếm tìm miếng cơm manh áo cho gia đình.
Cha thường xuyên phải xa gia đình, xa con cái, nên tình cảm đôi khi cũng lạt hơn mẹ.
Cha còn thẳng tay trừng phạt những đứa con thiếu ý chí vươn lên, lười biếng, vô dụng.
Cha luôn đòi đứa con phải tự bước đi trên đôi chân của mình, cho dù có té ngã, vẫn phải một mình đứng dậy. Đó chính là một tình thương mà chỉ có người cha mới rèn nên cho con tính đoan trang, tính mực thước và nghị lực khi bước vào đời vốn dĩ luôn ngập tràn những khó khăn.
Nhưng đáng tiếc, chỉ khi nào mất cha, người con mới cảm thấy mất núi Thái Sơn, mất đi cái nóc cột trụ gia đình.
Vâng, đời của những người làm con sẽ trở nên trống vắng lạc lõng vô cùng nếu như một ngày kia cha mẹ vĩnh viễn ra đi, bỏ lại thân xác trong nấm mồ cô đơn lạnh lẽo. Lúc đó, lòng con lại dâng trào một nỗi buồn mênh mông sâu lắng:
Cầu cho cha mẹ sống đời với con, đó là tâm nguyện của tất cả những người con dành cho cha mẹ. Bởi lẽ không có một tình con người nào sâu đậm, gắn bó, chân thành bằng tình cha mẹ yêu con, và càng không có một tình yêu nào trên trái đất này có thể thay thể được tình phụ mẫu yêu con, mà bài cầu cho cha mẹ của Linh mục Nguyễn duy đã lột tả.
“Này chúng con sinh vào đời nhờ có tay của mẹ cha. Là Thái Sơn cao xa cao xa, là Biển Đông bao la bao la, như một rừng hoa ngát hương cả bốn mùa. Ôi tình mẹ cha nói lên tình Chúa. Đời chúng con yên vui hân hoan, nhờ mẹ cha gian nan lo toan, trong giọt mồ hôi có chung cả máu hồng, luôn dạy lòng con biết câu mặn nồng.
Rồi lớn lên, con vào đời, gặp biết bao nhiêu người thương. Dù có ai hy sinh cho con. Dù được ai cho mâm cơm ngon, đi gần về xa, thấy đâu một mái nhà, như nhà mẹ cha thiết tha từ ấy. Rồi lớn lên, con xây non cao, vượt biển khơi bay lên trăng sao. Khi về nhà xưa với cha và với mẹ, vẫn là trẻ thơ bé như ngày nào”
Vâng, lời ca như muốn mời gọi chúng ta hãy sống trọn tình con thảo ngay từ hôm nay. Hãy sống ngoan hiền bên những người cha mẹ đang còn trẻ để hưởng nếm giây phút ngọt ngào mà ai đó nói rằng: là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày.
Hãy sống thảo hiếu, quan tâm chăm sóc các đấng sinh thành khi đã còng lưng vì một đời lam lũ cho đoàn con.
Vâng, hãy tạ ơn Chúa đi, hãy sống cho trọn vẹn đạo làm con, trọn nghĩa tình với cha mẹ mình, vì cha mẹ là món quà thiêng liêng và quí giá nhất, tình cha mẹ là cái gì rất cao siêu lành thánh, mà lại thật thân mật gần gũi, được Chúa dành cho chúng ta.
Nguyện xin Chúa chúc lành và trả công cho các bậc sinh thành và ước gì những ngừơi con hôm nay đang vinh dự được chúc mừng tuổi mới của cha mẹ, thì cũng biết sống hiếu thảo để đền đáp ân nghĩa cù lao chín chữ mà cha ông ta đã từng khuyên răn rằng:
III. Mọi sự đều nhờ ơn Chúa
Ngày Mồng Ba Tết, chúng ta dành để dâng lên Chúa những dự định và tương lai của chúng ta. Chúng ta xác tín rằng mọi sự đều nhờ ơn Chúa, vì “nếu Chúa không xây nhà thì thợ nề vất vả cũng bằng uổng công”.
Thực vậy, nhìn lại năm 2010 với biết bao thiên tai giáng xuống địa cầu, cho chúng ta thấy con người thật nhỏ bé trước bao sóng gió của thiên nhiên. Con người cần phải có ơn Chúa để gìn giữ, chúc lành cho chúng ta một năm bình an.
Vâng, có thể nói năm 2010 đã vụt qua, nhưng đã để lại nỗi hãi hùng cho con người với những trận thiên tai kinh thiên động địa nhất.
Xin được lướt qua những thiệt hại về nhân mạng cũng như vật chất:
1) Trận động đất 7 độ Richter ở Haiti xảy ra ngày 24-01, đã giết chết 230,000 người, hơn 300,000 người bị thương và hơn một triệu người màn trời chiếu đất. Ðến nay, một năm sau, vẫn chưa hồi phục dù thế giới đã đổ hàng tỷ đô-la vào xứ sở nghèo đói bệnh tật này.
2) Ngày 27-2, lại một trận động đất mạnh tới 8.8 độ Richter, đã xảy ra ở vùng duyên hải Chí Lợi (Chile), rung chuyển 6 tiểu bang lớn và một phần của Á Căn Ðình. Ðộng đất kéo theo sóng thần, quét qua các thị trấn ven biển, khiến 500 người thiệt mạng, hơn 200.000 người mất nhà cửa, gây thiệt hại 30 tỷ đô.
3) Ngày 21-3, núi lửa ở Băng đảo (Iceland) bỗng nhiên thức giấc sau 200 năm, phun bụi và khói ngập trời khiến hàng ngàn người phải di tản. Thiên tai này đã ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động hàng không, làm cho 100.000 chuyến bay của các nước Âu Châu bị hủy bỏ và 8 triệu hành khách bị mắc kẹt ở các sân bay trong suốt 6 ngày, thiệt hại gần 2 tỷ đô-la.
4) Tháng Bảy, sau những trận mưa dai dẳng đã gây ra lụt lội tại Pakistan. Trận mưa lụt này được coi là thiên tai lớn nhất trong 100 năm tại Pakistan. Một phần năm (1/5) diện tích quốc gia này đã chìm trong biển nước, hơn 2.000 người bị cướp đi sinh mạng. Con số này còn tăng cao vì dịch bệnh, gây thiệt hại lên tới 10 tỷ đô-la, khiến ít nhất 9 triệu người, trong đó phần lớn là trẻ em, lâm vào cảnh đói khát.
5) Cũng vào tháng Bảy, nóng chưa từng có đã kéo theo nạn cháy rừng nhiều nơi ở Nga. Bầu trời thủ đô Moscow bị bao phủ khói đen, nhiều chuyến bay đã bị hủy bỏ. Hỏa hoạn và cháy rừng làm cho 50 người thiệt mạng và 3.000 người mất nhà cửa. Nguyên nhân của thảm họa cháy rừng là do mức nhiệt độ lên cao kỷ lục trong hơn 100 năm qua.
Ðó là những trận thiên tai lớn đã xẩy ra trong năm 2010, khiến thế giới phải lo ngại sẽ tạo thêm khủng hoảng tài chánh, vì hai năm qua kinh tế thế giới đã gặp nhiều khó khăn chưa giải quyết nổi. Các nhà tiên tri cho rằng, năm 2010 chỉ là năm bắt đầu của những thiên tai, bệnh tật mà nhân loại sẽ phải gánh chịu vào những năm kế tiếp.
Người Việt thì nói rằng: mỗi năm, làm ăn càng ngày càng khó khăn hơn. Người đông của ít, khiến con người phải bon chen vật lộn với cuộc sống nhiều hơn. Thêm vào đó lại thiên tai, lũ lụt, thời tiết khắc nghiệt khiến ngành chăn nuôi, trồng cấy càng mong manh. Như dịch bệnh cùm gia gia cầm, dịch tai xanh .. . tràn lan suốt năm qua.
Hôm nay, Ngày Đầu Năm, chúng ta hướng về Cha trên trời, là Đấng làm chủ mọi loài, là Đấng quan phòng kỳ diệu, xin Chúa chúc lành cho chúng ta một năm bình an hạnh phúc, một năm an khang thịnh vượng.
Xin Chúa chúc lành cho những dự định tương tai của chúng ta được thành toàn.
Chúng ta hãy trao vào tay Chúa những lo toan vất vả của đời người.
Chúng ta hãy bước đi trong sự tín thác vào tình thương quan phòng của Chúa.
Xin Chúa là Chúa của mùa xuân chúc lành cho những ước nguyện đầu xuân của chúng ta.
Amen
Linh mục Giuse Tạ Duy Tuyền
