Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: GH Hoàn Vũ

Home / Tin tức / GH Hoàn Vũ
20Tháng Chín
2021

Nguồn gốc bản Kinh Thánh Bảy Mươi (LXX)

20/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Tác giả: Paul Lawrence, PhD
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

Bản dịch Kinh Thánh sớm nhất từ tiếng Hípri sang tiếng Hy Lạp ra đời vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Được gọi là bản Bảy Mươi, bản dịch này theo truyền thống được thực hiện dưới triều vua Ptolemy II Philadelphus  Ai Cập (285-246 BC).

Thường được gọi là bản “Septuaginta” (tiếng Latinh nghĩa là “bảy mươi”) vì theo câu chuyện được lưu lại trong Thư Aristeas, 72 dịch giả đã dịch ra nó. Bức thư này kể lại rằng vua Ptolemy II đã ủy thác cho viên quản thủ thư viện hoàng gia, Demetrius thành Phaleron, sưu tập bằng cách mua lại hay sao chép tất cả các sách thánh trên thế giới. Ông còn viết thư cho Eleazar, thượng tế ở Giêrusalem, xin gởi đến 6 vị trưởng lão trong mỗi chi tộc, vị chi là 72 vị, có đời sống gương mẫu và thông thạo các sách Lề Luật (Torah), đến để dịch Kinh Thánh sang tiếng Hy Lạp.

Vừa đến Alexandria, các dịch giả được nhà vua tiếp đón và ban cho một bữa yến tiệc sang trọng. Sau đó họ giam mình trong ngôi nhà kín cổng cao tường trên đảo Pharos gần bờ biển, nơi ngọn hải đăng cao 110 mét, một trong 7 kỳ quan thế giới, vừa được xây dựng xong.

Theo thư Aristeas, bản dịch dưới sự điều hành của Demetrius được hoàn tất trong 72 ngày. Khi cộng đồng người Do Thái ở Alexandria họp lại để nghe bản dịch mới, các dịch giả và Demetrius nhận được nhiều lời khen tặng, và người ta loan báo một lời nguyền rủa cho bất kỳ ai thêm thắt, chuyển đổi hay bỏ sót bất kỳ một lời nào trong đó. Công trình cũng được đọc cho vua nghe, theo như lời của Thư Aristeas, và ông ngạc nhiên về trí tuệ của các nhà ban hành luật lệ. Các dịch giả về Giêrusalem, mang theo nhiều tặng phẩm cho mình và cả thượng tế Eleazar nữa.

Các thế hệ sau này vẽ vời thêm vào câu chuyện. Philo thành Alexandria, thế kỷ thứ I AD, viết rằng mỗi dịch giả được chia ra ở những căn phòng kín tách biệt nhau, thế mà kỳ lạ thay các bản văn dịch đều giống nhau như một, điều đó chứng tỏ rằng bản dịch của họ đã được Thiên Chúa linh hứng.

Xét lại về nguồn gốc

Thật khó biết các câu chuyện này đáng tin ở mức độ nào. Có đôi điều về lịch sử rõ ràng là không chính xác lắm trong Thư Aristeas. Ai cũng biết là khi lên ngôi thì vua Ptolemy II đã đuổi cổ Demetrius thành Phaleron đi rồi. Và một trong những người được cho là hiện diện tại bữa tiệc khoản đãi, ông Menodemus thành Eritria, được biết là đã qua đời hai năm trước khi Ptolemy II lên ngôi. Nhưng ngay cả khi những câu chuyện liên quan đến bản Bảy Mươi là không đúng thì ít ra không phải tất cả đều không đúng, ít ra hầu như chắc chắn rằng Ptolemy II đã thúc đẩy công việc dịch thuật các sách Lề Luật (Torah), năm cuốn đầu tiên của Sách Thánh Do Thái giáo.

Tầm quan trọng của bản dịch Bảy Mươi

Sau những cuộc chinh phục của Alexander Đại đế (336-323 BC), tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức của Ai Cập, Syria và phía đông biển Địa Trung Hải. Bản dịch Bảy Mươi giúp phổ biến sách thánh Do Thái giáo cho những người Do Thái không còn nói tiếng mẹ đẻ và cả thế giới nói tiếng Hy Lạp nữa. Bản Bảy Mươi sau này trở thành Kinh Thánh của Giáo Hội sơ thời nói tiếng Hy Lạp, và thường được trích dẫn trong Tân Ước.

Những dấu vết về nguồn gốc Ai Cập của bản Bảy Mươi

Chính trong bản dịch Bảy Mươi có để lộ ra những dấu vết nào về nguồn gốc Ai Cập của mình không? Trong sách Lêvi 11 và Đệ Nhị Luật 14 có một danh sách các loài thú và chim không thanh sạch, nghĩa là những loài vật mà người Do Thái không được ăn thịt. Việc xác định chính xác nhiều loài chim trong bản danh sách này vẫn còn không rõ ràng. Bản danh sách này thật thú vị đối với nhà điểu học nhưng là cơn ác mộng của nhà dịch thuật. Chính xác là loài chim nào thì cũng không liên quan gì đến chúng ta. Ngay cả bản Bảy Mươi dịch có chính xác hay không thì cũng không liên quan gì đến chúng ta.

Trong sách Lêvi 11,17 ta có loài chim gọi là yanshuph. Bản Bảy Mươi dịch là ibis, một loài chim mà người Ai Cập gọi là hbj. Bản CGKPV dịch là “cú mèo”. Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch là “vó”. Bản Anh ngữ Revised Standard dịch theo bản dịch Bảy Mươi là “ibis”. Tuy nhiên phần lớn các bản dịch Anh ngữ đều dịch Yanshuph  là một loài cú (a kind of owl).

Loài chim mà tiếng Hípri gọi là qa’a trong Lêvi 11,18 được dịch là “bồ nông” (pelican) theo bản Bảy Mươi là pelekan. Tuy nhiên, một số bản dịch Anh ngữ không theo bản Bảy Mươi mà chọn một loài cú khác.

Arnebet rõ ràng là “thỏ” hoặc “thỏ rừng”. Tuy nhiên, từ này không được dịch là lagos, một từ thông dụng trong tiếng Hy Lạp để chỉ “thỏ” hoặc “thỏ rừng”. Lêvi 11,6 trong bản Bảy Mươi đã chọn từ choirogryllion nghĩa là “con heo con”, và Đệ Nhị Luật 14,7 đã dùng một uyển ngữ là dasypous, nghĩa là “chân thô.” Một bản dịch tiếng Hy Lạp khác là bản Aquila đã dùng từ lagos mà không cần phải sử dụng một từ khác. Tại sao bản Bảy Mươi lại tránh né từ lagos? Lý do là vì ông nội của vua Ptolemy II có tên “nickname” là “Lagos,” bởi vì ông có đôi tai dài! Điều này cho thấy xuất xứ Ai Cập rõ ràng của bản dịch Bảy Mươi.

Một ví dụ thời danh và rất ý nghĩa có liên quan đến từ “Biển đỏ”. Yam suph trong tiếng Hípri có nghĩa là “Biển sậy” (reed sea), một từ thường hay được sử dụng để chỉ con nước mà người Do Thái băng qua khi họ đào thoát khỏi Ai Cập. Con nước này thường được cho là các sông hồ và đầm lầy nước mặn ở phía bắc Vịnh Aqaba. Tuy nhiên bản Bảy Mươi dịch là  Erythra thalassa, nghĩa là “Biển đỏ”, và từ này được Tân Ước sử dụng trong Cv 7,36 và Dt 11,39.

Nhưng do đâu mà có từ “Biển đỏ”? Có thể là do từ Edom trong tiếng Hípri có nghĩa là “đỏ”, và người Edomites chiếm cứ vùng đất phía nam Israel cho đến Vịnh Aqaba. Biển này được biết dưới tên gọi là biển của người Edomite hoặc Biển đỏ. Một cách giải thích khác là nó được gọi là “đỏ” và đây là màu nổi bật của các ngọn núi vùng Arab và Edomite bao bọc Vịnh Aqaba.

Những đặc điểm của bản dịch Bảy Mươi (Septuaginta)

Bản dịch Bảy Mươi có một số đặc điểm nổi bật. Trong sách Châm Ngôn 6,8b, sau câu ngạn ngữ Do thái nói về con kiến (“nó tích lũy lương thực mùa hè, nó thu nhặt của ăn trong mùa gặt hái”), bản Bảy Mươi thêm câu ngạn ngữ Hy Lạp nói về con ong: “Hoặc đi đến tổ ong và học sự cần mẫn của nó và cách nó làm việc tận tình; thành quả lao nhọc của nó được các vua chúa và người dân dùng cho sức khỏe, nó được mọi người ước muốn và tôn trọng, dù thân xác yếu đuối nhưng tiến xa về sự khôn ngoan.”

Bản dịch gốc của sách Đanien trong bản Bảy Mươi được cho là quá rườm rà. Nó được thay thế bằng một bản dịch khác dường như có nguồn gốc từ Tiểu Á, được gán cho Theodotion vào cuối thế kỷ thứ II AD. Thật vậy, hiện nay chỉ còn sót lại một bản thảo sách Đanien của bản dịch Bảy Mươi – một bản thảo ở thế kỷ thứ X trong bộ sưu tập Chigi ở Vatican.

Một đoạn văn dài trong chương 11 sách Đanien nói về các vua miền Bắc và miền Nam, bản Bảy Mươi nguyên thủy dịch “vua miền Nam” là “vua Ai Cập”. Bản dịch Theodotion đã thay thế lại bằng “vua miền Nam”.

Đặc biệt hơn cả là bốn mẫu tự YHWH là tên gọi của Thiên Chúa trong bản văn Hípri đã được chuyển thành ho Kyrios trong bản dịch Bảy Mươi. Các bản Anh ngữ dịch là “the LORD”. Bản CGKPV dịch là “ĐỨC CHÚA”.

Nhiều ví dụ cho thấy các tác giả Tân Ước theo bản dịch Bảy Mươi hơn là văn bản gốc tiếng Hípri. Ta có 4 ví dụ sau đây:

1) Trong Sáng Thế Ký 47,31, bản Hípri viết: “Ông Israel sụp xuống lạy ở đầu giường”, còn bản Bảy Mươi và thư Do Thái 11,21 thì viết: “trên đầu gậy”.

2) Trong Thánh Vịnh 8,6, bản Hípri viết: “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên”, còn bản Bảy Mươi và thư Do Thái 2,7 viết: “Chúa đã làm cho con người thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, ban vinh quang, danh dự làm mũ triều thiên.”

3) Trong Thánh Vịnh 16,10, bản Hípri viết: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty (Sheol), không để Vị Thánh của Ngài nhìn thấy phần mộ”,  còn bản Bảy Mươi và sách Tông Đồ Công Vụ viết: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty (Hades), cũng không để Vị Thánh của Ngài thấy sự hư nát”.

4) Trong Thánh Vịnh 40,(6)7, bản Hípri viết: “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con”, còn bản Bảy Mươi và thư Do Thái 10,5 viết: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Ở đây các dịch giả đã giải thích ý nghĩa ẩn dụ, người tôi tớ của ĐỨC CHÚA không chỉ lắng nghe và vâng lời giới răn của ĐỨC CHÚA ở tai mà thôi nhưng toàn thân thể.

Những hạn chế của bản Bảy Mươi

Giáo Hội Chính Thống cho rằng bản dịch Bảy Mươi chính xác hơn bản Hípri và nên sử dụng bản Bảy Mươi để dịch Kinh Thánh sang các thứ tiếng khác. Tuy nhiên cũng nên biết rằng bản Bảy Mươi có những hạn chế.

Sách Gióp trong bản Bảy Mươi ngắn hơn 1/6 so với bản Hípri truyền thống được gọi là bản Masoretic. Những phần bỏ sót đã được bản dịch Hy Lạp Theodotion lấy lại. Sách Giêrêmia trong bản Bảy Mươi ngắn hơn 1/8 so với bản Masoretic, những đoạn lập lại bị cắt bỏ và thứ tự bị thay đổi. Hơn nữa, bản Bảy Mươi thường ghi lại những con số khác, chẳng hạn như số tuổi của vài vị tổ phụ trong sách Sáng Thế Ký:

Stk Nhân vật Bản Masoretic Bản Bảy Mươi
5,3 Tuổi của Ađam khi sinh Sết 130 230
5,6 Tuổi của Sết khi sinh Ênốt 105 205
5,28 Tuổi của Laméc khi sinh Nôê 182 188
5,31 Tuổi thọ của Laméc 777 753

Như vậy, có lẽ vì bản Bảy Mươi được vua Ptolemy II hoan hỉ đón nhận nên chẳng mấy ngạc nhiên khi nó không được người Do Thái chấp nhận cách rộng rãi: “Có lẽ đó là ngày báo gỡ cho dân Israel như ngày tạc tượng con bò vàng, bởi vì Lề Luật không được dịch cách chính xác” (Mesechet Sopherim [Luận văn dành cho các Ký lục] 1.7).

Ý nghĩa cuối cùng của bản Bảy Mươi

Chính vì giáo hội sơ thời chấp nhận bản Bảy Mươi nên đó là lý do mà người Do Thái đã bỏ nó đi. Cách dùng từ parthenos nghĩa là “trinh nữ” trong Isaia 7,14 để nói đến mẹ của người con trai được hứa tên là Emmanuel, đã được Matthêô 1,23 sử dụng như là bằng chứng cho sự ra đời trinh thai của Đức Giêsu.

Giống như bất kỳ bản dịch nào, bản Bảy Mươi cũng có những hạn chế của mình, nhưng đây là bản dịch đầu tiên Sách Thánh của Do Thái giáo sang một thứ tiếng khác, do đó vị trí của nó trong lịch sử thế giới đã được bảo đảm. Hơn nữa, các tác giả Tân Ước thường sử dụng nó như là bản văn Cựu Ước, điều này càng làm tăng thêm tầm quan trọng của nó.

Read More
20Tháng Chín
2021

Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha Ngày 19.9.2021, Chúa Nhật 25 Mùa Thường niên

20/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

 Lúc 12:00 giờ trưa Chúa Nhật 19/9, ĐTC đã cùng đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô. Như thường lệ, trước khi đọc Kinh Truyền Tin, ngài có một bài huấn dụ ngắn với các tín hữu dựa trên đoạn Tin Mừng của ngày Chúa Nhật 25 thường niên.

Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Bài Tin Mừng của Phụng vụ hôm nay (Mc 9, 30-37) thuật lại rằng, trên đường lên Giêrusalem, các môn đệ Chúa Giêsu đã tranh luận xem ai là người “lớn nhất trong các ông” (c. 34). Sau đó, Chúa Giêsu đã nói với họ một câu mạnh mẽ, mà cũng áp dụng cho chúng ta ngày nay: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người” (c. 35). Nếu muốn là người đứng đầu, phải đến xếp hàng, trở nên người cuối cùng, và phục vụ mọi người. Qua câu ngắn gọn này, Chúa mở đầu một sự đảo ngược: Ngài lật ngược các tiêu chí đánh dấu điều gì thực sự quan trọng. Giá trị của một người không còn phụ thuộc vào vai trò của họ, vào thành công họ đạt được, công việc họ làm, vào số tiền họ có trong ngân hàng. Không, không phụ thuộc vào những điều đó. Sự vĩ đại và thành công, trong cái nhìn của Thiên Chúa, có một thước đo khác: chúng được đo bằng sự phục vụ. Không phải những gì bạn có, mà dựa trên những gì bạn cho đi. Bạn có muốn nổi trội không? Hãy phục vụ. Đây là con đường.

Ngày nay, từ “phục vụ” xuất hiện hơi mờ nhạt, bị suy yếu do quá trình sử dụng. Nhưng trong Tin Mừng, nó có một ý nghĩa chính xác và cụ thể. Phục vụ không phải là một biểu hiện của phép lịch sự: đó là làm như Chúa Giêsu, Đấng đã nói, với cuộc sống được tóm tắt trong vài lời, Người đến “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mc 10,45). Vì vậy, nếu muốn theo Chúa Giêsu, chúng ta phải đi theo con đường mà chính Người đã vạch ra, con đường phục vụ. Sự trung thành của chúng ta với Chúa tùy thuộc vào sự sẵn lòng phục vụ của chúng ta. Điều này thường phải trả giá, nó “có mùi vị của Thánh giá”. Tuy nhiên, khi sự quan tâm và sẵn sàng đối với người khác càng tăng, chúng ta càng trở nên tự do hơn từ bên trong, giống như Chúa Giêsu. Càng phục vụ, chúng ta càng cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa. Trên hết, khi chúng ta phục vụ với lòng trắc ẩn dịu dàng, những ai không có gì để đền đáp, những người nghèo, những người gặp khó khăn và cần kíp… Ở đó, chúng ta khám phá ra rằng, đến lượt mình, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và ôm lấy.

Để minh họa điều này, sau khi nói về sự ưu tiên cho việc phục vụ, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ. Chúng ta thấy rằng, những cử chỉ thì mạnh hơn lời nói. Ngài đón nhận một trẻ em và đặt ở giữa các môn đệ, ở trung tâm, ở vị trí quan trọng nhất (xem câu 36). Trẻ em, trong Tin Mừng, không đại diện cho sự ngây thơ cho bằng sự nhỏ bé. Bởi vì những người nhỏ bé, như trẻ em, phụ thuộc vào người khác, vào người lớn, chúng cần được đón nhận. Chúa Giêsu ôm lấy đứa trẻ và nói rằng: ai tiếp đón một em nhỏ như em này thì tiếp đón chính Ngài (xem câu 37). Trước hết, phục vụ ai? những người cần nhận và không có gì để trả lại. Bằng cách chào đón những người ở bên lề, bị bỏ rơi, chúng ta chào đón Chúa Giêsu, bởi vì Ngài ở đó. Và trong một người nhỏ bé, trong một người nghèo mà chúng ta phục vụ, chúng ta cũng nhận được vòng tay dịu dàng của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, trước những chất vấn của Tin Mừng, chúng ta hãy tự hỏi mình một số câu hỏi: Tôi, những người theo Chúa Giêsu, quan tâm đến người bị bỏ quên nhất không? Hay, giống như các môn đệ ngày xưa, tôi đang tìm kiếm sự thỏa mãn cá nhân? Tôi có hiểu cuộc sống là một cuộc cạnh tranh để giành chỗ cho bản thân và đạp đổ người khác, hay tôi nghĩ rằng, sự nổi trội nghĩa là phục vụ? Và, một cách cụ thể: tôi có dành thời gian cho một “người nhỏ bé” nào đó, cho một người không đủ khả năng để đền đáp không? Tôi có chăm sóc một người không thể trả lại tôi hay chỉ dành cho người thân và bạn bè của tôi? Đây là câu hỏi mà chúng ta có thể tự đặt ra cho mình.

Xin Đức Trinh Nữ Maria, tôi tớ khiêm nhường của Chúa, giúp chúng ta hiểu rằng: việc phục vụ không làm chúng ta nhỏ lại, nhưng làm cho chúng ta lớn lên. Và rằng: cho thì vui hơn là nhận (Cv 20,35).

Nguồn: vaticannews.va/vi/

 

 Văn Yên, S.J

 

Read More
20Tháng Chín
2021

Lễ giỗ của Đấng Đáng Kính ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận tại Roma – 2021

20/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Roma lúc 12h00 ngày 17/9/2021 (tức 17h00 Hà Nội), đã diễn ra Thánh lễ giỗ năm thứ 19 của Đấng Đáng Kính Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận tại Vương cung thánh đường Thánh Maria ở Trastevere (Basilica Santa Maria in Trastevere).

Thánh lễ giỗ do Đức Hồng Y Peter Turkson – Bộ trưởng Bộ Phát triển Con người Toàn diện chủ tế, đồng tế với ĐHY Bộ trưởng còn có các ĐHY, quý Đức ông, các linh mục, chủng sinh, tu sĩ và cộng đoàn tham dự hơn 130 giáo dân cả người Việt và người nước ngoài.

Từ 3 năm qua, các Thánh lễ giỗ kính nhớ Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie đã không thể cử hành do đại dịch nCoV-19.

Năm nay, Thánh lễ đã được diễn ra tại Vương cung thánh đường Thánh Maria – Trastevere, gần nơi an nghỉ của ngài. Hiện nay, mộ của Đức Cố Hồng Y đang được lưu trong nhà thờ nhỏ Thánh Maria Cầu Thang (dẫn đưa về trời – Santa Maria della Scala), thuộc khu trung tâm nổi tiếng về du lịch Trastevere của Roma. Thánh đường rộng lớn để cộng đoàn tham dự vẫn giữ những quy định về việc giữ khoảng cách nơi công cộng (1m an toàn tại Italia).

Trong bài chia sẻ lời Chúa, ĐHY Peter đã nêu ra ba điểm mà trích thư của Thánh Phaolo gửi tín hữu Roma cũng như qua Tin mừng Luca được soi chiếu vào chính cuộc đời của chứng nhân hy vọng lỗi lạc, là Đấng Đáng Kính Đức Cố Hồng Y Phanxicô. Ngài là một con người tràn đầy tình yêu thương, yêu cả những kẻ bách hại mình; ngài cũng là một người có trái tim tràn đầy lòng thương xót và nơi ngài luôn sáng ngời Đức tin trung thành, lòng cậy trông và tình yêu mến.

ĐHY Peter mời gọi mọi người hãy là môn đệ kiên trung mạnh mẽ xây dựng Giáo hội bằng chính cuộc đời của mỗi người trên con đường nên thánh, như chính mẫu gương của Đấng Đáng Kính Đức cố Hồng Y Phanxicô mà chúng ta đang tưởng nhớ.

Trước khi kết thúc Thánh lễ, cha Chủ tịch Liên tu sĩ Roma: Tôma Nguyễn Đình Anh Nhuệ, OFM đã thay lời cho cộng đoàn người Việt tại Roma có lời tri ân quý Đức Hồng Y, quý Đức Cha và cộng đoàn tham dự. Cha Toma xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho tiến trình phong Thánh của Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sớm được Chúa thương chấp nhận.

Trước khi ra về, cộng đoàn cùng đọc kinh chung cầu nguyện cho Đức cố Hồng Y và xin ngài bầu cử cho con dân Nước Việt được bình an, mau chóng bước qua cơn đại dịch.

Read More
13Tháng Chín
2021

Các nhà khảo cổ phát hiện đồng bạc 2000 năm tuổi quý hiếm ở miền trung Israel

13/09/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Các nhà khảo cổ phát hiện đồng bạc 2000 năm tuổi quý hiếm ở miền trung Israel

 

Mười sáu (16) đồng xu bằng bạc có niên đại 2.140 năm đã được phát hiện trong một cuộc khai quật khảo cổ học ở miền trung Israel. Một hệ thống đường hầm có thể đã được sử dụng trong Cuộc nổi dậy vĩ đại năm 66 sau Công nguyên cũng đã được khai quật.

Địa điểm khai quật

Cơ quan Quản lý Cổ vật Israel (IAA) hôm thứ Ba xác nhận rằng số tiền xu được tìm thấy vào tháng 4 tại thành phố Modi’in, phía tây Giêrusalem. Các nhà khảo cổ học đã tiến hành một cuộc khai quật trên một khu đất nông nghiệp trên đỉnh đồi do một gia đình Do Thái thành lập. Kho cất giữ tiền xu có từ thời kỳ Vương quốc Hasmoneus trong Kinh thánh, vương quốc cai trị vùng Giudêa từ năm 140 trước Công nguyên cho đến năm 37 trước Công nguyên. [1]

Giám đốc của cuộc khai quật, Avraham Tendler, suy đoán rằng một trong những thành viên của khu di sản chắc chắn đã phải rời đi và “chôn tiền của mình với hy vọng quay lại và lấy lại nó, nhưng rõ ràng là không may và không bao giờ trở lại.”

Tendler nói: “Thật thú vị khi nghĩ rằng kho cất giữ tiền xu đã chờ đợi ở đây 2.140 năm cho đến khi chúng tôi phát hiện ra nó.”

Cuộc nổi dậy vĩ đại

Theo IAA, những đồng tiền này được đúc ở thành phố Tyrô, ở miền nam Libăng ngày nay và mang chân dung của Antiochus VII và anh trai Demetrius II của ông. Antiochus VII cai trị đế chế Hy Lạp từ năm 138 trước Công nguyên đến năm 129 trước Công nguyên. [2]

Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy một số đồng xu bằng đồng được đúc bởi các vị vua vương triều Do thái Hasmoneus. Chúng mang tên của các vị vua Yehohanan (chú thích của người dịch: Gioan), Giuđa, Giônathan và Mattathias.

Các đồng tiền bằng đồng – có khắc ngày “Năm thứ Hai” của cuộc nổi dậy đầu tiên của người Do Thái địa phương chống lại Đế chế La Mã bắt đầu vào năm 66 sau Công nguyên và khẩu hiệu “Tự Do cho Sion” – cũng là bằng chứng cho thấy các cư dân đã tham gia cuộc nổi dậy.

Một hệ thống đường hầm dưới lòng đất được sử dụng để ẩn náu cũng như những tảng đá lớn dùng để tạo rào chắn cũng đã được khai quật.

“Có vẻ như cư dân địa phương đã không từ bỏ hy vọng giành được độc lập từ Rôma, và họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng để chống lại kẻ thù trong cuộc nổi dậy Bar Kokhba,” Tendler nói.

Công viên khảo cổ trong đường ống

Hàng chục chiếc vò rượu bằng đá, cũng như bồn tắm theo nghi lễ của người Do Thái, cũng được phát hiện, cho thấy những người sống trong khu định cư này tuân theo các lề luật nghi lễ về sự tinh sạch và không đụng đến đồ ô uế.

“Các thành viên trong gia đình đã trồng cây ô liu và vườn nho trên những ngọn đồi lân cận và trồng ngũ cốc trong các thung lũng,” Tendler nói và cho biết thêm rằng một khu công nghiệp, bao gồm máy ép ô liu và các kho chứa dầu ô liu, hiện đang được khai quật bên cạnh gia sản của gia đình.

Các cuộc khai quật, chẳng hạn như cuộc khai quật được thực hiện ở Modi’in, là bắt buộc phải thực hiện ở Israel trước khi bất cứ công trình mới nào được xây dựng. Một khu phố mới được lên kế hoạch trên địa điểm này, hiện sẽ bao gồm một công viên khảo cổ để bảo tồn các khám phá của IAA. [3]

THÀNH CỔ HY LẠP CỔ ĐẠI ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở GIÊRUSALEM DƯỚI MỘT BÃI ĐẬU XE

Acra, pháo đài huyền thoại được Antiochus xây dựng cách đây hơn 2.000 năm ở Giêrusalem, đã được khai quật dưới một bãi đậu xe. Tòa thành bị mất được coi là một trong những bí ẩn khảo cổ lớn nhất chưa được giải mã của thế giới.

Những người quen thuộc với truyền thống của người Do Thái sẽ biết đến cái tên Antiochus, vì ông là Vua Hy Lạp đã ra lệnh cấm các nghi lễ tôn giáo của người Do Thái – và điều đó đã châm ngòi cho cuộc nổi loạn Maccabê. Những người nổi dậy đã đánh bại quân Hy Lạp vì binh lình Hy Lạp bị chết đói sau khi những người nổi dậy bao vây thành trì của họ một thời gian dài. Chiến thắng được ghi nhớ với ngày lễ Hanukkah của người Do Thái.

Pháo đài Hy Lạp được xây dựng bởi Hoàng đế Seleucid Antiochus IV Epiphanes (215-164 trước Công nguyên), được gọi là Acra, được đề cập trong ít nhất hai văn bản cổ – Sách Maccabê, kể về cuộc nổi loạn, và một bản ghi chép của sử gia Josephus Flavius.

Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học đã phân vân trong hơn một thế kỷ về vị trí chính xác của tòa thành huyền thoại này. Nhiều người cho rằng nó nằm ở nơi ngày nay là Thành phố Cổ có tường bao quanh của Giêrusalem, một địa điểm được coi là linh thiêng đối với cả những người Do Thái vốn coi nó là Núi Đền Thờ và những người Hồi giáo giữ hai thánh địa ở đó, Dome of the Rock [4] và nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa. [5]

Giờ đây, “một trong những bí ẩn khảo cổ lớn nhất của Giêrusalem” có thể được giải quyết, Cơ quan quản lý cổ vật Israel cho biết vào thứ Ba (31/03/2015). Họ cho rằng thành cổ Hy Lạp này cuối cùng đã được tìm thấy – được chôn cất dưới một bãi đậu xe hơi.

Bãi đậu xe Givati ​​trước đây nằm bên ngoài Thành phố Cổ, trong một khu phố của người Palestine ở phía đông Giêrusalem bị chiếm đóng, trên nơi từng được gọi là Thành phố của David vào năm 168 trước Công nguyên.

Doron Ben-Ami, người dẫn đầu cuộc khai quật, cho biết: “Khám phá giật gân này cho phép chúng tôi lần đầu tiên tái tạo lại bố cục của khu định cư trong thành phố, vào đêm trước của cuộc nổi dậy Maccabê năm 167 TCN”.

Một bức tường khổng lồ có thể là chân tháp đã được phát hiện – dài hơn 20 mét (65 feet) và rộng 4 mét (12 feet).

Những viên đá bằng chì bắn bằng ná và đầu mũi tên bằng đồng từ thời kỳ này cũng được tìm thấy tại các địa điểm chung quanh đó. Các nhà khảo cổ tin rằng chúng còn sót lại sau các trận chiến giữa các lực lượng thân Hy Lạp và phiến quân Do Thái đang cố gắng chiếm pháo đài.

Ben-Ami nói: “Đây là một ví dụ hiếm hoi về việc những viên đá, những đồng xu và bụi bẩn có thể kết hợp với nhau trong một câu chuyện khảo cổ học đề cập đến những thực tế lịch sử cụ thể của thành phố Giêrusalem”. (AFP, Reuters) [6]

Phạm Văn Trung chuyển ngữ.

Chú thích của người dịch:

[1] Các Vương Quốc Hasmoneus  (tiếng Do Thái: חַשְׁמוֹנַּאִים Ḥašmona’īm) là một triều đại cai trị xứ Giuđêa và khu vực xung quanh trong thời kỳ cổ đại, từ 140 TCN đến 37 TCN. Giữa 140 và 116 TCN, vương triều cai trị Giuđêa bán tự trị khỏi Đế chế Seleukos, và từ khoảng năm 110 TCN, khi đế chế tan rã, Giuđêa đã giành được quyền tự trị hơn nữa và mở rộng sang các vùng lân cận như Samaria, Galilêa, Iturêa, Pêrêa và Idumêa. Các nhà cai trị Hasmoneus lấy danh hiệu Hy Lạp là “basileus”, (“vua” hoặc “hoàng đế”), và một số học giả hiện đại gọi thời kỳ này là một vương quốc độc lập của Israel. Vương quốc cuối cùng bị Cộng hòa La Mã chinh phục và vương triều Hasmoneus bị Herôđê Đại đế thay thế vào năm 37 trước Công nguyên.

Vương triều được thành lập dưới sự lãnh đạo của Simon Thassi, hai thập kỷ sau khi anh trai của ông là Giuđa Maccabê (יהודה המכבי Yehudah HaMakabi) đánh bại quân đội Seleucid trong Cuộc nổi dậy Maccabê. Theo quyển 1 và 2 sách Maccabê, và cuốn sách đầu tiên Chiến tranh Do Thái viết bởi sử gia Flavius Josephus (37 – 100 sau Công nguyên), chuyên về Do Thái, thì Vương triều Hasmoneus đã tồn tại được 103 năm trước khi bị sáp nhập vào vương triều Hêrôđê vào năm 37 trước Công nguyên. Việc Hêrôđê Đại đế (người Idumêa) lên làm vua vào năm 37 TCN đã biến Giuđêa trở thành một quốc gia bị trị của La Mã và đánh dấu sự kết thúc của triều đại Hasmoneus. Ngay cả sau đó, Hêrôđê cố gắng củng cố tính hợp pháp của triều đại của mình bằng cách kết hôn với một công chúa Hasmoneus, tên là Mariam, và lên kế hoạch giết chết người đàn ông thừa kế Hasmoneus cuối cùng tại cung điện Giêricô của ông ta. Vào năm 6 CN, Rôma kết hợp Giuđêa, Samaria và Iđumêa thành tỉnh Giuđêa của La Mã. Vào năm 44 CN, La Mã đã thiết lập quy chế kiểm sát song song với quy chế cai trị của các vị vua Hêrôđê, cụ thể là Agrippa I (41–44) và Agrippa II 50–100).

[2] Sách Macabê quyển I, chương 1, có nói đến vị vua “đó là Antiôkhô Êpiphanê, con vua Antiôkhô; vua này đã phải làm con tin ở Rôma, trước khi làm vua năm một trăm ba mươi bảy theo lịch triều Hilạp. Lúc bấy giờ, từ trong Ítraen đã nảy sinh những đứa vô lại, chúng đã dụ dỗ nhiều người như sau: “Nào chúng ta đi ký kết giao ước với các dân tộc láng giềng, vì từ khi sống cách biệt họ, chúng ta gặp phải nhiều tai hoạ.” Những người này thấy lời ấy thật vừa lòng. Một số người trong dân vội đi yết kiến nhà vua. Vua đã cho phép họ sống theo các tập tục của dân ngoại. Thế là họ đã xây một thao trường ở Giêrusalem theo thói các dân ngoại; họ huỷ bỏ dấu vết cắt bì, chối bỏ GiaoƯớc thánh để mang chung một ách với dân ngoại và bán mình để làm điều dữ.

Khi vua Antiôkhô thấy vương quyền đã vững, thì tính làm vua đất Aicập nữa để cai trị cả hai nước. Vua tiến vào Aicập với một đoàn quân đông đảo gồm: chiến xa, voi, kỵ binh và một đội tàu chiến lớn. Vua giao chiến với vua Aicập là Pơtôlêmai. Vua này quay lưng chạy trốn và nhiều người bị tử thương. Họ chiếm đoạt các thành trì kiên cố trong đất Aicập và thu chiến lợi phẩm của đất Aicập. Vua Antiôkhô trở về sau khi đã đánh bại Aicập năm một trăm bốn mươi ba, và vua tiến lên đánh Ítraen; vua tiến lên đến tận Giêrusalem với một đoàn quân đông đảo.

Ông ngạo nghễ đi vào thánh điện và chiếm đoạt bàn thờ bằng vàng, trụ đèn và mọi đồ phụ tùng, bàn để bánh tiến, các bình dùng trong lễ rưới, chén, bình hương bằng vàng, bức trướng, các triều thiên ; và ông lột hết các vật trang trí bằng vàng ở mặt tiền Đền Thờ. Ông lấy bạc, vàng, các vật quý giá, lấy cả các kho tàng đã được cất giấu mà ông tìm được. Vơ vét tất cả xong, ông trở về xứ sở, sau khi đã chém giết thật dã man và nói năng hết sức ngạo mạn.” (câu 10-23).

Đồng tiền mang chân dung Antiôkhô Epiphanê IV, kẻ được nói đến trong sách Macabê I.


Những đồng tiền mang chân dung Antiochus VII và anh trai Demetrius II được khai quật, theo Google Images.

[3] dw.com

[4] nhà thờ Vòm Đá Vàng, là một thánh đường Hồi giáo nằm tại khu vực Núi Đền Thờ  thuộc thành cổ Giêrusalem.

[5] thánh đường Hồi giáo ở Phố Cổ của Giêrusalem, là địa điểm thiêng liêng thứ 3 của Hồi giáo.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 358
  • Page 359
  • Page 360
  • …
  • Page 630
  • Next page
Bài viết mới nhất
ĐỨC THÁNH CHA: CÁC CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẢI LÀ NHỮNG NƠI AN TOÀN CHO MỌI NGƯỜI
22/06/2026
CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
12/06/2026
GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
12/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.