2021
Từ bỏ Thiên Chúa, sự suy giảm của tôn giáo khắp hoàn cầu
Từ bỏ Thiên Chúa, sự suy giảm của tôn giáo khắp hoàn cầu
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, tôn giáo dường như đang trên đà phát triển. Sự sụp đổ của cả chủ nghĩa cộng sản và Liên bang Xô viết đã để lại một khoảng trống ý thức hệ đang được lấp đầy bởi Kitô giáo Chính thống ở Nga và các quốc gia hậu Xô Viết khác. Cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ của Tổng thống George W. Bush, một Kitô hữu theo đạo Tin lành, người không giấu giếm lòng mộ đạo của mình, gợi ý rằng Kitô giáo Tin lành đang xuất hiện như một lực lượng chính trị trong nước. Và vụ tấn công 11/9 đã hướng sự chú ý của quốc tế vào sức mạnh của Hồi giáo chính trị trong thế giới Hồi giáo.
Cách đây chục năm, tôi và đồng nghiệp Pippa Norris đã phân tích các dữ kiện về xu hướng tôn giáo ở 49 quốc gia, bao gồm một số vùng lãnh thổ nhỏ như Bắc Ái Nhĩ Lan, nhờ đó, bằng chứng thăm dò từ năm 1981 đến năm 2007 đã sẵn có (những quốc gia này chứa 60% dân số thế giới). Chúng tôi không tìm thấy sự hồi sinh phổ biến của tôn giáo, bất chấp những tuyên bố về điều đó – hầu hết các quốc gia có thu nhập cao trở nên ít tôn giáo hơn – nhưng chúng tôi nhận thấy ở 33 trong số 49 quốc gia mà chúng tôi nghiên cứu, mọi người trở nên sùng đạo hơn trong những năm đó. Điều này đúng ở hầu hết các nước cộng sản trước đây, ở hầu hết các nước đang phát triển, và thậm chí ở một số nước có thu nhập cao. Các phát hiện của chúng tôi đã làm rõ rằng kỹ nghệ hóa và việc truyền bá kiến thức khoa học không làm cho tôn giáo biến mất, như một số học giả đã từng giả định.
Nhưng kể từ năm 2007, mọi thứ đã thay đổi với một tốc độ đáng ngạc nhiên. Từ khoảng năm 2007 đến năm 2019, phần lớn các quốc gia chúng tôi đã nghiên cứu — 43 trong số 49 — trở nên ít tôn giáo hơn. Sự suy giảm niềm tin không chỉ giới hạn ở các quốc gia có thu nhập cao nhưng xuất hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Càng ngày nhiều người càng không còn thấy tôn giáo là nguồn hỗ trợ cần thiết và có ý nghĩa trong cuộc sống của họ. Ngay cả Hoa Kỳ – từ lâu đã được coi là bằng chứng cho thấy một xã hội tiên tiến về kinh tế vẫn có thể có tính tôn giáo mạnh mẽ – hiện đã cùng các nước giàu có khác rời bỏ tôn giáo. Một số lực lượng đang thúc đẩy xu hướng này, nhưng lực lượng mạnh mẽ nhất là sự suy yếu của một tập hợp các niềm tin liên kết chặt chẽ với yêu cầu duy trì sinh suất cao. Các xã hội hiện đại đã trở nên ít tôn giáo hơn một phần vì họ không còn cần phải duy trì các loại chuẩn mực về phái tính và giới tính mà các tôn giáo lớn trên thế giới đã khắc ghi trong nhiều thế kỷ.
Mặc dù một số người bảo thủ tôn giáo cảnh cáo rằng việc rút lui khỏi đức tin sẽ dẫn đến sự sụp đổ của tính gắn kết xã hội và đạo đức công cộng, nhưng bằng chứng không ủng hộ lập trường này. Xem ra có vẻ bất ngờ, nhưng các quốc gia ít tôn giáo thực sự có xu hướng ít thối nát hơn và có tỷ lệ giết người thấp hơn các quốc gia nhiều tôn giáo hơn. Không cần phải nói, bản thân tôn giáo không khuyến khích thối nát và tội phạm. Hiện tượng này phản ảnh sự kiện này là khi các xã hội phát triển, sự sống còn trở nên an toàn hơn: nạn đói, trước đây vốn tràn lan, trở nên không phổ biến; tuổi thọ tăng lên; giết người và các hình thức bạo lực khác giảm dần. Và khi mức độ an ninh này tăng lên, mọi người có xu hướng trở nên ít tôn giáo hơn.
SỰ THĂNG TRẦM CỦA ĐỨC TIN
Nghiên cứu trước đó của chúng tôi, được công bố năm 2011, đã so sánh mức độ niềm tin tôn giáo được đo lường từ đầu năm 1981 với những phát hiện từ các cuộc thăm dò mới nhất có sẵn lúc đó, từ khoảng năm 2007, bao gồm khoảng một phần tư thế kỷ. Trong mỗi cuộc khảo sát, những người trả lời được yêu cầu cho biết Thiên Chúa quan trọng như thế nào trong cuộc sống của họ bằng cách chọn một giá trị trên thang điểm từ 1 – “Không quan trọng chút nào” – đến 10 – “Rất quan trọng”.
Việc khảo sát mức độ tôn giáo của một quốc gia thay đổi như thế nào theo thời gian đã dẫn đến một số phát hiện nổi bật. Đa số các quốc gia được thăm dò đều cho thấy một sự gia tăng niềm tin vào tầm quan trọng của Thiên Chúa. Mức tăng lớn nhất là ở các nước cộng sản trước đây. Thí dụ, từ năm 1981 đến năm 2007, điểm trung bình của công chúng Bulgaria đã tăng từ 3.6 lên 5.7. Ở Nga, nó đã tăng từ 4.0 lên 6.0. Một phần, sự gia tăng lòng đạo này là phản ứng đối với sự suy giảm nghiêm trọng của an ninh kinh tế, thể lý và tâm lý cảm thấy sau khi Liên bang Xô viết tan rã; tôn giáo đã lấp đầy khoảng trống ý thức hệ do sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản để lại. Các niềm tin tôn giáo cũng tăng lên ở nhiều nước đang phát triển bên ngoài Liên Xô cũ, bao gồm Brazil, Trung Quốc, Mexico và Nam Phi. Mặt khác, tôn giáo suy giảm ở hầu hết các quốc gia có thu nhập cao.
Kể từ năm 2007, đã có một xu hướng xa rời tôn giáo rõ rệt. Ở hầu hết mọi quốc gia có thu nhập cao, tôn giáo tiếp tục suy giảm. Đồng thời, nhiều quốc gia nghèo, cùng với hầu hết các quốc gia cộng sản trước đây, cũng trở nên ít tôn giáo hơn. Từ năm 2007 đến 2019, chỉ có năm quốc gia trở nên tôn giáo hơn, trong khi phần lớn các quốc gia được nghiên cứu đi theo hướng ngược lại.
Ấn Độ là ngoại lệ quan trọng nhất đối với khuôn mẫu suy giảm tín ngưỡng chung. Thời gian của cuộc nghiên cứu gần trùng hợp với sự trở lại nắm quyền của Đảng Bharatiya Janata theo chủ nghĩa dân tộc Hindu, đảng mà khẩu hiệu chính trị là tìm cách kết hợp bản sắc dân tộc với bản sắc tôn giáo. Chính phủ của Đảng Bharatiya Janata đã ủng hộ các chính sách phân biệt đối xử chống lại những người theo các tôn giáo khác, đặc biệt là dân tộc thiểu số Hồi giáo lớn của Ấn Độ, bằng cách phân cực các cộng đồng và thúc đẩy các tình cảm tôn giáo.
Sự chuyển dịch mạnh mẽ nhất xa rời tôn giáo đã diễn ra trong công chúng Mỹ
Một sự chuyển dịch mạnh mẽ xa rời tôn giáo đã diễn ra trong công chúng Mỹ. Từ năm 1981 đến năm 2007, Hoa Kỳ được xếp hạng là một trong những quốc gia có nhiều tinh thần tôn giáo hơn trên thế giới, với mức độ tín ngưỡng thay đổi rất ít. Kể từ đó, Hoa Kỳ đã cho thấy một trong những chuyển dịch lớn nhất xa rời tôn giáo của bất cứ quốc gia nào mà chúng tôi có dữ kiện. Gần cuối giai đoạn đầu được nghiên cứu, xếp hạng trung bình của người Mỹ về tầm quan trọng của Thiên Chúa trong cuộc sống của họ là 8.2 trên thang điểm mười. Trong cuộc thăm dò gần đây nhất về Hoa Kỳ, từ năm 2017, con số này đã giảm xuống còn 7.0. Trong nhiều năm, Hoa Kỳ là trường hợp chủ chốt chứng minh rằng việc hiện đại hóa kinh tế không cần thiết phải tạo ra việc thế tục hóa. Theo thước đo này, Hoa Kỳ hiện được xếp hạng là quốc gia ít tôn giáo thứ 32 mà chúng tôi có dữ kiện.
Các nhà tư tưởng có ảnh hưởng từ Karl Marx, Max Weber đến Émile Durkheim đã tiên đoán rằng sự truyền bá kiến thức khoa học sẽ xua tan tôn giáo trên toàn thế giới, nhưng điều đó đã không xảy ra. Đối với hầu hết mọi người, đức tin tôn giáo có tính xúc cảm hơn là nhận thức. Và trong phần lớn lịch sử loài người, sự sống còn vẫn luôn là điều không chắc chắn. Tôn giáo cung cấp sự bảo đảm này là thế giới nằm trong tay của một quyền lực (hoặc những quyền lực) cao hơn và không thể sai lầm, Đấng từng hứa rằng, nếu người ta tuân theo các quy tắc, mọi sự cuối cùng sẽ diễn ra tốt đẹp nhất. Trong một thế giới mà mọi người thường sống với cảnh gần chết đói, tôn giáo đã giúp họ đối phó với sự bất ổn và căng thẳng nghiêm trọng. Nhưng khi sự phát triển kinh tế và kỹ thuật diễn ra, con người ngày càng có thể thoát khỏi nạn đói, chống chọi với bệnh tật và đàn áp bạo lực. Họ trở nên ít phụ thuộc hơn vào tôn giáo – và ít sẵn sàng chấp nhận những ràng buộc của tôn giáo, bao gồm cả việc giữ phụ nữ ở trong bếp và những người đồng tính trong nơi kín đáo – khi sự bất an của đời sống giảm đi và tuổi thọ tăng lên.
Việc thế tục hóa không xảy ra ở mọi nơi cùng một lúc; nó xảy ra khi các quốc gia đã đạt được mức sống an ninh cao, và thậm chí sau đó nó thường di chuyển với tốc độ hết sức chậm, khi thế hệ này thay thế thế hệ khác. Nó thậm chí có thể tự đảo ngược, với các xã hội trở nên tôn giáo hơn nếu họ trải qua thời gian suy giảm an ninh kéo dài. Quá trình thế tục hóa đã dần diễn ra kể từ thế kỷ XIX, bắt đầu từ những xã hội Tây Âu và Bắc Mỹ vốn được an toàn nhất về kinh tế và thể lý, sau đó ngày càng lan rộng ra nhiều nơi trên thế giới.
Mặc dù việc thế tục hóa thường xảy ra cùng tốc độ với việc thay thế dân số liên thế hệ, nhưng nó có thể đạt đến điểm có những thay đổi trọng yếu khi ý kiến đương thịnh thay đổi và bị ảnh hưởng bởi các lực lượng của chủ nghĩa thủ cựu (conformism) và ý thích xã hội, người ta bắt đầu ủng hộ quan điểm mà họ từng phản đối — tạo ra sự thay đổi văn hóa đặc biệt nhanh chóng. Các nhóm trẻ hơn và có trình độ học vấn tốt hơn ở các quốc gia có thu nhập cao gần đây đã đạt đến mức này.
ĐÁNH MẤT TÔN GIÁO
Một số nhân tố khác ngoài trình độ phát triển kinh tế và kỹ thuật đang gia tăng giúp giải thích sự suy sụp của tôn giáo. Tại Hoa Kỳ, chính trị chiếm một phần trong sự suy giảm này. Kể từ những năm 1990, Đảng Cộng hòa đã tìm cách giành được sự ủng hộ bằng cách áp dụng các quan điểm bảo thủ của Kitô giáo về hôn nhân đồng tính, phá thai và các vấn đề văn hóa khác. Nhưng lời kêu gọi chính trị này đối với các cử tri tôn giáo đã có một hệ quả tất yếu là đẩy các cử tri khác, nhất là những người trẻ và cấp tiến về văn hóa, rời xa tôn giáo. Trước đây, người ta thường cho rằng niềm tin tôn giáo định hình quan điểm chính trị, chứ không phải ngược lại. Nhưng bằng chứng gần đây cho thấy mối tương quan nhân quả có thể diễn ra theo hướng khác: các nghiên cứu hội thào đã phát hiện ra điều này là nhiều người thay đổi quan điểm chính trị của họ trước rồi sau đó trở nên ít tôn giáo hơn.
Việc ủng hộ mà không cần phê phán Tổng thống Donald Trump – một nhà lãnh đạo không thể được mô tả như một hình mẫu của nhân đức Kitô giáo – của nhiều người Tin Lành nổi tiếng đã khiến những người người Tin Lành khác lo sợ rằng những người trẻ tuổi sẽ bỏ nhà thờ của họ hàng loạt, tăng tốc một xu hướng đang diễn ra. Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo Rôma đã mất đi tín đồ vì những cuộc khủng hoảng của chính họ. Đầu năm nay, Trung tâm Nghiên cứu Pew phát hiện ra rằng 92% người trưởng thành ở Mỹ biết rõ các báo cáo gần đây về lạm dụng tình dục của các linh mục Công Giáo, và khoảng 80% những người được thăm dò cho biết họ tin rằng những vụ lạm dụng này là “những vấn đề liên tục vẫn đang diễn ra”. Thành thử, 27 phần trăm người Công Giáo Hoa Kỳ được thăm dò ý kiến nói rằng họ đã giảm bớt việc tham dự Thánh lễ như một phản ứng đối với những báo cáo này.
Nhưng có lẽ động lực quan trọng nhất đằng sau diễn trình thế tục hóa là một sự chuyển đổi liên quan đến các chuẩn mực điều hòa khả năng sinh sản. Trong nhiều thế kỷ, hầu hết các xã hội giao cho phụ nữ vai trò sinh ra càng nhiều con càng tốt và không khuyến khích ly hôn, phá thai, đồng tính luyến ái, ngừa thai và bất cứ hành vi tình dục nào không liên quan đến sinh sản. Các trước tác tâm linh của các tôn giáo lớn trên thế giới khác nhau rất nhiều, nhưng như tôi và Norris đã chứng minh, hầu như tất cả các tôn giáo trên thế giới đều truyền dạy những chuẩn mực ủng hộ khả năng sinh sản này nơi các tín hữu của họ. Các tôn giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng sinh sản vì nó là cần thiết. Trong thế giới tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao và tuổi thọ thấp vẫn phổ biến cho đến gần đây, trung bình một phụ nữ phải sinh từ năm đến tám đứa con chỉ để thay thế dân số.
Trong thế kỷ 20, ngày càng có nhiều quốc gia đạt được tỷ lệ giảm đáng kể tử vong ở trẻ sơ sinh và kỳ vọng sống cao hơn, khiến những chuẩn mực văn hóa truyền thống trê không còn cần thiết nữa. Diễn trình này không diễn ra trong một sớm một chiều. Các tôn giáo lớn trên thế giới đã trình bày các quy tắc ủng hộ sinh sản như là các quy tắc đạo đức tuyệt đối và kiên quyết chống lại sự thay đổi. Người ta dần dần từ bỏ những niềm tin và vai trò xã hội quen thuộc mà họ đã biết từ thời thơ ấu liên quan đến giới tính và tác phong tình dục. Nhưng khi một xã hội đạt đến mức an ninh kinh tế và vật chất đủ cao, các thế hệ trẻ lớn lên coi sự an toàn đó là điều hiển nhiên, và các tiêu chuẩn xung quanh mức sinh dần mất đi. Các ý tưởng, thực hành và luật lệ liên quan đến bình đẳng phái tính, ly hôn, phá thai và đồng tính luyến ái hiện đang thay đổi nhanh chóng.
Sự thay đổi trên có thể định lượng được. Dữ kiện được thu thập trong cuộc Khảo sát Giá trị Thế giới trong những năm qua cung cấp cái nhìn sơ lược về một biến đổi sâu xa. Cuộc khảo sát sử dụng thang điểm mười dựa trên mức độ chấp nhận ly hôn, phá thai và đồng tính luyến ái của mỗi quốc gia. Điểm chủ yếu ở khoảng giữa thang điểm, tức 5.50: điểm thấp hơn cho thấy phần lớn người dân trong nước có các quan điểm bảo thủ hơn và điểm cao hơn cho thấy phần lớn có quan điểm tự do hơn, tập chú vào sự lựa chọn của cá nhân. Vào khoảng năm 1981, phần lớn ở mọi quốc gia mà chúng tôi có dữ kiện đều ủng hộ các chuẩn mực phò sinh sản. Ngay ở các quốc gia có thu nhập cao, điểm trung bình lên xuống từ mức thấp như 3.44 (Tây Ban Nha), 3.49 (Hoa Kỳ), 3.50 (Nhật Bản), 4.14 (Vương quốc Anh) và 4.63 (Phần Lan) đến mức cao nhất là 5.35 cho Thụy Điển – khi đó là quốc gia tự do nhất nhưng với điểm số vẫn thấp hơn một chút so với điểm chủ yếu của thang điểm. Nhưng một sự thay đổi sâu xa đang diễn tiến. Đến năm 2019, điểm trung bình của Tây Ban Nha đã tăng lên 6.74, Hoa Kỳ là 5.86, Nhật Bản là 6.17, Vương quốc Anh là 6.90, Phần Lan là 7.35 và của Thụy Điển là 8.49. Tất cả các quốc gia này đều ở dưới điểm chủ yếu 5.50 khi được thăm dò lần đầu và tất cả đều ở trên mức này vào năm 2019. Những con số này cho ta một bức tranh được đơn giản hóa về một thực tại phức tạp, nhưng chúng nói lên quy mô của sự gia tốc gần đây của diễn trình thế tục hóa.
Xu hướng này đã và đang lan rộng ra phần còn lại của thế giới, với một ngoại lệ chính. Dân số của 18 quốc gia đa số theo Hồi giáo mà dữ kiện có sẵn trong Khảo sát Giá trị Thế giới vẫn ở dưới mức chủ yếu, vẫn có tôn giáo một cách mạnh mẽ và cam kết duy trì các chuẩn mực truyền thống liên quan đến phái tính và khả năng sinh sản. Mặc dù đang kiểm soát sự phát triển kinh tế, các quốc gia đa số theo Hồi giáo có xu hướng hơi bảo thủ về tôn giáo và văn hóa hơn mức trung bình.
NHỮNG ĐIỀU SẼ KHÔNG TAN BIẾN
Trong nhiều thế kỷ, tôn giáo đã đóng vai trò là động lực của liên kết xã hội, giảm thiểu tội phạm và khuyến khích tuân giữ pháp luật. Mỗi tôn giáo lớn đều khắc sâu một số phiên bản của các điều răn trong Kinh thánh “Ngươi không được trộm cắp” và “Ngươi không được giết người”. Vì vậy, có thể hiểu được rằng những người bảo thủ tôn giáo lo sợ rằng việc xa rời tôn giáo sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn xã hội, với nạn thối nát và tội phạm gia tăng. Nhưng ở một mức độ đáng ngạc nhiên, mối quan tâm đó không được hỗ trợ bởi các bằng chứng.
Kể từ năm 1993, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã theo dõi tình trạng thối nát và tính trung thực tương đối của các viên chức chính phủ và doanh nhân trên khắp thế giới. Mỗi năm, nhóm quan sát này công bố Chỉ số Tri nhận Thối nát, nhằm xếp hạng thối nát trong khu vực công ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Những dữ kiện này giúp chúng ta có thể kiểm chứng mối liên hệ thực tế giữa lòng đạo và việc tham nhũng: Tham nhũng ở các quốc gia có tôn giáo nhiều hơn liệu có ít phổ biến hơn là ở các quốc gia ít tôn giáo hơn không? Câu trả lời không mơ hồ là “không” – thực thế, các quốc gia có tôn giáo thực sự có xu hướng tham nhũng hơn các quốc gia thế tục. Các quốc gia Bắc Âu có tính thế tục cao có một số mức độ tham nhũng thấp nhất thế giới và các quốc gia tôn giáo cao, chẳng hạn như Bangladesh, Guatemala, Iraq, Tanzania và Zimbabwe, có mức tham nhũng cao nhất.
Rõ ràng, lòng đạo không gây ra tham nhũng. Các quốc gia có mức độ an ninh kinh tế và vật chất thấp có xu hướng có mức độ tôn giáo cao và mức độ tham nhũng cũng cao. Mặc dù tôn giáo có thể đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ đạo đức công cộng, nhưng vai trò đó sẽ thu hẹp lại khi các xã hội phát triển về mặt kinh tế. Người dân các nước theo tôn giáo hơi có xu hướng lên án tham nhũng so với người dân của các quốc gia ít tôn giáo hơn, nhưng tác động của tôn giáo đối với hành vi kết thúc ở đó. Tôn giáo có thể làm cho con người trở nên thích trừng phạt hơn, nhưng nó không làm cho họ ít tham nhũng hơn.
Khuôn mẫu trên cũng áp dụng vào các tội phạm khác, chẳng hạn như giết người. Xem ra có vẻ đáng ngạc nhiên, nhưng tỷ lệ giết người ở các quốc gia có tôn giáo nhất cao gấp mười lần hơn so với các quốc gia ít tôn giáo nhất. Một số quốc gia tương đối nghèo có tỷ lệ giết người thấp, nhưng nhìn chung, các quốc gia thịnh vượng, tức có thể cung cấp cho cư dân của họ sự an ninh vật chất và pháp lý, an toàn hơn nhiều so với các quốc gia nghèo. Tất nhiên, không phải là tôn giáo gây ra các vụ giết người, mà cả tội phạm lẫn tôn giáo đều có xu hướng cao trong các xã hội có mức độ an ninh thấp về hiện sinh.
Các quốc gia có tôn giáo thực sự có xu hướng tham nhũng nhiều hơn các quốc gia thế tục.
Bằng chứng cho thấy các xã hội hiện đại sẽ không rơi vào hỗn loạn hư vô chủ nghĩa nếu không có đức tin tôn giáo để ràng buộc họ, nhưng điều đó có thể không phải lúc nào cũng vậy. Trong các xã hội nông nghiệp sơ khai, khi hầu hết mọi người sống trên mức sinh tồn, tôn giáo có thể là cách hữu hiệu nhất để duy trì trật tự và sự liên kết. Nhưng hiện đại hóa đã thay đổi phương trình. Khi tôn giáo truyền thống suy giảm, một bộ chuẩn mực đạo đức mạnh mẽ không kém dường như đang xuất hiện để lấp đầy khoảng trống. Bằng chứng từ Khảo sát Giá trị Thế giới cho thấy rằng ở các quốc gia an ninh và thế tục cao, người dân ngày càng dành ưu tiên cao hơn cho việc tự phát biểu và tự do lựa chọn, với việc ngày càng nhấn mạnh đến quyền con người, lòng khoan dung với người ngoài, bảo vệ môi trường, bình đẳng phái tính và tự do phát biểu.
Các tôn giáo truyền thống có thể gây chia rẽ nguy hiểm trong xã hội hoàn cầu đương thời. Các tôn giáo vốn có xu hướng trình bày các chuẩn mực của họ như là các giá trị tuyệt đối, mặc dù thực tế là chúng chỉ phản ảnh lịch sử và các đặc điểm kinh tế xã hội của xã hội họ. Sự cứng ngắc của bất cứ hệ thống tín ngưỡng tuyệt đối nào cũng có thể dẫn đến sự bất khoan dung cuồng tín, như các cuộc xung đột lịch sử giữa Công Giáo và Thệ phản và giữa các Kitô hữu và người Hồi giáo đã chứng minh.
Khi các xã hội phát triển từ nông nghiệp sang công nghiệp đến dựa trên nhận thức, thì an ninh hiện sinh gia tăng có xu hướng làm giảm tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống người ta và người ta trở nên ít vâng lời các nhà lãnh đạo và định chế tôn giáo truyền thống hơn. Xu hướng đó xem ra sẽ tiếp tục, nhưng tương lai luôn không chắc chắn. Các đại dịch như COVID-19 làm giảm cảm giác an toàn hiện sinh của mọi người. Nếu đại dịch kéo dài nhiều năm hoặc dẫn đến một cuộc Đại suy thoái mới, thì những thay đổi văn hóa trong những thập niên gần đây có thể bắt đầu đảo ngược.
Nhưng sự thay đổi đó vẫn khó xảy ra, bởi vì nó sẽ đi ngược lại xu hướng mạnh mẽ, lâu dài, do kỹ thuật thúc đẩy của sự thịnh vượng ngày càng tăng và tuổi thọ cũng ngày gia tăng đang giúp thúc đẩy mọi người ra khỏi tôn giáo. Nếu xu hướng đó tiếp tục, ảnh hưởng mà các thẩm quyền tôn giáo truyền thống vốn tác động trên đạo đức công cộng sẽ tiếp tục thu hẹp khi văn hóa khoan dung ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Bài viết của Ronald F. Inglehart
2021
Nhìn lại Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Cebu năm 2016
Nhìn lại Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Cebu năm 2016
Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại thủ đô Budapest của Hungary từ ngày 5-12/9/2021 tới đây sẽ là Đại hội Thánh Thể lần thứ 52 trong 130 năm, kể từ năm 1881, khi Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ nhất được tổ chức tại thành phố Lille của Pháp. Đại hội Thánh Thể được tổ chức 4 lần tại Á châu: tại Manila, Philippines, năm 1937; Bombay, Ấn Độ, năm 1964; Seoul, Hàn Quốc, năm 1989; và Cebu, Philippines, 2016. Đại hội Thánh Thể tại Cebu cũng là Đại hội lập kỷ lục về số người tham dự.
Đại hội Thánh Thể lần thứ 51 được tổ chức tại Cebu, Philippines, từ ngày 24-31/1/2016. Đại hội này đã cho thấy những con số kỷ lục và một đức tin mạnh mẽ. Một tuần lễ đặc biệt, trong đó, giữa những cử hành, các bài giáo lý, các chứng từ, những giây phút lễ hội, Bí tích Thánh Thể được loan báo như nguồn mạch và đỉnh điểm sứ vụ của Giáo hội.
Thành phố phong phú về đức tin, quảng đại và hiếu khách
Thành phố Cebu là thành phố lớn thứ hai ở Philippines, sau Manila, nằm trên hòn đảo cùng tên ở miền trung Philippines, một nơi tương đối nghèo nhưng phong phú về đức tin, với một dân tộc quảng đại và hiếu khách. Tại thành phố được xem là cái nôi của Kitô giáo ở phương Đông này do nhà thám hiểm Magellan đã trồng cây Thánh giá ở đây khi đến nơi vào năm 1521, Đại hội Thánh Thể đã tìm thấy một môi trường nhân văn vô cùng phong phú, lòng hiếu khách chân thành và thân thiện, sự tham gia nồng nhiệt.
Trong số tín hữu hành hương và đại biểu từ 75 quốc gia trên thế giới đến tham dự Đại hội Thánh Thể Quốc tế, có hàng chục Hồng y, khoảng 250 giám mục, hàng ngàn linh mục, tu sĩ nam nữ, khách hành hương từ Đài Loan, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Bangladesh, Sri Lanka, Pakistan, Australia và nhiều quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Phi.
Thánh Thể trong đời sống Giáo hội châu Á
Việc tổ chức Đại hội Thánh Thể lần thứ 51 tại trung tâm về địa lý của Châu Á là dịp để biểu lộ rõ ràng ơn gọi truyền giáo của Giáo hội địa phương ở lục địa này. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chọn Đức Hồng y Charles Bo, tổng giám mục của Yangon ở Myanmar, làm Đại diện của ngài. Việc lựa chọn một giám mục châu Á xác nhận mức độ quan tâm đặc biệt của ngài đối với lục địa này.
Chúa Nhật 24/1/2016, Đức Hồng Y Bo đã chủ sự Thánh lễ khai mạc trọng thể Đại hội tại Quảng trường Độc lập. Trước khoảng nửa triệu người, ngài đã đưa ra khẩu hiệu: “Chúng ta phải tuyên bố chiến tranh thế giới thứ ba thực sự: cuộc chiến chống đói nghèo”. Sau đó, sau khi định nghĩa Đức Thánh Cha Phanxicô như “vị ngôn sứ của thiên niên kỷ mới” và ca ngợi Philippines là “một quốc gia vĩ đại, ánh sáng cho châu Á”, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng sự hiện diện của người Philippines ở mọi nơi trên thế giới có nghĩa là truyền giáo. Ngài nói rằng “Philippines, với những thảm hoạ thiên nhiên tàn phá nước này, dường như là thủ đô của thế giới về thảm hoạ thiên nhiên” nhưng cư dân của đất nước này đã thể hiện một khả năng vượt khó phi thường. Cuối cùng, ngỏ lời với các tín hữu hiện diện, ngài nói thêm rằng “sùng đạo là điều tốt, nhưng chưa đủ vì chúng ta được kêu gọi trên hết là trở thành các môn đệ: đối với một người tin theo thì Thánh lễ kết thúc sau một giờ, nhưng Thánh lễ của một môn đệ thì vô hạn, tiếp tục trên các con đường của thế giới”.
Trong tuần lễ diễn ra Đại hội, có 15.000 khách hành hương và các đại biểu đăng ký đã có thể tham gia tích cực vào các hoạt động. Một số sự kiện của Đại hội được phụ trách bởi những nhân vật tên tuổi và nổi tiếng như các Đức Hồng y người Philippines: Tagle, Vidal, Quevedo và Rosales; hay Đức Hồng y Dolan của New York, Onaiyekan của Abuja, Nigeria; Trần Nhật Quân của Hong Kong, Peter Erdő của Budapest; Nguyễn Văn Nhơn của Hà Nội, Lacroix của Quebec, Kovithavanij của Bangkok…
Chủ đề chính của sự kiện: Bí tích Thánh Thể như là nguồn gốc và đỉnh cao sứ mạng của Giáo hội, đã được thảo luận hàng ngày qua các hội nghị lớn, các chứng từ lôi cuốn và các buổi cử hành. Trong số nhiều bài phát biểu quan trọng, đặc biệt gây xúc động là chứng từ của một phụ nữ trẻ người Philippines, Georgia Coctas; sau khi sống bằng cách nhặt rác trên đường phố, cô đã được giúp đỡ và hiện đang hoạt động để mang lại tương lai cho trẻ em bị bỏ rơi, nơi chốn để thăng tiến con người và loan truyền Tin Mừng bên cạnh việc cung cấp nơi ở, thực phẩm và giáo dục.
Gương mặt tươi vui của Giáo hội Philippines
Tuần lễ của Đại hội sau đó được đánh dấu bởi một loạt các sự kiện lớn liên quan đến toàn thành phố: cuộc gặp gỡ của những người hành hương từ các quốc gia khác nhau với các giáo xứ trong giáo phận, cuộc rước Thánh Thể, Thánh lễ Rước lễ lần đầu và Thánh lễ bế mạc. Cuộc gặp gỡ của những người hành hương với các giáo xứ đã cho phép họ hòa mình vào đời sống của các cộng đoàn Kitô giáo địa phương. Mỗi giáo xứ của thành phố đón một đoàn khách hành hương đến từ một quốc gia cụ thể.
Chiều Thứ Sáu, 29/1/2016, Thánh lễ được cử hành tại quảng trường trước trụ sở chính quyền của thành phố, với đông đảo dân chúng tại quảng trường và trên những con đường đối diện. Cuộc rước Thánh Thể long trọng bắt đầu vào cuối Thánh lễ, đi qua khắp các con đường chính của thành phố trong gần ba giờ đồng hồ. Một dòng người đông đảo, hơn một triệu, với nến sáng trên tay đi theo xe kiệu Mình Thánh Chúa, trong khi hai bên đường, các thiếu niên và thanh niên nam nữ làm thành rào chắn dài. Cuộc rước kết thúc ở Quảng trường Độc lập, bên cạnh bãi biển mà gần 500 năm trước, Tin Mừng đã đến những vùng đất đó lần đầu tiên.
Ngày hôm sau, thứ Bảy 30/1/2016, tại Trung tâm Thể thao Cebu, Thánh lễ Rước lễ Lần đầu được cử hành cho 5.000 trẻ em, trong đó có 500 “trẻ em đường phố”, trong những năm chuẩn bị cho Đại hội, được hưởng chương trình giáo dục đặc biệt và truyền giáo do giáo phận và các tổ chức tình nguyện khác nhau thực hiện. Những đứa trẻ, cùng với cha mẹ của các em, hiện diện tại khu vực trung tâm, đã được khoảng một trăm giám mục cho rước lễ. Bầu không khí lễ hội tiếp tục sau buổi lễ với màn trình diễn điệu múa Sinalog đáng kinh ngạc, một điệu múa dân gian rất đặc biệt, trong đó tượng Santo Niño – Chúa Hài Đồng – được rước, được nâng niu trong một bữa tiệc âm thanh và màu sắc đích thực.
Thánh lễ kết thúc Đại hội
Sự kiện cuối cùng và quan trọng nhất chính là Thánh lễ kết thúc Đại hội, được tổ chức ở South Road Properties vào ngày 31/1. Đông đảo tín hữu đã tham dự Thánh lễ do Đức Hồng Y Đặc sứ Charles Maung Bo chủ sự, với hơn 200 giám mục và hàng trăm linh mục. Trong bài giảng, Đức Hồng y người Myanmar nhắc lại rằng “Những người Philippines, quốc gia Công giáo lớn nhất ở châu Á, là những người mang niềm hy vọng to lớn” và bất chấp những thách thức về nghèo đói, bất an xã hội và di cư, đất nước “có tiềm năng to lớn đối với toàn thế giới Công giáo”. Ngài khuyến khích: “Anh chị em Philippines, hãy đi và gia tăng những nhà truyền giáo của anh chị em! Hãy đi và trở thành dân cư ở những quốc gia mà Kitô giáo đã trở thành một thiểu số. Hãy đến những quốc gia mà vật nuôi nhiều hơn trẻ em”.
Sau đó, Đức Hồng y nói với các gia đình: “Châu Á và Châu Phi đang đấu tranh cho sự tồn tại của các gia đình… Các quốc gia giàu có đã không còn chú ý đến nghèo đói và áp bức, và nói về các hình thức mới về gia đình và cha mẹ. Một hiểm họa sinh tử mà toàn thể nhân loại phải đối mặt, thậm chí còn hơn cả bom nguyên tử, khủng bố, bởi vì một số quốc gia đã chọn con đường hủy diệt gia đình thông qua luật pháp… Gia đình là hạt nhân chính của Giáo hội và là nơi tấm bánh được bẻ ra. Vì thế, nó phải được bảo vệ, thúc đẩy và nuôi dưỡng”. Cuối cùng, Đức Hồng Y Bo nhắc lại rằng chủ đề này, cùng với sự tôn trọng công trình sáng tạo và công lý, cũng là trung tâm các mối quan tâm của Đức Thánh Cha Phanxicô.
Trong số những món quà mà Philippines đã được ưu ái, Đức Hồng y nhắc nhở: “Sự gắn kết trong gia đình của anh chị em rất mạnh mẽ. Anh chị em có tỷ lệ ly hôn thấp nhất trong khu vực. Nhiều quốc gia giàu có có tiền nhưng không có gia đình. Và anh chị em có một đông đảo người trẻ; đây là một phúc lành!”. Kết thúc bài giảng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha đã nhắc lại trọng tâm của Bí tích Thánh Thể, vốn vẫn là nguồn gốc và đỉnh điểm của đời sống Kitô hữu: “Chúng ta hãy nhớ rằng Thánh lễ đầu tiên được cử hành bởi một người bị kết án, một người không có quyền lực… Nhưng quyền lực của Thánh Thể tuôn chảy từ đôi bàn tay trắng ấy. Và tiếp tục truyền cảm hứng cho chúng ta. Thánh Thể là sự hiện diện đích thực, Thánh Thể là truyền giáo, Thánh Thể là phục vụ”.
Sứ điệp của Đức Thánh Cha
Trước khi Đức Hồng y ban phép lành cuối lễ, mọi người nhận sứ điệp video của Đức Thánh Cha Phanxicô. Khi nhắc lại chủ đề của Đại hội: “Chúa Kitô trong anh em, niềm hy vọng vinh quang”, Đức Thánh Cha nhận xét rằng “sự hiện diện của Chúa Kitô giữa chúng ta không chỉ là một niềm an ủi, mà còn là một lời hứa và một lời mời. Một lời mời gọi hãy ra đi, với tư cách là những nhà truyền giáo, để mang thông điệp về sự dịu dàng của Chúa Cha, về sự tha thứ và lòng thương xót của Người cho mọi người nam nữ và các trẻ em”.
Sau đó, Đức Giáo Hoàng mời gọi suy tư về hai cử chỉ của Chúa Giêsu liên quan đến “chiều kích truyền giáo của Bí tích Thánh Thể”: đức tin và việc rửa chân. Ngài nói: “Chúng ta biết rằng việc Chúa Giê-su chia sẻ bữa ăn với các môn đệ, và đặc biệt là với những người tội lỗi và những người bị gạt ra ngoài lề thì quan trọng như thế nào”. “Tại mỗi Thánh lễ, chúng ta phải được thôi thúc để noi gương Chúa, ra đi gặp gỡ người khác”. “Ở Châu Á, nơi Giáo hội dấn thân vào việc đối thoại, tôn trọng các tín đồ của các tôn giáo khác, chứng tá ngôn sứ này rất thường xảy ra, như chúng ta biết, qua cuộc đối thoại của cuộc sống”.
Đối với Đức Thánh Cha, “việc làm chứng của những cuộc đời được tình yêu của Thiên Chúa biến đổi là cách tốt nhất để công bố lời hứa về vương quốc hòa giải, công lý và hiệp nhất cho gia đình nhân loại”. Sau đó, ngài giải thích việc rửa chân là một “dấu hiệu của sự phục vụ khiêm nhường, của tình yêu vô điều kiện mà Chúa đã hiến mạng sống mình trên Thánh giá để cứu độ thế giới. Thánh Thể là trường học của sự phục vụ khiêm nhường. Nó dạy chúng ta sẵn sàng ở đó vì người khác. Đây cũng là trung tâm của người môn đệ truyền giáo”.
Ước muốn của Đức Thánh Cha là Đại hội Thánh Thể vừa kết thúc này “có thể củng cố anh chị em trong tình yêu của anh chị em đối với Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể. Chớ gì Đại hội làm cho anh chị em, như những môn đệ truyền giáo, có thể mang kinh nghiệm tuyệt vời về sự hiệp thông trong Giáo hội và sự dấn thân truyền giáo cho các gia đình, các giáo xứ và cộng đoàn của anh chị em và cho các Giáo hội địa phương của anh chị em. Chớ gì nó là một thứ men hòa giải và hòa bình cho toàn thế giới”.
Hồng Thủy
2021
Cha Guillaume Conquer, linh mục truyền giáo tại Campuchia
Cha Guillaume Conquer, linh mục truyền giáo tại Campuchia
Cha Guillaume Conquer là một linh mục trẻ thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), đã ở Campuchia gần hai năm qua. Ngoài hoạt động mục vụ, cha còn phụ trách trang tiếng khmer của Wikipedia. Cha chia sẻ về những thách đố và hy vọng trong khi loan báo Tin Mừng qua văn hoá, ngay cả khi bách khoa toàn thư trực tuyến “không phải là một công cụ để chiêu dụ tín đồ, nhưng là một công cụ tìm kiếm Chân Lý”.
Ảnh: Asianews
Là một nhà truyền giáo trẻ của Hội Thừa sai Paris, cha Guillaume Conquer được truyền chức linh mục tại Giáo phận của công quốc Monaco và sau đó đến Campuchia thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Hiện nay, cha đang dấn thân hoà mình trong cánh đồng truyền giáo tại làng Chom Lak, hướng dẫn đàn chiên bé nhỏ khiêm tốn.
Là biên tập viên của Wikipedia từ năm 2008, vào ngày 17/8 vừa qua, cha Conquer đã tổ chức một hội thảo trực tuyến về Wikimania với 15 người tham dự. Wikimania là một hội nghị thường niên nhằm tôn vinh khả năng tự do tiếp cận kiến thức nhờ các tình nguyện viên khắp nơi trên thế giới. Được tổ chức và tài trợ bởi Tổ chức Wikimedia, lẽ ra năm nay, hội thảo sẽ diễn ra tại Bangkok nhưng đã được chuyển sang trực tuyến từ Campuchia theo ý muốn của cha Conquer.
Cha cho biết, trang Wikipedia tiếng Khmer đã được tạo ra cách đây 15 năm, nhưng từ năm 2016, số biên tập viên đã giảm. Hiện nay trang này phụ thuộc vào thế hệ trẻ để phát triển. Mục tiêu của cha là tăng gấp đôi số lượng bài viết của trang trong năm tới.
Khi được hỏi sứ vụ của cha có liên quan gì đến Wikipedia? Cha giải thích: “Điều này thực tế có liên quan đến một truyền thống lâu đời của pháp. Vào thế kỷ 19, tại châu Á, các học giả quan tâm đến tiếng Pali và tiếng Phạn, như tại châu Âu là tiếng Latinh. Tiếng Campuchia là ngôn ngữ nói, phổ biến. Các cuốn từ điển tiếng Pháp-Khmer đầu tiên được các nhà truyền giáo thực hiện và một số cuốn chính xác đến mức chúng vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Công việc của tôi với WIkipedia cũng vậy. Đó là một nhiệm vụ to lớn, nhưng nó đang sống”.
Tới đây, mọi người có thể đặt ra câu hỏi khác: “Nhưng trong từ điển, đâu là sứ vụ?”. Linh mục truyền giáo 32 tuổi giải thích tiếp: “Đó là sự nhập thể của Ngôi Lời. Kiến thức trở thành xác phàm”. Nhưng cha cũng chỉ ra: “Wikipedia không phải là công cụ phù hợp để chiêu dụ tín đồ. Thành công của nó được đưa ra bởi quan điểm trung lập. Đó là không gian dành cho kiến thức, không phải để rao giảng. Và điều này vẫn là một thách đố lớn. Tôi đã viết trang về thánh Tôma Aquinô. Nhưng làm thế nào để người Campuchia hiểu rằng vị thánh này đã cách mạng hóa triết học? Điều này không dễ dàng”.
Cha cho biết, còn có những khó khăn khác liên quan đến ngôn ngữ. Ví dụ, trong làng mọi người rất tôn trọng cha, nhưng khi cha đi ra ngoài họ không biết ứng xử với cha như thế nào. Đối với một tín đồ Phật giáo, linh mục nghĩa là gì họ vẫn chưa hiểu thấu đáo. Do đâu mà Giáo hội đã đến một đất nước có lịch sử phong phú như vậy? Đôi khi rất khó dịch ngay cả những khái niệm cơ bản của Kitô giáo cho người dân.
Rồi còn có khó khăn về vật chất. Đa phần người dân không có máy tính. Mỗi tháng, trang có 3 triệu lượt truy cập, nhưng chỉ có khoảng chục người đóng góp cho lĩnh vực này. Cha khám phá nhiều điều khi xem dữ liệu của những người truy cập các trang Wikipedia tiếng Campuchia, như độ tuổi, nội dung quan tâm. Người Campuchia quan tâm đến lịch sử, các chính trị gia của họ. Mọi người sử dụng điện thoại, nhưng trong các trường học không có phòng máy. Bên cạnh đó còn có những thách đố do đại dịch gây ra, như tỷ lệ học sinh bỏ học và sợ hãi do chính phủ siết chặt các quy định. Trong chế độ Khmer Đỏ, các trường học đã từng bị đóng cửa trong bốn năm. Mọi người sợ rằng điều tương tự có thể xảy ra hoặc chính phủ sẽ không nói sự thật về số người chết vì Covid-19”.
Và cuối cùng là khó khăn về kinh tế. Vì chính phủ Campuchia yêu cầu phải thực hiện cách ly ít nhất trong 2 tuần khi đến đất nước này, vì vậy không có khách du lịch. Tất cả những người làm việc trong lĩnh vực này đều đã không còn việc làm.
Cha nói: “Các sự kiện lớn bị cấm, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục cử hành Thánh lễ. giáo xứ của tôi, có 20 người, thực tế là một ngôi nhà bình thường của người dân Campuchia! Nhưng chưa bao giờ có nhiều Kitô hữu trong cả nước và khắp các tỉnh thành như vậy. Đó là một khoảnh khắc duy nhất đối với Giáo hội. Chúng tôi nhận ra mình đang sống trong một thời điểm hồng ân”.
Ngọc Yến
2021
Sơ Fatima Emmanuel – người Samaria nhân hậu của người vô gia cư và người nghèo Malaysia
Sơ Fatima Emmanuel – người Samaria nhân hậu của người vô gia cư và người nghèo Malaysia
Sơ Fatima Emmanuel là một nữ tu Công giáo 57 tuổi, sống ở thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia. Từ năm 2018, sơ điều hành” Ngôi nhà Hy vọng Samaria”, một trung tâm dành cho người nghèo, người vô gia cư, với mục đích cung cấp cho họ nơi trú ẩn và các dịch vụ hỗ trợ để họ có thể hòa nhập với cuộc sống. Cầu nguyện đã thêm sức mạnh giúp sơ vượt qua những khó khăn thử thách.
Ảnh: UCAN
Cơ hội cộng tác với các tôn giáo
Mỗi ngày, sơ Fatima và một số tình nguyện viên cung cấp 350 gói đồ ăn thức uống cho người nghèo tại trung tâm Ngôi nhà Hy vọng Samaria. Nhưng những hạn chế của đại dịch đã cản trở các dịch vụ quan trọng của sơ. Khi đại dịch Covid-19 tấn công Malaysia và lệnh cấm vận trên toàn quốc được áp dụng vào tháng 3 năm ngoái, sơ rất đau lòng trước hoàn cảnh của người nghèo. Sơ chia sẻ: “Mọi người không được phép tụ tập và do đó những người vô gia cư không thể đến Ngôi nhà Hy vọng Samaria để dùng bữa. Vì vậy, chúng tôi đã phải thay đổi cách làm của mình để đóng gói thực phẩm và phân phát trước cửa trung tâm”.
Tuy nhiên, cách làm này cũng không có hiệu quả vì Kuala Lumpur áp dụng phong tỏa nghiêm ngặt, những người vô gia cư bị buộc phải rời khỏi đường phố và tạm trú trong các ký túc xá cộng đồng. Sơ Fatima và các tình nguyện viên quyết định đến các nơi này để cung cấp ít nhất 200 gói thực phẩm mỗi ngày. Đối với sơ, “đây là cơ hội vàng để làm việc cùng với những người thuộc các tín ngưỡng khác nhau và làm chứng cho tình yêu của Chúa Ki-tô”.
Những điều kỳ diệu Chúa đã làm
Sơ Fatima phải được cảnh sát cho phép đặc biệt để thực hiện các dịch vụ của mình. Sơ nói: “Thật là căng thẳng khi phải giữ cân bằng giữa những khuôn mặt đói khát và những quy định mới”. Việc chuẩn bị và giao thức ăn còn khó khăn hơn vì các tình nguyện viên thường xuyên làm việc cho Ngôi nhà Hy vọng Samaria gặp khó khăn khi đến trung tâm. Những người anh em vô gia cư của Nhà trọ Samaria đã hỗ trợ họ. Sơ rất vui mừng khi thấy sự biến đổi của những người vô gia cư giờ đây đã trở thành tình nguyện viên tại nơi họ lấy thức ăn để sinh sống.
Trung tâm cũng nhận được điện thoại từ các gia đình tị nạn và lao động nhập cư nước ngoài đang rất cần được giúp đỡ trong bối cảnh mất việc làm và thu nhập. Sơ Fatima cung cấp cho họ những gì có thể nhưng cũng giới thiệu họ với những người cùng chí hướng và cộng đồng. Sơ chia sẻ: “Trong những thời điểm tốt và xấu, Chúa đã ban cho chúng ta sức mạnh để tiếp tục. Tôi có thể làm chứng cho nhiều điều kỳ diệu đã xảy ra tại Ngôi nhà Hy vọng Samaria, nơi chúng tôi đã chứng kiến hai con cá và năm chiếc bánh được gia tăng lên nhiều”.
Ơn gọi phục vụ người nghèo cao tuổi
Sơ Fatima Emmanuel sinh ra trong một gia đình Công giáo vào ngày 5 tháng 3 năm 1964, tại thị trấn Taiping thuộc bang Perak của Malaysia. Sơ là con thứ hai trong gia đình có bốn người con. Gia đình sơ không chỉ có tinh thần tôn giáo trong việc cầu nguyện mà còn trong hành động vì ông nội của sơ là một giáo lý viên. Sơ kể: “Từ khi còn nhỏ, ông nội và cha mẹ tôi đã dạy tôi cách chia sẻ với người nghèo những gì chúng tôi có”. Niềm khao khát được phục vụ người nghèo được gieo vào lòng sơ từ thời thơ ấu đã thôi thúc sơ trở thành một nữ tu.
Năm 20 tuổi, Fatima gia nhập dòng Tiểu muội người nghèo, một dòng nữ do thánh nữ Jeanne Jugan người Pháp thành lập năm 1839. Dòng có khoảng 2.300 thành viên ở 31 quốc gia và đặc sủng chính của dòng là phục vụ những người nghèo cao tuổi. Theo trang web của dòng, các nữ tu của dòng đang phục vụ khoảng 13.000 người cao tuổi nghèo khổ trên toàn cầu. Tinh thần của Thánh Jeanne Jugan đã truyền cảm hứng cho sơ Fatima; sơ đã tìm thấy niềm vui trong “sự nhỏ bé và khiêm nhường trong Giáo hội và phục vụ những người nghèo cao tuổi”.
Kinh nghiệm đức tin tại châu Phi
Sơ Fatima đã truyền giáo ở nhiều nước khác nhau ở Châu Âu, Châu Phi và Châu Á trong hơn 30 năm. Sơ trở lại Malaysia vào năm 2014. Những kinh nghiệm truyền giáo đã dạy cho sơ những bài học tuyệt vời về cuộc sống. Sơ chia sẻ: “Ở Châu Phi [Congo, Nigeria và Kenya], người dân đã dạy tôi rằng người ta có thể hạnh phúc và hài lòng với những gì mình có. Người dân đã dạy tôi niềm tin vui vẻ giữa đau khổ và chấp nhận hoàn cảnh mà chúng tôi đang gặp phải. Họ dạy tôi nhìn thấy bàn tay của Chúa ngay cả giữa chiến tranh”.
Người dân châu Phi cũng để lại một ấn tượng sâu đậm khác đối với sơ. “Họ không bao giờ chất vấn Chúa giữa lúc đau khổ. Thay vào đó, họ biết ơn về sự chăm sóc quan phòng của Thiên Chúa. Cộng đồng Châu Phi đã xây dựng đức tin của tôi để tôi mạnh mẽ hơn và vui vẻ hơn trong cuộc sống”.
Trở về nhà ở Malaysia, sơ Fatima phục vụ dòng ở Kuala Lumpur. Vào năm 2015, sơ đã đến thăm Carl’s Kitchen Feeding Program, một bếp súp do Tổng giáo phận Kuala Lumpur điều hành. Cho đến tháng 6 năm 2018, bếp ăn đã cung cấp những suất ăn miễn phí cho những người nghèo và người gặp khó khăn. Sơ Fatima vô cùng xúc động trước vẻ mặt buồn bã và bối rối của những người đến lấy thức ăn tại Carl’s Kitchen. Tuy nhiên, sơ chưa sẵn sàng tham gia vào sứ vụ vì sơ đã phục vụ người nghèo trong nhiều thập kỷ.
Ảnh: Twitter
Phục vụ tất cả người nghèo
Sau đó, sơ quyết định phục vụ người nghèo ở mọi lứa tuổi, không chỉ người già. Sau hai năm phân định, thông qua các khóa tĩnh tâm và linh hướng, vào năm 2018 sơ đã rời khỏi dòng để hoạt động độc lập, phục vụ tất cả những người vô gia cư. Đức Tổng Giám mục Julian Leow của Kuala Lumpur đã cho phép sơ thi hành sứ vụ cho những người vô gia cư trong tổng giáo phận. Sơ nói: “Thật không dễ dàng để rời khỏi khu vực quen thuộc của tôi và cộng đoàn của tôi, nhưng Chúa có một giấc mơ khác cho tôi và cho công việc của Người”.
Sơ Fatima bắt đầu đến thăm những người vô gia cư và nghèo khổ trên đường phố để cung cấp thực phẩm và vật dụng y tế cho họ. Ngay sau đó, một nhóm tình nguyện viên đã tham gia cùng sơ. Họ cùng nhau giải cứu một số người đàn ông vô gia cư, đưa họ đến các cơ sở cai nghiện và giúp họ tìm việc làm.
Ngôi nhà Hy vọng Samaria
Vào tháng 11 năm 2018, sơ đã thành lập Ngôi nhà Hy vọng Samaria cho những người vô gia cư. Tại trung tâm, những người vô gia cư được ăn sáng và ăn trưa từ thứ Hai đến thứ Bảy. Họ có thể tắm rửa và giặt quần áo. Họ có thể ở lại bao lâu họ không có nơi nào để đi. Hai lần một tháng, các bác sĩ Công giáo khám bệnh miễn phí cho họ. Các tù nhân giúp đỡ trong việc duy trì trung tâm. Sơ Fatima và các tình nguyện viên tổ chức sinh nhật cho các tù nhân và các lễ hội như Tết Nguyên Đán, Eid, Diwali và Giáng sinh tại trung tâm như một cử chỉ thấm nhuần tinh thần gia đình và tình cảm thân thuộc.
Sơ Fatima nói rằng họ cần một nơi lớn hơn và tốt hơn để phục vụ và cải tạo nhiều người vô gia cư hơn. Vào tháng 4 năm 2020, sơ thuê một tòa nhà hai tầng ở Selangor. Nhà trọ Samaria mới này là một nơi trú ẩn tạm thời và có bảy tù nhân.
Cầu nguyện là sức mạnh để vượt qua thử thách
Niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa và lời cầu nguyện đã mang lại cho sơ Fatima nghị lực để vượt qua mọi thử thách. Sơ tin rằng Chúa đã và đang cung cấp tất cả các nhu cầu về tinh thần và vật chất cho Ngôi nhà Hy vọng Samaria bao gồm các tình nguyện viên, nhà hảo tâm, những đóng góp và việc cải tạo người vô gia cư. Sơ nói: “Chúng ta không thể là người truyền giáo nếu không cầu nguyện vì cầu nguyện là một phần thiết yếu của sứ mệnh truyền giáo. Chúng ta phải tin rằng Chúa sẽ không bỏ rơi người nghèo và họ rất quý giá đối với Người”.
Hồng Thủy
