2021
Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!
Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!
Khi đọc Cựu ước, đừng cho rằng nó sai lầm chỉ vì có những điểm không tương đồng với cảm thức đương đại.
Cựu ước chứa đựng nhiều luật lệ khác nhau, nhưng chúng lại không phù hợp với cảm thức hiện nay và có thể gây ra những trở ngại cho việc đọc Kinh thánh. Có một số cách để giải quyết chuyện này.
Đầu tiên, đừng cho rằng Cựu ước sai lầm chỉ vì một số lập trường của nó không tương đồng với cảm thức đương đại. Quan niệm rằng tư tưởng của chúng ta ngày nay tự động vượt trội so với tư tưởng của thế giới cổ đại phản ánh một hình thức của lỗi ngụy biện dựa vào cái mới; cần phải chất vấn liệu những tư tưởng hiện đại có vấn đề hay không.
So với những người thời xưa, chúng ta hưởng một cuộc sống rất nhẹ nhàng và thoải mái, vì thế thật hợp lý để chất vấn liệu một số những quan điểm của chúng ta có thể trở nên phi thực tế hay thậm chí là suy đồi hay không.
Tiếp nữa, chúng ta cần thừa nhận rằng, một số các luật lệ bị đặt vấn đề đều nằm trong bộ Ngũ thư (các sách từ Sáng thế đến Đệ nhị luật) và như thế, chúng phản ánh về tình trạng sơ khai của một mặc khải tiệm tiến. Chính Đức Giêsu khẳng định rằng Môsê đưa ra một số luật lệ cho dân Israel chỉ vì họ lòng chai dạ đá (Mc 10,5). Thiên Chúa sẵn lòng khoan thứ cho một số thực hành nhất định của dân Israel trong một thời gian, cuối cùng Người mới mặc khải toàn bộ thánh ý của Người qua Đức Kitô. Vì lẽ ấy, sự khó hiểu do một luật lệ cụ thể mang lại, thực ra lại thể hiện việc Thiên Chúa đã khoan thứ vì dân Israel chưa đạt đến tình trạng tiến triển hơn về văn hóa và tâm linh.
Thứ ba, việc đọc cẩn trọng những bản văn luật cho thấy rằng, thay vì hàm ý một sự cho phép, lề luật thực ra đang cố gắng hạn chế thiệt hại xảy ra trong một tình huống. Chẳng hạn, một số người cảm thấy bị sốc bởi những quy định nói về điều mà đàn ông Israel có thể làm khi họ bắt giữ được phụ nữ trong giao chiến và muốn cưới họ (Đnl 21,10-14), tuy nhiên, mục đích của luật này thật ra là để kiềm chế những hành vi khác của nam giới và cung cấp những sự bảo vệ cho các tù nhân nữ.
Theo đó, người đàn ông không được phép cưới người phụ nữ ngay lập tức. Có một giai đoạn chờ đợi mà người phụ nữ được ăn vận kém hấp dẫn và để tang cho cha mẹ mình, khoảng thời gian này giúp người đàn ông có cơ hội xem xét lại (Đnl 21,12-13). Bản văn cảnh báo người đàn ông, người vẫn cố muốn cưới người phụ nữ này, rằng anh ta đã “làm nhục cô ấy” (Đnl 21,14), và nếu anh ta quyết định ly dị, thì cô ta có quyền đi bất cứ đâu mình muốn, bao gồm việc quay trở lại nhà mình. Người đàn ông không được phép bán hay đối xử với cô ta như một nô lệ. Do đó, bản văn có mục đích hạn chế cách mà những người Israel đối xử với tù nhân nữ.
Thứ tư, chúng ta cần hiểu về những nguyên tắc mà lề luật đặt nền tảng trên đó. Chẳng hạn, nhiều người thời nay phê phán những tuyên bố gây ấn tượng khắc nghiệt của Cựu ước, như việc cho phép chuyện “mắt đền mắt, răng đền răng”. Tuy nhiên, hiểu cách chính xác, những đoạn văn này diễn tả về nguyên tắc công bằng và hướng đến việc tăng triển ích chung.
Ba đoạn văn đề cập đến nguyên tắc “mắt đền mắt” gồm: Xuất hành 21,22-25; Lêvi 24,17-21 và Đệ nhị luật 19,16-21. Đoạn văn thứ nhất giải quyết tình huống những người đàn ông đánh nhau và vô tình gây thương tổn cho một phụ nữ có mang, làm cô ta sẩy thai. Đoạn văn thứ hai giải quyết việc một người đàn ông tấn công và làm thương tật người khác. Bản văn thứ ba giải quyết trường hợp một người làm chứng gian ở tòa để hãm hại người vô tội. Mỗi bản văn đều xuất hiện một qui tắc chung: “Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm” (Xh 21,23-25).
Lưu ý rằng những đoạn văn này có mục đích để tòa án sử dụng khi một tội ác đã được thực hiện. Chúng không phải là những chỉ dẫn dạy người ta trả thù cá nhân. Mục đích của việc có một hệ thống tòa án là để ngăn con người thực hiện những hành vi này bằng cách đảm bảo cho công lý được thực thi khi bên vô tội bị làm hại.
Nếu con người tự trả thù, họ thường thực hiện điều đó cách thái quá. Chẳng hạn, một người bị gây thương tích hay nhìn thấy người mình yêu thương bị thương tổn có thể sẽ sát hại thủ phạm. Các tòa án và luật lệ tồn tại để giữ cho điều này không diễn ra. Để thực hiện đúng vai trò của mình, các tòa án cần thực thi luật pháp cách công bằng. Nếu họ quá khoan nhượng, mọi người có thể giải quyết vấn đề theo cách của riêng họ. Do đó mới có những đoạn về “mắt đền mắt”. Chúng hướng dẫn cho các tòa án đưa ra hình phạt phù hợp với tội phạm, đây là một nguyên tắc nền tảng của công lý. Nguyên tắc này thúc đẩy công ích và trật tự xã hội bằng cách ngăn cản người khác tự tiện trả thù.
Trong một thế giới không có hệ thống nhà tù với số lượng lớn, điều này có thể được hiểu theo nghĩa đen là “mắt đền mắt”, dù nó không luôn là như vậy. Sách Dân số 35,31 định rõ không một khoản tiền chuộc nào được chấp nhận trong trường hợp giết người, điều này ám chỉ rằng trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, bên phạm tội có thể trả một khoản bồi thường. Như vậy, một người có thể tránh “mắt đền mắt” nếu trao trả một khoản bồi thường thích đáng cho bên bị hại.
Công lý cũng có thể được lòng thương xót tôi luyện theo những cách khác. Vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khuyên các cá nhân “hãy giơ má kia nữa” thay vì cứ bám sát vào thứ công lý “mắt đền mắt” (Mt 5,38-39).
2021
Không bao giờ là quá muộn khi muốn tìm ân sủng của Chúa.
Không bao giờ là quá muộn khi muốn tìm ân sủng của Chúa.
Vào ngày 24-2-1954, Jacques Fesch đã sát hại một cảnh sát và làm bị thương 3 người khác ở gần đó. Tội phạm thật rõ ràng. Trong quá trình cố ăn trộm từ một nhà buôn tiền, mọi thứ đã không diễn ra êm xuôi. Jacques bị kết tội giết người và bị kết án tử hình. Ngày 1-10-1957, anh bị xử tử.
Jacques sinh ra trong một gia đình giàu có. Cha của anh là một chủ ngân hàng thành công đến từ nước Bỉ. Ông cũng là một nghệ sĩ và một người vô thần, rất ít quan tâm đến cậu con trai. Được mẹ nuôi dưỡng thành tín hữu Công giáo, Jacques là một người hay mơ mộng. Anh cũng lười biếng và chẳng có tham vọng gì. Cha mẹ anh ly hôn khi anh 17 tuổi. Jacques trở nên khép kín, và có hạnh kiểm tồi tệ đến mức bị trường đuổi học. Cha anh đã giao cho anh một công việc tại ngân hàng của ông, nhưng Jacques, người đã từ bỏ đức tin Công giáo, bắt đầu ăn chơi và gặp rắc rối.
Bạn gái của Jacques là Pierrette đã có thai. Khi Jaques 21 tuổi, anh và Pierrette đã kết hôn trong một đám cưới dân sự. Anh nghỉ việc ở ngân hàng của cha mình, bắt đầu chè chén say sưa và không làm được việc gì có ý nghĩa. Anh bỏ bê vợ con của mình, và có con với một người phụ nữ khác.
Jacques lúc đó 24 tuổi. Anh đã có vợ và một con gái, và một đứa con khác nữa với nhân tình. Anh quá mệt mỏi căng thẳng nên đã ngỏ lời xin người cha giàu có của mình mua cho anh một chiếc thuyền để đi Tahiti. Cha anh từ chối. Không hy vọng thoát khỏi cuộc sống mà anh đã tạo ra cho chính mình, Jacques Fesch mua một khẩu súng và toan tính đi ăn cướp của một nhà buôn tiền.
Tên người buôn tiền là Alexander Silberstein. Fesch đánh vào đầu hắn, nhưng Silberstein đã bấm chuông báo động. Một cảnh sát tên Jean Vergne ở gần đó đã chạy đến hiện trường. Jacques, chạy ra khỏi hiện trường, quay lại và bắn trả dữ dội vào viên cảnh sát đang lao tới. Jean Vergne chết tại hiện trường. Ba người chứng kiến bị thương. Jacques Fesch bị bắt vài phút sau đó khi anh cố gắng chạy vào tàu điện ngầm.
Tội ác này đã tạo ra một cơn chấn động. Các bài báo về sự tàn bạo này bùng nổ trên khắp nước Pháp, và đám tang của viên cảnh sát bị giết đã xuất hiện trên tất cả các bản tin truyền hình. Báo chí theo dõi phiên tòa của Jacques, và bầu không khí “kịch tính” đã khiến cả nước theo dõi diễn tiến phiên tòa sát sao cho đến hồi kết. Vào ngày 6-4-1957, Jacques Fesch bị kết án tử hình vì (các) tội ác của mình. Cách hành quyết ở Pháp là xử tử hình bằng máy chém.
Jacques bị biệt giam tại nhà tù La Sante ở Paris. Khi vị tuyên úy nhà tù lần đầu tiên tiếp cận người đàn ông bị kết án, Jacques đã đuổi ngài đi. Nhưng vị tuyên úy vẫn tiếp tục nỗ lực, và sau cùng hai người trở nên thân thiết. Trong thời gian này, một người bạn cũ của Jacques đã được thụ phong linh mục. Ngài bắt đầu đến thăm anh. Và còn một nhân vật thứ ba nữa đã khiến Jacques hoán cải, chính là luật sư của anh. Tên ông là Baudet, một người Công giáo sùng đạo.
Với Chúa, mọi sự đều có thể
Ba nhân vật này đã làm việc cùng nhau như những công cụ của ân sủng ban xuống từ trời cao. Người đàn ông bị kết án tử này bắt đầu xem xét lại cuộc sống của mình. Khi nhìn nhận mình đã gây ra nỗi đau và thống khổ cho quá nhiều người, anh đã đi vào một hành trình hoán cải. Jacques đã trở lại với đức tin Công giáo của mình, đã ôm lấy nó với cả con tim.
Jacques bấy giờ đã coi phòng giam của mình như một tu viện. Anh đọc tiểu sử tâm linh của Thánh Phanxicô Assisi và Thánh Têrêxa thành Lisieux. Anh thường xuyên liên lạc với gia đình, đặc biệt với người anh trai và mẹ kế của anh. Anh viết nhật ký tâm linh hằng ngày – mà một ngày kia sẽ thành cuốn sách thu hút trí tưởng tượng của nhiều người. Anh đã làm hòa với vợ vào đêm trước khi chết. Vào ngày 1-10-1957, gần 6 tháng sau khi bị tuyên án, Jacques Fesch đã bị xử tử vì tội ác của mình.
Pierrette – vợ của Jacques, và Veronica – con gái của anh, đã tìm cách công bố những bức thư của anh như là điển hình của ơn cứu độ. Lúc đầu, không ai quan tâm. Nhưng với sự giúp đỡ của nữ tu Veronique Dòng Cát Minh và linh mục Augustin-Michel Lemonnier, họ đã xuất bản các tác phẩm của anh. Từ những năm 1970 cho đến hôm nay, những tác phẩm này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người.
Vào ngày 21-9-1987, Đức Hồng y Jean-Marie Lustiger – Tổng Giám mục Paris – đã mở một cuộc điều tra cấp giáo phận về cuộc đời của Jacques Fesch (nhằm phong chân phước cho anh). Năm 1993, án phong thánh cho anh chính thức được mở tại Rôma, mang lại cho Jacques danh hiệu Tôi tớ của Chúa.
Chúng tôi đã mở đầu bài viết này bằng hai câu của dụ ngôn “Đứa Con Hoang Đàng”, một Phúc âm về sự tha thứ. Chúng tôi sẽ kết thúc bài viết này bằng hai câu khác cũng của Phúc âm Luca, phản ánh sự hoán cải đáng chú ý nhất mọi thời đại. Kẻ trộm lành Dismas đã nói với Chúa Giêsu khi Ngài bị treo trên thập giá:
“Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Đức Giêsu nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 42-43)
Vâng, đối với Chúa, lòng thương xót và sự tha thứ luôn hằng tồn tại đến muôn đời.
Larry Peterson (Aleteia)
Tóc Ngắn chuyển ngữ
2021
Mahira Bergallo Brzezicki – vận động viên bại não bẩm sinh – vượt thắng nghịch cảnh nhờ đức tin
Mahira Bergallo Brzezicki – vận động viên bại não bẩm sinh – vượt thắng nghịch cảnh nhờ đức tin
Trong số hàng trăm vận động viên khuyết tật về thể chất hoặc trí tuệ tham dự Thế vân hội dành cho người khuyết tật diễn ra tại Tokyo từ ngày 24/8 đến 5/9 năm nay có vận động viên trẻ Mahira Bergallo Brzezicki, 19 tuổi, người Argentina, bị bại não bẩm sinh. Cô tự hào vì đã vượt qua nghịch cảnh và chắc chắn rằng việc cô được chọn thi đấu là một câu trả lời của Chúa.
Từ Oberá, Argentina, Bergallo tham dự sự kiện với tinh thần phó thác chính bản thân cho Chúa và đeo một chiếc vòng đeo tay có Thánh giá.
Từ bại não bẩm sinh đến trở thành vận động viên
Bergallo không tưởng tượng được mình sẽ chọn thi đấu cho Argentina, bởi vì cô luôn chỉ đặt những “mục tiêu nho nhỏ” phù hợp với tình trạng thể chất của mình. Cô rất ngạc nhiên khi được chọn tham gia Paralympics ở Tokyo và cô chỉ được biết vào cuối tuần cuối tháng 6. Kể từ đó, cô đã đan xen những ngày của mình giữa việc học đại học về truyền thông với một lịch trình luyện tập căng thẳng và nhóm canh tân trong Thánh Linh mà cô là thành viên.
Bergallo sinh ngày 22/8/2001, khi thai được sáu tháng. Ca sinh nở rất phức tạp. Bergallo chào đời sau chị gái song sinh và do thiếu oxy nên cô bị bại não. Điều này ảnh hưởng đến khả năng di chuyển, nhưng không ảnh hưởng đến trí tuệ của cô. Không có bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán tình trạng thể chất của cô, lên 4 tuổi cô mới bắt đầu biết đi. Thậm chí, gia đình còn cho rằng cô bị khuyết tật nhẹ là do di truyền.
Trong khi Bergallo đang cố gắng vượt thắng nạn bắt nạt ở trường, cô bắt đầu chơi thể thao một cách khó khăn. Chỉ đến năm cô 14 tuổi, các chuyên gia mới chẩn đoán được vấn đề của cô.
Kể từ đó, các chuyên gia đã hướng sự nhiệt tình và cống hiến của cô gái trẻ này cho các môn thể thao thích hợp. Thật không dễ dàng để Bergallo chấp nhận điều đó, nhưng qua nhiều năm, lắng nghe câu chuyện của các bạn học khác của mình, cô đã hiểu ra rằng mọi thứ là như vậy và cô tự hào về mình.
Bergallorất gần gũi với gia đình, bao gồm cha mẹ, chị gái sinh đôi, em trai và bà, những người “không bao giờ đối xử khác biệt với cô”. Cô biết ơn đội điền kinh, huấn luyện viên, người giống như một người cha và người đã giúp cô vượt qua nhiều điều, những người bạn và những người mà cô đã gặp trong cuộc đời. Họ đã giúp cô hiểu rằng đó là con người cô đã từng là và cô đã khám phá ra một Mahira Bergallo khác mà cô không hề biết.
Bám vào đức tin
Nhưng trên hết, Bergallo chia sẻ, “Tôi bám vào đức tin rất nhiều. Thiên Chúa chiếm một vị trí rất lớn trong cuộc đời tôi. Chúa đã hướng dẫn tôi và Người đã hướng dẫn tôi đến vị trí của ngày hôm nay”. “Tôi luôn xin với Chúa cho tôi thấy tôi là ai. Khi còn nhỏ, tôi đã tự hỏi mình ‘tôi là ai’, ‘tôi ở trên thế giới này để làm gì’ và Người đã chỉ cho tôi những điều mà chỉ có thể đến từ Người”. “Hôm nay tôi biết con đường của mình là gì và tôi phải đi theo con đường nào và tôi rất vui khi xác nhận điều đó. Tôi nghĩ đây là và đã là điều tôi đã hy vọng, và nó thậm chí còn tốt hơn”.
Kinh nghiệm sống này là điều mà Mahira Bergallo cố gắng chia sẻ với những người trẻ cùng cô tham gia trong nhóm cầu nguyện dành cho giới trẻ tại nhà nguyện Đức Mẹ Fatima. Cùng với chị gái song sinh của mình, cả hai đều hướng dẫn và đồng hành với nhóm, nơi cô thích cầu nguyện, ca ngợi, rao giảng và chia sẻ với những người bạn cùng lứa, những người cũng đang tìm kiếm câu trả lời từ Chúa và những người ủng hộ cô. Cô chia sẻ: “Họ giống như anh chị em của tôi, họ quan tâm đến sức khỏe của tôi, về lịch trình của tôi, thậm chí họ sẽ giúp tôi mọi thứ cho chuyến đi”.
Thể thao đã thay đổi cuộc sống của Bergallo: “Nó ở trong cuộc sống hàng ngày của tôi, mọi thứ đều liên quan đến nó, nó hoạt động trong mọi việc và tôi không thể ngừng tập luyện nữa. Và nếu không còn thi đấu được nữa, tôi nghĩ mình sẽ cống hiến cho nghề báo, chuyên về thể thao”.
Hồng Thủy
2021
Giáo hội Ba Lan tổ chức ‘ngày liên đới’ với người dân Afghanistan
Giáo Hội Công giáo ở Ba Lan sẽ tổ chức “ngày liên đới” để hiệp thông với người dân Afghanistan gặp nhiều đau khổ vì chiến tranh, vào ngày 5 tháng 9 tới đây.
Đức Tổng Giám mục Stanisław Gądecki, chủ tịch hội đồng giám mục Ba Lan./ episkopat.pl.
Đức Tổng giám mục Stanisław Gądecki, chủ tịch hội đồng giám mục Ba Lan, đã kêu gọi người Công giáo cầu nguyện và hỗ trợ tài chính cho 38 triệu người ở quốc gia đa số theo đạo Hồi hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Taliban.
“Lắng nghe tiếng nói của Đức Thánh Cha Phanxicô, người đã kêu gọi tất cả những người thiện chí ‘cầu nguyện với Thiên Chúa , để những tiếng ồn ào của khí giới trở nên im lặng, và các giải pháp hòa bình có thể được tìm thấy trên bàn đối thoại’, tôi kêu gọi các mục tử và các tín hữu của Giáo hội ở Ba Lan cầu nguyện và trợ giúp vật chất cho những người đang đau khổ ở Afghanistan,” Đức Tổng giám mục Gądecki viết trong một thông điệp ngày 27 tháng 8.
Các Đức giám mục của Ba Lan đã nhất trí ủng hộ một chiến dịch toàn quốc hiệp thông với những người Afghanistan bị vướng vào biến động hiện nay trong một cuộc họp tại Jasna Góra, miền nam Ba Lan, vào ngày 25 tháng 8.
Các chiến binh Taliban đã giành quyền kiểm soát thủ đô Kabul của Afghanistan vào ngày 15 tháng 8. Bước tiến nhanh chóng của nhóm này diễn ra khi nhiều thường dân Afghanistan và công dân Hoa Kỳ tìm cách rời khỏi đất nước này trước khi Mỹ và các lực lượng khác rút lui hoàn toàn.
Khi chương trình sơ tán tại sân bay Kabul kết thúc, sau một vụ đánh bom giết chết 13 quân nhân Hoa Kỳ, hàng nghìn người di chuyển đến biên giới của Afghanistan trong nỗ lực thoát khỏi nơi đây.
Ba Lan đã đưa 937 người Afghanistan ra khỏi sân bay Kabul trong chiến dịch sơ tán. Họ sẽ được hỗ trợ bởi các cơ quan chức năng ở quốc gia Trung Âu.
Trong một diễn biến đặc biệt, một nhóm người di cư từ Afghanistan vẫn bị mắc kẹt trong tình trạng bế tắc ở biên giới giữa Ba Lan và Belarus.
Những người Công giáo tham dự Thánh lễ trên khắp Ba Lan vào ngày 5 tháng 9 sẽ cầu xin ơn Chúa cho nền hòa bình ở Afghanistan trong Lời cầu nguyện của các tín hữu. Tiền dâng cúng sau Thánh lễ sẽ được dành để hỗ trợ công việc của Ủy ban Caritas với người di cư và người tị nạn, cả ở Ba Lan và nước ngoài.
Đức Tổng giám mục Gądecki giải thích: “Hợp tác với Caritas ở Pakistan, quốc gia có nhóm người tị nạn lớn nhất từ Afghanistan, một dự án can thiệp nhân đạo kéo dài ba tháng nhằm hỗ trợ khẩn cấp cho khoảng 1.500 gia đình”.
Ngài nói thêm: “Caritas Ba Lan sẽ khởi động một chương trình toàn quốc để hỗ trợ những người tị nạn ngay tại quê hương của chúng ta – từ trợ giúp tinh thần, tâm lý và xã hội, đến hỗ trợ ngôn ngữ, pháp lý và y tế, cũng như tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ đa văn hóa và hỗ trợ tình nguyện trong các giáo xứ và trên các phương tiện truyền thông.”
Sau buổi đọc kinh Truyền tin vào ngày 29 tháng 8, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh mối quan tâm của ngài đối với người dân Afghanistan.
Ngài nói: “Trong những thời điểm lịch sử như thế này, chúng ta không thể thờ ơ, lịch sử của Giáo hội dạy chúng ta điều này.”
“Là những người theo Tin Chúa, tình huống này khiến chúng ta phải nỗ lực hết sức,” ngài tiếp tục. “Đó là lý do tại sao tôi kêu gọi anh chị em hãy tăng cường cầu nguyện và thực hành ăn chay. Cầu nguyện và ăn chay, cầu nguyện và sám hối”.
Duc Trung Vu, CSsR, theo Catholic News Agency (30.8.2021)
