Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
29Tháng Ba
2023

Ý NGHĨA SỰ TUẪN GIÁO CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM

29/03/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Ý NGHĨA SỰ TUẪN GIÁO CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM

1- Gian khổ, con đường làm chứng cho Chúa Ki-tô tử nạn

Trong Tin Mừng, Chúa Giê-su Ki-tô đã loan báo cho các Tông đồ và các môn đệ mọi thời rằng ai bước theo Người cách đích thật chắc chắn sẽ phải chịu bách hại: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10,30). Chúa còn cảnh báo: “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết” (Mt 10,17-18). Với thói quen trình bày sự thật một cách thẳng thừng và toàn vẹn, Chúa đã chuẩn bị cho môn đệ mình đón nhận điều tồi tệ nhất: “Em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét.” (Mt 10,21-22).

Đó là vì các môn đệ sẽ phải làm chứng về Thiên Chúa, Đấng tạo dựng đất trời, Đấng luôn đòi hỏi nhân loại nên thánh thiện như Người, nghĩa là yêu thương đến tột độ; và làm chứng về Đức Kitô chịu đóng đinh, “sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24). Nghĩa là công bố cho mọi người tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa, thể hiện qua việc cứu rỗi thế gian nhờ Thập giá Đức Ki-tô, một mầu nhiệm lớn lao và cùng lúc không thể hiểu được đối với loài người.

Để làm được điều ấy, một điều hầu như luôn luôn kéo theo sự bắt bớ, Ki-tô hữu cần có sự khôn ngoan và sức mạnh từ trời cao. Đó là Chúa Thánh Thần: “Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói gì; không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần của Cha anh em nói trong anh em” (Mt 10,19-20).

Điều đó đã xảy ra thời các Tông Đồ. Điều ấy cũng đã lặp lại trong các thời đại khác nhau của lịch sử, ở nhiều lúc và nhiều chỗ khác nhau, trong các cuộc bắt bớ khốc liệt, đặc biệt suốt ba thế kỷ đầu của Giáo hội bên Tây phương.

2- Các Thánh Tử đạo tại VN, những tay gieo của Thiên Chúa

Giáo Hội Việt Nam suốt ba thế kỷ đầu của mình cũng đã chịu nhiều cuộc bách hại liên tiếp như thế, với một vài lúc ngưng nghỉ, kể từ năm 1533, nghĩa từ khởi thủy việc rao giảng Tin Mừng ở Đông Nam Á. Đã có hàng trăm ngàn Ki-tô hữu bị đưa tới pháp trường, và nhiều hơn thế là những kẻ đã chết trên núi, trong rừng, nơi những vùng đất độc hại mà họ đã bị đày đến, nơi những thôn làng Công giáo bị quan quân bủa vây, nơi những ngôi nhà thờ bị Văn Thân lùa tín hữu vào đó rồi phóng hỏa, dù được tuyên xưng là thánh chỉ vỏn vẹn 117 vị, trong đó có 8 Giám mục, 50 Linh mục và 59 giáo dân vào ngày 19-06-1988

Việc sống đạo và chết vì đạo của các đấng đã xảy ra trong những tình thế rất phức tạp.

  • Trước tín ngưỡng nhân gian và tam giáo Đông Phương (Khổng, Phật, Lão) thần thánh hóa đủ thứ, từ con người đến động vật và ngay cả núi sông cây cỏ, các vị tử đạo đã rao giảng một Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, chủ tể muôn loài, và chẳng có thần linh tối cao nào ngoài Người cả.
  • Trước “đạo ông bà” thờ cúng tổ tiên và các anh hùng dân tộc như thần thánh, các vị tử đạo vẫn cổ vũ lòng tôn kính tiên tổ và tiền nhân đúng đạo hiếu dân Việt, nhưng lòng tôn kính này phải đặt sau việc tôn thờ bái lạy Thiên Chúa.
  • Trước quan niệm bình dân cho rằng tôn giáo nào cũng dạy ăn ngay ở lành và Công giáo là đạo của phương Tây, các vị Tử đạo cho thấy Công giáo là đạo dành cho hết mọi người và có tính cách siêu việt, mạc khải những điều cao cả từ nơi Thiên Chúa.
  • Trước đầu óc phong kiến, coi nhà vua như Thiên tử (con Trời) và hết thảy con dân trong nước đều là thần dân (tôi tớ), các vị tử đạo rao giảng giáo lý: tất cả ai nấy đều là con Trời, và vì vậy đều có phẩm giá như nhau.
  • Trước thói tục đa thê hoành hành trong mọi tầng lớp xã hội, từ vua quan đến thứ dân, các vị tử đạo rao giảng nền luân lý đơn hôn (một vợ một chồng) và vĩnh hôn (sống với nhau cho đến chết). Một nền luân lý cao đẹp, có sức nâng cao nhân phẩm và biến đổi xã hội mãnh liệt.
  • Trước hoàn cảnh chính trị đất nước phức tạp (các triều đại tranh quyền với nhau, Thực dân Pháp xâm chiếm đất nước, giặc giã nổi lên nhiều chỗ…), các vị tử đạo nhiều lần bị nghi ngờ theo Tây, theo giặc, nhưng các đấng đã luôn chứng tỏ lòng trung thành với đất nước và trung thực với chính quyền. Ngay các vị thừa sai tử đạo cũng đã không bao giờ phục vụ cho quyền lợi của đất nước họ.

Chính đó là những thách thức đối với vua chúa lẫn xã hội đương thời, và trở nên lý do khiến các đấng bị bách hại.

Các thánh Tử Đạo tại Việt Nam như thế là những người gieo của Thiên Chúa mà Thánh vịnh đã 126 [125] đã ám chỉ: “Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo” (c. 5). Nước mắt và máu của các đấng đã tưới vào hạt giống Tin Mừng, hạt giống ân sủng, để ơn huệ Đức tin có thể trổ sinh dồi dào: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).

3- Các Thánh Tử đạo tại VN, những thợ gặt của Nước Trời

Và từ những đau khổ lẫn tuẫn giáo của các đấng, “mùa gặt của Chúa” đã tới. Thánh vịnh trên tiếp đến gọi các vị Tử đạo là những thợ gặt: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126[125], 5-6).

Mùa gặt đó, lúa vàng đó, hoa trái đó chính là sinh lực của Giáo hội VN, là khả năng và lòng kiên nhẫn của Giáo Hội VN để đương đầu với các khó khăn đủ loại và để công bố Tin Mừng suốt bao thế kỷ qua.

Máu các thánh Tử đạo đã là nguồn ân sủng để Ki-tô hữu đất Việt tiến lên trong Đức tin của tiền nhân. Đức tin ấy đã là nền tảng cho sự kiên trì của tất cả những ai đích thực cảm thấy mình là người Việt, trung thành với nước Việt, đồng thời vẫn muốn làm môn đệ chân chính của Đức Kitô.

Đức tin ấy đã kêu gọi Ki-tô hữu kính sợ Thiên Chúa, yêu thương mọi người, tuân phục chính quyền và các định chế của xã hội trong những gì chính đáng vì lòng mến Chúa.

Đức tin ấy đã kêu gọi Ki-tô hữu làm điều thiện, ứng xử như những con người tự do (x. 1Pr 2,13-17), tìm kiếm thiện ích chung của quê hương như một nghĩa vụ chân thành của công dân Ki-tô hữu, trong niềm tự do công bố sự thật của Thiên Chúa, trong sự hiệp thông với các mục tử và các đồng đạo, trong ước vọng sống an bình với mọi người khác để thành tâm xây dựng thiện ích cho tất cả.

Và đó là điều mà chúng ta đã thấy từ thời các chứng nhân Tử đạo cho đến hôm nay trên đất Việt, qua vô vàn chứng nhân Ki-tô hữu Việt Nam khác nữa.

Kết

Các Thánh Tử đạo đã trở nên những của lễ toàn thiêu, kết hợp với hy tế Thập giá của Đức Kitô khổ nạn. Các đấng đã là chứng nhân cho chiến thắng của Đức Kitô trên tử thần, cho ơn gọi của con người là được bất tử! Nhờ thế các đấng đã thông phần vào việc cứu độ trần gian do Người thực hiện, và nay đang được hạnh phúc muôn đời. Đúng như sách Khôn ngoan 3,5-9 đã nói về họ.

Là con cháu, là hoa trái của các đấng, chúng ta cũng được hứa hẹn những điều như thế nếu chúng ta tham gia vào thống khổ và thập giá của Đức Ki-tô, để thông phần vào việc cứu độ trần gian do Người thực hiện. Và như vậy, mùa gặt của các Thánh Tử đạo Việt Nam sẽ kéo dài mãi trong hân hoan qua tất cả chúng ta!

Read More
29Tháng Ba
2023

Tại sao chúng ta phải mặc y phục màu tím trong mùa chay?

29/03/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

Khi những gì chúng ta mang bên trong được phản ánh ra bên ngoài
Mùa Chay không phải là mùa thời trang như Xuân-Hạ hay Thu-Đông, trong đó một số màu sắc được đề xuất như một xu hướng, nhưng đó là mùa quan trọng đối với người công giáo và màu tím (màu tối, không phải màu nhạt) nhắc nhở chúng ta về thời gian 40 ngày để suy tư, ăn năn và hoán cải thiêng liêng.
Lịch sử thiêng liêng
Chúa Giêsu đã mặc một chiếc áo choàng màu tím trong Cuộc khổ nạn của mình như một sự chế giễu : “vua của người Do Thái”. Thời của Chúa Giêsu hoặc trước đó, màu tím là biểu tượng của hoàng gia. Chẳng hạn trong sách Xuất hành, chúng ta đọc thấy rằng, ông Môsê được lệnh làm nhà tạm “với mười tấm thảm bằng sợi gai mịn xe, vải đỏ tía, vải tím và vải đỏ thẫm” (Xh 26, 1) và trong sách Sử Biên Niên, cuốn thứ 2 (3, 14) viết rằng Vua Salomon ra lệnh trang trí đền thờ Giêrusalem bằng các loại vải có màu này.
Giáo hội đã quyết định giữ màu tím như một biểu tượng không chỉ dành cho sự sám hối và tang chế, mà còn như một lời nhắc nhở chúng ta phải đối mặt với tội lỗi của mình, chuẩn bị tinh thần và giúp đỡ người khác đến gần Chúa và Vương quốc của Ngài hơn.
Nó không chỉ là màu được sử dụng trong cuộc rước của người Nazareth mà còn là màu của cả Mùa Chay.
Dĩ nhiên, không phải cứ mặc chiếc đầm (áo dài hoặc sơ mi) màu tím là chúng ta trung thành với màu phụng vụ. Loại vải và kiểu thiết kế phần nào đó nói lên cảm giác trước lễ Phục sinh. Đó là cái mà chúng ta gọi là sự thống nhất của cuộc sống: hành vi của chúng ta phản ánh những ý tưởng và những ý tưởng này chứa đựng ý nghĩa siêu nhiên.
Nhìn bề ngoài, đó là dịp để phản ánh sự khắc khổ và đơn sơ, nhưng nó không phải là qui chuẩn của Giáo hội Công giáo.
Bạn không nhất thiết phải mặc đồ màu tím trong 40 ngày. Bạn có thể dùng các thứ khác có màu tím như cong đeo tay, khăn quàng buộc vào túi xách hay một phụ kiện đơn giản nhắc nhở bạn về ý nghĩa của những ngày này.
Chỉ vào Chúa nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh, màu tím được thay thế bằng màu đỏ, tượng trưng cho máu của các vị tử đạo và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Và sau đó, vào Chúa nhật Phục sinh, chúng ta mặc màu trắng như một dấu hiệu của sự sống, sự tinh khiết, vui mừng và hân hoan.
Tuy nhiên cũng sẽ vô ích nếu chúng ta mặc y phục màu tím mà tâm hồn chúng ta không thấm đượm màu sắc ấy.
Hãy tận dụng những ngày này để suy tư, hy sinh, giúp đỡ người khác nhiều hơn và ngẫm xem làm thế nào để từ cuộc sống đơn giản nhất mỗi ngày bạn có thể trở thành người công giáo thánh thiện và ngay lành.
Read More
23Tháng Ba
2023

Lợi ích của việc xưng tội thường xuyên

23/03/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

“Lợi ích” của việc xưng tội nhẹ đến từ thực tế là chúng ta lãnh nhận bí tích. Sự tha tội xảy ra bởi sức mạnh của bí tích, tức là bởi quyền năng của chính Chúa Giêsu Kitô. Công Đồng Trentô cho biết: “Trong bí tích Hòa Giải, công nghiệp của Đức Kitô chịu chết được áp dụng cho những người đã phạm tội sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội.” Cũng cần lưu ý rằng không phải do các tội đã phạm mà có sự tác động bí tích, đúng hơn là do sự ghét tội trong chúng ta; chính điều này mà sức mạnh của bí tích xảy ra, và được nâng lên để hiệp nhất chúng ta với Thiên Chúa qua ân sủng.

Vì ở đây chỉ nói đến tội nhẹ, ân sủng được ban bởi việc xưng tội, nên không là vấn đề như trong trường hợp tội trọng được thú nhận, một đời sống ân sủng mới, gọi là “tình trạng ân sủng,” đúng hơn thì đó là sự củng cố và đào sâu đời sống siêu nhiên hiện hữu trong linh hồn và gia tăng tình yêu Thiên Chúa. Trong những trường hợp này, bí tích chủ yếu có tác dụng tích cực: củng cố đời sống siêu nhiên của linh hồn, gia tăng ơn thánh hóa, ban ân sủng thực sự kích thích ý chí của chúng ta đối với việc yêu mến Thiên Chúa và việc ăn năn tội. Những tình cảm yêu mến như vậy có xu hướng xóa các tội nhẹ và loại chúng ra khỏi linh hồn, như ánh sáng xua tan và loại trừ bóng tối.

Giá trị của việc xưng tội nhẹ: Bí tích không chỉ xóa sạch các tội này mà còn xóa những hậu quả xấu của chúng trong tâm hồn một cách trọn vẹn hơn so với trường hợp những tội được tha ngoài việc xưng tội. Vì vậy, ví dụ, khi các tội nhẹ được tha khi xưng tội, phần lớn hình phạt tạm thời do chúng được tha hơn là ngoài việc xưng tội với cùng một cảm xúc đau khổ. Nhưng đặc biệt, bí tích Hòa Giải chữa linh hồn khỏi sự yếu đuối theo sau tội nhẹ, khỏi sự mệt mỏi và lạnh lùng với những điều của Thiên Chúa, khỏi xu hướng hướng về thế gian mà tội nhẹ đem lại; nó giải thoát linh hồn khỏi những xu hướng và bản năng vô định được đánh thức lại và khỏi sự thống trị của sự ham muốn trần tục.

Tất cả những điều đó bởi sức mạnh của bí tích, tức là bởi quyền năng của chính Chúa Kitô. Hơn nữa, việc xưng tội nhẹ đem lại cho linh hồn sự tươi mới nội tại, niềm khát khao mới và sự thúc đẩy để tự nguyện phục vụ Thiên Chúa và hướng tới việc nuôi dưỡng đời sống siêu nhiên: kết quả này thường không được tạo ra khi tội nhẹ được tha ngoài việc xưng tội.

Một mối lợi rất quan trọng của việc xưng tội nhẹ: việc chúng ta xét mình và nhất là việc ăn năn, mục đích hoán cải, và quyết định chuộc tội và đền tội được thực hiện cẩn thận khi chúng ta đi xưng tội hơn là trường hợp tội nhẹ được tha ngoài việc xưng tội, ví dụ, bằng nguyện vọng hoặc thành tín sử dụng nước phép. Chúng ta biết khá rõ cần nỗ lực như thế nào để linh mục ra việc đền tội. Chúng ta phải ý thức và thực hiện tốt việc đền tội.

Thật vậy, đúng là chúng ta nên nhận sự rắc rối này. Vì sự ghét tội trong lòng chúng ta không chỉ đơn thuần là xu hướng tâm lý đối với việc lãnh nhận bí tích Hòa Giải, đó là những bộ phận cấu thành thiết yếu của bí tích. Những điều đó cần thiết cho sự tồn tại của bí tích, và phương cách hiệu quả của bí tích – của việc gia tăng sự sống thiêng liêng và sự tha tội. Ngoài bí tích Hôn Phối, bí tích Hòa Giải là bí tích riêng tư nhất trong các bí tích. Sự sắp xếp riêng của hối nhân – biểu hiện riêng về nỗi buồn, sự ghét tội, và ước muốn chuộc tội – là điều hoàn toàn cần thiết cho bí tích này.

Hiệu quả bí tích tùy thuộc thái độ riêng của chúng ta đối với tội lỗi chúng ta đã phạm và tùy thuộc việc chúng ta trở về với Đức Kitô và Thiên Chúa. Trong bí tích Hòa Giải, việc sám hối cá nhân của chúng ta được nâng lên, không còn thuần túy cá nhân nữa nhưng được liên kết với sự đau khổ và cái chết của Chúa Kitô, từ đó sức mạnh của bí tích phát xuất. Chúng ta thực sự thấy rõ giá trị và lợi ích to lớn của bí tích Hòa Giải.

Điều mà chúng ta gọi là ân sủng bí tích của bí tích Hòa Giải – ân sủng thuộc về bí tích này, không được ban và cũng không thể ban bởi bí tích nào khác – là ơn thánh hóa với quyền năng và chức năng đặc biệt để khắc phục sự yếu đuối của tâm hồn, sự thiếu thốn nhiệt huyết, lòng can đảm và nghị lực do tội nhẹ, đồng thời củng cố linh hồn và loại bỏ những trở ngại mà sự tác động của ân sủng gặp trong đó.

Một giá trị và lợi thế quan trọng khác của việc xưng tội thường xuyên là các tội nhẹ được thú nhận với linh mục, đại diện Giáo hội, do đó mà như thú nhận với chính Giáo hội và với cộng đồng Kitô hữu.

Người phạm tội nhẹ vẫn là thành viên sống động của Giáo hội. Nhưng vì tội nhẹ, người đó không chỉ xúc phạm đến Thiên Chúa và Đức Kitô, cũng chống lại sự tốt lành của linh hồn; người đó cũng hành động chống lại lợi ích của cộng đồng Kitô giáo là Giáo hội. Tội của họ là vết nhơ và vết nhăn trên áo Hiền Thê của Đức Kitô, (x. Ep 5:27) là chướng ngại ngăn cản tình yêu Thiên Chúa tuôn chảy tới mọi người, bởi Chúa Thánh Thần. (x. Rm 5:5)

Tội nhẹ là làm điều sai trái đối với cộng đồng Kitô giáo và là sự thất bại trong đức ái đối với Giáo hội, nguồn sống và nguồn cứu rỗi đối với Kitô hữu. Vì vậy, không có cách nào tốt hơn là xưng tội với người đại diện của Giáo hội, để được tha thứ, được chuộc tội bằng việc đền tội.

LM. BENEDICT BAUR, O.S.B. (Dòng Biển Đức)

Read More
23Tháng Ba
2023

Hồ nước Bếtsaiđa trong Kinh thánh, huyền thoại hay có thực?

23/03/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0
Vittoria Traverso
Trong nhiều thế kỷ, sự tồn tại của một hồ nước với năm cổng ở Giêrusalem được coi là hư cấu. Tuy nhiên, một nhà khảo cổ học người Đức đã chứng minh rằng Gioan đã ám chỉ đến một địa điểm có thật khi tường thuật về phép lạ xảy ra ở hồ Bếtsaiđa trong Phúc âm của mình.
Một trong những phép lạ nổi tiếng nhất được mô tả trong Tin mừng Gioan (5,2-9) kể về việc Chúa Giêsu chữa lành cho một người bất toại ngồi cạnh một “hồ bơi” hoặc “hồ nước” có “năm cổng” mà trong tiếng Do Thái gọi là Bếtsaiđa, nghĩa là “ngôi nhà của lòng thương xót” hay “ngôi nhà của ân sủng”.
Trong nhiều thế kỷ, các nhà sử học đã cố gắng định vị hồ nước này. Trong số các hồ quan trọng nhất được cho là “Hồ Bếtsaiđa” gồm có Birket Israel (Hồ Israel) tọa lạc gần lối vào Thung lũng Kidron, phía Đông thành cổ Giêrusalem và suối nước Trinh nữ hiện nay, trong thung lũng Kidron, cách hồ Silôê không xa. Tuy nhiên, không có lựa chọn nào trong số này phù hợp với mô tả của Gioan có đủ “năm cổng” trong suốt thời gian dài, và do đó người ta cho rằng hồ nước của Gioan là một tác phẩm hư cấu hơn là một địa điểm lịch sử thực sự.
Pintura del estanque de Betesda, por Robert Bateman (1877). Durante siglos, se creyó que el estanque de Betesda era un lugar ficticio.

 

Tuy nhiên, vào thế kỷ 19, Conrad Schick, nhà khảo cổ học người Đức, đã phát hiện ra một bể chứa khổng lồ cách nhà thờ thánh Anna khoảng 30 mét về phía Tây-Bắc, đầu đường Thánh giá (Via Dolorosa) nằm trong khu vực của người Hồi giáo thuộc phố cổ Giêrusalem. Schick là một chuyên gia về hệ thống nước thời Giêrusalem cổ đại và sớm phát hiện ra rằng hồ nước phù hợp với mô tả của Gioan về “năm cổng”. Thực ra, hồ nước này bao gồm hai khoang được ngăn bởi một bức tường, tạo thành năm “bức tường”.
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về mặt khảo cổ, chức năng của hai hồ riêng biệt bắt đầu lộ diện. Ở hồ nước phía Nam, người ta thấy một loạt các bậc thang rộng, đóng vai trò là mikveh (hồ tắm dùng để ngâm mình theo nghi thức Do Thái giáo), trong khi hồ phía Bắc lớn hơn, làm hồ chứa, liên tục cấp nước cho hồ phụ.
Chắc chắn, Tin mừng Gioan có đề cập đến những người bất toại và tàn tật khác đang ngồi bên hồ nước và đợi cho nước khuấy lên trước khi họ bước xuống để được chữa lành. Thực vậy, người ta tin rằng mỗi ngày một lần, một thiên thần xuống hồ khuấy nước lên, khiến nước khuấy động và vào thời điểm đó người nào bước xuống hồ đầu tiên sẽ được chữa lành.
Điều này xác nhận sự tồn tại của các “bậc thang” nơi mọi người ngồi chờ đợi, không chỉ thế, nó còn xác nhận câu chuyện chữa bệnh xảy ra trước cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu. Việc xây dựng “các hồ tắm chữa bệnh” bên cạnh các con suối tự nhiên, có các cột bao quanh là chuyện thường xảy trong thế giới Hy Lạp hóa. Các bệnh nhân uống nước và tắm rồi ngủ trong đền thờ, tương tự như những gì Gioan đã mô tả trong Phúc âm.
Các cuộc khai quật khảo cổ sau đó đã phát hiện ra các địa điểm khác cho thấy Bếtsaiđa vẫn tiếp tục là nơi chữa bệnh qua nhiều thế hệ. Vào thế kỷ thứ 2, người Rôma cho xây dựng đền thờ Esculapius, tên vị thần chữa lành của người Rôma. Vào thế kỷ thứ 5, một vương cung thánh đường Byzantine được xây lên cách hồ nước không xa, tiếp theo là một nhà nguyện nhỏ hơn được xây dựng vào thế kỷ 12, thời kỳ diễn ra các cuộc Thập tự chinh.
Ngày nay, dù không còn thấy nước chảy qua nhưng du khách có thể nhìn thấy phế tích này bằng cách đi bộ một đoạn ngắn từ nhà thờ thánh Anna, gần Cổng Sư tử (Puerta de los Leones) ở đầu đường Via Dolorosa. Tuy nhiên, ký ức về nơi này sống mãi trong một Công viên lớn ở New York, nơi có đài phun nước cùng tên chứa bức tượng “Thiên thần của nước”, do nhà điêu khắc người Mỹ, Emma Stebbins, thiết kế và được xây dựng từ năm 1859 – 1864 như để tưởng nhớ đến phép lạ của Chúa Giêsu ở Bếtsaiđa.
G. Võ Tá Hoàng

La piscina bíblica de Betesda, ¿mito o realidad?

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 25
  • Page 26
  • Page 27
  • …
  • Page 79
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.