2022
Diễn văn của Đức Thánh Cha trước Chính Quyền, Đại diện các dân tộc bản địa
Diễn văn của Đức Thánh Cha trước Chính Quyền, Đại diện các dân tộc bản địa
Tôi gửi lời chào thân ái đến quý vị, và tôi xin cảm ơn Bà Mary Simon và Ngài Justin Trudeau vì những lời tốt đẹp và lịch thiệp của họ. Tôi rất vui khi có thể nói chuyện với quý vị, những người có trách nhiệm phục vụ người dân của đất nước vĩ đại này, nơi “từ biển tới biển” (như câu khẩu hiệu của quốc gia), đã cho thấy một di sản thiên nhiên đặc biệt.
Diễn văn của Đức Thánh Cha Phanxicô
Gặp gỡ Chính quyền dân sự, Đại diện các dân tộc bản địa
và Ngoại giao đoàn
tại Citadelle de Québec, ngày 27 tháng 7 năm 2022
Thưa Bà Thống đốc Toàn quyền,
Thưa Ngài Thủ tướng,
Thưa quý Chức trách Tôn giáo và Dân sự,
Quý Đại diện các dân tộc bản địa thân mến,
Thưa quý Thành viên chính phủ và Ngoại giao đoàn,
Quý ông bà và anh chị em thân mến!
Tôi gửi lời chào thân ái đến quý vị, và tôi xin cảm ơn Bà Mary Simon và Ngài Justin Trudeau vì những lời tốt đẹp và lịch thiệp của họ. Tôi rất vui khi có thể nói chuyện với quý vị, những người có trách nhiệm phục vụ người dân của đất nước vĩ đại này, nơi “từ biển tới biển” (như câu khẩu hiệu của quốc gia), đã cho thấy một di sản thiên nhiên đặc biệt. Trong số rất nhiều vẻ đẹp của xứ sở này, tôi nghĩ đến những khu rừng phong bát ngát và ngoạn mục khiến cho những miền quê Canada trở nên đầy màu sắc và đa dạng một cách độc đáo. Tôi muốn khởi đi từ biểu tượng nổi bật và tuyệt vời của những vùng đất này, tức chiếc lá phong, bắt đầu từ con dấu của Québec, và sau đó nhanh chóng lan trộng để trở thành biểu tượng xuất hiện trên quốc kỳ.
Sự tiến triển đó diễn ra trong thời gian tương đối gần đây, nhưng những cây phong lưu giữ ký ức của bao nhiêu thế hệ trong quá khứ, thậm chí có thể trở ngược lại trước cả khi những người thực dân đặt chân đến đất Canada. Thời đó người bản địa đã biết chiết xuất nhựa cây phong, từ đó họ bào chế ra nhiều loại sirô bổ dưỡng. Điều này khiến chúng ta liên tưởng đến sự cần cù và sự quan tâm liên lỉ của người bản địa trong việc bảo vệ đất đai và môi trường, trung thành với viễn cảnh hài hòa của công trình sáng tạo như một cuốn sách mở vốn dạy cho con người biết kính yêu Đấng Tạo Hóa và biết cộng sinh với các sinh thể khác. Ở điểm này chúng ta có thể học hỏi được nhiều, cách riêng là khả năng chăm chú lắng nghe Thiên Chúa, con người và thiên nhiên. Và chúng ta cần điều ấy, đặc biệt là trong bối cảnh thế giới ngày nay đang chuyển mình với tốc độ chóng mặt và điên cuồng, được đánh dấu bằng sự “nhanh gọn hóa” mọi lúc mọi nơi vốn cản trở một sự phát triển thực sự nhân bản, bền vững và toàn diện (x. Laudato Si’, số 18), và rốt cuộc là tạo ra “một xã hội đầy sự mỏi mệt và vỡ mộng” vốn thật khó để có thể phục hồi vị ngọt của chiêm niệm, hương hoa từ những mối tương quan đích thực, hay vẻ nhiệm mầu của hiện hữu cùng nhau. Chúng ta cần lắng nghe và đối thoại với nhau biết bao, nhằm tránh khỏi chủ nghĩa cá nhân đang thịnh hành, khỏi những phán xét vội vàng, hay khỏi sự hung hãn tràn lan cũng như cám dỗ chia cắt thế giới thành người tốt kẻ xấu! Những chiếc lá phong lớn, vốn có thể hấp thụ không khí ô nhiễm rồi cung cấp oxy, mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của công trình sáng tạo và trân quý những giá trị tốt đẹp hiện diện trong các nền văn hóa bản địa. Chúng có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta và giúp chữa lành các khuynh hướng lợi dụng tai hại. Tôi đang nói đến sự khai thác không chỉ nơi công trình tạo dựng mà còn là sự lợi dụng thời gian và các mối tương quan, đặt hoạt động của con người chỉ dựa trên những gì tỏ ra hữu ích và sinh lợi.
Tuy nhiên, những lời dạy quan trọng này đã bị phản đối dữ dội trong quá khứ. Tôi nghĩ trên tất cả các chính sách đồng hóa và chiếm giữ đặc quyền, cũng liên quan đến hệ thống trường học nội trú, đã làm tổn hại các gia đình bản địa bằng cách phá hoại ngôn ngữ, văn hóa và thế giới quan của họ. Hệ thống thảm hại đó, được cổ võ bởi các nhà cầm quyền thời đó, đã chia cắt nhiều trẻ em khỏi gia đình của chúng, ngay cả các cơ sở Công giáo khác nhau ở địa phương cũng đã góp phần. Vì lý do này, tôi bày tỏ sự xấu hổ và đau buồn sâu sắc của mình, và cùng với các giám mục của đất nước này, tôi tiếp tục khẩn xin sự tha thứ cho những điều sai trái của rất nhiều Kitô hữu đối với người dân bản địa. Thật là bi thảm khi một số tín hữu, như đã xảy ra trong giai đoạn lịch sử đó, đã tuân theo các quy ước của thế gian hơn là tuân theo Tin Mừng. Đức tin Kitô giáo đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc hình thành những lý tưởng cao cả nhất của Canada, dễ thấy nơi mong muốn xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn cho tất cả cư dân. Đồng thời, khi thừa nhận lỗi lầm của chúng ta, tôi thấy chúng ta rất cần phải làm việc cùng nhau để hoàn thành một mục tiêu chung mà tôi biết hết thảy các bạn đều ấp ủ: cổ võ các quyền hợp pháp của người dân bản địa và ủng hộ những tiến trình hàn gắn và hòa giải giữa người dân bản địa và những người khác trên cùng một đất nước. Điều đó được phản ánh trong cam kết của quý vị để đáp ứng thỏa đáng các kháng nghị của Ủy ban Sự thật và Hòa giải, cũng như trong sự quan tâm đến việc thừa nhận các quyền của người bản địa.
Tòa Thánh và các cộng đồng Công giáo địa phương cam kết cổ võ các nền văn hóa bản địa một cách cụ thể thông qua các hình thức đồng hành thiêng liêng đặc thù và thích hợp, bao gồm sự chú tâm đến các truyền thống văn hóa, phong tục, ngôn ngữ và quá trình giáo dục của người dân bản địa, theo tinh thần của Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Quyền của các dân tộc bản địa. Chúng tôi mong muốn đổi mới mối quan hệ giữa Giáo Hội và các dân tộc bản địa Canada, một mối quan hệ được đánh dấu bằng cả tình yêu phong nhiêu và, một cách bi thảm, bởi cả những vết thương sâu sắc mà chúng tôi xin cam kết tìm hiểu và chữa lành. Tôi thực sự biết ơn vì đã có cơ hội gặp gỡ và lắng nghe nhiều đại diện từ các dân tộc bản địa trong những tháng gần đây tại Roma, cũng như ở đây, tại Canada, để có thể canh tân các mối quan hệ tốt đẹp từng được thiết lập trên đất nước này.
“Lịch sử đau khổ và đầy khinh miệt” đó, kết quả của não trạng thực dân, thật “không dễ chữa lành”. Thật vậy, lịch sử ấy phải khiến chúng ta nhận ra rằng “quá trình thực dân hóa vẫn chưa kết thúc; ở nhiều nơi nó đã thay hình đổi dạng, ngụy trang và giấu mặt” (Querida Amazonia, 16). Đó là trường hợp của các hình thức thực dân hóa ý thức hệ. Trước đây, não trạng thực dân coi thường đời sống cụ thể của con người và áp đặt những mô hình văn hóa đã định sẵn; nhưng ngày nay cũng vậy, có nhiều hình thức thực dân hóa ý thức hệ xung đột với thực tế cuộc sống, bóp nghẹt sự gắn bó tự nhiên của các dân tộc với những giá trị của họ, và cố gắng nhổ tận gốc các mối quan hệ truyền thống, lịch sử và tôn giáo của họ. Não trạng này, vốn tự phụ nghĩ rằng những trang đen tối của lịch sử đã bị bỏ lại phía sau, lại trở nên cởi mở với “nền văn hóa huỷ bỏ” vốn đánh giá quá khứ hoàn toàn dựa trên một số phạm trù đương đại nhất định. Hậu quả là một phong cách văn hóa cào bằng mọi thứ, khiến mọi thứ đều như nhau, không khoan dung với những khác biệt, và chỉ tập trung vào thời điểm hiện tại, vào nhu cầu và quyền của cá nhân, trong khi thường xuyên bỏ bê nhiệm vụ phải có đối với những người yếu đuối và dễ bị tổn thương nhất trong số những anh chị em của chúng ta: người nghèo, di dân, người cao tuổi, bệnh nhân, trẻ sơ sinh… Họ là những người bị lãng quên trong “các xã hội sung túc”; họ là những người, giữa sự thờ ơ chung chung, bị gạt sang một bên như những chiếc lá khô chờ ngày đem đốt.
Thay vào đó, những tán lá đa sắc rực rỡ của cây phong nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của toàn thể, về tầm quan trọng của việc phát triển các cộng đồng nhân loại vốn không đồng nhất một cách nhạt nhẽo, nhưng thực sự cởi mở và sẵn sàng hòa nhập. Và cũng như mọi chiếc lá đều là nền tảng cho cành lá xum xuê, mỗi gia đình, với tư cách là tế bào thiết yếu của xã hội, đều phải được trân quý, bởi vì “tương lai của nhân loại đi ngang qua gia đình” (Thánh Gioan Phaolô II, Familiaris Consortio, 86). Gia đình là thực tại xã hội cụ thể đầu tiên, nhưng nó đang bị đe dọa bởi nhiều yếu tố: bạo lực gia đình, nhịp độ lao động điên cuồng, tư duy cá nhân chủ nghĩa, tư duy đặt công việc và địa vị lên trên hết (cutthroat careerism), nạn thất nghiệp, sự cô đơn và bị cô lập của người trẻ, sự bỏ rơi người già yếu… Người dân bản địa dạy chúng ta nhiều điều về cách chăm sóc và bảo vệ gia đình; nơi họ, ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em được học cách nhận biết đúng sai, sống trung thực, chia sẻ, sửa lỗi, học cách bắt đầu lại, động viên nhau và hòa giải với nhau. Mong những điều sai trái mà người dân bản địa phải chịu đựng như một lời cảnh báo cho chúng ta ngày nay, để sự quan đến gia đình và những quyền lợi của gia đình không bị xao lãng bởi tư duy chạy theo năng suất hay thú vui cá nhân.
Chúng ta hãy trở lại với hình ảnh chiếc lá phong. Trong thời chiến, những người lính sử dụng lá phong để băng bó và xoa dịu vết thương. Ngày nay, trước sự điên cuồng vô nghĩa của chiến tranh, một lần nữa chúng ta cần phải hàn gắn các hình thức thù địch và chủ nghĩa cực đoan cũng như chữa lành vết thương của hận thù. Một nhân chứng của những hành động bạo lực bi thảm trong quá khứ gần đây đã nhận xét rằng “hòa bình có bí quyết của riêng nó: đừng bao giờ thù ghét bất cứ ai. Nếu chúng ta muốn sống, chúng ta không bao giờ được phép hận thù” (Phỏng vấn Edith Bruck, Avvenire, 8 tháng 3 năm 2022). Chúng ta không cần phải chia thế giới này thành bên bạn bên thù, không cần phải tạo ra khoảng cách để rồi một lần nữa phải hết mình tự vệ: một cuộc chạy đua vũ trang và các chiến lược răn đe sẽ không mang lại hòa bình và an ninh. Chúng ta cần tự hỏi mình không phải làm thế nào để theo đuổi các cuộc chiến tranh, mà là làm sao để ngăn chặn chúng. Và để ngăn cho các dân tộc khỏi nạn bắt giữ con tin một lần nữa, cũng như khỏi bị kìm kẹp bởi các cuộc chiến tranh lạnh kéo dài và khủng khiếp.
Trong thực tế, những thách thức lớn trong thời đại của chúng ta, như hòa bình, biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của đại dịch và phong trào di cư trên tầm mức quốc tế, tất cả đều có một điểm chung: chúng mang tính toàn cầu, liên quan đến tất cả mọi người. Và bởi tất cả những thách thức ấy đều nói lên sự cần thiết phải xem xét tổng thể, chính trị không thể bị giam cầm trong lợi ích đảng phái. Chúng ta cần phải có khả năng nhìn đến bảy thế hệ tương lai, như truyền thống khôn ngoan nơi các dân tộc bản địa đã dạy, chứ không chỉ chăm chăm vào điều tiện lợi trước mắt, về các cuộc bầu cử tiếp theo, hoặc sự ủng hộ của chiến dịch vận động hành lang này nọ. Nhưng chúng ta cũng cần đánh giá cao sự khao khát của những người trẻ đối với tình huynh đệ, công lý và hòa bình. Để gìn giữ ký ức và sự khôn ngoan, chúng ta cần lắng nghe người cao tuổi, nhưng để tiến tới tương lai, chúng ta cũng cần ôm lấy ước mơ của những người trẻ. Họ xứng đáng có một tương lai tốt đẹp hơn tương lai mà chúng ta đang chuẩn bị cho họ; họ xứng đáng được tham gia vào các quyết định trong việc xây dựng thế giới hôm nay và mai sau, và đặc biệt là về việc bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; về mặt này, các giá trị và lời dạy của người dân tộc bản địa là đáng quý. Ở đây, tôi muốn bày tỏ sự trân quý đối với cam kết đáng khen ngợi đang được thực hiện ở cấp địa phương trong việc bảo vệ môi trường. Thậm chí có thể nói rằng những biểu tượng được rút ra từ thiên nhiên, chẳng hạn như bông hoa bách hợp trên lá cờ của Tỉnh Québec này, và chiếc lá phong trên quốc kỳ, xác nhận ơn gọi hay thiên chức sinh thái của Canada.
Khi Ủy ban sáng tạo quốc kỳ đã cân nhắc đánh giá hàng nghìn bản phác thảo được gửi cho mục đích đó, nhiều bản thảo được gửi đến từ những người bình dân, điều thật đáng ngạc nhiên là hầu hết tất cả các bản thảo đều có hình ảnh chiếc lá phong. Sự hội tụ xung quanh biểu tượng được chung chia này khiến tôi muốn gợi ý một từ ngữ thiết yếu cho tất cả người dân Canada: chủ nghĩa đa văn hóa. Chủ nghĩa đa văn hóa là nền tảng cho sự gắn kết của một xã hội đa dạng như màu sắc lấp lánh của những tán lá phong. Với nhiều điểm, góc cạnh và bề mặt, chiếc lá phong gợi cho chúng ta về một khối đa diện; nó nhắc chúng ta rằng các bạn là những người có khả năng hòa nhập, để những người mới đến có thể tìm thấy một vị trí trong sự thống nhất đa dạng đó và có thể đóng góp phần đặc sắc của riêng họ vào đó (X. Evangelii Gaudium, 236). Chủ nghĩa đa văn hóa là một thách thức thường trực: nó liên quan đến việc chấp nhận và đón lấy tất cả các yếu tố khác nhau hiện có, đồng thời tôn trọng các truyền thống và nền văn hóa đa dạng, và không bao giờ được phép nghĩ rằng quá trình này đã hoàn tất. Về vấn đề này, tôi hết lòng cảm kích trước sự quảng đại và hào hiệp như đã thấy trong việc tiếp nhận nhiều người di cư từ Ucraina và Afghanistan. Tuy nhiên, cũng cần phải vượt ra khỏi luận lý có vẻ thuyết phục của nỗi e dè đối với người nhập cư; và tùy theo khả năng của đất nước, trao cho họ cơ hội cụ thể để dự phần trách nhiệm vào xã hội. Để điều này xảy ra, quyền lợi và sự dân chủ là không thể thiếu. Nhưng cũng cần phải đối mặt với tư duy cá nhân chủ nghĩa và nên nhớ rằng đời sống chung dựa trên những giả định mà bản thân hệ thống chính trị không thể tự tạo ra. Cũng ở đây, văn hóa bản địa thật hữu ích trong việc nhắc nhớ tầm quan trọng của các giá trị xã hội. Giáo hội Công giáo, với chiều kích phổ quát, quan tâm đến những người dễ bị tổn thương nhất, phục vụ chính đáng cho cuộc sống con người tại mọi thời điểm hiện hữu, từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên. Giáo hội rất vui khi được cống hiến những đóng góp cụ thể của mình.
Trong những ngày này, tôi nghe nói về nhiều người túng thiếu đến gõ cửa các giáo xứ. Ngay cả ở một đất nước phát triển và thịnh vượng như Canada, vốn rất chú trọng đến trợ cấp xã hội, vẫn có rất nhiều người vô gia cư tìm đến nhà thờ và các kho lương thực để nhận sự trợ giúp thiết yếu cho những nhu cầu cần được đáp ứng. Những nhu cầu ấy, đừng quên, không chỉ là nhu cầu vật chất. Những anh chị em này của chúng ta thúc đẩy chúng ta suy ngẫm về nhu cầu cấp thiết phải nỗ lực khắc phục tận căn sự bất công đang tàn phá thế giới của chúng ta, trong đó những quà tặng phong phú và dư dật từ công trình sáng tạo bị phân phối một cách bất công. Thật là tai tiếng khi phúc lợi do phát triển kinh tế mang lại không sinh ích cho tất cả các thành phần của xã hội. Và thực sự đáng buồn là ngay trong chính các dân tộc bản địa, chúng ta thường tìm thấy nhiều chỉ số nghèo, cùng với các chỉ số tiêu cực khác, chẳng hạn như tỷ lệ đi học thấp, khả năng tiếp cận ngày càng khó hơn để có thể sở hữu một ngôi nhà hay dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mong rằng biểu tượng chiếc lá phong, vốn thường xuyên xuất hiện trên nhãn mác các sản phẩm của đất nước, sẽ là động lực khuyến khích mọi người đưa ra các quyết định kinh tế và xã hội nhằm thúc đẩy sự chung tay và quan tâm đến những người túng thiếu.
Chúng ta cùng làm việc trong sự đồng thuận và chung tay để đối phó với những thách đố cấp bách ngày nay. Tôi trân trọng cảm ơn các bạn vì lòng hiếu khách, sự quan tâm và tôn trọng. Và với niềm quý mến lớn lao, tôi đảm bảo với bạn rằng đất nước và người dân Canada luôn hiện diện cách gần gũi trong trái tim tôi.
(vaticannews.va 28.07.2022)
2022
Một số phản ứng về diễn văn Ðức Thánh cha xin lỗi thổ dân Canada
Một số phản ứng về diễn văn
Ðức Thánh cha xin lỗi thổ dân Canada
Edmonton (RVA News 27-07-2022) – Ðã có nhiều phản ứng mạnh mẽ từ nhiều giới đối với bài diễn văn đầu tiên của Ðức Thánh cha Phanxicô trên đất Canada, sáng ngày 25 tháng Bảy năm 2022, tại Maskwacis, gần thành phố Edmonton, Canada.
Thủ tướng Canada, ông Justin Trudeau cũng hiện diện tại cuộc gặp gỡ đầu tiên này, đã chào mừng Ðức Thánh cha nhân danh Giáo hội Công giáo, xin lỗi các cộng đoàn thổ dân, vì một số tín hữu Kitô đã cộng tác với chính quyền thực dân ở Canada trong chính sách đồng hóa văn hóa các thổ dân, đặc biệt qua chế độ các trường nội trú thổ dân.
Trong thông cáo của chính phủ, ông Trudeau nói: “Qua lời xin lỗi đó, Ðức Giáo hoàng đã đáp ứng yêu cầu của Ủy ban toàn quốc Canada về sự thật và hòa giải hồi năm 2015”.
Ủy ban này đã đưa ra 95 đề nghị. Số 58 kêu gọi Ðức Giáo hoàng “Xin lỗi những người sống sót, gia đình và cộng đoàn của họ vì vai trò của Giáo hội Công giáo trong những vụ lạm dụng về tinh thần, văn hóa, cảm xúc, thể lý và tính dục… trong các trường nội trú Công giáo… Cuộc gặp gỡ hôm nay tại Maskwacis đã không thể xảy ra nếu không có sự can đảm, vận động và kiên trì của những người sống sót thuộc các sắc dân đầu tiên, người Inuit và người lai, họ chia sẻ ký ức và kinh nghiệm đau thương của họ”.
Phái viên hãng tin AP của Mỹ đã phỏng vấn một số vị lãnh đạo thổ dân về lời xin lỗi của Ðức Thánh cha:
Ông Phil Fontaine, một cựu học sinh trường nội trú, và cựu thủ lãnh Hội đồng các “dân tộc đầu tiên”, nói rằng: “Ðây là một thành đạt về phía cộng đồng thổ dân trong việc thuyết phục Ðức Giáo hoàng Phanxicô đến cộng đoàn chúng tôi và hạ mình trước những người sống sót, như ngài đã làm hôm nay. Thật là đặc biệt. Và tôi biết rằng điều này rất có ý nghĩa đối với nhiều người. Và mỗi lần ngài nói xin lỗi thì dân chúng vỗ tay”.
Tù trưởng Desmond Bull, thuộc bộ lạc Lous Bull, tuyên bố trong một cuộc họp báo rằng: “Có thể chúng ta cần tất cả thời gian để thấu hiểu sự quan trọng của lúc này… Nếu bạn muốn giúp chúng tôi chữa lành, thì hãy ngưng nói với chúng tôi hãy bỏ qua đi… Chúng tôi không thể bỏ qua khi mà những chấn thương liên thế hệ ảnh hưởng trên mỗi người trẻ và mỗi thành viên, mỗi gia đình đã có một cựu học sinh trường nội trú. Thay vì bỏ qua, tôi xin bạn hãy học hỏi về lịch sử, văn hóa, dân tộc chúng tôi”.
Về phần tù trưởng Tony Alexis của dân tộc Alexis Nakota Sioux, ông nói: “Lời Ðức Giáo hoàng là một sự xác nhận những gì thực sự xảy ra. Nhưng Ðức Giáo hoàng cần tiếp tục bằng những hành động, chứ không thể chỉ nói tôi xin lỗi, rồi ra đi”.
Evelyn Korkmaz, một người sống sót, tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn: “Tôi đã đợi 50 năm lời xin lỗi này, và sau cùng tôi đã nghe được lời này. Rất tiếc là nhiều người của nhiều gia đình và cộng đoàn không còn sống để thấy như vậy, vì đã tự tử hoặc vì nghiện ngập. Tôi hy vọng được nghe vài kế hoạch hành động, cách thức Giáo hội sẽ trao các văn kiện, tài liệu và có những bước cụ thể”.
Tù trưởng Vernon Saddleback, thuộc sắc dân Samson Cree, tuyên bố trong một cuộc họp báo: “Tôi nghe nhiều người sống sót trong cộng đoàn tôi phấn khởi khi nghe Ðức Giáo Hoàng đã đến để xin lỗi. Những lời hôm nay không thể diễn tả tầm mức quan trọng của hành trình chữa lành ngày nay mà nhiều thành phần dân tộc đầu tiên đã trải qua. Ðức Giáo hoàng xin lỗi ngày hôm nay là một ngày mà mỗi người trên thế giới cần ngồi lại và lắng nghe”.
Bà Sandi Harpers, ở Saskatoon bang Saskatchewn, đã tham dự cuộc gặp gỡ với Ðức Giáo hoàng nhân danh bà mẹ quá cố của mình, một cựu học sinh trường nội trú thổ dân, nói rằng “Lời Ðức Giáo hoàng hôm nay là điều cần thiết, không những để dân chúng được nghe nhưng còn cho Giáo hội lãnh nhận trách nhiệm của mình. Tuy nhiên một số thổ dân vẫn chưa sẵn sàng hòa giải: Chúng ta cần dành cho họ thời gian để chữa lành. Ðiều này đòi thời gian dài”.
(AP 26-7-2022)
Trần Ðức Anh, O.P.
2022
Bài giảng của Ðức Thánh Cha bên bờ hồ Thánh Anna
Bài giảng của Ðức Thánh Cha bên bờ hồ Thánh Anna
– Như chúng tôi đã tường trình, lúc 10g15 sáng thứ Ba 26 tháng 7 năm 2022, lễ kính Hai Thánh Gioakim và Anna, Ðức Giáo Hoàng đã cử hành thánh lễ tại sân vận động của Edmonton – có sức chứa 65,000 người.
Lúc 17g, Ðức Thánh Cha đến Hồ Thánh Anna, cách thủ đô của Alberta 75 km. Một cuộc tụ họp Công Giáo đã được tổ chức tại đây hàng năm kể từ năm 1886 để tôn vinh Thánh Anna, vị thánh bảo trợ của người Canada. Theo truyền thống, cuộc gặp gỡ này lôi cuốn hàng chục nghìn người Cree, Dene, Blackfoot và Métis, là những người có lòng sùng kính đặc biệt đối với bà ngoại của Chúa Giêsu, tượng trưng cho tầm quan trọng của hình bóng người cao tuổi trong cộng đồng của họ.
Trong bài giảng, Ðức Thánh Cha nói:
Anh chị em thân mến, âba-wash-did! Tansi! Oki! Chúc một ngày tốt lành!
Tôi rất vui mừng được có mặt ở đây, một người hành hương với anh chị em và giữa anh chị em. Trong những ngày này, và đặc biệt là hôm nay, tôi đã bị đánh động bởi tiếng trống đã đi cùng tôi bất cứ nơi nào tôi đến. Tiếng trống này dường như vang vọng nhịp đập của rất nhiều trái tim: những trái tim, qua nhiều thế kỷ, đã đập gần chính những vùng nước này; trái tim của nhiều người hành hương đã cùng nhau đi bộ để đến “hồ của Chúa” này! Ở đây, chúng ta có thể thực sự cảm nhận được nhịp tim hợp xướng của những người hành hương, của nhiều thế hệ đang lên đường hướng về Chúa để cảm nghiệm kỳ công chữa lành của Ngài. Biết bao trái tim đã đến đây với bao nỗi khát khao khắc khoải, với bao gánh nặng cuộc sống đè nặng, đã tìm thấy niềm an ủi và sức mạnh ở vùng nước để bước tiếp! Ở đây, đắm chìm trong tạo vật, chúng ta cũng có thể cảm nhận được một nhịp đập khác: nhịp tim mẹ của trái đất. Cũng giống như trái tim của trẻ sơ sinh trong bụng mẹ đập hòa nhịp với trái tim của mẹ chúng, cũng thế để lớn lên thành người, chúng ta cần phải hòa hợp nhịp sống của chính mình với nhịp sống của tạo hóa, nơi đã ban cho chúng ta sự sống. Do đó, hôm nay, chúng ta hãy trở về với nguồn gốc của sự sống: với Chúa, với cha mẹ của chúng ta, và trong ngày lễ này và trong ngôi nhà của Thánh Anna, với ông bà của chúng ta, tất cả những người mà tôi chào đón với lòng yêu mến.
Ðược truyền cảm hứng từ những nhịp đập quan trọng này, chúng ta đang ở đây, lặng lẽ chiêm ngưỡng làn nước của hồ này. Ðiều này cũng giúp chúng ta quay trở lại nguồn gốc của đức tin. Thật vậy, về tinh thần, nó cho phép chúng ta đến thăm những nơi thánh: chúng ta nhớ đến Chúa Giêsu, Ðấng đã thực hiện phần lớn sứ vụ của mình trên bờ hồ: Biển Galilê. Tại đó, Ngài đã chọn và gọi các Tông đồ, rao giảng các Mối phúc, dạy nhiều dụ ngôn, thực hiện các dấu lạ và chữa lành. Hồ đó, trung tâm của “Galilê dân ngoại” (Mt 4,15), dù sao cũng là một vùng ngoại vi, một ngã tư thương mại, nơi hội tụ của nhiều dân tộc, khiến vùng này trở thành một vùng có các tôn giáo và phong tục tập quán khác nhau. Về mặt địa lý và văn hóa, nó là nơi xa nhất so với sự thuần túy tôn giáo tập trung ở Giêrusalem, xung quanh Ðền thờ. Vì vậy, chúng ta có thể nghĩ về hồ đó, Biển Galilê, như một nơi có rất nhiều sự đa dạng: ngư dân và người thu thuế, trung tâm và nô lệ, người Pharisêu và người nghèo, đàn ông và phụ nữ từ nhiều nguồn gốc và hoàn cảnh xã hội khác nhau, tất cả đều đến với nhau trên bờ biển đó. Chính tại nơi đó, Chúa Giêsu đã rao giảng về vương quốc của Thiên Chúa: không phải cho một giáo đoàn tôn giáo được chọn lọc, nhưng cho nhiều dân tộc khác nhau, như ngày nay, đã đổ xô đến từ những nơi khác nhau; trong một nhà hát tự nhiên như thế này, Ngài đã thuyết giảng và chào đón mọi người. Thiên Chúa đã chọn bối cảnh đa dạng phong phú đó để loan báo cho thế giới một điều gì đó mang tính cách mạng: chẳng hạn, “Hãy giơ cả má bên kia nữa, hãy yêu kẻ thù của mình, hãy sống như anh chị em để trở thành con cái của Thiên Chúa, là Cha, Ðấng làm cho mặt trời của mình chiếu sáng trên cả điều tốt lành và điều xấu xa và làm mưa làm gió trên người công chính và kẻ bất lương “(x. Mt 5:38-48). Hồ này, với tất cả sự đa dạng của nó, do đó đã trở thành địa điểm của một lời tuyên bố chưa từng có về tình huynh đệ; không phải là một cuộc cách mạng mang lại cái chết và thương tật sau khi nó xảy ra, mà là một cuộc cách mạng của tình yêu. Ở đây, bên bờ hồ này, âm thanh của trống trải qua nhiều thế kỷ đoàn kết các dân tộc khác nhau, đưa chúng ta trở lại thời điểm đó. Nó nhắc nhở chúng ta rằng tình huynh đệ là chân chính nếu nó liên kết những người ở xa nhau, rằng thông điệp về sự hiệp nhất mà thiên đàng gửi xuống trần gian không sợ sự khác biệt, nhưng mời gọi chúng ta tương giao, một sự hiệp thông của những khác biệt, để bắt đầu lại với nhau, bởi vì tất cả chúng ta đều là những người hành hương trong một cuộc hành trình.
Anh chị em thân mến, những người hành hương đến những vùng nước này, lời Chúa có thể giúp chúng ta nhận ra những gì chúng ta có thể rút ra. Tiên tri Êdêkien nói với chúng ta hai lần rằng nước chảy trong Ðền thờ vừa “ban sự sống” vừa “chữa lành” cho dân của Thiên Chúa (xem Ed 47: 8-9).
Nước mang lại sự sống. Tôi nghĩ đến nhiều người bà thân yêu đang ở đây với chúng ta: trái tim của anh chị em là suối nguồn từ đó dòng nước sống của đức tin chảy ra, và với nó, anh chị em đã làm dịu cơn khát của con cháu mình. Tôi bị ấn tượng bởi vai trò quan trọng của phụ nữ trong các cộng đồng bản địa: họ chiếm một vị trí nổi bật như là nguồn ban phước không chỉ về thể chất mà còn về đời sống tinh thần. Khi nghĩ về kokum, nghĩa là người bà, của anh chị em, tôi cũng nhớ đến bà của mình. Từ bà tôi, lần đầu tiên tôi nhận được sứ điệp đức tin và biết rằng Tin Mừng được truyền đạt qua sự quan tâm yêu thương và sự khôn ngoan của cuộc sống. Niềm tin hiếm khi đến từ việc đọc sách một mình trong góc; thay vào đó, nó lan tỏa trong các gia đình, được truyền đi bằng ngôn ngữ của những người mẹ, trong giọng điệu trữ tình ngọt ngào của những người bà. Tôi thấy ấm lòng khi nhìn thấy rất nhiều ông bà và cụ cố ở đây. Cảm ơn anh chị em! Tôi cảm ơn anh chị em và muốn nói với tất cả những gia đình có người già ở nhà: anh chị em đang sở hữu một kho báu! Hãy bảo vệ nguồn sống này trong ngôi nhà của anh chị em: hãy nâng niu nó, như một di sản quý giá cần được yêu thương và trân trọng.
Nhà tiên tri cũng nói rằng, ngoài việc mang lại sự sống, nước còn chữa lành. Ðiều này cũng đưa chúng ta trở lại bờ Biển Galilê, nơi Chúa Giêsu “chữa khỏi nhiều bệnh cho nhiều người” (Mc 1,34). Khi hoàng hôn buông xuống, “họ mang đến cho Ngài tất cả những ai bị bệnh” (câu 32). Chiều nay, chúng ta hãy hình dung mình quanh hồ với Chúa Giêsu, khi Người đến gần, cúi xuống và với lòng kiên nhẫn, lòng trắc ẩn và sự dịu dàng, đã chữa lành nhiều người bệnh tật về thể xác hoặc tinh thần: người bị quỷ ám, người bại liệt, người mù và người phong hủi, nhưng cả những người có trái tim tan vỡ và nản lòng, mất mát và tổn thương. Chúa Giêsu đã đến vào thời đó, và bây giờ Ngài vẫn đến, để chăm sóc chúng ta, cũng như để an ủi và chữa lành cho gia đình nhân loại cô đơn và mệt mỏi của chúng ta. Với tất cả mọi người và cả chúng ta nữa, Người cũng đưa ra lời mời gọi như vậy: “Hỡi tất cả những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, và Ta sẽ cho ngươi được nghỉ ngơi” (Mt 11:28). Hay như Người nói trong đoạn văn chúng ta đã nghe chiều nay: “Ai khát hãy đến với Ta mà uống” (Ga 7: 37-38).
Thưa anh chị em, tất cả chúng ta cần sự chữa lành đến từ Chúa Giêsu, thầy thuốc của linh hồn và thể xác. Lạy Chúa, như những người bên bờ Biển Galilê đã không ngại kêu lên cùng Chúa với những nhu cầu của họ, chúng con cũng đến với Chúa, lạy Chúa, chiều nay, với bất cứ nỗi đau nào chúng con mang trong mình. Chúng con mang đến với Chúa sự mệt mỏi và những cuộc đấu tranh của chúng con, những vết thương do bạo lực mà các anh chị em bản địa của chúng con phải gánh chịu. Tại nơi diễm phúc này, nơi hòa hợp và hòa bình ngự trị, chúng con xin giới thiệu với Chúa những trải nghiệm bất hòa của chúng con, những ảnh hưởng khủng khiếp của thực dân, nỗi đau không thể xóa nhòa của biết bao gia đình, ông bà và trẻ em. Lạy Chúa, xin giúp chúng con được chữa lành vết thương. Lạy Chúa, chúng con biết rằng điều này đòi hỏi chúng con phải nỗ lực, cẩn thận và có những hành động cụ thể; nhưng chúng con cũng biết rằng chúng con không thể làm điều này một mình. Chúng con trông cậy vào Chúa và sự cầu bầu của mẹ Chúa và bà của Chúa.
Vâng, lạy Chúa, chúng con phó thác vào sự chuyển cầu của mẹ và bà của Chúa, vì những người mẹ và bà giúp chữa lành vết thương lòng chúng con. Vào thời điểm gay cấn của cuộc chinh phục, Ðức Mẹ Guadalupe đã truyền đức tin chân chính cho người dân bản địa, nói ngôn ngữ của họ và mặc quần áo của họ, không có bạo lực hay áp đặt. Ngay sau đó, với sự xuất hiện của việc in ấn, những cuốn sách ngữ pháp và giáo lý đầu tiên đã được sản xuất bằng các ngôn ngữ bản địa. Những người truyền giáo, với tư cách là những người truyền bá Phúc âm đích thực, đã làm được bao nhiêu điều tốt lành về mặt này, đã bảo tồn các ngôn ngữ và văn hoá bản địa ở nhiều nơi trên thế giới! Ở Canada, sự “hội nhập văn hóa mẫu tử” này đã diễn ra thông qua Thánh Anna, kết hợp vẻ đẹp của truyền thống bản địa và đức tin, đồng thời trang điểm chúng bằng trí tuệ của một người bà, người đã qua hai lần làm mẹ. Giáo hội cũng là một người phụ nữ, một người mẹ. Trên thực tế, chưa từng có lần nào trong lịch sử của Giáo Hội mà đức tin không được truyền lại bằng tiếng mẹ đẻ bởi các bà và các mẹ. Tuy nhiên, một phần của di sản đau đớn mà chúng ta đang phải đối mặt hiện nay bắt nguồn từ thực tế là những người bà bản địa đã bị ngăn cản việc truyền lại đức tin bằng ngôn ngữ và văn hóa của chính họ. Sự mất mát đó chắc chắn là bi thảm, nhưng sự hiện diện của anh chị em ở đây là bằng chứng của sự kiên cường và một khởi đầu mới, của cuộc hành hương hướng tới sự chữa lành, của một trái tim rộng mở với Thiên Chúa, Ðấng chữa lành cuộc sống của cộng đồng. Tất cả chúng ta, với tư cách là Giáo hội, bây giờ cần được chữa lành: chữa lành khỏi cám dỗ khép mình, bảo vệ thể chế hơn là tìm kiếm sự thật, thích quyền lực thế gian hơn phục vụ Tin Mừng. Anh chị em thân mến, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, chúng ta hãy giúp nhau góp phần xây dựng một Giáo hội Mẹ đẹp lòng Người: có khả năng ôm ấp từng người con của mình; một Giáo hội mở cửa cho tất cả mọi người và nói chuyện với tất cả mọi người; một Giáo hội không chống lại ai, và gặp gỡ tất cả mọi người.
Những đám đông tại Biển Galilê tụ tập quanh Chúa Giêsu đa phần là những người bình thường, giản dị, những người mang đến cho ngài những nhu cầu và nỗi đau của riêng họ. Nếu chúng ta muốn chăm sóc và chữa lành cuộc sống của cộng đồng của mình, chúng ta cần bắt đầu từ những người nghèo và bị thiệt thòi nhất. Thông thường, chúng ta cho phép mình được hướng dẫn bởi sở thích của một số ít người cảm thấy thoải mái. Chúng ta cần nhìn nhiều hơn đến các vùng ngoại vi và lắng nghe tiếng kêu của những người anh chị em nhỏ bé nhất của chúng ta. Chúng ta cần học cách lắng nghe nỗi đau của những người, trong những thành phố đông đúc và vắng vẻ của chúng ta, thường thầm kêu lên: “Ðừng bỏ rơi chúng tôi!” Ðó cũng là lời cầu xin của những người già có nguy cơ chết một mình tại nhà hoặc trong viện dưỡng lão. Ðối với nhiều bệnh nhân, thay vì được chăm sóc bằng tình cảm, họ được ban cho tử vong. Những lời cầu xin khẩn khoản của những người trẻ tuổi bị thẩm vấn nhiều hơn là được lắng nghe, có những người trẻ giao quyền tự do của mình cho chiếc điện thoại di động, trong khi những người trẻ khác lang thang, lạc lõng, không mục đích, trở thành con mồi của những cơn nghiện chỉ khiến họ chán nản và thất vọng, không thể tin vào bản thân hoặc yêu bản thân vì không biết mình là ai, cũng chẳng biết đánh giá cao vẻ đẹp cuộc sống của mình. Ðừng bỏ rơi chúng tôi! Ðó là tiếng kêu của những người muốn có một thế giới tốt đẹp hơn nhưng không biết bắt đầu từ đâu.
Trong bài Tin Mừng tối nay, Chúa Giêsu, Ðấng chữa lành và an ủi chúng ta bằng nước hằng sống của Thánh Linh Ngài, cũng yêu cầu chúng ta, từ tâm hồn những người tin vào Ngài, “để suối nước sống có thể chảy ra” (xem câu 38 ). Tuy nhiên, chúng ta có thể làm dịu cơn khát của anh chị em mình không? Trong khi tiếp tục cầu xin Thiên Chúa an ủi, chúng ta có thể mang lại sự an ủi cho người khác không? Ðiều thường xảy ra là chúng ta giải phóng bản thân khỏi nhiều gánh nặng nội tâm, chẳng hạn như không cảm thấy được yêu thương hoặc tôn trọng, đơn giản bằng cách hãy bắt đầu yêu mến người khác một cách nhưng không. Khi chúng ta cô đơn và bồn chồn, Chúa Giêsu thúc giục chúng ta ra đi, để cho đi, để yêu thương. Vì vậy, chúng ta hãy tự hỏi mình: tôi phải làm gì cho những người cần tôi? Khi nhìn vào những người dân bản địa và nghĩ về lịch sử của họ và những nỗi đau mà họ đã phải chịu đựng, tôi phải làm gì cho những người dân bản địa? Tôi chỉ lắng nghe với sự tò mò, kinh hoàng bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ, hay tôi làm điều gì đó cụ thể cho họ? Tôi có cầu nguyện, gặp gỡ, đọc, ủng hộ họ và để bản thân cảm động trước câu chuyện của họ không? Nhìn lại cuộc đời của chính mình, nếu tôi thấy mình đau khổ, tôi có lắng nghe Chúa Giêsu muốn đưa tôi vượt ra khỏi giới hạn của sự thiếu kiên nhẫn của tôi, Ðấng mời gọi tôi làm lại từ đầu, tiến thêm một bước nữa, để yêu thương không? Ðôi khi, cách tốt để giúp đỡ người khác không phải ngay lập tức cho họ những gì họ yêu cầu, mà là đồng hành với họ, mời gọi họ yêu thương và cho đi bản thân. Bằng cách này, thông qua những điều tốt mà họ có thể làm cho người khác, họ sẽ khám phá ra những dòng nước sống của chính họ, và kho báu độc đáo và quý giá mà họ thực sự có.
Anh chị em bản xứ thân mến, tôi đến đây với tư cách là một người hành hương cũng để nói với anh chị em rằng anh chị em quý giá như thế nào đối với tôi và đối với Giáo hội. Tôi muốn Giáo hội gắn bó với nhau giữa chúng ta, được dệt chặt chẽ như những sợi chỉ của những dải màu mà nhiều người trong anh chị em đeo. Cầu xin Chúa giúp chúng ta tiến lên trong quá trình chữa lành, hướng tới một tương lai ngày càng khỏe mạnh và đổi mới. Tôi tin rằng đây cũng là mong ước của các ông, các bà và các ông, bà của chúng ta. Xin ông bà của Chúa Giêsu, Thánh Gioakim và Anna, phù hộ cho chúng ta trên hành trình của chúng ta.
(Source: Dicastero per la Comunicazione – Libreria Editrice VaticanaPARTICIPATION IN THE “LAC STE. ANNE PILGRIMAGE” AND LITURGY OF THE WORD HOMILY OF THE HOLY FATHER “Lac Ste. Anne” Tuesday, 26 July 2022) Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Ðặng Minh An
2022
Ðức Tổng giám mục Antony Kariyil của Ấn Ðộ từ chức theo lời yêu cầu của Tòa Thánh.
Một vị Tổng giám mục Ấn Ðộ đã từ chức theo yêu cầu của Tòa Thánh, vì không tuân hành quyết định của Giáo hội và Tòa Thánh về việc thống nhất phụng vụ.
Ðó là Ðức Tổng giám mục Antony Kariyil, 72 tuổi, Ðại diện Ðức Hồng y Tổng giám mục trưởng của giáo phận Syro-Malabar, coi sóc Tổng giáo phận Ernakulam-Angamaly, thuộc bang Kerala. Ðức cha từ chức hôm 26 tháng Bảy năm 2022, vài ngày sau khi báo chí đưa tin ngài đã gặp Ðức Sứ thần Tòa Thánh Leopoldo Girelli ở Ấn Ðộ và được thông báo Tòa Thánh yêu cầu từ chức vì từ chối chấp nhận việc thống nhất cách cử hành thánh lễ trong Giáo hội này.
Tranh luận về cách thức cử hành thánh lễ đã kéo dài mấy chục năm rồi. Những người bảo thủ nhất định không chấp nhận việc cải tổ. Hồi tháng Bảy năm 2021, Ðức Thánh cha Phanxicô đã gửi thư nhắn nhủ toàn thể hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân mau lẹ chấp nhận áp dụng cách thức thống nhất trong việc cử hành thánh lễ. Một tháng sau đó, Ðức Hồng y George Alencherry, Tổng giám mục trưởng, gửi thư ngày 27 tháng Tám năm 2021 kêu gọi toàn thế giáo sĩ và giáo dân, gạt qua sở thích riêng, và hoạt động để tiến tới sự hiệp nhất.
Tháng Ba năm 2022, những kẻ chống đối đốt hình nộm Ðức Hồng y Leonardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo hội Công giáo Ðông phương, và Ðức Hồng y Alencherry. Ðức Thánh cha Phanxicô gửi thư hồi tháng Tư năm 2022 cho những người chống đối việc cử hành thánh lễ theo thể thức đồng nhất, đồng thời cho biết Công nghị các Giáo hội Công giáo Ðông phương ở Ấn đã hỗ trợ quyết định này. Tuy nhiên vẫn còn có những nhóm không chịu tuân hành.
Giáo hội Công giáo Syro-Malabar là Giáo hội Công giáo Ðông phương lớn thứ hai sau Công giáo Ucraina, với hơn ba triệu tín hữu tại Ấn Ðộ và nhiều nước.
Cho đến nay chưa có thông cáo chính thức của Tòa Thánh về việc Ðức cha Kariyil từ chức.
(CNA 27-7-2022)
Trần Ðức Anh, O.P.
