2023
Giáo hội hiệp hành không phải là một kim tự tháp mà là ngôi nhà cho “những ơn gọi đồng phẩm giá”
Cuộc họp Thượng Hội đồng (VATICAN MEDIA Divisione Foto)
Giáo hội hiệp hành không phải là một kim tự tháp mà là ngôi nhà cho “những ơn gọi đồng phẩm giá”
Trong phiên họp khoáng đại lần thứ 12 của Đại hội Thượng Hội Đồng vào ngày 18/10, cha Dario Vitali, điều phối viên của các chuyên gia thần học và cũng là giáo sư cơ hữu tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana, đưa ra một suy tư thần học về chủ đề: “Sự tham gia, Trách nhiệm và Thẩm quyền: Những tiến trình, cơ cấu và tổ chức nào trong một Giáo hội hiệp hành truyền giáo?”
Theo Cha Vitali, “Giáo hội là một bí tích trong Chúa Kitô, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất giữa loài người” (LG 1). Sự tham gia đầu tiên được Công đồng Vatican II nhấn mạnh thực ra không phải là sự tham gia của các cá nhân, mà là của toàn thể Giáo hội, Dân Chúa trên hành trình hướng tới việc hiện thực hóa Nước Chúa. Chưa bao giờ như ngày hôm nay, nhân loại lại cần đến chứng từ mạnh mẽ và thuyết phục của một Giáo hội vốn là dấu chỉ và khí cụ hòa bình giữa các quốc gia. “Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội ‘sánh bước’ cùng con người, tham gia vào những khó khăn của lịch sử, nuôi dưỡng giấc mơ rằng việc tái khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của các dân tộc và chức năng phục vụ của chính quyền cũng có thể giúp xã hội dân sự xây dựng chính mình trong công lý và tình huynh đệ, tạo ra một thế giới tươi đẹp hơn và xứng đáng hơn cho các thế hệ mai sau.
Một Giáo hội hướng ra bên ngoài, một “bí tích cứu độ phổ quát” cho thế giới (LG 48), luôn được kêu gọi trở thành và nghĩ về chính mình trong nội tâm như “bí tích của sự hiệp nhất cứu độ” (LG 9). Lumen Gentium số 7 có nói rằng “trong việc xây dựng thân thể của Chúa Kitô có sự đa dạng về các thành viên và chức năng”.
Chương II của Lumen Gentium mô tả Giáo hội là Dân Thiên Chúa, “dòng dõi được tuyển chọn, chức tư tế vương giả, dân thánh, dân được Thiên Chúa thu nhận” (LG 9), điều này tiêu biểu cho “cuộc cách mạng Copernic” về giáo hội học mang tính cộng đồng, phá vỡ kim tự tháp giáo hội được xây dựng qua nhiều thế kỷ: đi trước cả các chức năng là phẩm giá của người đã được rửa tội; đi trước cả những khác biệt vốn thiết lập các thứ bậc là sự bình đẳng của con cái Thiên Chúa. Danh hiệu lớn nhất của Giáo hội không phải là giáo hoàng, giám mục, linh mục, hay tu sĩ, mà là con cái Thiên Chúa. Tất cả mọi người đều là những người con trong Chúa Con, được hiệp nhất bởi Chúa Thánh Thần. Khẳng định phẩm giá bình đẳng của mọi người không có nghĩa là phủ nhận những khác biệt: Giáo hội là thân thể của Chúa Kitô, sống động và xinh đẹp vì có nhiều hồng ân, đặc sủng, thừa tác vụ và ơn gọi khác nhau.
Chức linh mục cộng đồng và chức linh mục thừa tác hoặc phẩm trật là những hình thức tham gia riêng biệt vào chức tư tế của Chúa Kitô (x. LG 10 ). Đặt chức linh mục chung trước chức linh mục thừa tác có nghĩa là phá vỡ mối quan hệ bất đối xứng về quyền bính-vâng phục đã cấu trúc nên Giáo hội kim tự tháp. Sau đó, việc khẳng định hai hình thức tham gia vào chức tư tế của Chúa Kitô được quy định cho nhau có nghĩa là nhìn nhận sự đa dạng bổ sung cho nhau chứ không hề thu gọn lẫn nhau. Các thừa tác viên thụ phong nên phục vụ dân thánh của Thiên Chúa, dân thánh cuối cùng trở thành chủ thể tích cực của đời sống giáo hội.
Nhưng nói Giáo hội là Dân Chúa không giải quyết được toàn bộ vấn đề, cũng không đảm bảo một cuộc cải cách Giáo hội mà không hề đau đớn. Giáo Hội xét như Dân Chúa một mặt giải thích sự nhấn mạnh vào nền giáo hội học hiệp thông, chủ yếu tập trung vào khía cạnh hiệp thông phẩm trật, điều mà theo thời gian đã tạo ra một “sự tập quyền” thực sự của Giáo hội. Giáo Hội xét như Dân Chúa làm dấy lên nỗi lo sợ rằng tính hiệp hành, được hiểu là “cuộc hành trình cùng nhau” của Dân Chúa, sẽ tạo thành một sự thay thế cho nguyên tắc hiệp thông. Trên thực tế, tính hiệp hành không gì khác hơn là sự hiệp thông của Giáo hội với tư cách là Dân Thánh của Thiên Chúa trên hành trình của họ.
Giáo hội hiệp hành bao gồm mọi chiều kích hiệp thông: hiệp thông Ba Ngôi, hiệp thông các tín hữu, hiệp thông giữa các giáo hội, hiệp thông các thánh. Phục vụ Giáo hội này là các Mục tử, trong một sự hiệp thông có tính phẩm trật được quy định bởi nguyên lý hiệp nhất là Giám mục Rôma. Các giám mục “không đơn độc, không ở trên Giáo hội; nhưng ở bên trong Giáo hội với tư cách là những người đã được rửa tội giữa những người đã được rửa tội và thuộc về Giám mục đoàn với tư cách là Giám mục giữa các Giám mục, đồng thời được kêu gọi – với tư cách là Người kế vị Thánh Phêrô Tông đồ – lãnh đạo Giáo hội Roma – Giáo hội chủ trì trong tình yêu mến tất cả các Giáo hội”.
Mối quan hệ chặt chẽ tồn tại giữa Dân Chúa, Giám mục đoàn và Giám mục Rôma, mỗi người với chức năng của mình, thiết lập Giáo hội hiệp hành là “Giáo hội lắng nghe”. Các tín hữu, Giám mục đoàn, Giám mục Rôma: người này lắng nghe người kia; và tất cả đều lắng nghe Chúa Thánh Thần, “Thần Khí sự thật” (Ga 14:17), để biết Ngài “nói gì với các Giáo Hội” (Kh 2:7)”.
Mong muốn bảo đảm các chức năng tương ứng của các chủ thể này đã dẫn tới việc biến Thượng Hội đồng từ một sự kiện thành một tiến trình. Sự lựa chọn này không phủ quyết nhưng hội nhập: Đức Thánh Cha có ý trao cho các giám mục khả năng tham gia một cách rõ ràng hơn và hiệu quả hơn vào mối quan tâm đối với Giáo hội hoàn vũ. Làm thế nào “Thượng hội đồng Giám mục, đại diện của hàng giám mục Công giáo, trở thành một biểu hiện của tính hợp đoàn giám mục trong một Giáo hội hoàn toàn có tính hiệp hành?” (Đức Phanxicô, Bài phát biểu tại Thượng hội đồng lần thứ 50). Điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách nhìn nhận tất cả các chủ thể trong đó thân thể Giáo hội được thể hiện rõ ràng. Trong diễn ngôn hiệp hành, Dân Chúa, Giám mục đoàn và Giám mục Rôma thực thi các chức năng Giáo hội cụ thể của họ, tạo nên tính hiệp hành, tính hợp đoàn và tính ưu việt trong sự hiệp nhất năng động.
Mỗi Giám mục, với tư cách là nguyên lý hữu hình và nền tảng của sự hiệp nhất cho thành phần Dân Chúa được ủy thác cho mình (x. LG 23), chịu trách nhiệm khởi xướng tiến trình hiệp hành trong Giáo hội của mình. Chính vì được Đức Giám mục triệu tập, nên việc tham khảo ý kiến trong các giáo hội cụ thể là một cuộc tham vấn thực sự đối với Dân Chúa, chủ thể của cảm thức đức tin. Vì không thể có sự tham khảo ý kiến của Dân Chúa trong các Giáo hội cụ thể nếu Mục tử của họ không khởi xướng. Ngay từ đầu, các giám mục đã thực sự tham gia vào tiến trình thượng hội đồng, đóng một vai trò không thể thiếu. Do đó, rõ ràng là không có mâu thuẫn giữa các chiều kích hiệp hành và phẩm trật của Giáo hội: cái này bảo đảm cho cái kia và ngược lại, với Giáo hội là một “bí tích hiệp nhất”, một dân tộc được tập hợp và có trật tự dưới sự hướng dẫn của các giám mục” (SC 26).
Tiến trình Thượng Hội đồng này là một dịp đặc biệt để thực hành cả tính hiệp hành và tính hợp đoàn, vì nó đảm bảo việc thực hành hiệu quả cảm thức đức tin của Dân Chúa cũng như khả năng phân định của các Mục tử. Như vậy, chúng ta có thể kết luận bằng cách tái khẳng định rằng Thượng Hội đồng là “nơi” và “không gian” đặc quyền để thực hành tính hiệp hành, vốn không nhấn mạnh vai trò đơn phương của Dân Chúa hay các Mục tử, mà là vai trò của mọi chủ thể – Dân của Thiên Chúa, Giám mục đoàn, Giám mục Roma – thể hiện tính hiệp hành, tính hợp đoàn và tính ưu việt trong sự hiệp nhất năng động. Với những đặc điểm độc đáo này, tiến trình Thượng Hội đồng có thể được hiểu là cách thực thi tinh tế nhất về tính hiệp hành trong Giáo hội Công giáo.
Như vậy, trên phương diện thần học, cần suy nghĩ lại về Giáo hội theo chìa khóa hiệp hành, để toàn bộ Giáo hội và mọi thứ trong Giáo hội – cuộc sống, các tiến trình, các tổ chức – được suy tư lại theo chiều kích hiệp hành. Trên phương diện thể chế, cần bảo đảm cho Giáo hội “không gian” để thực hành tính hiệp hành. Cha Vitali cho rằng cần bảo vệ Thượng hội đồng như một cơ quan phục vụ một Giáo hội hiệp hành theo thể chế. Nếu không có Thượng Hội đồng, việc thực hành tính hiệp hành cuối cùng sẽ tan chảy thành hàng ngàn dòng suối, tạo ra một vũng lầy thực sự, làm chậm lại, nếu không muốn nói là ngăn cản, việc “cùng bước” của Dân Chúa. Người ta có thể suy ngẫm về hình thức thể chế của Thượng Hội đồng, nhưng không nên nghi ngờ gì rằng thể chế này đảm bảo cho Giáo hội thực thi tính hiệp hành một cách thực sự, như tiến trình thượng hội đồng hiện tại đã chứng minh rõ ràng.
Cuối cùng, cha Vitali cho rằng: Việc thực thi tính hiệp hành một cách chân chính sẽ cho phép có những cân nhắc chu đáo – với sự kiên nhẫn và thận trọng – về các cải cách thể chế cần thiết, các tiến trình đưa ra quyết định có sự tham gia của mọi người, và việc thực thi quyền bính thực sự phù hợp để “làm phát triển” một Dân Chúa trưởng thành và có sự tham gia.
Vatican News
Nguồn: Vaticannews.va
2023
Sơ lược lịch sử Lịch Phụng vụ Công giáo
Lịch Phụng vụ Công giáo, còn được gọi là Năm Phụng vụ Kitô giáo (hoặc đơn giản là Lịch Công giáo) là yếu tố trung tâm của thực hành Công giáo. Lịch Phụng vụ, tự nó là một hệ thống phức tạp nhằm tưởng niệm và cử hành các biến cố quan trọng trong cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô, Đức Mẹ Maria và các Thánh, cũng như những thời điểm quan trọng trong lịch sử Giáo hội – nghĩa là, về cơ bản, nó là bộ sưu tập các kỷ niệm liên tục diễn ra, bao gồm lịch sử của chính Kitô giáo, điều cần được giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ tín hữu tương lai.
Vì nguồn gốc và sự phát triển của lịch này rõ ràng bắt nguồn từ dòng lịch sử vẫn đang diễn ra của Kitô giáo, nên qua nhiều thế kỷ nó đã có nhiều biến đổi, và do đó, việc thêm các bổ sung vào lịch này được thực hiện một cách tự nhiên và thường xuyên.
Những phát triển ban đầu và việc áp dụng các ngày lễ quan trọng
Nguồn gốc của lịch phụng vụ Công giáo có thể bắt nguồn từ những ngày đầu của chính Kitô giáo. Thực ra, từ thuở đầu, Giáo hội đã cử hành Bí tích Thánh Thể và các thực hành phụng vụ khác mà không nhất thiết phải tuân theo bộ lịch nào. Nhưng khi đức tin lan rộng khắp Đế quốc Rôma, nhu cầu tổ chức và chuẩn hóa việc thờ phượng của cộng đồng Kitô giáo ngày càng phát triển đã trở nên rõ ràng hơn. Đến thế kỷ thứ 4, nền tảng cho lịch phụng vụ đã được đâm chồi – ít là trên khắp lục địa Kitô giáo.
Một trong những bước quan trọng nhất trong sự phát triển của Lịch Phụng vụ Công giáo là việc áp dụng các ngày lễ quan trọng. Trước nhất là những ngày lễ tập trung vào sự Phục Sinh của Chúa Giêsu (tức là Chúa Nhật Phục Sinh) và tưởng nhớ các vị tử đạo. Theo thời gian, các ngày lễ khác đã được thêm vào để kỷ niệm các biến cố như Lễ Giáng sinh của Chúa Kitô (Giáng sinh) và Lễ Truyền tin (25 tháng 3) theo cấu trúc hiện có của lịch Rôma mà Giáo hội đã áp dụng.
Lịch Phụng vụ Công giáo ngày nay
Lịch Phụng vụ Công giáo hiện đại đã được tổ chức theo các mùa phụng vụ khác nhau. Vì Năm Phụng vụ bắt đầu vào Chúa Nhật thứ nhất của Mùa Vọng, nên các mùa (theo thứ tự) là Mùa Vọng, Giáng Sinh, Mùa Thường Niên, Mùa Chay, Tam Nhật Thánh, Lễ Phục Sinh, Lễ Hiện Xuống và Mùa Thường Niên, kết thúc bằng lễ Chúa Kitô Vua. Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, lịch phụng vụ khởi đi từ sự mong đợi Chúa giáng sinh cho đến khi Ngài được nhận biết là Vua vũ trụ – ngày lễ này do Giáo hoàng Piô XI thiết lập vào năm 1925.
Chúng ta có thể thấy, mỗi Mùa Phụng vụ đều có đặc điểm và trọng tâm riêng biệt, phản ánh cuộc đời và những giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, các ngày lễ vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong lịch, tôn vinh các vị thánh, các cuộc hiện ra của Đức Mẹ và các sự kiện quan trọng trong lịch sử Giáo hội.
Do đó, nguồn gốc và sự phát triển của Lịch Phụng vụ Công giáo là một minh chứng sống động cho tính năng động của Giáo hội Công giáo. Từ buổi đầu trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo cho đến những cuộc cải cách phụng vụ vĩ đại của thế kỷ 20, lịch phụng vụ vừa thích nghi và vừa đáp ứng nhu cầu của các tín hữu. Khi thiết lập đời sống phụng vụ cho cộng đoàn các tín hữu, lịch phụng vụ vẫn là nền tảng của đức tin Công giáo, cung cấp một khuôn khổ có cấu trúc và thiêng liêng để thờ phượng, suy tư, hiệp thông với Thiên Chúa và với người khác.
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2023
Thượng Hội đồng: Bài suy niệm của Đức Thánh Cha trong buổi cầu nguyện cho người di cư và tị nạn
BUỔI CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI DI CƯ VÀ TỊ NẠN
BÀI SUY NIỆM CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
Tại Tượng đài Người Di cư, Quảng trường Thánh Phêrô
Thứ Năm, ngày 19.10.2023

Giống như ngày xưa, hiện nay vẫn có những người nhìn thấy cảnh tượng này và băng qua bên kia đường tiếp tục bước đi; chắc chắn họ sẽ tìm ra lý do nào đó để biện minh cho mình, nhưng thực ra đó là vì ích kỷ, thờ ơ và sợ hãi. Đây là sự thật. Trái lại, Tin Mừng nói gì về người Samari này? Tin Mừng nói rằng ông nhìn thấy người bị thương và chạnh lòng thương (c. 33). Đây là chìa khoá. Lòng thương cảm là dấu ấn của Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta. Phong cách của Thiên Chúa là gần gũi, trắc ẩn, và dịu dàng: đó là phong cách của Thiên Chúa, và lòng thương cảm là dấu ấn của Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta. Đây là chìa khoá. Đây là bước ngoặt. Bởi vì từ giờ phút đó, người đàn ông bị thương bắt đầu hồi phục, nhờ người xa lạ đó đã cư xử với mình như một người anh em. Và như vậy, kết quả không chỉ đơn thuần là một hành động giúp đỡ tốt đẹp; mà kết quả còn là tình huynh đệ.

Người Samari nhân hậu không chỉ giúp đỡ người lữ khách bất hạnh bên lề đường. Ông còn đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa đến một quán trọ và chăm sóc người ấy. Ở đây, chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa của bốn động từ tóm tắt việc phục vụ của chúng ta đối với người di cư: chào đón, bảo vệ, thăng tiến, và hội nhập. Những người di cư phải được chào đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập. Điều này liên quan đến trách nhiệm lâu dài; thực ra, Người Samari nhân hậu cũng đã quan tâm đến việc quay trở lại. Đây là lý do tại sao điều quan trọng là chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ cho những thách thức của tình trạng di cư ngày nay, hiểu rõ những khía cạnh quan trọng cũng như những cơ hội mà việc di cư mang lại, nhằm hướng tới sự phát triển của những xã hội dung nạp hơn, đẹp đẽ hơn, và hòa bình hơn.

Chào đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập: đây là công việc chúng ta phải thực hiện.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ân sủng giúp chúng ta gần gũi với tất cả những người di cư và tị nạn gõ đến cửa nhà chúng ta, bởi vì ngày nay “bất cứ ai nếu không là kẻ cướp hoặc không là người bỏ đi qua, thì cũng sẽ là người bị thương hoặc là người vác người bị thương lên vai”. (Thông điệp Fratelli Tutti, 70).

Dòng Đa Minh Thánh Tâm
2023
Bước vào Thánh Lễ qua Kinh thánh: Thánh lễ là gì?
Từ thời các tông đồ, Thánh lễ đã là hành vi trung tâm của phụng thờ Kitô giáo. Vì Thánh Lễ không gì khác hơn là việc cử hành Thánh Thể mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong Bữa Tiệc Ly, khi Người truyền cho các tông đồ: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (x. Lc 22, 19).
Thật khó để tóm tắt những gì xảy ra trong Thánh Lễ với một hai câu ngắn gọn, vì toàn bộ mầu nhiệm cứu chuộc được gắn liền với phụng vụ Thánh Thể. Thật vậy, như Đức Gioan Phaolô II viết, mầu nhiệm cứu độ của cái chết và phục sinh Đức Giêsu “như đã được quy tụ, báo trước và ‘tập trung’ mãi mãi vào ân sủng Thánh Thể”[1].
Ở đây, chúng ta xem xét ngắn gọn ba khía cạnh của Bí tích Thánh Thể làm nền tảng cho việc đi vào Thánh lễ: 1) Thánh Thể tưởng nhớ hy tế của Đức Kitô trên thập giá, 2) Thánh Thể là sự hiện diện thực sự của Đức Giêsu, và 3) Thánh Thể là sự hiệp thông với Chúa chúng ta.
| 1. Thánh lễ như là hy tế 2. Sự hiện diện thật sự của Đức Giêsu 3. Lạy Đấng Emmanuel, xin ngự đến! 4. Rước lễ |
Cử hành Thánh Thể thường được gọi là “Hy tế Thánh lễ”. Nhưng Thánh Lễ là một hy tế (sacrifice) theo nghĩa nào? Phải thừa nhận rằng điều này không dễ nhận thấy. Dẫu sao, người Công giáo không đi lễ như người Do Thái xưa đến đền thờ, mang theo thú vật đến thánh điện để tư tế giết mổ, xẻ thịt, đốt và dâng lên Thiên Chúa. Của lễ hy tế trong Thánh Lễ rõ ràng không phải là bò, cừu hay dê. Tuy nhiên, nó là một hy tế – hy lễ của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng trong cái chết trên thập giá đã hiến mạng sống mình như một tặng phẩm hoàn toàn dâng lên Chúa Cha và cứu chuộc thế gian. Theo giáo huấn Công giáo, Thánh lễ không chỉ đơn thuần tưởng nhớ hay biểu trưng cho cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Thánh lễ hiện diện hóa hy lễ cứu chuộc của Đức Kitô trên đồi Canvê một cách bí tích, để quyền năng cứu độ của nó có thể được áp dụng trọn vẹn vào cuộc sống của chúng ta. Như Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy: “Vì trong hy tế thần linh được thực hiện trong thánh lễ, cũng chính Đức Kitô Đấng đã tự hiến một lần bằng cách đổ máu trên bàn thờ thập giá, nay được hiến dâng và sát tế một cách không đổ máu”[2]. Việc xem xét kỹ lưỡng những lời của Đức Giêsu trong Bữa Tiệc Ly có thể làm sáng tỏ khía cạnh này của Thánh Lễ như một hy lễ.
Vào đêm trước khi chịu chết, Đức Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể để tưởng nhớ cái chết và phục sinh của Ngài và là bảo chứng cho tình yêu của Ngài. Trong bối cảnh Lễ Vượt Qua, Người cầm lấy bánh và rượu và nói về những điều ấy, khi thân xác Người bị trao nộp và máu Người đổ ra để thứ tha tội lỗi. Ngài kết thúc Bữa Tiệc Ly bằng cách truyền cho các tông đồ cử hành bữa ăn này như một lễ tưởng niệm phụng vụ: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.
Một điểm quan trọng cần lưu ý là ngôn ngữ mà Đức Giêsu sử dụng khi nói về thân xác và máu của Ngài mang âm hưởng hy tế mạnh mẽ. Ngài nói rằng thân xác mình sẽ được dâng lên và máu sẽ đổ ra. Như chúng ta sẽ thấy, ngôn ngữ này gợi nhớ đến các nghi lễ hiến tế của người Do Thái, trong đó thi thể của một con vật được dâng lên và máu nó đổ ra để hiến tế. Vì thế, trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã dự liệu trước sự hy sinh của Ngài trên thập giá khi nói đến Mình và Máu Ngài được hiến tế giống như con chiên Vượt Qua được hiến tế.
Điểm thứ hai là ý niệm của người Do Thái về tưởng niệm (memorial). Trong Kinh Thánh, tưởng niệm không đơn thuần là nhớ lại một biến cố trong quá khứ. Nó làm cho biến cố đó hiện diện. Vì vậy, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, Ngài đang truyền cho các tông đồ thực hiện việc tưởng niệm theo Kinh thánh lễ hiến tế Mình và Máu Thánh của Ngài trong Bữa Tiệc Ly. Thật vậy, Mình và Máu Chúa Giêsu nói đến trong Bữa Tiệc Ly chính là Mình và Máu mà Ngài đã hy sinh trên Đồi Canvê, và đó cũng là những gì hiện diện với chúng ta trong Thánh Lễ. Như Đức Gioan Phaolô II giải thích, “Chúa Giêsu không chỉ nói rằng những gì Ngài cho họ ăn và uống là thân xác và máu của Ngài; Ngài cũng diễn tả ý nghĩa hiến tế của nó và làm cho hy lễ của Ngài hiện diện một cách bí tích, hy lễ sẽ được hiến dâng trên Thập Giá để cứu rỗi mọi người”[3]. Tương tự như vậy, sách Giáo Lý dạy rằng Thánh Lễ “làm cho hiện diện” (hiện tại hóa) hy tế của thập tự giá[4]. Qua Bí tích Thánh Thể, “hy tế đẫm máu được thực hiện một lần duy nhất trên thập giá được hiện diện, và việc tưởng niệm hy tế đẫm máu đó sẽ còn mãi cho đến ngày tận thế, và sức mạnh cứu độ của hy tế đó sẽ được áp dụng để tha thứ các tội lỗi chúng ta phạm hằng ngày”[5].
Khía cạnh thứ hai của Thánh Thể là nó chứa đựng sự hiện diện thật sự của Đức Giêsu. Giáo hội Công giáo dạy rằng mặc dù Đức Kitô hiện diện với dân Người bằng nhiều cách – nơi người nghèo, trong lời Ngài, trong các bí tích, và trong lời cầu nguyện của hai người họp nhau nhân danh Ngài – Ngài hiện diện độc nhất trong Thánh Thể. Vì trong bí tích Thánh Thể cực thánh, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và như vậy, là Đức Kitô toàn thể (totus Christus), hiện diện một cách “đích thực, thật sự, và theo bản thể”[6].
Bí tích Thánh Thể không chỉ là biểu tượng của Đức Giêsu. Chúa Kitô cũng không chỉ hiện diện cách thiêng liêng trong bánh và rượu cách mơ hồ. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cầm lấy bánh và rượu rồi nói: “Này là mình Ta… Này là chén máu Ta…”. Không giống như các cộng đồng Kitô hữu khác coi Bí tích Thánh Thể chỉ là một biểu tượng thánh hay “sự nhắc nhở” về Chúa Giêsu, Giáo Hội Công giáo khẳng định rằng khi linh mục đọc những lời này của Chúa Giêsu trong Thánh Lễ vào lúc truyền phép, bánh và rượu trên bàn thờ sẽ được biến đổi thành Mình và Máu Chúa Kitô. Thuật ngữ thần học dùng để mô tả sự thay đổi này là biến đổi bản thể (transubstantiation), nói lên rằng việc thánh hiến bánh và rượu, “biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Mình Thánh Đức Kitô, Chúa chúng ta, và biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người”[7]. Tuy nhiên, sự biến đổi này không phải là biến đổi hóa học. Tất cả những hình thức bên ngoài, sờ mó được của bánh và rượu vẫn còn đó. Tấm bánh vẫn trông giống như bánh (mì), vị như bánh (mì) và cảm giác như bánh (mì). Và chén thánh chứa thứ mà mọi giác quan đều cho là rượu bình thường. Cấu trúc hóa học của bánh và rượu nho vẫn giữ nguyên. Nhưng bên dưới những diện mạo này, Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể.
Khi dạy về Bí tích Thánh Thể, chính Đức Giêsu đã sử dụng ngôn ngữ có tính hiện thực sâu sắc để mô tả cách chúng ta sẽ dự phần vào Mình và Máu Người. Chúa Giêsu không chỉ nói trong Bữa Tiệc Ly rằng bánh và rượu là Mình và Máu Ngài (“Này là Mình Thầy… Này là Máu Thầy”), mà khi đưa ra lời dạy sâu thẳm nhất về Bí tích Thánh Thể, Ngài nói rằng chúng ta phải thực sự ăn thịt và uống máu Ngài. Việc thông phần vào Mình và Máu thật của Ngài vào Bí tích Thánh Thể quan trọng đến mức Ngài đã dạy: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 53-56). Thánh Cyril thành Giêrusalem, một nhà thần học Kitô giáo sơ thời, đã khuyến khích các Kitô hữu tin tưởng vào những lời của Chúa Giêsu về Bí tích Thánh Thể thực sự là Mình và Máu Người: “Đừng thấy trong bánh và rượu chỉ là những yếu tố tự nhiên, bởi vì Chúa đã nói rõ ràng rằng đó là thể xác và máu của Ngài: đức tin bảo đảm với bạn về điều này, mặc dù các giác quan của bạn gợi ý điều khác”[8].
Một trong những danh hiệu trong Kinh thánh dành cho Đức Giêsu là “Emmanuel”, có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Đức Giêsu là Con Thiên Chúa đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Thế nên Ngài mong muốn được ở gần chúng ta để ban cho chúng ta món quà là sự hiện diện bí tích của Ngài trong Bí tích Thánh Thể. Do đó, Người tiếp tục là Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – trong mỗi Thánh lễ được cử hành trên khắp thế giới. Chúng ta đừng bao giờ xem ân huệ này là đương nhiên. Sự kiện đáng kinh ngạc nhất trong vũ trụ diễn ra trong mỗi Thánh lễ: chính Con Thiên Chúa đến trên bàn thờ của chúng ta và ngự giữa chúng ta!
Nhưng ước muốn của Chúa ở lại với chúng ta không dừng lại ở đó. Sự hiện diện của Đức Kitô tiếp tục ngự trong các hình Thánh Thể ngay cả ngoài Thánh Lễ cho đến khi nào các dạng hình thánh vẫn còn. Vì thế trong mọi nhà thờ Công giáo, Thánh Thể phải được lưu giữ trong không gian linh thánh gọi là nhà tạm. Chúng ta nên tôn kính sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể bằng cách bái gối hay một số cử chỉ thánh thiện khác để bày tỏ lòng tôn thờ Chúa chúng ta trong Nhà tạm. Chúng ta cũng nên cố gắng dành thời gian với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể ngoài Thánh lễ trong nhà thờ hoặc nhà chầu Thánh thể. Sự thân mật với sự hiện diện của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể có thể mang lại sức mạnh và niềm an ủi lớn lao cho tâm hồn. Thánh Alphonsus Liguori lưu ý rằng đây là một trong những thực hành quan trọng nhất mà chúng ta có thể thực hiện: “Trong tất cả các việc đạo đức, việc sùng kính Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể là cao trọng nhất sau các bí tích, là việc sùng kính thân thiết đối với Thiên Chúa và hữu ích nhất cho chúng ta”[9]. Đức Gioan Phaolô II đã dạy rằng khi ở lại trong sự hiện diện của Chúa nơi Thánh Thể, thì dường như chúng ta trở nên giống như người môn đệ yêu dấu đã dựa vào ngực Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly.
Trong tất cả các nhà tạm trên khắp thế giới, Đức Giêsu tiếp tục là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ở đó, trong Mình Thánh Chúa, chúng ta gặp Đức Giêsu, Đấng đã đi trên đường phố Palestine, chữa người bệnh tật, kêu gọi mọi người hoán cải và ban cho họ ơn thứ tha tội lỗi. Và chính Đức Giêsu ấy tiếp tục công cuộc chữa lành, tha thứ và cứu chuộc trên thế giới; chỉ bây giờ Ngài mới đến gặp chúng ta một cách bí tích trong Bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu khao khát chúng ta đến gần Ngài và muốn thực hiện những công việc vĩ đại trong cuộc đời chúng ta, giống như Ngài đã làm cho dân Chúa cách đây 2.000 năm. Nhưng chúng ta phải đến cùng Ngài. Và chúng ta phải tin. Đức Gioan Phaolô II lưu ý Chúa Giêsu mong mỏi chúng ta đến thăm Người trong Bí tích Thánh Thể như thế nào: “Đức Giêsu chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Đừng từ chối thời gian đến gặp Người để tôn thờ, chiêm niệm đầy tràn đức tin… Đừng bao giờ ngừng tôn thờ Ngài”[10].
Tân Ước mạc khải Đức Giêsu là Chiên Vượt Qua được hiến tế trên đồi Canvê vì tội lỗi chúng ta (xem 1 Cr 5,7-8; 1 Pr 1,19; Kh 5,6). Tuy nhiên, trong Lễ Vượt Qua, cũng như trong các nghi lễ hiến tế khác của người Do Thái, việc giết các con vật là chưa đủ. Ăn thịt chiên hiến tế là một phần thiết yếu của việc cử hành Vượt Qua (xem Xh 12,8-12). Bữa ăn hiệp thông nối tiếp lễ hy tế, và chính bữa ăn được chia sẻ thể hiện sự gắn kết của giao ước và tạo nên sự hiệp thông giữa những người tham dự và Thiên Chúa.
Điều này thật quan trọng để hiểu Bí tích Thánh Thể là sự hiệp thông (communion). Nếu Đức Giêsu là Chiên Vượt Qua mới đã bị tế sinh vì tội lỗi chúng ta, thì thật thích hợp là sẽ có một bữa ăn hiệp thông đi kèm với sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá – một bữa ăn trong đó chúng ta sẽ dự phần vào con Chiên Thiên Chúa thực sự là Đức Giêsu. Nhìn từ nhãn quan Kinh thánh, chúng ta gần như có thể nói đó là một bữa ăn hiệp thông bắt nguồn từ hy tế của Đức Kitô. Điều này là tuân theo khuôn mẫu hy tế và hiệp thông trong Kinh Thánh.
Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta hướng đi này trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, phản ánh quan niệm của người Do Thái về sự hy tế và hiệp thông. Ngài dạy: “Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Quả vậy, Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1 Cr 5,7-8). Hãy lưu ý hy tế của Đức Kitô được hiểu như thế nào để đạt đến đỉnh điểm trong một bữa ăn lễ hội. Ngay sau đó Thánh Phaolô nói rõ ngài đang nghĩ tới bữa tiệc lễ hội nào: Đó là Bí tích Thánh Thể. Trong chương 11, ngài kể lại việc Đức Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly, và trong chương 10, ngài mô tả sự hiệp nhất sâu sắc được thiết lập qua việc thông phần Mình và Máu Chúa Kitô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,16-17).
Chẳng gì ngạc nhiên khi Giáo hội Công giáo xem việc rước lễ là đỉnh cao của phụng thờ Thánh Thể. Như Sách Giáo lý giải thích: “Việc cử hành hy tế Thánh Thể hoàn toàn hướng đến sự kết hợp mật thiết của các tín hữu với Đức Kitô qua việc rước lễ. Rước lễ là lãnh nhận chính Đức Kitô, Đấng đã tự hiến vì chúng ta”[11]. Thật vậy, rước lễ là sự kết hợp sâu sắc nhất của chúng ta với Thiên Chúa ở bên này cõi vĩnh hằng. Thiên Chúa đến với chúng ta một cách bí tích trên bàn thờ trong Thánh Lễ và vẫn hiện diện với chúng ta ngoài Thánh Lễ trong nhà tạm. Riêng điều này thôi đã khá kinh ngạc rồi! Nhưng ước muốn hiệp nhất của Thiên Chúa với chúng ta còn đi xa hơn nữa. Khi hiệp lễ hay rước lễ, Chúa đi vào thân xác chúng ta, kết hợp với linh hồn chúng ta trong sự kết hiệp mật thiết nhất này.
Đây là lúc chúng ta dành sự quan tâm trọn vẹn nhất đối với Chúa, vì Ngài ngự trong chúng ta sau khi rước lễ. Khi trở lại chỗ ngồi của mình trong nhà thờ, chúng ta nên tâm sự với Chúa – yêu mến, cảm ơn Ngài, chia sẻ những nhu cầu và lời cầu xin sâu sắc nhất của chúng ta với Ngài. Trong những giây phút sau khi rước lễ, chúng ta trở nên giống Đức Maria, Đấng đã cưu mang vị Thiên Chúa – Con Người trong lòng mình suốt chín tháng. Thật là một mầu nhiệm! Maria đã có Đấng Tạo Dựng và Đấng Cứu Rỗi trong cung lòng mình! Chưa hết, những gì đã xảy ra nơi Đức Maria cũng xảy ra ở một mức độ nào đó cách bí tích nơi chúng ta, khi chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Chúa[12]. Chúng ta trở thành những nhà tạm sống động, là nơi ở cho sự hiện diện của chính vị Thiên Chúa – Con Người. Đây không phải là lúc để nhìn quanh xem mọi người đang mặc áo gì quần gì. Đây không phải là lúc để nghĩ về trận bóng đá vào buổi chiều nay hay nghĩ ra chiến lược làm cách nào để ra khỏi bãi đậu xe cách nhanh chóng. Đây là lúc để nghỉ ngơi với Chúa, Đấng đã vì yêu thương đến ngự trong chúng ta.
Việc rước lễ thường xuyên có thể có tác động to lớn đến cuộc sống của chúng ta[13]. Nó có thể giúp chúng ta vượt qua sự yếu đuối và tội lỗi, hướng dẫn chúng ta trong các quyết định, hỗ trợ chúng ta trong những thử thách và đau khổ, và giúp chúng ta lớn lên trong sự thánh thiện. Khi nuôi dưỡng mình bằng Mình và Máu Thánh Đức Kitô, chúng ta dần được biến đổi bởi chính sự sống của Ngài đang ngự trong chúng ta. Theo một nghĩa nào đó, theo cách diễn đạt hiện đại, chúng ta sẽ trở thành những gì chúng ta ăn! Đó là quan điểm mà Thánh Lêô Cả đã từng nói: “Không có mục đích nào khác khi chúng ta dự phần vào Mình và Máu Đức Kitô, hơn là chúng ta biến đổi thành những gì chúng ta tiêu thụ, và luôn mang trong mình tinh thần và xác thịt Đấng mà chúng ta đã chết, được chôn và sống lại trong Ngài”[14].
Tóm lại, chúng ta đã thấy Thánh Lễ như là hy lễ, là sự hiện diện thực sự và sự hiệp thông thánh thiện. Với nền tảng cơ bản này, giờ đây chúng ta đã sẵn sàng để bắt đầu bước đi theo Kinh Thánh qua các phần của Thánh lễ.
Edward Sri
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Chuyển ngữ từ tác phẩm: A Biblical walk through the Mass Understanding What We Say and Do in the Liturgy, Ascension Press, 2010
Nguồn: gpquinhon.org (16.10.2023)
[1] Gioan Phaolô II, Eucharistia de Ecclesia, số 5.
[2] GLHTCG (Giáo lý Hội thánh Công giáo) 1367; cũng xem GLHTCG, 1362-72.
[3] Gioan Phaolô, Ecclesia de Eucharistia, 12.
[4] GLHTCG, 1366.
[5] Ibid.
[6] GLHTCG, 1374.
[7] GLHTCG 1376.
[8] Được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô trích trong Ecclesia de Eucharistia, số 15.
[9] Thánh Alphonsus Liguori, Visite al SS. Sacramento e a Maria Santissima, Introduction: Opere Ascetiche (Avellino, Italy: 2000), tr. 295. Xem GLHTCG 1418.
[10] Gioan Phaolô II, Dominicae cenae, số 3; cũng trích trong GLHTCG 1380.
[11] GLHTCG 1382.
[12] Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia, số 55.
[13] Người Công giáo buộc phải tham dự Thánh lễ Chúa nhật và các ngày lễ buộc. Việc rước lễ được khuyến khích vào mỗi Chúa nhật và các ngày lễ trọng, và thậm chí ngày thường (GLHTCG 1389). Tuy nhiên, người ta phải ở trong tình trạng ân sủng để tránh lãnh nhận Bí tích Thánh Thể một cách “không xứng đáng” (xem 1 Cr 11, 27-29). “Bất cứ ai mắc tội trọng đều phải lãnh nhận bí tích Hoà Giải trước khi rước lễ”(GLHTCG 1385).
[14] St. Leo the Great, Sermo 63, được dịch trong Matthias Scheeben, The Mysteries of Christianity (St. Louis: Herder and Herder, 1964), tr. 486-7.
