2021
Nhìn lại Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Cebu năm 2016
Nhìn lại Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại Cebu năm 2016
Đại hội Thánh Thể Quốc tế tại thủ đô Budapest của Hungary từ ngày 5-12/9/2021 tới đây sẽ là Đại hội Thánh Thể lần thứ 52 trong 130 năm, kể từ năm 1881, khi Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ nhất được tổ chức tại thành phố Lille của Pháp. Đại hội Thánh Thể được tổ chức 4 lần tại Á châu: tại Manila, Philippines, năm 1937; Bombay, Ấn Độ, năm 1964; Seoul, Hàn Quốc, năm 1989; và Cebu, Philippines, 2016. Đại hội Thánh Thể tại Cebu cũng là Đại hội lập kỷ lục về số người tham dự.
Đại hội Thánh Thể lần thứ 51 được tổ chức tại Cebu, Philippines, từ ngày 24-31/1/2016. Đại hội này đã cho thấy những con số kỷ lục và một đức tin mạnh mẽ. Một tuần lễ đặc biệt, trong đó, giữa những cử hành, các bài giáo lý, các chứng từ, những giây phút lễ hội, Bí tích Thánh Thể được loan báo như nguồn mạch và đỉnh điểm sứ vụ của Giáo hội.
Thành phố phong phú về đức tin, quảng đại và hiếu khách
Thành phố Cebu là thành phố lớn thứ hai ở Philippines, sau Manila, nằm trên hòn đảo cùng tên ở miền trung Philippines, một nơi tương đối nghèo nhưng phong phú về đức tin, với một dân tộc quảng đại và hiếu khách. Tại thành phố được xem là cái nôi của Kitô giáo ở phương Đông này do nhà thám hiểm Magellan đã trồng cây Thánh giá ở đây khi đến nơi vào năm 1521, Đại hội Thánh Thể đã tìm thấy một môi trường nhân văn vô cùng phong phú, lòng hiếu khách chân thành và thân thiện, sự tham gia nồng nhiệt.
Trong số tín hữu hành hương và đại biểu từ 75 quốc gia trên thế giới đến tham dự Đại hội Thánh Thể Quốc tế, có hàng chục Hồng y, khoảng 250 giám mục, hàng ngàn linh mục, tu sĩ nam nữ, khách hành hương từ Đài Loan, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Bangladesh, Sri Lanka, Pakistan, Australia và nhiều quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Phi.
Thánh Thể trong đời sống Giáo hội châu Á
Việc tổ chức Đại hội Thánh Thể lần thứ 51 tại trung tâm về địa lý của Châu Á là dịp để biểu lộ rõ ràng ơn gọi truyền giáo của Giáo hội địa phương ở lục địa này. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chọn Đức Hồng y Charles Bo, tổng giám mục của Yangon ở Myanmar, làm Đại diện của ngài. Việc lựa chọn một giám mục châu Á xác nhận mức độ quan tâm đặc biệt của ngài đối với lục địa này.
Chúa Nhật 24/1/2016, Đức Hồng Y Bo đã chủ sự Thánh lễ khai mạc trọng thể Đại hội tại Quảng trường Độc lập. Trước khoảng nửa triệu người, ngài đã đưa ra khẩu hiệu: “Chúng ta phải tuyên bố chiến tranh thế giới thứ ba thực sự: cuộc chiến chống đói nghèo”. Sau đó, sau khi định nghĩa Đức Thánh Cha Phanxicô như “vị ngôn sứ của thiên niên kỷ mới” và ca ngợi Philippines là “một quốc gia vĩ đại, ánh sáng cho châu Á”, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng sự hiện diện của người Philippines ở mọi nơi trên thế giới có nghĩa là truyền giáo. Ngài nói rằng “Philippines, với những thảm hoạ thiên nhiên tàn phá nước này, dường như là thủ đô của thế giới về thảm hoạ thiên nhiên” nhưng cư dân của đất nước này đã thể hiện một khả năng vượt khó phi thường. Cuối cùng, ngỏ lời với các tín hữu hiện diện, ngài nói thêm rằng “sùng đạo là điều tốt, nhưng chưa đủ vì chúng ta được kêu gọi trên hết là trở thành các môn đệ: đối với một người tin theo thì Thánh lễ kết thúc sau một giờ, nhưng Thánh lễ của một môn đệ thì vô hạn, tiếp tục trên các con đường của thế giới”.
Trong tuần lễ diễn ra Đại hội, có 15.000 khách hành hương và các đại biểu đăng ký đã có thể tham gia tích cực vào các hoạt động. Một số sự kiện của Đại hội được phụ trách bởi những nhân vật tên tuổi và nổi tiếng như các Đức Hồng y người Philippines: Tagle, Vidal, Quevedo và Rosales; hay Đức Hồng y Dolan của New York, Onaiyekan của Abuja, Nigeria; Trần Nhật Quân của Hong Kong, Peter Erdő của Budapest; Nguyễn Văn Nhơn của Hà Nội, Lacroix của Quebec, Kovithavanij của Bangkok…
Chủ đề chính của sự kiện: Bí tích Thánh Thể như là nguồn gốc và đỉnh cao sứ mạng của Giáo hội, đã được thảo luận hàng ngày qua các hội nghị lớn, các chứng từ lôi cuốn và các buổi cử hành. Trong số nhiều bài phát biểu quan trọng, đặc biệt gây xúc động là chứng từ của một phụ nữ trẻ người Philippines, Georgia Coctas; sau khi sống bằng cách nhặt rác trên đường phố, cô đã được giúp đỡ và hiện đang hoạt động để mang lại tương lai cho trẻ em bị bỏ rơi, nơi chốn để thăng tiến con người và loan truyền Tin Mừng bên cạnh việc cung cấp nơi ở, thực phẩm và giáo dục.
Gương mặt tươi vui của Giáo hội Philippines
Tuần lễ của Đại hội sau đó được đánh dấu bởi một loạt các sự kiện lớn liên quan đến toàn thành phố: cuộc gặp gỡ của những người hành hương từ các quốc gia khác nhau với các giáo xứ trong giáo phận, cuộc rước Thánh Thể, Thánh lễ Rước lễ lần đầu và Thánh lễ bế mạc. Cuộc gặp gỡ của những người hành hương với các giáo xứ đã cho phép họ hòa mình vào đời sống của các cộng đoàn Kitô giáo địa phương. Mỗi giáo xứ của thành phố đón một đoàn khách hành hương đến từ một quốc gia cụ thể.
Chiều Thứ Sáu, 29/1/2016, Thánh lễ được cử hành tại quảng trường trước trụ sở chính quyền của thành phố, với đông đảo dân chúng tại quảng trường và trên những con đường đối diện. Cuộc rước Thánh Thể long trọng bắt đầu vào cuối Thánh lễ, đi qua khắp các con đường chính của thành phố trong gần ba giờ đồng hồ. Một dòng người đông đảo, hơn một triệu, với nến sáng trên tay đi theo xe kiệu Mình Thánh Chúa, trong khi hai bên đường, các thiếu niên và thanh niên nam nữ làm thành rào chắn dài. Cuộc rước kết thúc ở Quảng trường Độc lập, bên cạnh bãi biển mà gần 500 năm trước, Tin Mừng đã đến những vùng đất đó lần đầu tiên.
Ngày hôm sau, thứ Bảy 30/1/2016, tại Trung tâm Thể thao Cebu, Thánh lễ Rước lễ Lần đầu được cử hành cho 5.000 trẻ em, trong đó có 500 “trẻ em đường phố”, trong những năm chuẩn bị cho Đại hội, được hưởng chương trình giáo dục đặc biệt và truyền giáo do giáo phận và các tổ chức tình nguyện khác nhau thực hiện. Những đứa trẻ, cùng với cha mẹ của các em, hiện diện tại khu vực trung tâm, đã được khoảng một trăm giám mục cho rước lễ. Bầu không khí lễ hội tiếp tục sau buổi lễ với màn trình diễn điệu múa Sinalog đáng kinh ngạc, một điệu múa dân gian rất đặc biệt, trong đó tượng Santo Niño – Chúa Hài Đồng – được rước, được nâng niu trong một bữa tiệc âm thanh và màu sắc đích thực.
Thánh lễ kết thúc Đại hội
Sự kiện cuối cùng và quan trọng nhất chính là Thánh lễ kết thúc Đại hội, được tổ chức ở South Road Properties vào ngày 31/1. Đông đảo tín hữu đã tham dự Thánh lễ do Đức Hồng Y Đặc sứ Charles Maung Bo chủ sự, với hơn 200 giám mục và hàng trăm linh mục. Trong bài giảng, Đức Hồng y người Myanmar nhắc lại rằng “Những người Philippines, quốc gia Công giáo lớn nhất ở châu Á, là những người mang niềm hy vọng to lớn” và bất chấp những thách thức về nghèo đói, bất an xã hội và di cư, đất nước “có tiềm năng to lớn đối với toàn thế giới Công giáo”. Ngài khuyến khích: “Anh chị em Philippines, hãy đi và gia tăng những nhà truyền giáo của anh chị em! Hãy đi và trở thành dân cư ở những quốc gia mà Kitô giáo đã trở thành một thiểu số. Hãy đến những quốc gia mà vật nuôi nhiều hơn trẻ em”.
Sau đó, Đức Hồng y nói với các gia đình: “Châu Á và Châu Phi đang đấu tranh cho sự tồn tại của các gia đình… Các quốc gia giàu có đã không còn chú ý đến nghèo đói và áp bức, và nói về các hình thức mới về gia đình và cha mẹ. Một hiểm họa sinh tử mà toàn thể nhân loại phải đối mặt, thậm chí còn hơn cả bom nguyên tử, khủng bố, bởi vì một số quốc gia đã chọn con đường hủy diệt gia đình thông qua luật pháp… Gia đình là hạt nhân chính của Giáo hội và là nơi tấm bánh được bẻ ra. Vì thế, nó phải được bảo vệ, thúc đẩy và nuôi dưỡng”. Cuối cùng, Đức Hồng Y Bo nhắc lại rằng chủ đề này, cùng với sự tôn trọng công trình sáng tạo và công lý, cũng là trung tâm các mối quan tâm của Đức Thánh Cha Phanxicô.
Trong số những món quà mà Philippines đã được ưu ái, Đức Hồng y nhắc nhở: “Sự gắn kết trong gia đình của anh chị em rất mạnh mẽ. Anh chị em có tỷ lệ ly hôn thấp nhất trong khu vực. Nhiều quốc gia giàu có có tiền nhưng không có gia đình. Và anh chị em có một đông đảo người trẻ; đây là một phúc lành!”. Kết thúc bài giảng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha đã nhắc lại trọng tâm của Bí tích Thánh Thể, vốn vẫn là nguồn gốc và đỉnh điểm của đời sống Kitô hữu: “Chúng ta hãy nhớ rằng Thánh lễ đầu tiên được cử hành bởi một người bị kết án, một người không có quyền lực… Nhưng quyền lực của Thánh Thể tuôn chảy từ đôi bàn tay trắng ấy. Và tiếp tục truyền cảm hứng cho chúng ta. Thánh Thể là sự hiện diện đích thực, Thánh Thể là truyền giáo, Thánh Thể là phục vụ”.
Sứ điệp của Đức Thánh Cha
Trước khi Đức Hồng y ban phép lành cuối lễ, mọi người nhận sứ điệp video của Đức Thánh Cha Phanxicô. Khi nhắc lại chủ đề của Đại hội: “Chúa Kitô trong anh em, niềm hy vọng vinh quang”, Đức Thánh Cha nhận xét rằng “sự hiện diện của Chúa Kitô giữa chúng ta không chỉ là một niềm an ủi, mà còn là một lời hứa và một lời mời. Một lời mời gọi hãy ra đi, với tư cách là những nhà truyền giáo, để mang thông điệp về sự dịu dàng của Chúa Cha, về sự tha thứ và lòng thương xót của Người cho mọi người nam nữ và các trẻ em”.
Sau đó, Đức Giáo Hoàng mời gọi suy tư về hai cử chỉ của Chúa Giêsu liên quan đến “chiều kích truyền giáo của Bí tích Thánh Thể”: đức tin và việc rửa chân. Ngài nói: “Chúng ta biết rằng việc Chúa Giê-su chia sẻ bữa ăn với các môn đệ, và đặc biệt là với những người tội lỗi và những người bị gạt ra ngoài lề thì quan trọng như thế nào”. “Tại mỗi Thánh lễ, chúng ta phải được thôi thúc để noi gương Chúa, ra đi gặp gỡ người khác”. “Ở Châu Á, nơi Giáo hội dấn thân vào việc đối thoại, tôn trọng các tín đồ của các tôn giáo khác, chứng tá ngôn sứ này rất thường xảy ra, như chúng ta biết, qua cuộc đối thoại của cuộc sống”.
Đối với Đức Thánh Cha, “việc làm chứng của những cuộc đời được tình yêu của Thiên Chúa biến đổi là cách tốt nhất để công bố lời hứa về vương quốc hòa giải, công lý và hiệp nhất cho gia đình nhân loại”. Sau đó, ngài giải thích việc rửa chân là một “dấu hiệu của sự phục vụ khiêm nhường, của tình yêu vô điều kiện mà Chúa đã hiến mạng sống mình trên Thánh giá để cứu độ thế giới. Thánh Thể là trường học của sự phục vụ khiêm nhường. Nó dạy chúng ta sẵn sàng ở đó vì người khác. Đây cũng là trung tâm của người môn đệ truyền giáo”.
Ước muốn của Đức Thánh Cha là Đại hội Thánh Thể vừa kết thúc này “có thể củng cố anh chị em trong tình yêu của anh chị em đối với Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể. Chớ gì Đại hội làm cho anh chị em, như những môn đệ truyền giáo, có thể mang kinh nghiệm tuyệt vời về sự hiệp thông trong Giáo hội và sự dấn thân truyền giáo cho các gia đình, các giáo xứ và cộng đoàn của anh chị em và cho các Giáo hội địa phương của anh chị em. Chớ gì nó là một thứ men hòa giải và hòa bình cho toàn thế giới”.
Hồng Thủy
2021
Cha Guillaume Conquer, linh mục truyền giáo tại Campuchia
Cha Guillaume Conquer, linh mục truyền giáo tại Campuchia
Cha Guillaume Conquer là một linh mục trẻ thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), đã ở Campuchia gần hai năm qua. Ngoài hoạt động mục vụ, cha còn phụ trách trang tiếng khmer của Wikipedia. Cha chia sẻ về những thách đố và hy vọng trong khi loan báo Tin Mừng qua văn hoá, ngay cả khi bách khoa toàn thư trực tuyến “không phải là một công cụ để chiêu dụ tín đồ, nhưng là một công cụ tìm kiếm Chân Lý”.
Ảnh: Asianews
Là một nhà truyền giáo trẻ của Hội Thừa sai Paris, cha Guillaume Conquer được truyền chức linh mục tại Giáo phận của công quốc Monaco và sau đó đến Campuchia thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Hiện nay, cha đang dấn thân hoà mình trong cánh đồng truyền giáo tại làng Chom Lak, hướng dẫn đàn chiên bé nhỏ khiêm tốn.
Là biên tập viên của Wikipedia từ năm 2008, vào ngày 17/8 vừa qua, cha Conquer đã tổ chức một hội thảo trực tuyến về Wikimania với 15 người tham dự. Wikimania là một hội nghị thường niên nhằm tôn vinh khả năng tự do tiếp cận kiến thức nhờ các tình nguyện viên khắp nơi trên thế giới. Được tổ chức và tài trợ bởi Tổ chức Wikimedia, lẽ ra năm nay, hội thảo sẽ diễn ra tại Bangkok nhưng đã được chuyển sang trực tuyến từ Campuchia theo ý muốn của cha Conquer.
Cha cho biết, trang Wikipedia tiếng Khmer đã được tạo ra cách đây 15 năm, nhưng từ năm 2016, số biên tập viên đã giảm. Hiện nay trang này phụ thuộc vào thế hệ trẻ để phát triển. Mục tiêu của cha là tăng gấp đôi số lượng bài viết của trang trong năm tới.
Khi được hỏi sứ vụ của cha có liên quan gì đến Wikipedia? Cha giải thích: “Điều này thực tế có liên quan đến một truyền thống lâu đời của pháp. Vào thế kỷ 19, tại châu Á, các học giả quan tâm đến tiếng Pali và tiếng Phạn, như tại châu Âu là tiếng Latinh. Tiếng Campuchia là ngôn ngữ nói, phổ biến. Các cuốn từ điển tiếng Pháp-Khmer đầu tiên được các nhà truyền giáo thực hiện và một số cuốn chính xác đến mức chúng vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Công việc của tôi với WIkipedia cũng vậy. Đó là một nhiệm vụ to lớn, nhưng nó đang sống”.
Tới đây, mọi người có thể đặt ra câu hỏi khác: “Nhưng trong từ điển, đâu là sứ vụ?”. Linh mục truyền giáo 32 tuổi giải thích tiếp: “Đó là sự nhập thể của Ngôi Lời. Kiến thức trở thành xác phàm”. Nhưng cha cũng chỉ ra: “Wikipedia không phải là công cụ phù hợp để chiêu dụ tín đồ. Thành công của nó được đưa ra bởi quan điểm trung lập. Đó là không gian dành cho kiến thức, không phải để rao giảng. Và điều này vẫn là một thách đố lớn. Tôi đã viết trang về thánh Tôma Aquinô. Nhưng làm thế nào để người Campuchia hiểu rằng vị thánh này đã cách mạng hóa triết học? Điều này không dễ dàng”.
Cha cho biết, còn có những khó khăn khác liên quan đến ngôn ngữ. Ví dụ, trong làng mọi người rất tôn trọng cha, nhưng khi cha đi ra ngoài họ không biết ứng xử với cha như thế nào. Đối với một tín đồ Phật giáo, linh mục nghĩa là gì họ vẫn chưa hiểu thấu đáo. Do đâu mà Giáo hội đã đến một đất nước có lịch sử phong phú như vậy? Đôi khi rất khó dịch ngay cả những khái niệm cơ bản của Kitô giáo cho người dân.
Rồi còn có khó khăn về vật chất. Đa phần người dân không có máy tính. Mỗi tháng, trang có 3 triệu lượt truy cập, nhưng chỉ có khoảng chục người đóng góp cho lĩnh vực này. Cha khám phá nhiều điều khi xem dữ liệu của những người truy cập các trang Wikipedia tiếng Campuchia, như độ tuổi, nội dung quan tâm. Người Campuchia quan tâm đến lịch sử, các chính trị gia của họ. Mọi người sử dụng điện thoại, nhưng trong các trường học không có phòng máy. Bên cạnh đó còn có những thách đố do đại dịch gây ra, như tỷ lệ học sinh bỏ học và sợ hãi do chính phủ siết chặt các quy định. Trong chế độ Khmer Đỏ, các trường học đã từng bị đóng cửa trong bốn năm. Mọi người sợ rằng điều tương tự có thể xảy ra hoặc chính phủ sẽ không nói sự thật về số người chết vì Covid-19”.
Và cuối cùng là khó khăn về kinh tế. Vì chính phủ Campuchia yêu cầu phải thực hiện cách ly ít nhất trong 2 tuần khi đến đất nước này, vì vậy không có khách du lịch. Tất cả những người làm việc trong lĩnh vực này đều đã không còn việc làm.
Cha nói: “Các sự kiện lớn bị cấm, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục cử hành Thánh lễ. giáo xứ của tôi, có 20 người, thực tế là một ngôi nhà bình thường của người dân Campuchia! Nhưng chưa bao giờ có nhiều Kitô hữu trong cả nước và khắp các tỉnh thành như vậy. Đó là một khoảnh khắc duy nhất đối với Giáo hội. Chúng tôi nhận ra mình đang sống trong một thời điểm hồng ân”.
Ngọc Yến
2021
Sơ Fatima Emmanuel – người Samaria nhân hậu của người vô gia cư và người nghèo Malaysia
Sơ Fatima Emmanuel – người Samaria nhân hậu của người vô gia cư và người nghèo Malaysia
Sơ Fatima Emmanuel là một nữ tu Công giáo 57 tuổi, sống ở thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia. Từ năm 2018, sơ điều hành” Ngôi nhà Hy vọng Samaria”, một trung tâm dành cho người nghèo, người vô gia cư, với mục đích cung cấp cho họ nơi trú ẩn và các dịch vụ hỗ trợ để họ có thể hòa nhập với cuộc sống. Cầu nguyện đã thêm sức mạnh giúp sơ vượt qua những khó khăn thử thách.
Ảnh: UCAN
Cơ hội cộng tác với các tôn giáo
Mỗi ngày, sơ Fatima và một số tình nguyện viên cung cấp 350 gói đồ ăn thức uống cho người nghèo tại trung tâm Ngôi nhà Hy vọng Samaria. Nhưng những hạn chế của đại dịch đã cản trở các dịch vụ quan trọng của sơ. Khi đại dịch Covid-19 tấn công Malaysia và lệnh cấm vận trên toàn quốc được áp dụng vào tháng 3 năm ngoái, sơ rất đau lòng trước hoàn cảnh của người nghèo. Sơ chia sẻ: “Mọi người không được phép tụ tập và do đó những người vô gia cư không thể đến Ngôi nhà Hy vọng Samaria để dùng bữa. Vì vậy, chúng tôi đã phải thay đổi cách làm của mình để đóng gói thực phẩm và phân phát trước cửa trung tâm”.
Tuy nhiên, cách làm này cũng không có hiệu quả vì Kuala Lumpur áp dụng phong tỏa nghiêm ngặt, những người vô gia cư bị buộc phải rời khỏi đường phố và tạm trú trong các ký túc xá cộng đồng. Sơ Fatima và các tình nguyện viên quyết định đến các nơi này để cung cấp ít nhất 200 gói thực phẩm mỗi ngày. Đối với sơ, “đây là cơ hội vàng để làm việc cùng với những người thuộc các tín ngưỡng khác nhau và làm chứng cho tình yêu của Chúa Ki-tô”.
Những điều kỳ diệu Chúa đã làm
Sơ Fatima phải được cảnh sát cho phép đặc biệt để thực hiện các dịch vụ của mình. Sơ nói: “Thật là căng thẳng khi phải giữ cân bằng giữa những khuôn mặt đói khát và những quy định mới”. Việc chuẩn bị và giao thức ăn còn khó khăn hơn vì các tình nguyện viên thường xuyên làm việc cho Ngôi nhà Hy vọng Samaria gặp khó khăn khi đến trung tâm. Những người anh em vô gia cư của Nhà trọ Samaria đã hỗ trợ họ. Sơ rất vui mừng khi thấy sự biến đổi của những người vô gia cư giờ đây đã trở thành tình nguyện viên tại nơi họ lấy thức ăn để sinh sống.
Trung tâm cũng nhận được điện thoại từ các gia đình tị nạn và lao động nhập cư nước ngoài đang rất cần được giúp đỡ trong bối cảnh mất việc làm và thu nhập. Sơ Fatima cung cấp cho họ những gì có thể nhưng cũng giới thiệu họ với những người cùng chí hướng và cộng đồng. Sơ chia sẻ: “Trong những thời điểm tốt và xấu, Chúa đã ban cho chúng ta sức mạnh để tiếp tục. Tôi có thể làm chứng cho nhiều điều kỳ diệu đã xảy ra tại Ngôi nhà Hy vọng Samaria, nơi chúng tôi đã chứng kiến hai con cá và năm chiếc bánh được gia tăng lên nhiều”.
Ơn gọi phục vụ người nghèo cao tuổi
Sơ Fatima Emmanuel sinh ra trong một gia đình Công giáo vào ngày 5 tháng 3 năm 1964, tại thị trấn Taiping thuộc bang Perak của Malaysia. Sơ là con thứ hai trong gia đình có bốn người con. Gia đình sơ không chỉ có tinh thần tôn giáo trong việc cầu nguyện mà còn trong hành động vì ông nội của sơ là một giáo lý viên. Sơ kể: “Từ khi còn nhỏ, ông nội và cha mẹ tôi đã dạy tôi cách chia sẻ với người nghèo những gì chúng tôi có”. Niềm khao khát được phục vụ người nghèo được gieo vào lòng sơ từ thời thơ ấu đã thôi thúc sơ trở thành một nữ tu.
Năm 20 tuổi, Fatima gia nhập dòng Tiểu muội người nghèo, một dòng nữ do thánh nữ Jeanne Jugan người Pháp thành lập năm 1839. Dòng có khoảng 2.300 thành viên ở 31 quốc gia và đặc sủng chính của dòng là phục vụ những người nghèo cao tuổi. Theo trang web của dòng, các nữ tu của dòng đang phục vụ khoảng 13.000 người cao tuổi nghèo khổ trên toàn cầu. Tinh thần của Thánh Jeanne Jugan đã truyền cảm hứng cho sơ Fatima; sơ đã tìm thấy niềm vui trong “sự nhỏ bé và khiêm nhường trong Giáo hội và phục vụ những người nghèo cao tuổi”.
Kinh nghiệm đức tin tại châu Phi
Sơ Fatima đã truyền giáo ở nhiều nước khác nhau ở Châu Âu, Châu Phi và Châu Á trong hơn 30 năm. Sơ trở lại Malaysia vào năm 2014. Những kinh nghiệm truyền giáo đã dạy cho sơ những bài học tuyệt vời về cuộc sống. Sơ chia sẻ: “Ở Châu Phi [Congo, Nigeria và Kenya], người dân đã dạy tôi rằng người ta có thể hạnh phúc và hài lòng với những gì mình có. Người dân đã dạy tôi niềm tin vui vẻ giữa đau khổ và chấp nhận hoàn cảnh mà chúng tôi đang gặp phải. Họ dạy tôi nhìn thấy bàn tay của Chúa ngay cả giữa chiến tranh”.
Người dân châu Phi cũng để lại một ấn tượng sâu đậm khác đối với sơ. “Họ không bao giờ chất vấn Chúa giữa lúc đau khổ. Thay vào đó, họ biết ơn về sự chăm sóc quan phòng của Thiên Chúa. Cộng đồng Châu Phi đã xây dựng đức tin của tôi để tôi mạnh mẽ hơn và vui vẻ hơn trong cuộc sống”.
Trở về nhà ở Malaysia, sơ Fatima phục vụ dòng ở Kuala Lumpur. Vào năm 2015, sơ đã đến thăm Carl’s Kitchen Feeding Program, một bếp súp do Tổng giáo phận Kuala Lumpur điều hành. Cho đến tháng 6 năm 2018, bếp ăn đã cung cấp những suất ăn miễn phí cho những người nghèo và người gặp khó khăn. Sơ Fatima vô cùng xúc động trước vẻ mặt buồn bã và bối rối của những người đến lấy thức ăn tại Carl’s Kitchen. Tuy nhiên, sơ chưa sẵn sàng tham gia vào sứ vụ vì sơ đã phục vụ người nghèo trong nhiều thập kỷ.
Ảnh: Twitter
Phục vụ tất cả người nghèo
Sau đó, sơ quyết định phục vụ người nghèo ở mọi lứa tuổi, không chỉ người già. Sau hai năm phân định, thông qua các khóa tĩnh tâm và linh hướng, vào năm 2018 sơ đã rời khỏi dòng để hoạt động độc lập, phục vụ tất cả những người vô gia cư. Đức Tổng Giám mục Julian Leow của Kuala Lumpur đã cho phép sơ thi hành sứ vụ cho những người vô gia cư trong tổng giáo phận. Sơ nói: “Thật không dễ dàng để rời khỏi khu vực quen thuộc của tôi và cộng đoàn của tôi, nhưng Chúa có một giấc mơ khác cho tôi và cho công việc của Người”.
Sơ Fatima bắt đầu đến thăm những người vô gia cư và nghèo khổ trên đường phố để cung cấp thực phẩm và vật dụng y tế cho họ. Ngay sau đó, một nhóm tình nguyện viên đã tham gia cùng sơ. Họ cùng nhau giải cứu một số người đàn ông vô gia cư, đưa họ đến các cơ sở cai nghiện và giúp họ tìm việc làm.
Ngôi nhà Hy vọng Samaria
Vào tháng 11 năm 2018, sơ đã thành lập Ngôi nhà Hy vọng Samaria cho những người vô gia cư. Tại trung tâm, những người vô gia cư được ăn sáng và ăn trưa từ thứ Hai đến thứ Bảy. Họ có thể tắm rửa và giặt quần áo. Họ có thể ở lại bao lâu họ không có nơi nào để đi. Hai lần một tháng, các bác sĩ Công giáo khám bệnh miễn phí cho họ. Các tù nhân giúp đỡ trong việc duy trì trung tâm. Sơ Fatima và các tình nguyện viên tổ chức sinh nhật cho các tù nhân và các lễ hội như Tết Nguyên Đán, Eid, Diwali và Giáng sinh tại trung tâm như một cử chỉ thấm nhuần tinh thần gia đình và tình cảm thân thuộc.
Sơ Fatima nói rằng họ cần một nơi lớn hơn và tốt hơn để phục vụ và cải tạo nhiều người vô gia cư hơn. Vào tháng 4 năm 2020, sơ thuê một tòa nhà hai tầng ở Selangor. Nhà trọ Samaria mới này là một nơi trú ẩn tạm thời và có bảy tù nhân.
Cầu nguyện là sức mạnh để vượt qua thử thách
Niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa và lời cầu nguyện đã mang lại cho sơ Fatima nghị lực để vượt qua mọi thử thách. Sơ tin rằng Chúa đã và đang cung cấp tất cả các nhu cầu về tinh thần và vật chất cho Ngôi nhà Hy vọng Samaria bao gồm các tình nguyện viên, nhà hảo tâm, những đóng góp và việc cải tạo người vô gia cư. Sơ nói: “Chúng ta không thể là người truyền giáo nếu không cầu nguyện vì cầu nguyện là một phần thiết yếu của sứ mệnh truyền giáo. Chúng ta phải tin rằng Chúa sẽ không bỏ rơi người nghèo và họ rất quý giá đối với Người”.
Hồng Thủy
2021
Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!
Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!
Khi đọc Cựu ước, đừng cho rằng nó sai lầm chỉ vì có những điểm không tương đồng với cảm thức đương đại.
Cựu ước chứa đựng nhiều luật lệ khác nhau, nhưng chúng lại không phù hợp với cảm thức hiện nay và có thể gây ra những trở ngại cho việc đọc Kinh thánh. Có một số cách để giải quyết chuyện này.
Đầu tiên, đừng cho rằng Cựu ước sai lầm chỉ vì một số lập trường của nó không tương đồng với cảm thức đương đại. Quan niệm rằng tư tưởng của chúng ta ngày nay tự động vượt trội so với tư tưởng của thế giới cổ đại phản ánh một hình thức của lỗi ngụy biện dựa vào cái mới; cần phải chất vấn liệu những tư tưởng hiện đại có vấn đề hay không.
So với những người thời xưa, chúng ta hưởng một cuộc sống rất nhẹ nhàng và thoải mái, vì thế thật hợp lý để chất vấn liệu một số những quan điểm của chúng ta có thể trở nên phi thực tế hay thậm chí là suy đồi hay không.
Tiếp nữa, chúng ta cần thừa nhận rằng, một số các luật lệ bị đặt vấn đề đều nằm trong bộ Ngũ thư (các sách từ Sáng thế đến Đệ nhị luật) và như thế, chúng phản ánh về tình trạng sơ khai của một mặc khải tiệm tiến. Chính Đức Giêsu khẳng định rằng Môsê đưa ra một số luật lệ cho dân Israel chỉ vì họ lòng chai dạ đá (Mc 10,5). Thiên Chúa sẵn lòng khoan thứ cho một số thực hành nhất định của dân Israel trong một thời gian, cuối cùng Người mới mặc khải toàn bộ thánh ý của Người qua Đức Kitô. Vì lẽ ấy, sự khó hiểu do một luật lệ cụ thể mang lại, thực ra lại thể hiện việc Thiên Chúa đã khoan thứ vì dân Israel chưa đạt đến tình trạng tiến triển hơn về văn hóa và tâm linh.
Thứ ba, việc đọc cẩn trọng những bản văn luật cho thấy rằng, thay vì hàm ý một sự cho phép, lề luật thực ra đang cố gắng hạn chế thiệt hại xảy ra trong một tình huống. Chẳng hạn, một số người cảm thấy bị sốc bởi những quy định nói về điều mà đàn ông Israel có thể làm khi họ bắt giữ được phụ nữ trong giao chiến và muốn cưới họ (Đnl 21,10-14), tuy nhiên, mục đích của luật này thật ra là để kiềm chế những hành vi khác của nam giới và cung cấp những sự bảo vệ cho các tù nhân nữ.
Theo đó, người đàn ông không được phép cưới người phụ nữ ngay lập tức. Có một giai đoạn chờ đợi mà người phụ nữ được ăn vận kém hấp dẫn và để tang cho cha mẹ mình, khoảng thời gian này giúp người đàn ông có cơ hội xem xét lại (Đnl 21,12-13). Bản văn cảnh báo người đàn ông, người vẫn cố muốn cưới người phụ nữ này, rằng anh ta đã “làm nhục cô ấy” (Đnl 21,14), và nếu anh ta quyết định ly dị, thì cô ta có quyền đi bất cứ đâu mình muốn, bao gồm việc quay trở lại nhà mình. Người đàn ông không được phép bán hay đối xử với cô ta như một nô lệ. Do đó, bản văn có mục đích hạn chế cách mà những người Israel đối xử với tù nhân nữ.
Thứ tư, chúng ta cần hiểu về những nguyên tắc mà lề luật đặt nền tảng trên đó. Chẳng hạn, nhiều người thời nay phê phán những tuyên bố gây ấn tượng khắc nghiệt của Cựu ước, như việc cho phép chuyện “mắt đền mắt, răng đền răng”. Tuy nhiên, hiểu cách chính xác, những đoạn văn này diễn tả về nguyên tắc công bằng và hướng đến việc tăng triển ích chung.
Ba đoạn văn đề cập đến nguyên tắc “mắt đền mắt” gồm: Xuất hành 21,22-25; Lêvi 24,17-21 và Đệ nhị luật 19,16-21. Đoạn văn thứ nhất giải quyết tình huống những người đàn ông đánh nhau và vô tình gây thương tổn cho một phụ nữ có mang, làm cô ta sẩy thai. Đoạn văn thứ hai giải quyết việc một người đàn ông tấn công và làm thương tật người khác. Bản văn thứ ba giải quyết trường hợp một người làm chứng gian ở tòa để hãm hại người vô tội. Mỗi bản văn đều xuất hiện một qui tắc chung: “Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm” (Xh 21,23-25).
Lưu ý rằng những đoạn văn này có mục đích để tòa án sử dụng khi một tội ác đã được thực hiện. Chúng không phải là những chỉ dẫn dạy người ta trả thù cá nhân. Mục đích của việc có một hệ thống tòa án là để ngăn con người thực hiện những hành vi này bằng cách đảm bảo cho công lý được thực thi khi bên vô tội bị làm hại.
Nếu con người tự trả thù, họ thường thực hiện điều đó cách thái quá. Chẳng hạn, một người bị gây thương tích hay nhìn thấy người mình yêu thương bị thương tổn có thể sẽ sát hại thủ phạm. Các tòa án và luật lệ tồn tại để giữ cho điều này không diễn ra. Để thực hiện đúng vai trò của mình, các tòa án cần thực thi luật pháp cách công bằng. Nếu họ quá khoan nhượng, mọi người có thể giải quyết vấn đề theo cách của riêng họ. Do đó mới có những đoạn về “mắt đền mắt”. Chúng hướng dẫn cho các tòa án đưa ra hình phạt phù hợp với tội phạm, đây là một nguyên tắc nền tảng của công lý. Nguyên tắc này thúc đẩy công ích và trật tự xã hội bằng cách ngăn cản người khác tự tiện trả thù.
Trong một thế giới không có hệ thống nhà tù với số lượng lớn, điều này có thể được hiểu theo nghĩa đen là “mắt đền mắt”, dù nó không luôn là như vậy. Sách Dân số 35,31 định rõ không một khoản tiền chuộc nào được chấp nhận trong trường hợp giết người, điều này ám chỉ rằng trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, bên phạm tội có thể trả một khoản bồi thường. Như vậy, một người có thể tránh “mắt đền mắt” nếu trao trả một khoản bồi thường thích đáng cho bên bị hại.
Công lý cũng có thể được lòng thương xót tôi luyện theo những cách khác. Vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khuyên các cá nhân “hãy giơ má kia nữa” thay vì cứ bám sát vào thứ công lý “mắt đền mắt” (Mt 5,38-39).
