2023
Bài giảng có nhất thiết phải ngắn gọn không?
Bài giảng có nhất thiết phải ngắn gọn không?
Ý kiến của linh mục dòng Đa Minh Franck Dubois, giám tập Tu viện Strasbourg (Bas-Rhin), Pháp, người giảng thường xuyên trên chương trình “Ngày của Chúa” và của giáo sư khoa hùng biện người Pháp Luc Desroche.
Ngày thứ sáu 20 tháng 1, trong buổi tiếp kiến với những người dự khóa học phụng vụ tại Viện Giáo hoàng Saint-Anselme Athenaeum, Đức Phanxicô xin các linh mục giới hạn bài giảng của họ trong mười phút, không hơn. Ngài nhấn mạnh: “Bài giảng không phải là bài diễn văn trong hội nghị, nó là bí tích” (1), ngài cho một số bài giảng là “thảm họa”. la-croix.com, Gilles Donada và Malo Tresca, 2023-01-23
“Chúng ta không được bắt các giáo dân làm con tin”
Linh mục dòng Đa Minh Franck Dubois, giám tập Tu viện Strasbourg (Bas-Rhin), người giảng thường xuyên trên chương trình “Ngày của Chúa”
“Lẽ tự nhiên, tôi sẽ trả lời trước hết bài giảng phải sắc bén, như thế bài giảng sẽ phải khá ngắn. Tôi cũng nghĩ đây là một khía cạnh rất văn hóa… Chắc chắn câu hỏi được đặt ra sẽ khác nhau, ở Pháp và ở các quốc gia khác, có thể có những quốc gia có khuynh hướng giảng dài hơn. Điều tôi thấy không hay là giáo dân có cảm tưởng họ đang bị làm con tin – trừ trường hợp ngoại lệ – họ sẽ không đi ra khỏi nhà thờ hoặc bày tỏ sự không bằng lòng của họ trước bài giảng của chúng ta!
Giáo dân chịu đựng người giảng, và việc chúng ta giới hạn thời gian giảng có thể là một dấu hiệu tôn trọng họ. Trong các thánh lễ trong tuần, tôi cố gắng giới hạn bài giảng trong ba phút và ngày chúa nhật bảy phút, dù dĩ nhiên là không phải lúc nào tôi cũng tôn trọng. Bên cạnh thì giờ, còn có nhiều tiêu chuẩn khác tạo nên một ‘bài giảng hay’. Chẳng hạn, phải cẩn thận để không rơi vào lối chú giải hàn lâm: chúng ta có thể triển khai một số bối cảnh trong Kinh Thánh, nhưng không kể lại và cũng không nên diễn giải nó!
Theo tôi, một bài giảng nên cấu trúc qua ba thời điểm mạnh: thứ nhất, một cái móc (kỹ thuật kể một câu chuyện nhỏ thường có tác dụng khá tốt), tiếp theo là một yếu tố suy tư về học thuyết – về mầu nhiệm nhập thể, về Chúa Ba Ngôi, sự sống lại… những nguyên tắc cơ bản của đức tin, mà chúng ta có thể không làm cách này hay cách khác -, và cuối cùng là từ một thực tế để liên hệ với cuộc sống hàng ngày, bằng cách đặt câu hỏi, đưa ra những thách thức… Chắc chắn chúng ta không giảng để làm cho giáo dân có mặc cảm tội lỗi, nhưng để đánh thức họ, làm cho họ tự hỏi!
Bài giảng nói lên một cái gì đó về người giảng, nó lộ ra rất nhiều. Vì thế phải có một cân bằng đúng khi giảng, không rơi vào tình trạng thiếu chính trực. Chính quan điểm của người giảng đưa đến những rủi ro: phô bày, đè bẹp, thao túng bằng cách chuyển đảo lời Chúa, tạo ảnh hưởng, gây sốc hoặc làm tổn thương những chủ đề tế nhị có thể liên quan đến đạo đức, học thuyết đạo đức… Điều này đòi hỏi phải tế nhị nhưng không lấy đi khía cạnh thô tháp và gây phiền của Tin Mừng. Lời của người rao giảng thực sự có thể cảm hóa và xây dựng, cũng như nó có thể thách thức hoặc phá hủy.
Có những đề xuất về việc đào tạo bài giảng ở Pháp, nhưng tôi nghĩ chúng ta vẫn còn chỗ để cải thiện. Đức Phanxicô thường nói về tầm quan trọng của việc chuẩn bị bài giảng qua bản văn và qua cầu nguyện để không làm người nghe chán. Ngài cũng nói đến khuynh hướng toàn cầu của hàng giáo sĩ, linh mục hay phó tế, những người phải biết và yêu mến giáo dân, cũng như yêu lời Chúa đủ để truyền tải thông điệp của mình mà không rơi vào chủ nghĩa hình thức quá mức hoặc thờ ơ thô kệch.”
Chất lượng của bài giảng cũng quan trọng như thời gian
Giáo sư khoa hùng biện Luc Desroche
“Tám trong số mười người dùng Internet đã trả lời cuộc khảo sát của chúng tôi về đề tài ‘Người Pháp nghĩ gì về bài giảng?’ – được thực hiện vào tháng 3 năm 2021, chúng tôi gom được hơn 10.000 phản hồi – họ cho biết họ không thể tập trung nghe giảng quá mười phút. Nhưng không nên dùng chỉ số thời gian làm chỉ số tuyệt đối. Đôi khi chúng ta muốn kéo dài các bài giảng của mình hai mươi phút, trong khi chúng ta cúp ngay bài giảng của người khác ngay phút đầu tiên của họ.
Điều quan trọng trên hết là nội dung và cấu trúc bài giảng. Chúng ta thiết lập mối liên hệ cụ thể nào giữa lời nói và cuộc sống hàng ngày? Chúng ta muốn giáo dân đem thông điệp chính yếu nào khi họ về nhà? Trong khi thảo luận với các linh mục, tôi nhận ra nhiều linh mục không trả lời được câu hỏi này… Chẳng hạn cấu trúc chặt chẽ ở hai hoặc ba điểm giúp giáo dân dễ hiểu phần thông điệp chính hơn. Trong chương trình đào tạo, chúng tôi dựa trên sáu tiêu chuẩn, một trong các tiêu chuẩn này có nguồn gốc từ Cổ đại.
Các logo nhằm mục đích để mọi người, cả những người trẻ nhất đều hiểu được bài giảng. Đạo đức mời gọi chúng ta chân thành trong cách diễn tả. Tôi muốn quy chiếu vào “tiếng nói của linh mục”: giọng nói trong trẻo, chậm rãi hơn, không liên quan gì đến cách diễn tả thông thường. Tiêu chuẩn thứ ba là cảm xúc: chúng ta muốn truyền cảm xúc gì liên hệ đến bài giảng cho giáo dân? Niềm vui tìm lại con chiên đi lạc, đồng xu bị mất, giận dữ trước sự từ chối của kẻ có tội, nỗi buồn của Chúa Kitô ở ngôi mộ của ông Ladarô? Nhiều linh mục không thoải mái với câu hỏi về cảm xúc này và không xem trọng nó. Họ thích núp trong những chuyện về trí tuệ hơn.
Ba tiêu chuẩn sau được giáo sư tâm lý học Albert Mehrabian ở Đại học California chính thức hóa. Nó nói về ngôn ngữ lời nói và giọng nói: chúng ta nói gì và nói như thế nào. Và ngôn ngữ hình ảnh: ánh mắt, cử chỉ, tư thế. Làm thế nào để thiết lập mối liên hệ với giáo dân khi chúng ta chúi mũi vào bài soạn sẵn? Trau dồi tài hùng biện, cách diễn tả thường bị hiểu lầm. Một số người tức tối cho rằng đó là thao túng. Chúng ta không được nhầm lẫn giữa tài hùng biện, vốn là một nghệ thuật trong phục vụ, ở đây là Tin Mừng, và ngụy biện tìm cách thuyết phục bất kỳ ai về bất cứ điều gì…
Đôi khi giáo dân bị hiểu lầm khi đề cập đến bài giảng: nó thuộc lãnh vực thiêng liêng. Vậy mà giáo dân là người đầu tiên nghe giảng! Đề cập đến vấn đề chất lượng bài giảng là chủ đề nhạy cảm với linh mục: vì nhận xét nào cũng ảnh hưởng đến cá nhân họ. Chúng ta quên rằng kỷ luật này đã được Giáo hội ban hành từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19. Ngày nay chỉ có ba chủng viện trong số hơn mười lăm chủng viện tôi liên hệ còn dạy môn này. Tuy nhiên, nhu cầu là rất lớn. Gần đây một linh mục tâm sự với tôi: ‘Bài giảng lễ là thánh giá hàng tuần của tôi’”.
- Không phải là một trong bảy bí tích được Giáo hội công giáo chính thức công nhận, nhưng “vì bản chất phụng vụ, bài giảng cũng mang một ý nghĩa bí tích: Chúa Kitô hiện diện trong cộng đoàn tụ họp lại để nghe Lời Ngài và do đó cũng hiện diện trong Bài giảng của thừa tác viên. (…)”, nhắc lại Hướng dẫn về Bài giảng (2010) của Bộ Giáo lý Đức tin, được tông huấn Verbum dominicủa Đức Bênêđictô XVI đề cập đến.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2023
Sơ Magaret Scott với sứ mạng giáo dục để giúp Nam Sudan phát triển
Sơ Magaret Scott với sứ mạng giáo dục để giúp Nam Sudan phát triển
Trong gần 25 năm, Sơ Margaret Scott và các nữ tu thuộc nhiều dòng khác nhau đã làm việc ở Nam Sudan, giúp quốc gia trẻ nhất thế giới mang lại tương lai cho những người trẻ tuổi thông qua việc đào tạo giáo viên.
Vào năm 2008, Hội đồng Giám mục Sudan đã yêu cầu xin giúp đỡ. Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền các dòng nam (USG) và Liên hiệp Quốc tế các Bề trên Tổng quyền các dòng nữ (UISG), là các tổ chức đại diện cho các nam nữ tu sĩ, đã nhanh chóng đáp lại lời yêu cầu bằng việc thành lập tổ chức Liên đới với Nam Sudan.
Sơ Margaret Scott, thuộc Dòng Đức Bà Truyền giáo, đã kể lại kinh nghiệm của sơ khi tham gia vào sứ mạng liên hội dòng đó và giải thích chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Phanxicô có ý nghĩa như thế nào đối với người dân Nam Sudan.
Sự ra đời của tổ chức Liên đới với Nam Sudan
Vào năm 2006/2007, tôi đã tham gia một số cuộc họp ở Rôma, khi các phái đoàn đầu tiên của các Liên hiệp các Bề trên Tổng quyền các dòng nam và của các dòng nữ kể lại những gì họ đã thấy và trải nghiệm ở miền nam Sudan. Dòng của chúng tôi đã quyết định tham gia dấn thân vào sứ vụ trợ giúp khu vực này và tôi được hỏi có muốn tham gia vào sứ vụ này không. Vào tháng 8 năm 2008, tôi đã cùng với bốn nữ tu đến miền nam Sudan và chúng tôi đã thành lập một cộng đoàn gồm năm nữ tu dòng Đức Bà Truyền giáo ở Riimenze, thuộc giáo phận Tombura-Yambio. Tổ chức Liên đới dự định xây dựng các trường đào tạo giáo viên ở Malakal và Riimenze và một học viện đào tạo y tế ở Wau, cũng như đào tạo những người làm công tác mục vụ.
Thành lập trường cao đẳng sư phạm
Hai người trong chúng tôi được yêu cầu làm việc trong lĩnh vực đào tạo giáo viên ở giáo phận Yambio. Lúc đầu, chúng tôi cung cấp đào tạo chuyên nghiệp trong các học viện. Khoảng năm 2011, cộng đoàn bắt đầu mở rộng với các thành viên từ các hội dòng khác mới đến. Cuối cùng chúng tôi chuyển đến thành phố chính, Yambio, và một trường cao đẳng được xây dựng trên đất của Giáo hội. Trong cấu trúc đặc biệt này, vào năm 2012, chúng tôi bắt đầu việc đào tạo các giáo viên. Mục tiêu chính của chúng tôi là đào tạo giáo viên tiểu học, vì nhu cầu này vào thời điểm đó rất cao.
Nam Sudan trở thành một quốc gia
Người dân vô cùng phấn khích khi Nam Sudan giành được độc lập vào năm 2011. Họ nghĩ rằng điều này sẽ giải quyết được mọi vấn đề: họ sẽ được độc lập và có thể tự quản lý đất nước. Mọi người tràn đầy hy vọng và nhiệt tình; nhưng trong những năm qua chúng tôi đã gặp phải những khó khăn rất lớn. Ở một khía cạnh nào đó, có một chút hụt hẫng vì mọi thứ không diễn ra tốt đẹp như mong đợi. Theo nhiều cách, đó là điều tự nhiên. Nhiều loại vấn đề xuất hiện khi chúng tôi bắt đầu làm việc cùng nhau như là một quốc gia độc lập.
Giáo dục thiết yếu cho một đất nước mới
Hầu hết mọi người đều hiểu rằng muốn phát triển thì cần có một hệ thống giáo dục tốt. Vào thời điểm đó, có rất ít giáo viên được đào tạo do thiếu các trường đào tạo chuyên nghiệp. Những trường đã có khi đó thì không hoạt động do thiếu nguồn tài chính. Chúng tôi là một bộ phận nhỏ cần thiết để giải quyết vấn đề cung cấp giáo viên được đào tạo. Khắp đất nước đều có một khát vọng lớn lao về học tập, giáo dục và đào tạo những giáo viên có thể chuẩn bị cho các thế hệ tương lai.
Ngay từ đầu, chúng tôi đã nhận ra rằng trong các trường có nhiều giáo viên chưa được đào tạo mong muốn được đào tạo. Vì vậy, chúng tôi đã làm việc trên hai cấp độ: đào tạo tại các trường nơi họ làm việc và chuẩn bị. Các sinh viên cao đẳng không có bằng cấp có độ tuổi khoảng 20, trong một số trường hợp, đến 50 tuổi. Họ tràn đầy nhiệt huyết và ham học hỏi. Sau khi tốt nghiệp, họ háo hức trở lại trường học của họ hoặc gia nhập hệ thống giáo dục và trở thành giáo viên, bởi vì họ muốn điều gì đó tốt hơn cho những người trẻ tuổi. Họ có một tính tích cực phi thường, mặc dù làm việc trong điều kiện cực kỳ bấp bênh. Thậm chí ngày nay bạn có thể thấy mọi người giảng dạy dưới những tán cây. Nhưng họ muốn dạy.
Chương trình đào tạo giáo viên đang có kết quả
Những người mà chúng tôi đã dạy đã đi khắp nơi với sự nhiệt tình và họ dấn thân trở thành giáo viên. Họ đã chuẩn bị công việc của mình bằng cách làm các tấm giấy, tấm bảng và tất cả các loại trò chơi – và cung cấp những thứ thực sự hữu ích. Thường thì những người do chúng tôi đào tạo được chính phủ mời làm việc trong các văn phòng giáo dục. Khi tôi giám sát học sinh của chúng tôi trong trường học, tôi thấy sự tham gia, sự hào hứng và năng lượng của các em, bởi vì các em có giáo viên mà các em có thể tin cậy. Họ có thể thấy những khả năng vô tận cho sự tiến bộ trong tương lai. Do đó, nó rất, rất hữu ích cho đất nước.
Ba lãnh đạo Giáo hội đến thăm Nam Sudan
Đức Thánh Cha, Đức Tổng Giám Mục Anh giáo Justin Welby và vị điều hành Giáo Hội Trưởng Lão Scotland cảm thương những người dân ở Nam Sudan và mong muốn cho họ thấy tình liên đới của các ngài, sự gần gũi của các ngài đối với họ. Chuyến thăm của các ngài là một biểu tượng đáng kinh ngạc của sự hỗ trợ. Những người dân và Giáo hội, những người đã cầu nguyện cho hòa bình, đã nuôi dưỡng hy vọng hòa bình cho đất nước non trẻ và đầy khó khăn này. Ba vị lãnh đạo từ các Giáo hội khác nhau cho thấy rằng mọi người có thể đoàn kết với nhau. Và nếu các Giáo hội có thể đoàn kết, thì mọi người cũng có thể đoàn kết để làm cho đất nước phát triển. Đó là một cử chỉ có giá trị biểu tượng cao và tôi nghĩ mọi người thực sự đánh giá cao chuyến thăm của các ngài.
Những người có đức tin phi thường
Người dân Nam Sudan có một đức tin phi thường. Họ tin vào Chúa; họ biết rằng Chúa yêu thương họ, và chuyến viếng thăm của Đức Giáo hoàng là một cách khác để trải nghiệm điều đó. Chúng ta không thường nghe thấy nói Nam Sudan sống trong tình cảnh khó khăn như thế nào và hàng triệu người hiện đang có nguy cơ chết đói. Trong những ngày đó, sự chú ý sẽ tập trung vào Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan. Tôi hy vọng điều này sẽ nâng cao nhận thức về hoàn cảnh khó khăn của hàng triệu người ở Nam Sudan đang phải chịu đau khổ và cần sự giúp đỡ của thế giới để tiến tới tương lai một cách hòa bình và hiệu quả.
Sơ Margaret Scott, RNDM và Sơ Bernadette Reis, FSP
2023
Đức Thánh Cha bổ nhiệm Đức cha Robert Francis Prevost làm Tổng trưởng Bộ Giám mục
Đức Thánh Cha bổ nhiệm Đức cha Robert Francis Prevost làm Tổng trưởng Bộ Giám mục
Ngày 30/1/2023 Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Đức cha Robert Francis Prevost, nhà truyền giáo người Mỹ dòng Thánh Augustinô, Giám mục giáo phận Chiclayo ở Peru, làm tân Tổng trưởng Bộ Giám mục, thay thế Đức Hồng y Marc Ouellet, người vừa nộp đơn từ chức vì lý do tuổi tác.
Đức Hồng y Marc Ouellet năm nay 78 tuổi, đã giữ vị trí lãnh đạo Bộ Giám mục gần 13 năm.
Đức cha Prevost, 67 tuổi, cũng thay thế Đức Hồng y Ouellet trong chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Toà Thánh về Châu Mỹ Latinh.
Cùng với việc bổ nhiệm Đức cha Prevost, Đức Thánh Cha cũng ban cho ngài tước vị Tổng Giám mục – nguyên Giám mục giáo phận Chiclayo ở Peru. Đức cha sẽ bắt đầu nhiệm vụ của ngài vào ngày 12/4/2023.
Tân Tổng trưởng Bộ Giám mục sinh tại Chicago, bang Illinois, Hoa Kỳ, ngày 14/9/1955. Năm 1977 ngài gia nhập Nhà Tập dòng Thánh Augustinô ở Saint Louis. Sau khi khấn trọng vào năm 1981 ngài theo học thần học tại Hiệp hội Thần học Công giáo ở Chicago.
Năm 27 tuổi ngài được gửi sang Roma học giáo luật tại Đại học Thánh Tôma Aquinô (Angelicum). Ngài được chịu chức linh mục năm 1982 và đậu cử nhân giáo luật năm 1984, sau đó được gửi đi truyền giáo tại Chulucanas, ở Piura, nước Peru.
Năm 1987 ngài đậu tiến sĩ giáo luật và cùng năm đó được bầu làm giám đốc ơn gọi và giám đốc truyền giáo của tỉnh dòng Thánh Augustinô ở Illinois.
Năm 1988 ngài được gửi đi truyền giáo ở Trujillo và giữ trách vụ giám đốc dự án đào tạo cho các ứng sinh dòng Thánh Augustinô của các cộng đoàn ở Chulucanas, Iquitos và Apurimac. Ngài lần lượt giữ các chức vụ: bề trên cộng đoàn, giám đốc đào tạo, giáo sư. Tại tổng giáo phận Trujillo ngài là đại diện tư pháp (1989-1998) và giáo sư giáo luật, giáo phụ và luân lý của đại chủng viện Thánh Carlo và Marcelo.
Năm 1999 ngài được bầu làm giám tỉnh tỉnh dòng Thánh Augustinô ở Chicago và 2,5 năm sau được bầu làm tổng quyền của dòng và tái cử lần 2 vào năm 2007.
Tháng 10/2013 ngài trở về Chicago dạy học và làm phó giám tỉnh. Ngày 3/11/2014 Đức Thánh Cha bổ nhiệm ngài làm giám quản tông toà của giáo phận Chiclayo ở Peru và phong ngài làm giám mục. Ngài được tấn phong Giám mục ngày 12/12 cùng năm 2014 và ngày 26/9/2015 được bổ nhiệm làm Giám mục của giáo phận.
Từ tháng 3/2018 ngài là phó Chủ tịch thứ hai của Hội đồng Giám mục Peru. Năm 2020 ngài được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm thành viên của Bộ Giám mục.
Hồng Thủy
2023
Đức Thánh Cha xin cầu nguyện cho chuyến viếng thăm CHDC Congo và Nam Sudan
Đức Thánh Cha xin cầu nguyện cho chuyến viếng thăm CHDC Congo và Nam Sudan
Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 29/1/2023 Đức Thánh Cha đã đọc sứ điệp gửi đến người dân hai nước CHDC Congo và Nam Sudan mà ngài sắp viếng thăm và mời gọi các Kitô hữu cầu nguyện cho cuộc “hành hương hoà bình” của ngài.
Đức Thánh Cha thực hiện cuộc “hành hương hoà bình” đến CHDC Congo và Nam Sudan từ ngày 31/1 đến 5/2/2023. Tại thủ đô Kinshasa của Congo ngài sẽ gặp các chính quyền dân sự, các nạn nhân của cuộc xung đột ở miền đông và các Giám mục. Trong cuộc viếng thăm Nam Sudan từ ngày 3 đến 5/2/2023, Đức Thánh Cha sẽ ở tại thủ đô Juba, gặp gỡ các nhóm dân sự và Giáo hội, trong đó có những người di tản nội địa. Sau Thánh lễ vào sáng Chúa Nhật 5/2/2023 Đức Thánh Cha sẽ trở về Rôma.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha cảm ơn các chính quyền dân sự và các Giám mục của cả hai quốc gia đã mời ngài viếng thăm cũng như đã chuẩn bị cho chuyến viếng thăm này.
Tiếp đến, Đức Thánh Cha cũng chân thành chào những người dân thân yêu đang chờ đợi ngài, những người dân ở những miền đất đau khổ vì những cuộc xung đột kéo dài. Ngài lưu ý rằng CHDC Congo “đang phải chịu đựng các cuộc đụng độ vũ trang và bị khai thác bóc lột, đặc biệt là ở phía đông của đất nước”, trong khi Nam Sudan đã “bị tàn phá bởi nhiều năm chiến tranh” và “mong muốn chấm dứt tình trạng bạo lực liên tục buộc nhiều người phải di tản và sống trong những điều kiện cực kỳ khó khăn.”
Đức Thánh Cha cũng nhắc rằng ngài sẽ đến Nam Sudan cùng với Đức Tổng Giám mục Anh giáo Justin Welby và vị điều hành Tổng công nghị của Giáo hội Scotland. Ngài nói: “Chúng tôi sẽ cùng nhau, như những người anh em, thực hiện cuộc hành hương đại kết hoà bình.”
Kết thúc sứ điệp, Đức Thánh Cha mời gọi mọi người đồng hành với chuyến tông du của ngài bằng lời cầu nguyện.
Hồng Thủy
