2023
Sự hiện diện của cha Timothy Radcliffe: cần một tu sĩ Dòng Đa Minh để lý giải về vị Giáo hoàng Dòng Tên
Vì vậy, khi Bề trên Tổng quyền Dòng Tên là Lorenzo Ricci qua đời tại Castel Sant’Angelo vào năm 1775 sau khi bị Giáo Hoàng Clement XIII cầm tù, chính vị Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh là người đã đứng ra dâng lễ tang cho ông, trong khi không ai khác ở Roma muốn dính líu bất cứ điều gì với Dòng Tên. Kể từ đó, Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh luôn là người dâng lễ tang cho Bề trên Tổng quyền Dòng Tên.
Do đó, thật phù hợp khi Đức Phanxicô, vị Giáo Hoàng Dòng Tên, đã chọn một tu sĩ Đa Minh là cha Timothy Radcliffe để giúp định hướng cho Thượng Hội Đồng về tính hiệp hành, điều đang chịu nhiều tấn công ở đâu đó trong Giáo hội. Trước khi các tham dự viên tập trung tại Vatican, họ dành ba ngày tĩnh tâm dưới sự hướng dẫn của cha Timothy Radcliffe. Qua loạt sáu bài giảng của mình, cha Radcliffe đã đưa ra một hướng nhìn thiêng liêng và thần học cho Thượng Hội Đồng.
Ngay trong bài giảng đầu tiên, ngài đã thẳng thắn đề cập đến những chia rẽ trong Giáo hội. Ngài nói: “Chúng ta quy tụ nơi đây là bởi vì chúng ta đã không đồng tâm nhất trí”. “Đại đa số những người tham gia vào tiến trình của Thượng Hội Đồng đều ngạc nhiên vì vui mừng. Đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên Giáo hội mời họ chia sẻ về đức tin và niềm hy vọng của mình. Thế nhưng có người trong chúng ta lại lo sợ về hành trình này và sợ những gì sẽ xảy ra phía trước. Một số người hy vọng rằng Giáo hội sẽ được biến đổi cách rõ rệt và sẽ đưa ra những quyết định quan trọng, ví dụ như về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội chẳng hạn. Những người khác lại lo lắng về chính những thay đổi đó và sợ rằng chúng sẽ chỉ dẫn đến chia rẽ, thậm chí là ly giáo.”
Cha Radcliffe lưu ý rằng ngay cả các môn đệ của Chúa Giêsu cũng hiểu lầm và cãi vã nhau. Ngài trích lời thánh Gioan: “Đừng sợ, tình yêu hoàn hảo xua tan nỗi sợ hãi.” Đồng thời, ngài kêu gọi những người tham dự đợt tĩnh tâm “hãy luôn nhạy cảm với nỗi sợ hãi của người khác, đặc biệt là những người mà chúng ta không đồng tình”. Ngài thừa nhận “chúng ta có thể bị chia rẽ bởi những hy vọng khác nhau”. Thế nhưng “nếu chúng ta lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau, tìm cách hiểu ý Chúa muốn cho Giáo hội và cho thế giới, chúng ta sẽ hiệp nhất trong một niềm hy vọng, điều vượt lên trên những bất đồng của chúng ta.”
Trong bài giảng thứ hai, cha Radcliffe nói về Giáo hội như là ngôi nhà nhưng ngài thừa nhận “những cách hiểu khác nhau về ngôi nhà Giáo hội đã khiến chúng ta xa rời nhau như hiện nay”. “Đối với một số người, ngôi nhà đó được định hình bởi các truyền thống và lòng đạo đức từ xưa, bởi các cấu trúc và ngôn ngữ được lưu truyền. Đó Giáo hội mà chúng ta đã cùng lớn lên và yêu mến. Nó cung cấp cho chúng ta một căn tính Kitô giáo rõ ràng. Đối với những người khác, Giáo hội hiện tại có vẻ như không phải là một ngôi nhà an toàn. Người ta cảm thấy nó độc quyền và loại trừ nhiều người: phụ nữ, người ly dị và tái hôn. Đối với một số người thì nó quá Tây, quá châu Âu.”
Ngài nói rằng những người đồng tính và những người trong tình trạng đa hôn “mong mỏi một Giáo hội được đổi mới, nơi mà họ hoàn toàn cảm thấy như ở nhà, được thừa nhận, được ủng hộ và được bảo vệ an toàn”.
Ngài kết thúc bài suy niệm thứ hai của mình bằng việc trích dẫn lời của cha Carlo Carretto (1910–1988), một tu sĩ dòng Tiểu đệ Chúa Giêsu:
“Ta cần phải chỉ trích ngươi biết bao, Giáo hội của ta, nhưng ta thật yêu quý ngươi dường bao! Ngươi đã làm cho ta đau khổ hơn bất cứ ai, nhưng ta mang ơn ngươi nhiều hơn bất cứ ai. Ta muốn thấy ngươi bị tiêu diệt, nhưng ta lại rất cần ngươi tồn tại. Ngươi đã cho ta nhiều tai tiếng, nhưng chỉ có ngươi mới giúp ta hiểu được sự thánh thiện của ngươi. … Vô số lần ta cảm thấy như muốn đóng sầm cửa lòng mình lại trước mặt ngươi – tuy nhiên, hàng đêm, ta vẫn cầu nguyện cho mình được chết trong vòng tay vững vàng của ngươi! Không, ta không thể thoát khỏi ngươi, vì ta với ngươi là một, cho dù ta không hoàn toàn là ngươi. Rồi nữa – ta sẽ đi về đâu? Xây dựng một Giáo hội khác ư? Nhưng ta không thể tạo ra một Giáo hội không có những khiếm khuyết mà ngươi đang có, bởi vì nơi chính ta cũng mang những khiếm khuyết đó.”
Trước những vấn nạn và sự chia rẽ mà Giáo hội đang phải đối mặt, một Thượng Hội Đồng thành công sẽ phải như thế nào? Cha Radcliffe khẳng định: “Thượng Hội Đồng này sẽ mang lại hoa trái nếu nó dẫn chúng ta đến một tình bạn sâu sắc hơn với Chúa và với nhau”. Ngài thừa nhận rằng đây là một nhiệm vụ khó khăn. “Nền tảng của tất cả những gì chúng ta sẽ làm trong Thượng Hội Đồng này phải là tình bạn mà chúng ta tạo ra. Nghe có vẻ không đúng cho lắm. Nó sẽ không tạo ra những tin giật gân trên các phương tiện truyền thông. ‘Họ đi từ khắp mọi nơi đến tận Rome chỉ để kết bạn! Thật là phí!’”
Cha Radcliffe chia sẻ thêm rằng tình bạn này được hình thành bởi việc “thành thật về những nghi ngờ và các vấn đề giữa chúng ta với nhau, những vấn đề mà chúng ta không có câu trả lời rõ ràng”. Ngài trích dẫn cuốn tiểu thuyết Monsignor Quixote của Graham Greene, một linh mục Công giáo người Tây Ban Nha, người đã trình bày những nghi ngờ của mình với vị thị trưởng cộng sản. Vị linh mục này nói: “Thật kỳ lạ là việc chia sẻ nghi ngờ lại có thể gắn kết con người với nhau, có lẽ còn hơn cả việc chia sẻ niềm tin. Những người mang niềm tin tranh đấu với nhau dựa trên sự khác biệt; còn những người mang nghi ngờ chỉ tranh đấu với chính mình.” Cha Radcliffe kết luận: “Tình bạn trổ sinh khi chúng ta dám chia sẻ những nghi ngờ của mình và cùng nhau tìm kiếm sự thật”. Nhưng để làm được điều này, chúng ta phải lắng nghe.
Lắng nghe và trò chuyện trong Thánh Thần là trọng tâm của tiến trình Thượng Hội Đồng. Cha Radcliffe lưu ý rằng các dòng tu có thể dạy cho Giáo hội về nghệ thuật trò chuyện. “Thánh Biển Đức dạy chúng ta biết tìm kiếm sự đồng thuận; thánh Đa Minh dạy muốn tranh luận; thánh Catarina Siena dạy thích trò chuyện; Thánh Ignatius Loyola dạy nghệ thuật phân định; thánh Philip Neri dạy biết vai trò của tiếng cười.”
Cha Radcliffe giải thích rằng “việc trò chuyện cần một bước nhảy tưởng tượng đi vào kinh nghiệm của người khác để nhìn bằng mắt của họ, nghe bằng tai của họ. Chúng ta cần đi vào bên trong con người của họ. Lời nói của họ xuất phát từ kinh nghiệm nào? Họ có mang nỗi đau hay hy vọng gì không? Họ đang đi về đâu?” Cuộc trò chuyện như thế sẽ dẫn đến sự thấu hiểu, tôn trọng và yêu thương.
Cha Radcliffe phản đối ý kiến cho rằng việc trò chuyện sẽ làm đe dọa quyền lực. Ngài khẳng định rằng “quyền lực gồm nhiều mặt và có tính bổ trợ lẫn nhau. Quyền lực không đòi hỏi cạnh tranh, như thể giáo dân chỉ có thể có nhiều quyền hơn nếu các Giám mục có ít quyền hơn”.
Ngài chia sẻ với các người tham dự viên rằng quyền lực đến từ vẻ đẹp, điều thiện và sự thật. Ngài cũng nói thêm: “Không có sự thật thì vẻ đẹp trở nên trống rỗng. Không có điều thiện thì vẻ đẹp có thể là lừa dối. Điều thiện nếu không có sự thật thì dễ rơi vào cảm tính. Sự thật mà không có điều thiện sẽ dẫn đến Tòa án Dị giáo.”
Thế nhưng cha Radcliffe cũng không hề ngây thơ. Cha nhận ra những vấn đề trong Giáo hội (lạm dụng tình dục và tham nhũng) và trên thế giới. Ngài chỉ ra: “Chúng ta đang tiến dần tới một thảm họa sinh thái nhưng các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta hầu như chỉ giả vờ như không có chuyện gì xảy ra”. “Thế giới của chúng ta bị hành hạ bởi nghèo đói và bạo lực, nhưng những quốc gia giàu có không muốn mở mắt thấy hàng triệu anh chị em của chúng ta đang phải chịu đau khổ và tìm nơi trú ngụ.”
Cha Radcliffe cho rằng sợ hãi sẽ dẫn đến việc sợ mất quyền kiểm soát, “đó là lý do tại sao nhiều người sợ Thượng Hội Đồng”. Thế nhưng “được Thánh Thần dẫn dắt đến chân lý cũng có nghĩa là chấp nhận buông bỏ hiện tại, tin tưởng rằng Thánh Thần sẽ tạo ra những thể chế mới, những hình thức sống đạo mới, những sứ vụ mới”. Ngài ví von rằng giống như một con chim mẹ, “Chúa Thánh Thần đôi khi sẽ hất chúng ta ra khỏi tổ và buộc chúng ta phải bay! Chúng ta vỗ cánh trong hoảng loạn, nhưng rồi chúng ta biết bay!”
Cha Radcliffe kết luận: “Nếu chúng ta chịu để cho Thần Khí Sự Thật hướng dẫn mình, chắc chắn chúng ta sẽ có tranh luận. Đôi khi nó rất đau đớn. Sẽ có những sự thật mà chúng ta không muốn đối mặt. Thế nhưng chúng ta sẽ được dẫn đi sâu hơn một chút vào mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta được đón nhận niềm vui mà người ta sẽ phải ghen tị vì chúng ta có mặt ở đây, và họ cũng mong được tham dự phiên họp tiếp theo của Thượng Hội Đồng!”
Cha Radcliffe Dòng Đa Minh đã lý giải rất hay về Đức Phanxicô, vị Giáo hoàng Dòng Tên.
Chuyển ngữ từ: (Americamagazine 12/10/23)
2023
Thượng Hội Đồng cầu nguyện cho Hòa Bình ở Trung
Công việc của thứ Năm 12/10/2023 được mở đầu bằng lời cầu nguyện đặc biệt tập trung vào Thánh Địa. Công việc tập trung vào các báo cáo của các nhóm nhỏ trong phần thứ hai của Tài liệu làm việc. Các tham dự viên Thượng hội đồng đã thực hiện một chuyến hành hương vào buổi chiều tới Hang toại đạo Thánh Sébastien.
Trung Đông, Ucraina, Irắc, Châu Phi. Lời cầu nguyện cho hòa bình hiệp nhất Giáo hội trên toàn thế giới. Đây là thông điệp của Thượng hội đồng về tính hiệp hành. Nó đã được thảo luận chiều nay trong cuộc họp báo trước mặt các nhà báo. Những tiếng nói tiếp theo bày tỏ sự cấp bách của việc cùng nhau bước đi trong cuộc đối thoại liên tôn và liên văn hóa.
Sức mạnh của lời cầu nguyện cho hòa bình
Margaret Karram, chủ tịch phong trào Focolari, người Ả Rập, Kitô hữu-Công giáo, công dân Israel gốc Palestine, đã mang lại một chứng tá trước giới truyền thông. Bài nói : lời cầu nguyện sáng nay tại Thượng hội đồng là “một thời khắc rất mạnh mẽ” bởi vì, “kể từ khi chiến tranh nổ ra, trái tim tôi như bị giằng xé và tôi tự hỏi mình đang làm gì ở Thượng hội đồng này”. “Tham gia cầu nguyện với mọi người là một khoảnh khắc rất sâu sắc.”
Theo Margaret Karram, cần có nhiều nỗ lực để có được hòa bình, nhưng “sức mạnh của lời cầu nguyện là rất quan trọng”. “Kinh nghiệm này dạy cho tôi ý nghĩa của việc cùng nhau bước đi, đối thoại, để cho người khác chất vấn mình, và tính hiệp hành không chỉ là một phương pháp luận, nó phải trở thành một lối sống của Giáo hội: lắng nghe người khác với sự tôn trọng, vượt lên trên những ý kiến khác biệt”.
Cầu nguyện cùng với toàn thế giới
Chủ tịch phong trào Focolari sau đó đã nói về nhiều sáng kiến cầu nguyện liên tôn được thực hiện trong những ngày gần đây, bao gồm cả thông qua các nền tảng kỹ thuật số, nhằm thu hút số lượng tín hữu lớn nhất trên toàn thế giới. “Hôm qua (11/10, ghi chú của biên tập viên) cũng có mối liên hệ với Ucraina. Chúng tôi đồng ý gặp nhau cùng giờ để cùng nhau cầu nguyện thông qua sáng kiến “Sống Hòa bình” và chúng tôi cũng yêu cầu những cử chỉ liên đới cụ thể đối với anh em các tôn giáo khác cũng như cam kết ký lời kêu gọi hòa bình để gửi đến những người nắm quyền. ”
Điều thiện không gây ồn ào
Việc tốt không gây ồn ào, họ chỉ nói về sự thù hận, nhưng Margaret Karram đã nhấn mạnh rằng nhiều người ở Israel quan tâm đến việc xây cầu với người dân Gaza. Bà tâm sự: “Tôi có một người bạn Do Thái, người đã quyết định cầu nguyện cùng lúc với những người Hồi giáo để hiệp nhất với họ trong lời cầu nguyện”.
Sự dấn thân của tất cả mọi người
Khi được báo chí đặt câu hỏi, chủ tịch Focolari đã kêu gọi cộng đồng quốc tế cùng hành động để nối lại các cuộc đàm phán và cảm nhận được tính cấp thiết của việc giải quyết xung đột này: “Vẫn còn quá nhiều sự im lặng. Chỉ tiếng nói của tôi sẽ không mang lại kết quả, sự cam kết của tất cả mọi người là cần thiết để thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền và sự hòa giải giữa các dân tộc”.
Châu Phi và tính hiệp hành
Đức cha Andrew Nkea Fuanya, Tổng Giám mục Bamenda, Cameroon, và là chủ tịch Hội đồng Giám mục nước này, cho biết: “Tính hiệp hành đã là một phần của văn hóa châu Phi”. Trong Giáo hội của chúng tôi, chúng tôi làm mọi việc cùng nhau, giống như một gia đình. Ngài nói thêm rằng Thượng hội đồng này “là một niềm an ủi lớn lao đối với Châu Phi, bởi vì đôi khi chúng tôi cảm thấy bị bỏ rơi, nhưng sự hiệp nhất trong cầu nguyện với Giáo hội hoàn vũ mang lại cho chúng tôi lòng can đảm và lục địa của chúng ta có thể ghi dấu Thượng hội đồng bằng dấu ấn của mình”. Về vấn đề chiến tranh, ngài tuyên bố với niềm tin chắc: “Nó không bao giờ là một giải pháp”.

Tin Mừng kết hợp các ngôn ngữ khác nhau
Kinh nghiệm trở thành một gia đình duy nhất tại Thượng hội đồng cũng là kinh nghiệm của Nữ tu Caroline Jarjis, bác sĩ tại trung tâm y tế Baghdad và là nữ tu của Dòng Nữ tử Thánh Tâm Chúa Giêsu. Sáng thứ Năm này, cùng với những người tham gia khác trong cộng đoàn, Sơ đã đọc Tin Mừng bằng ngôn ngữ của mình, tiếng Ả Rập, và rất ấn tượng trước sự hiểu biết của mọi người về lời nói của mình. Sơ nói tiếp : “Thiên Chúa hiện diện trong công việc chúng tôi đang thực hiện tại Thượng hội đồng, Ngài đã chọn và chuẩn bị cho chúng tôi trước khi đến Rôma. Cùng nhau, chúng tôi có cảm nghiệm về những Kitô hữu đầu tiên, những người đã chia sẻ mọi thứ”.
Chứng tá của các vị tử đạo người Irắc
Cái nhìn của Sơ Caroline truyền tải niềm hy vọng, ngay cả khi sơ không che giấu những dấu hiệu của 20 năm đau khổ ở đất nước mình. Sơ nói với các phóng viên : “Tôi đến từ một đất nước đang có chiến tranh, nơi mà các Kitô hữu là thiểu số, nhưng sự phong phú của Giáo hội chúng tôi được mang lại nhờ sự hiện diện của các vị tử đạo. Máu của họ mang lại cho chúng tôi động lực để tiếp tục, và tôi sẽ trở về nhà với sức mạnh lớn hơn nhờ kinh nghiệm hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ.”
Trả lời câu hỏi của các nhà báo, nữ tu người Irắc bày tỏ sự ủng hộ hoàn toàn đối với quyết định của Đức Hồng y Louis Raphaël Sako rút khỏi Tòa Thượng Phụ Baghdad sau quyết định của Tổng thống Rashid hủy bỏ sắc lệnh về Giáo hội Chaldean công nhận Đức Hồng y là người đứng đầu và người chịu trách nhiệm về tài sản của Giáo hội. “Thật đúng đắn khi được sống với phẩm giá của những Kitô hữu ở vùng đất tử đạo: chúng tôi không phải là công dân hạng hai”.
Cuộc hành hương đến Hang toại đạo
Vào buổi chiều, các tham dự viên Thượng hội đồng đã thực hiện chuyến hành hương đến Hang toại đạo Thánh Sébastien, nơi lưu giữ hài cốt của Thánh Phêrô và Phaolô, cũng như của Thánh Callistô và Thánh Domitilla. Thứ Sáu ngày 13 tháng 10, sau thánh lễ do Đức Hồng y Ambongo chủ tế, phiên họp chung lần thứ tám sẽ diễn ra và sẽ trình bày phần thứ ba của Tài liệu làm việc về chủ đề: “Đồng trách nhiệm trong sứ mạng . Làm thế nào chia sẻ những hồng ân và nhiệm vụ phục vụ Tin Mừng?”
Trong khi đó, chiều thứ Tư với phiên họp chung thứ bảy và sáng thứ Năm với khóa họp thứ sáu của các nhóm nhỏ và việc đệ trình các báo cáo lên Ban Tổng Thư ký Thượng hội đồng, công việc liên quan phần thứ hai dành cho “Hiệp thông” đã hoàn thành.
Các chủ đề của phiên họp chung lần thứ bảy
Trong số các chủ đề nổi lên hôm thứ Tư, có thể trích dẫn đối thoại liên tôn và liên văn hóa, tác động của chủ nghĩa thực dân đối với các cộng đồng bản địa, tầm quan trọng của bí tích hòa giải, vốn cho phép chúng ta được chấp nhận nếu chúng ta cầu xin sự tha thứ tội lỗi của mình, việc lắng nghe và hòa nhập những người trẻ vào lòng khao khát được gặp Chúa Giêsu của họ. Về vấn đề này, trong cuộc họp báo, Đức Giám mục Nkea Fuanya đã chia sẻ kinh nghiệm của giáo phận của ngài, trong năm dành riêng cho Thánh Thể này, mỗi giáo xứ chuẩn bị một nhà nguyện để chầu liên tục.
Hình ảnh của Mẹ Teresa Calcutta và việc chăm sóc bệnh nhân của Mẹ, sự cấp bách của sự dấn thân của các nhà lãnh đạo Công giáo trong việc thúc đẩy hòa bình, bi kịch của những phụ nữ bị gạt ra ngoài lề xã hội ở các vùng ngoại vi, nhu cầu hòa nhập và lắng nghe trong đời sống của Giáo hội đã cũng là trung tâm công việc của Thượng hội đồng.
Thượng hội đồng và Đức Maria
Cuối cùng, chủ tịch Ủy ban Thông tin, Paolo Ruffini, Tổng trưởng Bộ Truyền thông, nhắc lại rằng Thứ Năm này là lễ Đức Mẹ Aparecida và Đức Mẹ Pilar. Ông nói: “Sáng nay, tầm quan trọng về hình ảnh Đức Mẹ của Giáo hội hiệp hành đã được nhấn mạnh. Đức Maria là Mẹ, Mẹ là giáo dân, Mẹ là lời ngôn sứ, Mẹ là đối thoại, Mẹ là đặc sủng, Mẹ là sự thánh thiện, Mẹ là Tin Mừng sống động.”
Tý Linh chuyển ngữ
từ Vatican News
2023
Sứ điệp nhân 200 năm ngày qua đời của Đức Giáo Hoàng Pio VII
Sáng ngày 13/10, nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của vị Tôi tớ Chúa Đức Giáo hoàng Pio VII, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gởi sứ điệp đến Đức cha Douglas Regattieri, giám mục Cesena-Sarsina và toàn thể cộng đồng dân sự và giáo hội Cesena-Sarsina, quê hương của Đức Piô VII. Ngài ca ngợi Đức Piô VII là một con người vĩ đại, một mục tử dũng cảm và là một người bảo vệ tận tâm Giáo hội.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha diễn tả lòng biết ơn và ngưỡng một đối với Đức Piô VII về di sản thiêng liêng và sự chính trực theo tinh thần Tin Mừng mà ngài đã phục vụ trong những thời điểm khó khăn suốt 23 năm triều Giáo hoàng. “Bất chấp những biến động chính trị và xã hội đánh dấu thế kỷ đó, ngài đã tin tưởng phó thác mình cho ý muốn của Thiên Chúa, chấp nhận sự sỉ nhục của cuộc lưu đày với sự đón nhận cách gương mẫu, dâng hiến mọi sự cho Chúa vì lợi ích của Giáo hội.
Đức Thánh Cha nhìn nhận: “Chắc chắn, nếu chúng ta xem xét giai đoạn lịch sử mà Đức Giáo hoàng Piô VII đã sống, chúng ta không thể không ghi nhận sự khôn ngoan tuyệt vời mà nhờ đó ngài có thể trở thành ‘đại sứ hòa bình’ cho những người thực thi quyền lực trần thế. Khi đối diện với một kịch bản chính trị gây tranh cãi, ngài, với sự bình tĩnh của một người luôn tin tưởng vào sự can thiệp quan phòng của Thiên Chúa, đã làm mọi cách để không thất bại trong sứ mạng ‘người bảo vệ và hướng dẫn đàn chiên’ của mình. Và bất chấp những hạn chế bị áp đặt, ngài tiếp tục không chút sợ hãi công bố sức mạnh an ủi của Tin Mừng Chúa Kitô, theo tinh thần của các Mối Phúc: những người xây dựng hoà bình là con cái Thiên Chúa (xem Mt 5.9).
Đức Thánh Cha cầu chúc cho các tín hữu của Giáo phận được khơi dậy niềm say mê trong việc phục vụ người khác và xây dựng một xã hội hài hòa và thể hiện hòa bình như một con đường hy vọng, đối thoại tôn trọng và hòa giải Kitô giáo, nhờ sự bảo vệ từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, sự chuyển cầu của Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Piô VII. (CSR_4081_2023)
Vatican News
2023
Nạn nhân Chiến tranh và việc Cứu trợ Người di cư trong chương trình nghị sự của Thượng Hội Đồng
Phiên họp chung thứ sáu của Thượng hội đồng đang diễn ra tại Vatican đã bắt đầu bằng bài suy niệm của Đức Hồng Y Arthur Roche. Ngài đã nói về “sự nguy hiểm của một cuộc chiến tranh đẫm máu” khi lưu ý đến cuộc xung đột ở Israel và Gaza. Tiếp theo đó là một loạt các tham luận và trao đổi về các chủ đề như chiến tranh, nghèo đói, các vụ lạm dụng, căn tính giới tính, Chủ tịch Ủy ban Thông tin, Paolo Ruffini, cùng với thư ký Sheila Pires, cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Tư 11/10/2023.
Trong số các thành viên của Thượng hội đồng có mặt, Đức Hồng Y Gérald Cyprien Lacroix, Tổng Giám mục Québec, đã chia sẻ kinh nghiệm về việc mình được “làm phong phú” thêm nhờ việc lắng nghe các tham luận và chứng từ khác nhau. Grace Wrakia, chứng tá về tiến trình hiệp hành ở Châu Đại Dương, về phần mình đã khiến tiếng nói của các cộng đồng Papouasie-Nouvelle-Guinée được lắng nghe. Luca Casarini, nhà hoạt động và người sáng lập tổ chức phi chính phủ Mediterranea Saving Humans, bày tỏ sự “phẫn nộ” trước hàng nghìn cái chết của những người di cư khi cố gắng vượt Địa Trung Hải. Là khách mời đặc biệt của Thượng hội đồng, Luca Casarini đã đưa ra một chứng từ sâu sắc về hoạt động của tổ chức phi chính phủ của mình, gợi lên cuộc gặp gỡ giữa hai cảnh nghèo: sự nghèo khó về vật chất của những người bị buộc phải rời bỏ “của cải duy nhất mà họ sở hữu”, đất đai của chính họ, và sự nghèo nàn về tinh thần của một phương Tây dường như đã mất đi khả năng xúc động và từ chối “sự kinh hoàng”.
Một nhóm nhỏ tại Nhà Thánh Mátta
Paolo Ruffini tiết lộ với các nhà báo rằng một “nhóm nhỏ” đã có mặt không xa hội trường Phaolô VI, tại Nhà Thánh Mátta nơi Đức Giáo Hoàng cư trú. Đức Thánh Cha đã tập hợp một số người nghèo từ thủ đô đến ăn trưa cùng với Đức Hồng Y Konrad Krajewski, đặc trách dịch vụ từ thiện của Đức Thánh Cha. Một câu hỏi được đặt ra cho các vị khách tại bàn của Đức Thánh Cha: “Các bạn mong đợi điều gì từ Giáo hội?” Câu hỏi mà họ trả lời: “Tình yêu, không có gì ngoài tình yêu”.
Theo bước Công đồng
339 thành viên đã có mặt tại phiên họp chung vào chiều thứ Ba. Có 345 người hiện diện vào sáng thứ Tư khi Đức Hồng Y Matteo Zuppi mời họ cùng đọc kinh Truyền Tin. Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý đã cầu xin sự chuyển cầu của Thánh Gioan XXIII, nhân ngày lễ kính nhớ ngài vào ngày 11 tháng 10; cũng là ngày khai mạc Công đồng Vatican II (11/10/1962). Trở lại một chút với sự kiện lịch sử này của Giáo hội, Đức Hồng Y Gérald Cyprien Lacroix khẳng định rằng Thượng hội đồng về tính hiệp hành là sự tiếp nối của nguồn cảm hứng “ngôn sứ” của Đức Gioan XXII, ngài vốn già yếu nhưng để mình được Chúa Thánh Thần hướng dẫn về sự cần thiết phải “sống một Công đồng đại kết”, một công đồng mà ngài sẽ không nhìn thấy kết thúc của nó.
Đức Hồng Y người Québec đã đọc bài phát biểu khai mạc Công đồng do Đức Gioan XXIII đọc khi đó, nói rằng nó cực kỳ phù hợp trong thời gian Thượng hội đồng này mà Giáo hội đang trải qua kể từ tháng 10 năm 2021. “Phương pháp mà chúng ta sử dụng là hướng tới việc lắng nghe Chúa, Lời của Ngài, sự hiện diện của Ngài nơi mỗi người đã được rửa tội, và điều này cho phép chúng ta cởi mở với người khác và với những người khác.” Bằng cách lắng nghe Lời Chúa, “chúng ta có thể tìm thấy những sắc thái, thay đổi cách suy nghĩ của mình, và từ đó nhìn thấy công trình và công việc của Chúa nơi mọi người,” Đức Tổng Giám mục giáo phận Québec tuyên bố và đồng thời cho thấy rằng việc trải qua tất cả những điều đó ở cấp độ cá nhân khiến ngài phải “điều chỉnh, tinh chỉnh, xem xét lại cách suy nghĩ của mình một chút”.
Tiếng nói của những hòn đảo “nhỏ” ở Châu Đại Dương
Ý tưởng ban đầu của Thượng hội đồng này về tính hiệp hành “là để mình được chấn vấn bởi những gì nảy sinh trong các bài tham luận khác một cách tự do”. Và cũng mang lại tiếng nói cho những người còn ở lại phía sau. Về vấn đề này, Grace Wrackia bày tỏ lòng biết ơn Đức Thánh Cha đã mời các đại diện từ Quần đảo Solomon và Papouasie-Nouvelle-Guinée tới Thượng hội đồng. Bà nói trong một bài phát biểu đầy cảm xúc: “Trong nhiều năm, chúng con đã lắng nghe và bây giờ chúng con muốn nói và chúng con muốn anh chị em lắng nghe, bởi vì chúng con có một thứ gì đó để cống hiến cho thế giới: cách sống của chúng con, cách sống hiệp thông, cách sống cùng nhau và xây dựng các mối quan hệ”.
Lời kêu gọi mạnh mẽ cho hòa bình
Liệt kê các chủ đề được thảo luận trong các nhóm nhỏ và các phiên họp, Paolo Ruffini giải thích rằng nhiều bài phát biểu tập trung vào chủ đề hòa bình và các nạn nhân của chiến tranh: “Chúng tôi đã nói về cách mà các Kitô hữu có thể trở thành dấu chỉ của hòa bình và hòa giải trong một thế giới bị biến dạng bởi chiến tranh và bạo lực”. “Những lời kêu gọi mạnh mẽ” được đưa ra đối với các quốc gia đang xung đột và đối với “sự đau khổ của một số Giáo hội Đông phương”.
Một Giáo hội khiêm nhường dành cho người nghèo
Sheila Pires nhấn mạnh một chủ đề khác được đề cập trong các cuộc thảo luận: “Mong muốn về một Giáo hội ưu ái người nghèo, khiêm nhường, bước đi, đồng hành với người nghèo”. Những người nghèo “có nhiều khuôn mặt”: những người bị loại trừ, những người di cư, những nạn nhân của biến đổi khí hậu, thậm chí bao gồm cả phụ nữ và các nữ tu ở một số nơi trên thế giới bị coi là “công dân hạng hai”. Sheila Pires giải thích: “Người ta nói rằng những người này cần được bảo vệ khỏi sự lạm dụng”.
![]()
Không có sự phân cực
Các vụ lạm dụng cũng được nói đến. Paolo Ruffini tuyên bố: “Chúng tôi đã nói về việc uy tín của chúng tôi đang bị nghi ngờ bởi các vụ bê bối như lạm dụng tình dục và sự cần thiết phải xóa bỏ mọi lạm dụng: tình dục, quyền lực, tinh thần, và làm mọi thứ, tiếp tục làm mọi thứ, để gần gũi với các nạn nhân”.
Tổng trưởng phụ trách truyền thông giải thích: Trong các nhóm và bài phát biểu, vấn đề về căn tính giới tính cũng được đề cập, “với trách nhiệm và sự hiểu biết, đồng thời vẫn trung thành với Tin Mừng và những giáo huấn của Giáo hội”. Một số người đã kêu gọi có “sự phân định nhiều hơn về giáo huấn của Giáo hội về tính dục”; trái lại, đối với những người khác, sự phân định bổ sung này dường như không cần thiết. Trả lời câu hỏi của các nhà báo, Paolo Ruffini giải thích rằng trong các bài tham luận, “không có yếu tố nào có thể bị đóng khung trong sự phân cực”. Thượng hội đồng đang sống “một kinh nghiệm chia sẻ”.
Câu hỏi mà các tham dự viên Thượng hội đồng tự hỏi là: “Làm thế nào thể hiện việc mục vụ yêu thương đối với các cặp đồng tính, đối với những người ly dị trong khi vẫn trung thành với giáo huấn của Giáo hội?” “Hầu hết tất cả những người nói về những vấn đề này đều nói rằng chúng ta phải bác bỏ mọi hình thức kỳ thị người đồng tính,” chủ tịch Ủy ban Thông tin nhận xét và giải thích rằng đối với một số thành viên của Thượng hội đồng, “nhiều khó khăn đến từ sự thiếu hiểu biết về thực tế và hành trình cá nhân của các cá nhân”.
Vấn đề người di cư
Liên quan đến người di cư, một số Giám mục – điều này đã được giải thích trong cuộc họp báo – đã “yêu cầu sự giúp đỡ từ các Hội đồng Giám mục khác”, vốn ở trong hoàn cảnh tốt hơn từ quan điểm hội nhập và tiếp nhận, để “có thể được hưởng lợi” từ các kỹ năng được phát triển để đảm bảo sự hội nhập của những người được chào đón trong xã hội. Cũng được nhấn mạnh việc “người di cư và người tỵ nạn cần phải tôn trọng luật pháp của các quốc gia mà họ sinh sống.

Vẫn về chủ đề dòng người di cư, chứng tá của Luca Casarini đã gây xúc động cho hầu hết những người có mặt tại Phòng Báo chí Tòa Thánh. Người sáng lập tổ chức phi chính phủ Mediterranean Saving Humans trước tiên tự mô tả mình là “một người được ưu đãi“, bởi vì “trong một thế giới nơi chúng ta quan sát thấy một cuộc chạy đua tìm ra kẻ sẽ giết nhiều người nhất, một thế giới bị thống trị bởi sự thù hận, thì việc đến trợ giúp một cuộc sống, ôm lấy anh chị em giữa biển cả, đó là một món quà vô hạn làm thay đổi cuộc sống”, điều đó đã thay đổi cuộc sống của ông.
Nhà hoạt động này cũng đề cập đến vấn đề nghèo đói: “Trên biển cả, chúng tôi gặp các anh chị em, và ở đó, hai hình thức nghèo đói gần kề nhau”. Một mặt, tình trạng nghèo đói về kinh tế và xã hội buộc người dân phải “rời bỏ đất đai, gia đình, ký ức”, những tài sản duy nhất của họ; mặt khác, sự nghèo đói hoang tàn của một phần thế giới mà ngày nay coi “sự ghê tởm là chuyện bình thường”. Luca Casarini than thở: “Chúng ta không còn khả năng khóc thương cái chết của một đứa trẻ nữa”. “Hai sự nghèo đói này hỗ trợ lẫn nhau và nhường chỗ cho thứ mà ngày nay chúng ta tìm kiếm cách tuyệt vọng trong thế giới hận thù: tình yêu. Chính như thế mà tôi đã gặp Chúa Giêsu và Thiên Chúa.”
Với lòng tốt và không phải không mỉa mai, vị khách mời đặc biệt này đã trả lời câu hỏi của những người hỏi ông rằng liệu ông có cảm thấy “lạc lõng” trong một sự kiện như Thượng hội đồng, được đánh dấu bởi nhiều nghi lễ và khoảnh khắc thiêng liêng khác nhau hay không. “Tôi luôn cảm thấy lạc lõng và không phù hợp trong mọi hoàn cảnh,” ông cười đáp lại. “Tôi thực sự coi tất cả mọi người có mặt tại Thượng hội đồng như anh chị em của mình, tôi đang học cách biến sự oán giận và hận thù thành lòng thương xót”. Bí quyết là điều “tôi cố gắng học hỏi là đặt mình vào vị trí của người khác. Chúng ta không được tham vọng là có thể tự mình giải quyết được, nhưng chính Chúa Thánh Thần đang hành động. Đây là cách mà những điều điên rồ có thể xảy ra… giống như việc tôi có mặt tại Thượng hội đồng vậy.”
Người sáng lập Tổ chức Mediterranean Saving Humans đã được hỏi về “sự ăn năn” của ông về hành động của mình ở G8 tại Genoa năm 2001 và về cáo buộc hỗ trợ nhập cư lậu. “Đối với Genoa, tôi đã trải qua 8 năm xét xử và tôi được trắng án,” Luca Casarini trả lời, trong khi “tôi không thể hiểu được” cáo buộc còn lại. Ông giải thích thêm: “Đối với tôi, không có con người nào là lậu…. Tôi hiểu rằng mình đang bị điều tra vì đã cứu được 38 người trong 38 ngày giữa biển. Đây là cuộc thử thách sức mạnh lớn nhất mà Châu Âu từng biết đến. Trong số những người này có một cô gái bị 5 lính canh Libya cưỡng hiếp trước khi ra biển và thậm chí không có bác sĩ trong 38 ngày. Tôi có phạm tội không? Hãy dừng tôi lại, tôi rất vui vì đã làm điều đó”.
Theo nhật báo Vatican News (12.10.2023)
