2021
Đức Hồng y Muller phê bình nhiều tổ chức Âu châu
Đức Hồng y Muller phê bình nhiều tổ chức Âu châu
Đức Hồng y Gerhard Ludwig Müller, nguyên Tổng trưởng Bộ Giáo lý đức tin, phê bình nhiều tổ chức Âu châu phá hủy các hệ thống giá trị hiện tại.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Đài Phát thanh Maria ở Ba Lan, truyền đi ngày 16/9/2021 vừa qua, Đức Hồng y Müller nhận định rằng: “Chúng ta đang ở trong một trò hề bi thảm, trong đó các tổ chức Âu châu, như Ủy ban hành pháp của Liên hiệp Âu châu, Nghị viện Âu châu và Tòa án Âu châu đang phê bình hai nước Ba Lan và Hungary, nhân danh những cái gọi là “Các giá trị Âu châu”. Ví dụ, những giá trị này tạo nên quyền phá thai hoặc quyền được đổi giống. Nếu các “quyền” ấy được Âu châu công nhận là “Các giá trị Âu châu” và những nước bênh vực phẩm giá con người, từ lúc mới thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên, đang chiến đấu như thế bị phê bình và tấn công, thì có nghĩa là các hệ thống giá trị bị đảo lộn. Các giá trị có nguồn gốc từ phẩm giá con người, chúng tượng trưng cho điều tốt lành, chứ không phải là một sự phá hủy, ích kỷ, sống mà làm thiệt hại cho người khác về sự sống, sức khỏe, an sinh của họ. Chính vì thế những người bênh vực những cái gọi là “giá trị Âu châu” như vừa nói, họ oán ghét các đại diện của Kitô giáo, như Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Trong cuộc phỏng vấn, Đức Hồng y Müller nhìn nhận luôn có những xì căng đan, gương xấu trong Giáo hội. Trong số 12 tông đồ của Chúa cũng có Giuda, kẻ phản bội Chúa Giêsu và ngay từ đầu, đã không tin sứ mạng cứu thế của Ngài. Vì thế, trong tương lai cũng sẽ luôn có những linh mục, giám mục hoặc tu sĩ phạm tội, vì sự yếu đuối của con người, nhưng đôi khi họ cũng cố tình và có ý xấu, hoặc vì họ có hướng đi sai lầm. Nếu một tín hữu Công giáo, từ những vị ở chức vụ cao nhất, từ linh mục cho đến Giáo hoàng, tuân theo giáo huấn luân lý của Giáo hội, thì những điều mà chúng ta phải đau buồn ngày nay, đã không xảy ra. Chúng ta phải nhận rằng thứ ý thức hệ luân lý tháo thứ về luân lý tính dục, cũng đã tràn vào Giáo hội, với những hậu quả thê thảm. Nhưng cần ý thức rằng đó là những người phải chịu trách nhiệm về những gì họ làm, cả trong lãnh vực luật lệ dân sự cũng như giáo luật. Vì thế, không có lý do để những kẻ chống Giáo hội dùng như sai lỗi cá nhân để cáo buộc toàn thể hàng giáo sĩ hay toàn thể Giáo hội.
(KAI 17-9-2021)
- Trần Đức Anh, O.P
2021
Vì sao giám mục Xavier Malle có nhiều người theo trên mạng xã hội lại… tắt mạng!
Vì sao giám mục Xavier Malle có nhiều người theo trên mạng xã hội lại… tắt mạng!
Ngài giải thích lý do quyết định của mình… có thể làm cư dân mạng suy nghĩ. Giám mục nêu lên các khó khăn trên cương vị của một giám mục trên mạng xã hội.
Đức Giám mục Xavier Malle, 56 tuổi, giáo phận Gap, Pháp, là một trong các giám mục tích cực nhất trên các trang mạng xã hội. Kể từ ngày 14 tháng 9, ngài chuyển sang “chế độ tạm ngưng” dài hạn, nghĩ rằng hoạt động ảo này làm ngài xa sứ mệnh mục vụ của mình.
“Tuyên xưng và loan báo các điều kỳ diệu của Chúa.” Câu trích từ sách Tôbia là phương châm của giám mục giáo phận Gap và Embrun. Và tại sao lại không dám tuyên xưng trên các trang mạng xã hội, khoảng không gian của thời hiện đại? Bốn năm sau khi mở tài khoản trên mạng Twitter, giám mục Xavier Malle tự hỏi về lý do cho sự dấn thân tốn thì giờ này của mình… Với khoảng 7.200 người theo dõi, hơn 14.000 tweet, trung bình 10 câu mỗi ngày, giám mục đã có mặt rất nhiều trên mạng. Để có một so sánh, Đức Tổng Giám mục Michel Aupetit của giáo phận Paris có 20.000 người theo, giám mục Hervé Giraud, giáo phận Sens-Auxerre có gần 47.000 người theo và của cha Grosjean có 46.000 người theo trên Twitter.
Chiếc kính lúp khổng lồ
Nếu giám mục Malle từ giã mạng xã hội dài hạn, nhưng chuyện này không liên quan gì đến các tranh cãi chung quanh video của linh mục trẻ Mathieu trên Tiktok, cha nói ngược với giáo huấn Giáo hội về đồng tính, một cái “gai” của Hội đồng Giám mục Pháp.
Quyết định của giám mục Malle là kết quả của nhiều tháng suy tư mà ngài đã kể lại trong một bài báo dài đăng trên trang giáo phận của ngài.
Trước hết, ngài công nhận một đam mê gần như mê hoặc mà mạng xã hội có thể khơi dậy và theo ngài, dấn thân này đòi hỏi: “Một sự diện diện lâu dài, chấp nhận tiếp xúc, chấp nhận mâu thuẫn, vừa có óc hài hước vừa suy nghĩ, kể một ít về đời sống hàng ngày của mình, v.v. Nếu ngài cho rằng, với tư cách cá nhân, sự có mặt của một giám mục trên mạng xã hội là điều không cần thiết, ngài bị cuốn hút vào mạng… thì bây giờ đã đến lúc ngài phải tách nó: “Bây giờ, tôi thấy rất nhiều bất tiện. Thực tế là tôi không hài lòng với tình trạng này. Mạng xã hội là chiếc kính lúp khổng lồ nói nhiều về tác giả.”
Kiêu căng, lãng phí thì giờ và thiếu độ lùi
Chắc chắn giám mục chia sẻ một ghi nhận khác mà phần lớn những người mê Twitter, Facebook và các trang mạng khác cùng chia sẻ: khía cạnh tốn thì giờ và niềm tự hào có thể quản lý trang. “Nguy cơ là nghĩ: bạn đọc like tôi, nhìn xem, số lượng người theo tôi trên Twitter, trên Facebook nhiều chưa! […] Nhưng tôi có quá gắn bó vào những tài khoản chính thức mới này không? Tôi quá sung túc vì sự công nhận của xã hội này không? Làm thế nào để tôi trả lời câu hỏi của Chúa hỏi người thanh niên giàu có: ‘Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi’(Mt 19). Có phải những mạng xã hội này đang làm tôi phân tán và ngăn tôi trở nên ‘một với Chúa Kitô’ đây không?
Ngoài những nguy cơ này còn nguy cơ của phản ứng tức thời. Truyền thống của một tu sĩ đàng hoàng, muốn một câu Tweet có ý nghĩa phải mất thì giờ của một thánh lễ, của một đêm! Nhưng điều này thường không làm được trên mạng xã hội, thường chúng ta thiếu độ lùi!”
Vì thế ngài thú nhận mình đã rơi vào bẫy của sự tức thời, các chủ đề tạo căng thẳng nhanh chóng. Tiếp nhận người tị nạn, đại dịch Covid 19 và vắc-xin…
Mô tả về “một mô hình thu nhỏ” mà các phản ứng đôi khi rất hung hăng, giám mục nhận thấy bầu khí trên các trang mạng xã hội: “Tôi đã phải chịu rất nhiều bạo lực bằng lời nói (…) Tôi muốn đối thoại với những người có ý kiến trái chiều, nhưng trên thực tế là không thể,” ngài cho biết nhiều khi ngài không ngần ngại có lời nói châm chọc mỉa mai trên Twitter. Muốn đối thoại với người nói ngược với mình, trên thực tế là không thể được: ai cũng có ý tưởng riêng của mình và họ đi tìm đồng minh trên mạng để khẳng định ý của mình, họ không đọc lập luận và các liên kết dẫn đến các bài báo mà bạn đề nghị. Đây là vương quốc của những tin giả.”
Những khó khăn riêng cho sứ vụ của một giám mục
Rủi ro này cũng do phản ứng tự nhiên của tôi. Giám mục Malle cũng nhấn mạnh một khó khăn riêng trong cương vị giám mục của mình: “Tôi ý thức rõ, lời nói của giám mục là lời nói của toàn Giáo hội và của toàn giáo phận, vì những “người theo dõi” không phân biệt được. Đôi khi đường hướng khó duy trì, vì giáo phận không thể can thiệp vào một số vấn đề nào đó.” Ngài trích dẫn đến vấn đề diệt trừ sói, rất quan trọng và cũng là tế nhị trong vùng Hautes-Alpes của ngài, ngài muốn nói nhưng không thể không liên quan đến giáo phận. “Một cách tích cực, mạng xã hội đã trở thành nguồn cung cấp thông tin cho các nhà báo. Một số nhà báo gọi tôi vì họ đọc tin tức của tôi ở đó. […] về mặt tiêu cực, nhà báo có thể bị cám dỗ dùng một lời không đúng ngữ cảnh. Rủi ro khi có làn sóng truyền thông không kiểm soát được”.
Theo một cơ chế gần như tất yếu, mạng xã hội dẫn đến việc “xếp loại”. Chẳng hạn về mặt chính trị, người ta nghĩ tôi ở cánh hữu khi tôi bảo vệ sự sống chưa được sinh ra, bảo vệ một kết thúc tự nhiên mà không có an tử, hoặc ngược lại tôi ở cánh tả nếu tôi nói về người tị nạn đi qua các ngọn núi của chúng tôi.” Cả một vấn đề, “một giám mục không nhất thiết phải ở cánh hữu hay cánh tả; giám mục là mục tử của mọi người. Nhưng nhiệm vụ của giám mục là tìm kiếm đâu là tiêu chuẩn của phân định phù hợp với Tin Mừng và giáo lý xã hội của Giáo Hội và chia sẻ chúng”. Ngài hối tiếc về “hiệu ứng phóng đại” của mạng xã hội: “Nhiều người nghĩ tôi quá tập trung vào một số chủ đề nào đó hoặc tôi dành quá nhiều thì giờ cho những kênh này: chắc chắn điều này đúng một phần. Kết quả là cái nhìn méo mó về tác giả của các câu tweet hoặc các bài đăng.”
Khó khăn rao giảng Tin Mừng trên mạng
Công việc phân định của giám mục có trình độ công nghệ cao cũng nêu bật các khía cạnh tích cực của mạng lưới: “Với tôi, đây là phương tiện đặc biệt để suy nghĩ và nói về bản thân”, ngài mô tả lợi ích của “sự hiện diện và lời nói của giám mục” trên “lục địa kỹ thuật số” này theo công thức của Đức Bênêđictô XVI.
Nếu các mạng lưới cho phép “một hình thức gần gũi với tín hữu của giáo phận và còn hơn thế nữa”, thì giám mục Xavier Malle muốn trở về với các hy vọng mục vụ: “Liệu lời của tôi có truyền đi niềm hy vọng của Chúa không? Dứt khoát tôi không có cái gì gọi là truyền giáo trên mạng xã hội.”
Thực tế ngài không hài lòng với tình trạng này. Sự bất mãn là do ngài bị vỡ mộng: “Sau những năm có mặt trên trang mạng xã hội, trước hết trong tư cách linh mục, sau là giám mục, tôi trở về với niềm hăng say lúc đầu. Đức Phanxicô đã nói về một sự ‘vỡ mộng giao tiếp’ (Thông điệp Tất cả anh em Fratella tutti), về sự nghèo nàn của tương tác ảo này.”
Tin chắc suy nghĩ này có thể có lợi cho những người dùng các trang mạng xã hội dù họ có là giám mục hay không. Giám mục Malle đã xét mình: “Tôi có quá gắn bó với những tài khoản chính thức này không? Tôi có quá sung túc từ sự công nhận của mạng xã hội này không?” Các lời khuyên của các giám mục đồng hữu cũng như phân định cá nhân của mình đã dẫn giám mục Malle trở về với thinh lặng… Nhưng lời của ngài sẽ được các trang mạng xã hội của giáo phận chuyển tiếp. Ngài chưa đưa ra ngày chấm dứt kỳ “nghỉ dài hạn” này. Chưa ai biết được!
Nguyễn Tùng Lâm dịch
(phanxico.vn 20.09.2021/ famillechretienne.fr, Camille Lecuit, 2021-09-07)
2021
Nguồn gốc bản Kinh Thánh Bảy Mươi (LXX)
Tác giả: Paul Lawrence, PhD
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Bản dịch Kinh Thánh sớm nhất từ tiếng Hípri sang tiếng Hy Lạp ra đời vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên. Được gọi là bản Bảy Mươi, bản dịch này theo truyền thống được thực hiện dưới triều vua Ptolemy II Philadelphus Ai Cập (285-246 BC).
Thường được gọi là bản “Septuaginta” (tiếng Latinh nghĩa là “bảy mươi”) vì theo câu chuyện được lưu lại trong Thư Aristeas, 72 dịch giả đã dịch ra nó. Bức thư này kể lại rằng vua Ptolemy II đã ủy thác cho viên quản thủ thư viện hoàng gia, Demetrius thành Phaleron, sưu tập bằng cách mua lại hay sao chép tất cả các sách thánh trên thế giới. Ông còn viết thư cho Eleazar, thượng tế ở Giêrusalem, xin gởi đến 6 vị trưởng lão trong mỗi chi tộc, vị chi là 72 vị, có đời sống gương mẫu và thông thạo các sách Lề Luật (Torah), đến để dịch Kinh Thánh sang tiếng Hy Lạp.
Vừa đến Alexandria, các dịch giả được nhà vua tiếp đón và ban cho một bữa yến tiệc sang trọng. Sau đó họ giam mình trong ngôi nhà kín cổng cao tường trên đảo Pharos gần bờ biển, nơi ngọn hải đăng cao 110 mét, một trong 7 kỳ quan thế giới, vừa được xây dựng xong.
Theo thư Aristeas, bản dịch dưới sự điều hành của Demetrius được hoàn tất trong 72 ngày. Khi cộng đồng người Do Thái ở Alexandria họp lại để nghe bản dịch mới, các dịch giả và Demetrius nhận được nhiều lời khen tặng, và người ta loan báo một lời nguyền rủa cho bất kỳ ai thêm thắt, chuyển đổi hay bỏ sót bất kỳ một lời nào trong đó. Công trình cũng được đọc cho vua nghe, theo như lời của Thư Aristeas, và ông ngạc nhiên về trí tuệ của các nhà ban hành luật lệ. Các dịch giả về Giêrusalem, mang theo nhiều tặng phẩm cho mình và cả thượng tế Eleazar nữa.
Các thế hệ sau này vẽ vời thêm vào câu chuyện. Philo thành Alexandria, thế kỷ thứ I AD, viết rằng mỗi dịch giả được chia ra ở những căn phòng kín tách biệt nhau, thế mà kỳ lạ thay các bản văn dịch đều giống nhau như một, điều đó chứng tỏ rằng bản dịch của họ đã được Thiên Chúa linh hứng.
Xét lại về nguồn gốc
Thật khó biết các câu chuyện này đáng tin ở mức độ nào. Có đôi điều về lịch sử rõ ràng là không chính xác lắm trong Thư Aristeas. Ai cũng biết là khi lên ngôi thì vua Ptolemy II đã đuổi cổ Demetrius thành Phaleron đi rồi. Và một trong những người được cho là hiện diện tại bữa tiệc khoản đãi, ông Menodemus thành Eritria, được biết là đã qua đời hai năm trước khi Ptolemy II lên ngôi. Nhưng ngay cả khi những câu chuyện liên quan đến bản Bảy Mươi là không đúng thì ít ra không phải tất cả đều không đúng, ít ra hầu như chắc chắn rằng Ptolemy II đã thúc đẩy công việc dịch thuật các sách Lề Luật (Torah), năm cuốn đầu tiên của Sách Thánh Do Thái giáo.
Tầm quan trọng của bản dịch Bảy Mươi
Sau những cuộc chinh phục của Alexander Đại đế (336-323 BC), tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính thức của Ai Cập, Syria và phía đông biển Địa Trung Hải. Bản dịch Bảy Mươi giúp phổ biến sách thánh Do Thái giáo cho những người Do Thái không còn nói tiếng mẹ đẻ và cả thế giới nói tiếng Hy Lạp nữa. Bản Bảy Mươi sau này trở thành Kinh Thánh của Giáo Hội sơ thời nói tiếng Hy Lạp, và thường được trích dẫn trong Tân Ước.
Những dấu vết về nguồn gốc Ai Cập của bản Bảy Mươi
Chính trong bản dịch Bảy Mươi có để lộ ra những dấu vết nào về nguồn gốc Ai Cập của mình không? Trong sách Lêvi 11 và Đệ Nhị Luật 14 có một danh sách các loài thú và chim không thanh sạch, nghĩa là những loài vật mà người Do Thái không được ăn thịt. Việc xác định chính xác nhiều loài chim trong bản danh sách này vẫn còn không rõ ràng. Bản danh sách này thật thú vị đối với nhà điểu học nhưng là cơn ác mộng của nhà dịch thuật. Chính xác là loài chim nào thì cũng không liên quan gì đến chúng ta. Ngay cả bản Bảy Mươi dịch có chính xác hay không thì cũng không liên quan gì đến chúng ta.
Trong sách Lêvi 11,17 ta có loài chim gọi là yanshuph. Bản Bảy Mươi dịch là ibis, một loài chim mà người Ai Cập gọi là hbj. Bản CGKPV dịch là “cú mèo”. Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch là “vó”. Bản Anh ngữ Revised Standard dịch theo bản dịch Bảy Mươi là “ibis”. Tuy nhiên phần lớn các bản dịch Anh ngữ đều dịch Yanshuph là một loài cú (a kind of owl).
Loài chim mà tiếng Hípri gọi là qa’a trong Lêvi 11,18 được dịch là “bồ nông” (pelican) theo bản Bảy Mươi là pelekan. Tuy nhiên, một số bản dịch Anh ngữ không theo bản Bảy Mươi mà chọn một loài cú khác.
Arnebet rõ ràng là “thỏ” hoặc “thỏ rừng”. Tuy nhiên, từ này không được dịch là lagos, một từ thông dụng trong tiếng Hy Lạp để chỉ “thỏ” hoặc “thỏ rừng”. Lêvi 11,6 trong bản Bảy Mươi đã chọn từ choirogryllion nghĩa là “con heo con”, và Đệ Nhị Luật 14,7 đã dùng một uyển ngữ là dasypous, nghĩa là “chân thô.” Một bản dịch tiếng Hy Lạp khác là bản Aquila đã dùng từ lagos mà không cần phải sử dụng một từ khác. Tại sao bản Bảy Mươi lại tránh né từ lagos? Lý do là vì ông nội của vua Ptolemy II có tên “nickname” là “Lagos,” bởi vì ông có đôi tai dài! Điều này cho thấy xuất xứ Ai Cập rõ ràng của bản dịch Bảy Mươi.
Một ví dụ thời danh và rất ý nghĩa có liên quan đến từ “Biển đỏ”. Yam suph trong tiếng Hípri có nghĩa là “Biển sậy” (reed sea), một từ thường hay được sử dụng để chỉ con nước mà người Do Thái băng qua khi họ đào thoát khỏi Ai Cập. Con nước này thường được cho là các sông hồ và đầm lầy nước mặn ở phía bắc Vịnh Aqaba. Tuy nhiên bản Bảy Mươi dịch là Erythra thalassa, nghĩa là “Biển đỏ”, và từ này được Tân Ước sử dụng trong Cv 7,36 và Dt 11,39.
Nhưng do đâu mà có từ “Biển đỏ”? Có thể là do từ Edom trong tiếng Hípri có nghĩa là “đỏ”, và người Edomites chiếm cứ vùng đất phía nam Israel cho đến Vịnh Aqaba. Biển này được biết dưới tên gọi là biển của người Edomite hoặc Biển đỏ. Một cách giải thích khác là nó được gọi là “đỏ” và đây là màu nổi bật của các ngọn núi vùng Arab và Edomite bao bọc Vịnh Aqaba.
Những đặc điểm của bản dịch Bảy Mươi (Septuaginta)
Bản dịch Bảy Mươi có một số đặc điểm nổi bật. Trong sách Châm Ngôn 6,8b, sau câu ngạn ngữ Do thái nói về con kiến (“nó tích lũy lương thực mùa hè, nó thu nhặt của ăn trong mùa gặt hái”), bản Bảy Mươi thêm câu ngạn ngữ Hy Lạp nói về con ong: “Hoặc đi đến tổ ong và học sự cần mẫn của nó và cách nó làm việc tận tình; thành quả lao nhọc của nó được các vua chúa và người dân dùng cho sức khỏe, nó được mọi người ước muốn và tôn trọng, dù thân xác yếu đuối nhưng tiến xa về sự khôn ngoan.”
Bản dịch gốc của sách Đanien trong bản Bảy Mươi được cho là quá rườm rà. Nó được thay thế bằng một bản dịch khác dường như có nguồn gốc từ Tiểu Á, được gán cho Theodotion vào cuối thế kỷ thứ II AD. Thật vậy, hiện nay chỉ còn sót lại một bản thảo sách Đanien của bản dịch Bảy Mươi – một bản thảo ở thế kỷ thứ X trong bộ sưu tập Chigi ở Vatican.
Một đoạn văn dài trong chương 11 sách Đanien nói về các vua miền Bắc và miền Nam, bản Bảy Mươi nguyên thủy dịch “vua miền Nam” là “vua Ai Cập”. Bản dịch Theodotion đã thay thế lại bằng “vua miền Nam”.
Đặc biệt hơn cả là bốn mẫu tự YHWH là tên gọi của Thiên Chúa trong bản văn Hípri đã được chuyển thành ho Kyrios trong bản dịch Bảy Mươi. Các bản Anh ngữ dịch là “the LORD”. Bản CGKPV dịch là “ĐỨC CHÚA”.
Nhiều ví dụ cho thấy các tác giả Tân Ước theo bản dịch Bảy Mươi hơn là văn bản gốc tiếng Hípri. Ta có 4 ví dụ sau đây:
1) Trong Sáng Thế Ký 47,31, bản Hípri viết: “Ông Israel sụp xuống lạy ở đầu giường”, còn bản Bảy Mươi và thư Do Thái 11,21 thì viết: “trên đầu gậy”.
2) Trong Thánh Vịnh 8,6, bản Hípri viết: “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên”, còn bản Bảy Mươi và thư Do Thái 2,7 viết: “Chúa đã làm cho con người thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn, ban vinh quang, danh dự làm mũ triều thiên.”
3) Trong Thánh Vịnh 16,10, bản Hípri viết: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty (Sheol), không để Vị Thánh của Ngài nhìn thấy phần mộ”, còn bản Bảy Mươi và sách Tông Đồ Công Vụ viết: “Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty (Hades), cũng không để Vị Thánh của Ngài thấy sự hư nát”.
4) Trong Thánh Vịnh 40,(6)7, bản Hípri viết: “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con”, còn bản Bảy Mươi và thư Do Thái 10,5 viết: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Ở đây các dịch giả đã giải thích ý nghĩa ẩn dụ, người tôi tớ của ĐỨC CHÚA không chỉ lắng nghe và vâng lời giới răn của ĐỨC CHÚA ở tai mà thôi nhưng toàn thân thể.
Những hạn chế của bản Bảy Mươi
Giáo Hội Chính Thống cho rằng bản dịch Bảy Mươi chính xác hơn bản Hípri và nên sử dụng bản Bảy Mươi để dịch Kinh Thánh sang các thứ tiếng khác. Tuy nhiên cũng nên biết rằng bản Bảy Mươi có những hạn chế.
Sách Gióp trong bản Bảy Mươi ngắn hơn 1/6 so với bản Hípri truyền thống được gọi là bản Masoretic. Những phần bỏ sót đã được bản dịch Hy Lạp Theodotion lấy lại. Sách Giêrêmia trong bản Bảy Mươi ngắn hơn 1/8 so với bản Masoretic, những đoạn lập lại bị cắt bỏ và thứ tự bị thay đổi. Hơn nữa, bản Bảy Mươi thường ghi lại những con số khác, chẳng hạn như số tuổi của vài vị tổ phụ trong sách Sáng Thế Ký:
| Stk | Nhân vật | Bản Masoretic | Bản Bảy Mươi |
| 5,3 | Tuổi của Ađam khi sinh Sết | 130 | 230 |
| 5,6 | Tuổi của Sết khi sinh Ênốt | 105 | 205 |
| 5,28 | Tuổi của Laméc khi sinh Nôê | 182 | 188 |
| 5,31 | Tuổi thọ của Laméc | 777 | 753 |
Như vậy, có lẽ vì bản Bảy Mươi được vua Ptolemy II hoan hỉ đón nhận nên chẳng mấy ngạc nhiên khi nó không được người Do Thái chấp nhận cách rộng rãi: “Có lẽ đó là ngày báo gỡ cho dân Israel như ngày tạc tượng con bò vàng, bởi vì Lề Luật không được dịch cách chính xác” (Mesechet Sopherim [Luận văn dành cho các Ký lục] 1.7).
Ý nghĩa cuối cùng của bản Bảy Mươi
Chính vì giáo hội sơ thời chấp nhận bản Bảy Mươi nên đó là lý do mà người Do Thái đã bỏ nó đi. Cách dùng từ parthenos nghĩa là “trinh nữ” trong Isaia 7,14 để nói đến mẹ của người con trai được hứa tên là Emmanuel, đã được Matthêô 1,23 sử dụng như là bằng chứng cho sự ra đời trinh thai của Đức Giêsu.
Giống như bất kỳ bản dịch nào, bản Bảy Mươi cũng có những hạn chế của mình, nhưng đây là bản dịch đầu tiên Sách Thánh của Do Thái giáo sang một thứ tiếng khác, do đó vị trí của nó trong lịch sử thế giới đã được bảo đảm. Hơn nữa, các tác giả Tân Ước thường sử dụng nó như là bản văn Cựu Ước, điều này càng làm tăng thêm tầm quan trọng của nó.
2021
Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha Ngày 19.9.2021, Chúa Nhật 25 Mùa Thường niên
Lúc 12:00 giờ trưa Chúa Nhật 19/9, ĐTC đã cùng đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô. Như thường lệ, trước khi đọc Kinh Truyền Tin, ngài có một bài huấn dụ ngắn với các tín hữu dựa trên đoạn Tin Mừng của ngày Chúa Nhật 25 thường niên.
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha.
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Bài Tin Mừng của Phụng vụ hôm nay (Mc 9, 30-37) thuật lại rằng, trên đường lên Giêrusalem, các môn đệ Chúa Giêsu đã tranh luận xem ai là người “lớn nhất trong các ông” (c. 34). Sau đó, Chúa Giêsu đã nói với họ một câu mạnh mẽ, mà cũng áp dụng cho chúng ta ngày nay: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người” (c. 35). Nếu muốn là người đứng đầu, phải đến xếp hàng, trở nên người cuối cùng, và phục vụ mọi người. Qua câu ngắn gọn này, Chúa mở đầu một sự đảo ngược: Ngài lật ngược các tiêu chí đánh dấu điều gì thực sự quan trọng. Giá trị của một người không còn phụ thuộc vào vai trò của họ, vào thành công họ đạt được, công việc họ làm, vào số tiền họ có trong ngân hàng. Không, không phụ thuộc vào những điều đó. Sự vĩ đại và thành công, trong cái nhìn của Thiên Chúa, có một thước đo khác: chúng được đo bằng sự phục vụ. Không phải những gì bạn có, mà dựa trên những gì bạn cho đi. Bạn có muốn nổi trội không? Hãy phục vụ. Đây là con đường.
Ngày nay, từ “phục vụ” xuất hiện hơi mờ nhạt, bị suy yếu do quá trình sử dụng. Nhưng trong Tin Mừng, nó có một ý nghĩa chính xác và cụ thể. Phục vụ không phải là một biểu hiện của phép lịch sự: đó là làm như Chúa Giêsu, Đấng đã nói, với cuộc sống được tóm tắt trong vài lời, Người đến “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mc 10,45). Vì vậy, nếu muốn theo Chúa Giêsu, chúng ta phải đi theo con đường mà chính Người đã vạch ra, con đường phục vụ. Sự trung thành của chúng ta với Chúa tùy thuộc vào sự sẵn lòng phục vụ của chúng ta. Điều này thường phải trả giá, nó “có mùi vị của Thánh giá”. Tuy nhiên, khi sự quan tâm và sẵn sàng đối với người khác càng tăng, chúng ta càng trở nên tự do hơn từ bên trong, giống như Chúa Giêsu. Càng phục vụ, chúng ta càng cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa. Trên hết, khi chúng ta phục vụ với lòng trắc ẩn dịu dàng, những ai không có gì để đền đáp, những người nghèo, những người gặp khó khăn và cần kíp… Ở đó, chúng ta khám phá ra rằng, đến lượt mình, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và ôm lấy.
Để minh họa điều này, sau khi nói về sự ưu tiên cho việc phục vụ, Chúa Giêsu đã làm một cử chỉ. Chúng ta thấy rằng, những cử chỉ thì mạnh hơn lời nói. Ngài đón nhận một trẻ em và đặt ở giữa các môn đệ, ở trung tâm, ở vị trí quan trọng nhất (xem câu 36). Trẻ em, trong Tin Mừng, không đại diện cho sự ngây thơ cho bằng sự nhỏ bé. Bởi vì những người nhỏ bé, như trẻ em, phụ thuộc vào người khác, vào người lớn, chúng cần được đón nhận. Chúa Giêsu ôm lấy đứa trẻ và nói rằng: ai tiếp đón một em nhỏ như em này thì tiếp đón chính Ngài (xem câu 37). Trước hết, phục vụ ai? những người cần nhận và không có gì để trả lại. Bằng cách chào đón những người ở bên lề, bị bỏ rơi, chúng ta chào đón Chúa Giêsu, bởi vì Ngài ở đó. Và trong một người nhỏ bé, trong một người nghèo mà chúng ta phục vụ, chúng ta cũng nhận được vòng tay dịu dàng của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến, trước những chất vấn của Tin Mừng, chúng ta hãy tự hỏi mình một số câu hỏi: Tôi, những người theo Chúa Giêsu, quan tâm đến người bị bỏ quên nhất không? Hay, giống như các môn đệ ngày xưa, tôi đang tìm kiếm sự thỏa mãn cá nhân? Tôi có hiểu cuộc sống là một cuộc cạnh tranh để giành chỗ cho bản thân và đạp đổ người khác, hay tôi nghĩ rằng, sự nổi trội nghĩa là phục vụ? Và, một cách cụ thể: tôi có dành thời gian cho một “người nhỏ bé” nào đó, cho một người không đủ khả năng để đền đáp không? Tôi có chăm sóc một người không thể trả lại tôi hay chỉ dành cho người thân và bạn bè của tôi? Đây là câu hỏi mà chúng ta có thể tự đặt ra cho mình.
Xin Đức Trinh Nữ Maria, tôi tớ khiêm nhường của Chúa, giúp chúng ta hiểu rằng: việc phục vụ không làm chúng ta nhỏ lại, nhưng làm cho chúng ta lớn lên. Và rằng: cho thì vui hơn là nhận (Cv 20,35).
Nguồn: vaticannews.va/vi/
Văn Yên, S.J
