Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
03Tháng Mười Một
2021

Luyện ngục và lòng Chúa thương xót

03/11/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Luyện ngục và lòng Chúa thương xót

 

Khi lần chuỗi Mân Côi, cứ sau 10 Kinh Kính Mừng và một Kinh Sáng Danh, người Công giáo lại đọc: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên Thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn”.

Lời kinh ấy thật vắn tắt nhưng chứa đựng đầy đủ nội dung giáo lý về những thực tại đời sau, từ ngữ chuyên môn gọi là “cánh chung”: có hỏa ngục, “xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục”; có Thiên đàng, “xin đem các linh hồn lên thiên đàng”; có luyện ngục, vì khi xin Chúa “đem các linh hồn lên thiên đàng”, nghĩa là chưa lên, còn ở một nơi khác! Người Công giáo gọi nơi đó, tình trạng đó là luyện ngục.

 

  1. “Xin đem các linh hồn lên thiên đàng”

    Có những Kitô hữu lập luận rằng trong Kinh Thánh, không có chỗ nào nói đến luyện ngục, cho nên đây chỉ là sáng chế của Hội Thánh Công giáo! Vậy xin hỏi, trong Kinh Thánh có chỗ nào nói Đức Chúa Trời có ba ngôi? Chỗ nào nói Chúa Giêsu có hai bản tính và một ngôi vị? Những từ ngữ như “ngôi vị, bản tính” là các từ triết học, được Hội Thánh vận dụng để giải thích và trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất là Cha, Con, Thánh Thần; Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật.

 

Tương tự như thế, luyện ngục là từ ngữ được dùng để mô tả tình trạng “những người chết trong ân sủng và ơn nghĩa với Thiên Chúa nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn; tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, nhưng họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng” (Sách Giáo lý HTCG, số 1030).

 

Nội dung giáo lý này không dựa vào suy luận tự nhiên của con người nhưng dựa trên cơ sở Kinh Thánh, cụ thể là sách 2Macabê kể chuyện ông Giuđa Macabê quyên góp được hai ngàn quan tiền và gửi về Giêrusalem, để dâng hy lễ tạ tội cho những chiến binh đã chết, cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi (12,43-45). Như thế, có một tình trạng trung gian giữa Thiên đàng và Hỏa ngục nên ông Macabê mới xin dâng lễ tạ tội để cầu cho những người đã chết được giải thoát khỏi tội lỗi. Tin Mừng Matthêu cũng kể chuyện Chúa Giêsu trừ quỷ cho một người bị qủy ám nhưng người Pharisêu lúc đó lại bảo: Ông ta nhờ quỷ vương Bêelzêbút mà trừ quỷ! Khi đó Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ai nói phạm đến Con Người thì được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì sẽ không được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12,22-32). Dựa vào lời của Chúa Giêsu, có thể hiểu “một số tội có thể được tha ở đời này, còn một số tội có thể được tha ở đời sau” (Sách Giáo lý HTCG, số 1031). Nghĩa là có một tình trạng trung gian: chưa được lên thiên đàng nhưng cũng không bị kết án xa cách Thiên Chúa đời đời, còn đang được thanh luyện để xứng đáng với sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa.

 

  1. “Nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn”

    Khi một người đã qua đời, thế gian có thể ban tặng gì cho họ? Chẳng có gì! Lời Thánh vịnh từ xa xưa, vẫn luôn đúng cho mọi thời đại: “Mạng người dù giá cao mấy nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời. Nào phàm nhân sống mãi được sao, mà chẳng phải đến ngày tận số?..Lúc sinh thời nó tự hào tự đắc: Mình làm nên, thiên hạ tán dương mình! Nhưng rồi nó cùng tổ tiên về chung kiếp, chẳng bao giờ còn được thấy ánh dương” (Tv. 49).

 

Điều duy nhất mà các linh hồn trong luyện ngục mong chờ là lòng thương xót của Thiên Chúa. Tin Mừng Gioan (11, 17-27) kể chuyện Chúa Giêsu đến Bêtania khi Ladarô đã được chôn táng 4 ngày! Tảng đá chắn ngoài cửa hang là biểu tượng của quyền lực sự chết. Khi đó, con người hoàn toàn bất lực, không thể làm gì hơn. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban tặng sự sống, không chỉ là sự sống thân xác nhưng còn là sự sống đời đời: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống”. Con người không thể mua Thiên đàng bằng vàng bạc, cũng không bằng nỗ lực đạo đức tự nhiên. Ơn cứu độ hoàn toàn là quà tặng của tình yêu và lòng thương xót, vì thế điều mà các linh hồn trong luyện ngục cần nhất là lòng thương xót của Chúa.

 

Cùng với lòng thương xót của Thiên Chúa là lòng thương xót của những người còn sống, khi chúng ta nhớ đến và cầu nguyện cho người đã qua đời. Tôi nhớ đến dòng chữ đọc được trên một bia mộ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (trước 1975, nay là công viên Lê Văn Tám): “Quên lãng người đã chết là bắt họ chết thêm một lần nữa”; cũng nhớ đến một câu ngạn ngữ của người Mêhicô: “Người ta chết 3 lần: lần thứ nhất là khi tắt thở, lần thứ hai khi được đem chôn; lần thứ ba là khi bị lãng quên”. Người Công giáo không chỉ nhớ đến nhưng còn cầu nguyện cho người đã chết: dâng lễ, làm việc bố thí, nhường ân xa, làm việc đền tạ để cầu nguyện cho những người đã qua đời. Đó chính là những việc của lòng thương xót mà những ai tôn vinh lòng Chúa thương xót được kêu gọi thực hiện.

 

Đây cũng là điều Hội Thánh khuyến khích đặc biệt ngày 2 tháng 1 hằng năm, và ước mong không chỉ trong ngày này mà thôi nhưng còn thường xuyên trong đời sống các tín hữu.

 

  1. “Xin tha tội cho chúng con”

    Cuối cùng, nếu luyện ngục là tình trạng các linh hồn được thanh luyện để xứng đáng với sự thánh thiện của Thiên Chúa, thì hãy bắt đầu bước vào cuộc thanh luyện ấy từ hôm nay.

 

Tất cả chúng ta đều là tội nhân: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1Ga 1,8). Ý thức về tội thúc đẩy chúng ta kêu lên: “Xin tha tội cho chúng con”, đồng thời bước vào hành trình thanh luyện, chấp nhận những từ bỏ và hi sinh, khổ chế để không đồng lõa với tội lỗi, nhưng bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa ngay từ bây giờ và hướng đến nguồn sáng vĩnh hằng: “Nếu chúng ta đi trong ánh sáng, cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Chúa Giêsu, Con của Ngài, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi” (1Ga 1,7).

 

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Read More
03Tháng Mười Một
2021

Lạy Đức Mẹ MARIA, Xin Cầu Cho Các Linh Hồn Bị Bỏ Rơi nơi Luyện Ngục

03/11/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Lạy Đức Mẹ MARIA, Xin Cầu Cho Các Linh Hồn Bị Bỏ Rơi nơi Luyện Ngục

 

Năm 1884, Đức Ông Paul-Joseph Buguet (1843-1918) thành lập Hội Phạt Tạ tại Chappelle-Montligeon, miền Trung nước Pháp. Hội Phạt Tạ có mục đích đền tội và cầu nguyện cho các Linh Hồn bị bỏ rơi, các Linh Hồn mồ côi, được mau giải thoát ra khỏi Lửa Luyện Ngục. Một thời gian sau ngày thành lập, Hội Phạt Tạ được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (1878-1903) nâng lên hàng Tổng Hội.

Rất nhanh sau đó, Hội Phạt Tạ được truyền bá khắp thế giới. Không một quốc gia nào lại không biết đến Hội, và mỗi quốc gia đều có hàng ngàn thành viên. Báo chí, tác phẩm của Hội viết bằng tiếng Pháp, được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau. Hội có các thành viên nhiệt thành ở khắp các nước Âu Châu, Phi Châu, Úc Châu, trong toàn Châu Mỹ và ngay cả miền Cận Đông nữa.

Hội Phạt Tạ có trụ sở tại đền thánh Đức Mẹ Montligeon. Đền Thánh được cung hiến ngày 28-8-1928 với tước hiệu ”Đức Mẹ Giải Thoát Các Linh Hồn khỏi Lửa Luyện Hình”. Bức tượng được tôn kính trong Đền Thánh, có hình Đức Mẹ MARIA bồng Đức Chúa GIÊSU. Đức Chúa GIÊSU đang cúi xuống đội triều thiên cho Linh Hồn của một tín hữu vừa được giải thoát khỏi Luyện Ngục đang quỳ dưới chân Đức Mẹ MARIA, về phía bên phải. Tín hữu này đôi tay chắp trước ngực và ngước mắt nhìn Đức Mẹ MARIA. Dưới chân Đức Mẹ MARIA về phía bên trái, là hình Linh Hồn của một tín hữu còn bị giam cầm, đang ngồi, hai tay xếp lại trên đầu gối và bị mang còng. Tín hữu này ngước mặt van lơn nhìn Đức Mẹ MARIA.

Bức tượng Đức Mẹ MARIA và Đức Chúa GIÊSU này được đội triều thiên ngày 19-9-1935, thể theo ý muốn của Đức Thánh Cha Pio XI (1922-1939). Hai năm sau, ngày 12-7-1937, Đức Hồng Y Eugenio Pacelli, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh – sau này lên ngôi Giáo Hoàng với tên Pio XII – đến Montligeon, quỳ gối cầu nguyện tại đền thánh Đức Mẹ Giải Thoát các Linh Hồn khỏi Lửa Luyện Tội. Khi được bầu làm Giáo Hoàng, Đức Pio XII (1939-1958) chấp nhận tước hiệu ”Người Bảo Trợ Hội Phạt Tạ”. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), ghi tên gia nhập Hội Phạt Tạ từ năm 1929. Còn Đức Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978) thì ban Phép Lành Tòa Thánh cho Hội Phạt Tạ và cho tất cả những thành viên của Hội.

Ngày 20-5-1908, Đức Thánh Giáo Hoàng Pio X (1903-1914), ban 100 ngày ân xá cho mỗi thành viên Hội Phạt Tạ, mỗi khi đọc lời nguyện sau đây, để cầu cho Các Linh Hồn nơi Luyện Ngục, dâng lên Đức Mẹ Montligeon (Đức Mẹ Giải Thoát các Linh Hồn khỏi Lửa Luyện Hình):

 Kính lạy Đức Trinh Nữ MARIA Vinh Hiển, xin Mẹ hãy thương xót đoái nhìn đến những Linh Hồn thánh thiện, còn đang bị cầm giữ một thời gian thanh luyện, cách xa Chúa và xa Mẹ, Người Mẹ rất từ bi nhân hậu của các ngài. Xin Mẹ hãy bẻ gãy xích xiềng và mau giải thoát các ngài khỏi vực thẳm, nơi các ngài đang than khóc, hướng vọng về thiên quốc và mong mau đến ngày được hạnh phúc kết hiệp vĩnh viễn cùng Chúa, Đấng mà lòng các ngài hằng ước ao khao khát. Xin Mẹ để ý cách riêng đến những Linh Hồn bị bỏ rơi nhất. Chúng con đặc biệt khẩn cầu cùng Mẹ đoái thương đến các ngài. Ôi lạy Mẹ nhân ái, xin Mẹ hãy chấp nhận lời chúng con nài van. Chúng con dâng lời tha thiết kêu van Mẹ, lạy Mẹ MARIA, xin Mẹ hãy quy tụ tất cả chúng con về Trời, bên cạnh Đức GIÊSU KITÔ Chúa chúng con, Người Con Đáng Kính Đáng Tôn của Mẹ, là Đấng Hằng Sống, Hằng Trị, cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần, đến muôn thưở muôn đời chẳng cùng. Amen.

 Lạy Đức Mẹ MARIA Montligeon, xin cầu cho các Linh Hồn bị bỏ rơi nơi Luyện Ngục.

 … ”Lạy THIÊN CHÚA, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai. Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết. Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng. Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm. Lạy THIÊN CHÚA, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Thánh Vịnh 51(50) 3-14).

 (Maria Simma, ”Les Âmes du Purgatoire m’ont dit”, Editions du Parvis, 1990, trang 120)

Read More
27Tháng Mười
2021

Lòng sùng kính Đức Mẹ tại Bulgaria

27/10/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Bulgaria đã sống dưới nhiều sự thống trị khác nhau và đã giữ được đức tin cũng nhờ vào lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria; tâm tình này vẫn còn nguyên vẹn ngay cả trong những năm đen tối dưới thời cộng sản.

Lòng sùng kính Đức Mẹ lan rộng khắp Bulgaria kể từ khi nước này bắt đầu theo Kitô giáo và lan rộng mạnh mẽ, mặc dù không có nhiều nhà thờ và đan viện kính Đức Mẹ từ thời kỳ đó. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở các đan viện nhưng nằm trong cội nguồn của một quốc gia đã trở lại Kitô giáo vào năm 865, và tạo nên một bản sắc dân tộc sâu đậm đến nỗi sự thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ và sự lan rộng của Hồi giáo cũng không làm cho nó bị phôi phai.

Đối thoại giữa các tôn giáo

Bulgaria trở thành một ví dụ về đối thoại giữa các tín ngưỡng, trong đó, người Do Thái, Kitô giáo và Hồi giáo biết cách chung sống với nhau. Làm chứng cho điều này chính là “Tứ giác” ở thủ đô Sofia, nơi chỉ trong vài mét vuông, ở các góc của một hình vuông lý tưởng, có nhà thờ Công giáo, Chính Thống giáo, đền thờ Hồi giáo và hội đường Do Thái.

Hai đền thánh chính

Đền thánh chính ở Bulgaria là đền thánh ở Rila, được ẩn sĩ Giovanni Rilski, vị thánh bảo trợ của quốc gia, thành lập vào đầu những năm 1900. Một đền thánh quan trọng khác kính Đức Mẹ được xây dựng vào thế kỷ XI, là đền thánh ở Backovo, được xây dựng trong hai thế kỷ thống trị của đế quốc Byzantine (1018 – 1185).

Vua Kalojan trị vì từ năm 1196 đến năm 1207, và lòng sùng kính Đức Mẹ đã phát triển mạnh mẽ dưới thời ông trị vì. Trong số các di tích quan trọng nhất, có nhà thờ của Tòa Thượng phụ Ocrida, ngày nay thuộc lãnh thổ Bắc Macedonia. Ở đó, trong nhà thờ dâng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, có lưu giữ thánh tích của thánh Clement Ocrida, một môn đệ của hai thánh Xyrilô và Metôđiô. Trong những năm đó, các thánh đường kính Đức Mẹ ở Varna, Plovdiv và Tirnovo cũng được xây dựng. Ở Tirnovo cũng có một nhà thờ khác kính Đức Mẹ , đó là nhà thờ Bụi gai bốc lửa.

Dưới thời Thổ Nhĩ Kỳ cai trị

Từ năm 1393 đến năm 1878, quốc gia này nằm dưới sự cai trị của Thổ Nhĩ Kỳ. Năm thế kỷ Thổ Nhĩ Kỳ thống trị không ảnh hưởng đến Kitô giáo, bởi vì lòng sùng kính các thánh và Đức Trinh Nữ Maria được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và bảo tồn đức tin. Lòng sùng kính Đức Mẹ rất quan trọng: trong nhiều thế kỷ bị Thổ Nhĩ Kỳ thống trị, có những ví dụ về lòng sùng kính phi thường đối với ảnh Đức Mẹ thành Troy.

Phục hồi tiếng Bulgaria

Việc sử dụng tiếng Bulgari cũng gần như bị biến mất. Chính tại các đền thánh của Troy và Rila mà nền văn hóa dân tộc được duy trì và chính các trường học của các đan viện đó đã giúp khôi phục vai trò của tiếng Bungaria.

Lưu giữ bản sắc dân tộc

Đâu là lịch sử của các đền thánh đã lưu giữ bản sắc dân tộc Bulgaria? Đền thánh Mẹ Thiên Chúa Bảo Vệ ở Rila, nằm trên núi cao. Vào năm 1960, cộng sản đã đuổi các đan sĩ, nhưng sau, do các cuộc biểu tình dữ dội của dân chúng, họ phải gọi các đan sĩ trở lại.

Đan viện Đức Mẹ Lên Trời ở Backovo được xây dựng vào thời kỳ đế quốc Byzantine cai trị Bulgaria, vào năm 1086, bởi Gregorio Bakouriani. Dưới sự thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ, vào thế kỷ XVII, Đền thờ Đức Mẹ Lên Trời ở thành Troy đã phát triển. Ở đó, có hình Đức Mẹ với ba bàn tay, một hình ảnh đặc trưng của truyền thống Byzantine, đã được một đan sĩ Rumani đi ngang qua và lưu lại như một món quà.

Read More
26Tháng Mười
2021

Về việc sử dụng bài hát “Chúa chăn nuôi tôi” của nhạc sĩ Phanxicô làm Thánh vịnh đáp ca

26/10/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Nhiều lần, khi tham dự các thánh lễ an táng, hay cầu cho người qua đời, chúng tôi nhận thấy ở khá nhiều nơi, người ta sử dụng bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô trong phần Thánh vịnh đáp ca. Bài hát có giai điệu khá hay, nhưng lời bài hát chỉ lấy một số ý từ Tv 23 (22), chứ không phải chính bản văn Lời Chúa, nên không thể sử dụng làm Thánh vịnh đáp ca. Khi có dịp thuận tiện, chúng tôi thường nhắc nhở những người chọn bài hát, các chủng sinh và nữ tu, về việc này. Tuy nhiên, chúng tôi thấy cần phải trình bày vấn đề này ở phạm vi rộng rãi hơn để tránh những sai sót không đáng có trong các cuộc cử hành phụng vụ.

Một số những qui định phụng vụ

Bài Thánh vịnh đáp ca được xác định là một thành phần trong phụng vụ Lời Chúa. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma, ở số 57, đưa ra hướng dẫn như sau:

“Trong các bài đọc, bàn tiệc lời Chúa được dọn ra cho các tín hữu và các kho tàng Thánh Kinh được mở ra cho họ. Bởi thế, nên giữ thứ tự các bài đọc Thánh Kinh để cho người ta thấy rõ sự thống nhất của cả hai giao ước và lịch sử cứu độ, cũng không được phép thay thế các bài đọc và thánh vịnh đáp ca vốn chứa đựng lời Chúa, bằng các bản văn khác ngoài Thánh Kinh.”

Sau đó, cũng Quy chế trên đây hướng dẫn cụ thể hơn về Thánh vịnh đáp ca, ở số 61:

“Sau bài đọc thứ nhất là thánh vịnh đáp ca, bài ca này là thành phần trọn vẹn của phụng vụ lời Chúa và rất quan trọng về mặt phụng vụ và mục vụ, vì giúp suy niệm lời Chúa. Thánh vịnh đáp ca phải thích hợp với mỗi bài đọc và thường phải lấy từ Sách Bài đọc.”

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm được thắc mắc của Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hoà về vấn đề này, với tư cách là Giám mục phụ trách Uỷ ban thánh nhạc toàn quốc, gửi cho Bộ Phụng tự và Kỉ luật bí tích ngày 10-11-2008. Câu trả lời liên quan đến lời văn Thánh vịnh đáp ca trong thư của Bộ nêu trên, ngày 3-2-2010, như sau:

“Về bản văn của các Thánh vịnh Đáp ca bằng tiếng Việt, Ngài có trình bày những khó khăn trong việc soạn các âm điệu vì tiếng Việt có tới sáu dấu, bởi vậy việc cho các dấu của ngôn ngữ hòa hợp với các nốt nhạc qủa rất khó. Bộ hiểu nỗi khó khăn này, nhưng đồng thời, Bộ cũng tin tưởng rằng Ủy ban Thánh Nhạc thuộc Hội đồng Giám mục sẽ tìm ra những giải đáp thỏa đáng để có được những âm điệu hay và xứng hợp cho các bản văn này (xin xem Huấn dụ De Liturgia Romana et Inculturatione [Về Phụng vụ Roma và việc Hội nhập văn hóa], 25 /01/ 2004, số 40).

Nếu mỗi âm điệu đều đòi hỏi phải sửa đổi đôi chút bản văn, cho dù là những lời rất đơn giản, thì tình trạng của các bản văn phụng vụ chính thức này cuối cùng sẽ ra sao? Bản văn phụng vụ chắc chắn sẽ lộn xộn. Các nhạc sĩ công giáo Việt Nam khi được các Đức Giám mục yêu cầu sáng tác các âm điệu cho các bản văn phụng vụ, thì cũng được yêu cầu chấp nhận hy sinh cần thiết trong việc soạn các âm điệu theo các chuẩn mực của Giáo Hội liên quan đến vấn đề.”[1]

Như vậy, những qui tắc phụng vụ đều nhấn mạnh rằng Thánh vịnh đáp ca là một phần của phụng vụ Lời Chúa và nếu có dệt nhạc, bản văn phải được lấy từ Sách Bài Đọc.

Đối chiếu lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô

Ở đây, chúng tôi sẽ không tiến hành công việc đối chiếu theo kiểu hàn lâm, tức là so sánh lời bài hát với các bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Hípri hay tiếng Latinh. Chúng tôi sẽ đặt lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô bên cạnh bản dịch Sách Bài Đọc được ấn hành năm 1973 và bản dịch Kinh Thánh của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) để độc giả tiện so sánh.

THÁNH VỊNH 23 (22)

Bản dịch 1973[2] Bản dịch CGKPV[3] Lời bài hát[4]
Tv 22,1-3a.3b-4.5.6

Xướng 1: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi, trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguốn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.

Đáp (1): Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Hoặc đọc (4a): Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi.

 2: Người dẫn tôi qua những con đường đoan-chánh, sở dĩ vì uy danh Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi, cây roi và cái gậy của Người, đó là điều an ủi lòng tôi.

3: Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đâu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa.

4: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống: và trong nhà Chúa tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

1Thánh vịnh. Của vua Đa-vít.

CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

2Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.

Người đưa tôi tới dòng nước trong lành

3và bổ sức cho tôi.

Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính

vì danh dự của Người.

4Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u

con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.

Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.

5Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.

Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,

ly rượu con đầy tràn chan chứa.

6Lòng nhân hậu và tình thương CHÚA

ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,

và tôi được ở đền Người

những ngày tháng, những năm dài triền miên.

ĐK: Chúa chăn nuôi tôi, Chúa chăn nuôi tôi, Chúa đưa tôi đi qua mọi nẻo đường. Người đưa tôi đi lên núi cao say sưa gió biển, vui uống suối miền Nam, vững tâm qua rừng mịt mù.

TK1: Người đưa tôi đi lên vườn trái ngát xanh trên đồi. Người dẫn tôi về tựa trùng khơi buông gió dìu mây trời. Người sắp cho tôi yến tiệc thơm hương hoa, Người rót cho tôi ly rượu thắm chan hòa. Đầu tôi người xức dầu thơm nồng nàn.

TK2 : Lòng không lo âu tuy vào giữa núi vây quân thù. Lòng vẫn êm đềm dù trời đêm thung lũng đầy sương mù. Cùng Chúa tôi đi suốt đời luôn hiên ngang. Nhờ Chúa tôi vui bao ngày tháng huy hoàng. Trần gian tươi thắm mùa xuân địa đàng.

TK3: Đời tôi trăm năm trong cuộc sống biết bao thăng trầm. Nghìn cõi xa gần vòng thời gian đưa mãi nhịp xoay vần. Này áo với cơm, đây bài thơ ươm mơ. Này xác với thân mang nặng tấm linh hồn. Đời tôi ôi Chúa hiểu sâu ngọn nguồn.

TK4: Dù bao chông gai tin vào Chúa vẫn luôn an bài. Lòng chẳng u hoài chờ bình minh lên giã từ đêm dài. Hạnh phúc cho tôi giữa đời không đơn côi. Vạn lý xa xôi có Người dẫn đưa về. Đời tôi mây trắng nhẹ trôi về trời.

Một vài nhận xét

Trước hết, khi đối chiếu các bản văn trên đây, độc giả có thể dễ dàng nhận ra rằng bản văn Sách Bài Đọc năm 1973 và bản văn CGKPV quả thực là hai bản dịch khác nhau của Tv 23, trong khi lời bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô rõ ràng không phải là bản dịch, mà chỉ được gợi hứng từ Thánh vịnh này. Nhạc sĩ đã lấy ra một số cách diễn tả và hình ảnh từ Tv 23 để dệt thành lời bài hát.

Theo những qui định đã được ghi nhận ở phần trên, nhận xét này khiến chúng tôi đi đến nhận xét thứ hai: Bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô không thể được dùng làm Thánh vịnh đáp ca, vì lời bài hát không phải bản văn Lời Chúa. Thiết tưởng việc dùng một bản văn của con người, dù bản văn đó được gợi hứng từ Lời Chúa, để thay thế Lời Chúa là một việc làm khó có thể biện minh và không thế chấp nhận được trong truyền thống phụng vụ của Hội Thánh công giáo.

Chúng tôi cũng ghi nhận rằng những người chọn bài hát có lẽ không chú ý đến những qui tắc phụng vụ, cũng không mấy quan tâm đến việc lời bài hát có phải là bản văn Lời Chúa hay không. Bài hát này được chọn làm Thánh vịnh đáp ca đơn giản vì người ta vẫn thường chọn những bài hát Chúa chăn nuôi tôi cho phần này trong thánh lễ. Hơn nữa, giai điệu bài hát của nhạc sĩ Phanxicô lại khá hay, những lời ca mượt mà hấp dẫn.

Do vậy, bài viết của chúng tôi chỉ muốn là một lời nhắc nhở để những ai có trách nhiệm chọn bài hát trong phụng vụ lưu ý, nhằm tránh những sai sót không đáng và không nên có. Tóm lại, bài hát Chúa chăn nuôi tôi của nhạc sĩ Phanxicô có thể được dùng vào những thời điểm khác trong phụng vụ, nhưng không thể dùng bài hát này làm Thánh vịnh đáp ca trong thánh lễ.

[1] Trích từ trang điện tử simonhoadalat.com, truy cập ngày 15-10-2021.

[2] Sách bài đọc trong Thánh lễ ngoại lịch, (Sài Gòn 1973), trang 236.

[3] Kinh Thánh ấn bản 2011, (Hà Nội 2011), trang 1145.

[4] Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, Tuyển tập thánh ca Laudato Si, (Thành phố Hồ Chí Minh 2018), trang 176-177.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 54
  • Page 55
  • Page 56
  • …
  • Page 79
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.