2023
Trừ tà, nghi thức
Trừ tà, nghi thức
Exorcismus, Exorcism, Exorcisme
Trừ: xua đuổi; tà: ma quái. Trừ tà: xua đuổi ma quái.
Nghi thức trừ tà là á bí tích mà Giáo hội cử hành nhân danh Chúa Giêsu Kitô, cầu xin Thiên Chúa bảo vệ một người hay một vật khỏi ảnh hưởng của Ác Thần và giải thoát khỏi ách thống trị của nó (x. GLHTCG 1673).
Á bí tích này, được cử hành cách công khai với thẩm quyền, do một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn được Đấng Bản Quyền ủy nhiệm (x. GLHTCG 1172).
Nghi thức gồm: các lời nguyện (Kinh Cầu Các Thánh, kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính, kinh Trừ Quỷ), công bố một đoạn Phúc Âm và các cử chỉ (đặt tay, dấu Thánh Giá, xức dầu trừ tà, hà hơi và rảy nước Thánh).
Đây là nghi thức trừ tà đại thể, khác với nghi thức từ bỏ tà thần trong Bí tích Thánh tẩy).
Tiểu ban Từ vựng UBGLĐT/HĐGMVN
2023
Tại sao Thánh Piô X được gọi là “vị Giáo hoàng của Bí tích Thánh Thể”?
Thánh Piô X được kính trọng cách đặc biệt vì đã thúc đẩy lòng sùng kính đối với Bí tích Thánh Thể, nhất là việc cho phép trẻ em được rước lễ.
Thánh Piô X, vị giáo hoàng từ năm 1903 – 1914, là người ủng hộ mạnh mẽ việc rước lễ và khuyến khích mọi tín hữu rước lễ càng thường xuyên càng tốt.

Đặc biệt, ngài đã viết trong Sắc lệnh Quam Singulari rằng mọi người nên rước lễ thường xuyên hơn, thậm chí hàng ngày nếu có thể.
Vào thời đó, người Công giáo chỉ quen với việc rước lễ mỗi năm một lần. Rất ít người được rước lễ hàng tuần, và thông thường chỉ có các linh mục mới được rước lễ hàng ngày. Thánh Piô X muốn sửa đổi thói quen mang tính kiêng nể này.
Thật vậy, Công đồng Trentô dạy ngược lại khi gọi Bí tích Thánh Thể là “một phương dược nhờ đó mà chúng ta có thể được giải thoát khỏi những lầm lỗi hàng ngày và được gìn giữ khỏi những tội trọng.” Điểm giáo lý này cách đây không lâu đã được đặc biệt nhấn mạnh bởi một sắc lệnh của Thánh bộ Công đồng [tiền thân của Bộ Giáo sĩ ngày nay] được ban hành vào ngày 20 tháng 12 năm 1905. Sắc lệnh này tuyên bố rằng việc đến để rước lễ hàng ngày được mở ra dành cho tất cả mọi người, già cũng như trẻ, và chỉ cần có hai điều kiện: tình trạng ân sủng và một ý hướng ngay lành.
Hơn nữa, Thánh Piô X cũng dùng chính sắc lệnh này để giảm độ tuổi cho rước lễ lần đầu từ độ tuổi thông thường thời đó là vào khoảng 12 tuổi xuống mức “tuổi khôn”, tức là vào khoảng 7 tuổi.
Để làm rõ hơn về tính chất ngây thơ và sự gần gũi của trẻ em với Thiên Chúa, Đức Piô X đã viết, “thực tế là vào thời cổ đại, việc những mẫu còn sót lại của Mình Thánh Chúa thậm chí còn được trao cho trẻ sơ sinh dường như cho thấy rằng ngày nay không cần phải có sự chuẩn bị hơn mức thông thường dành cho trẻ em là những người đang ở trong tình trạng hạnh phúc của một linh hồn ngây thơ và trong sáng, và là những người, giữa biết bao nguy hiểm và cám dỗ của thời hiện tại, có nhu cầu đặc biệt về phần lương thực từ trời này.”
Văn kiện của Thánh Piô X đã mở ra cánh cửa cho nhiều người hơn được rước lễ thường xuyên hơn và bắt đầu một cuộc “phục hưng” đức tin xung quanh Bí tích Cực thánh.
Tác giả: Philip Kosloski
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Nguồn: Aleteia
2023
Dân ngoại trong Kinh Thánh là ai?
Theo Kinh Thánh, các dân ngoại ban đầu là những người không có liên hệ với người Do Thái.
Khi đọc Kinh Thánh, đặc biệt là Tân Ước, bạn sẽ thường bắt gặp từ Dân ngoại (Gentile).
Từ này có nghĩa là gì?
Bách khoa Toàn thư Công giáo giải thích từ ngữ Kinh Thánh này theo cách sau.
Đây là một từ có nguồn gốc Latinh và thường được sử dụng ở số nhiều. Trong các ấn bản tiếng Anh của cả Cựu Ước và Tân Ước, từ này dùng để gọi chung cho các dân tộc khác với dân tộc Do Thái.
Lý do chính tại sao dân ngoại được đề cập trong Kinh Thánh là vì “người Do Thái trong tư cách là con cháu của tổ phụ Abraham tự coi mình, và đúng thật là như thế, là dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn trước khi Đức Kitô đến. Vì các dân tộc không phải là người Do Thái không thờ phượng Thiên Chúa thật và thường sa đà vào những thực hành vô luân, nên thuật ngữ Gôyîm “Dân ngoại” thường có nghĩa miệt thị trong Kinh Thánh, trong bộ Talmud,…”.
Ban đầu, có nhiều cuộc tranh luận giữa các tông đồ về việc có nên rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô cho dân ngoại hay không.
Điều đáng mừng là Thánh Phaolô đã trở thành “Tông đồ của các dân ngoại”, và tự mình đảm nhận sứ mạng truyền giáo cho tất cả mọi người, cả người Do Thái và dân ngoại, nhằm chắc chắn rằng mọi người đều biết về công trình cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.
Tác giả: Philip Kosloski
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Nguồn: Aleteia (19/8/2023)
2023
Tại sao việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót đã bị cấm trong 20 năm?
Ban đầu Vatican cấm việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót là do bản dịch sai cuốn “Nhật Ký Nhỏ” của thánh Faustina Kowalska.

Nếu ngày nay Giáo hội Công giáo chấp nhận việc tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót được mạc khải cho thánh Faustina Kowalska, thì điều này không phải lúc nào cũng thế. Thật vậy, Vatican đã kiểm duyệt việc sùng kính này trong hai mươi năm, từ 1959 đến 1979, cấm phổ biến và quảng bá việc sùng kính này. Các linh mục Dòng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội giải thích lý do cho điều này trên trang web Lòng Chúa Thương Xót của họ:
Cha Sopocko chăm lo việc phổ biến lòng sùng kính này. […] Năm 1959, Vatican nhận được các bản dịch sai và khó hiểu của cuốn « Nhật Ký Nhỏ » và đã cấm phổ biến việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót dưới các hình thức do nữ tu Faustina đề xuất.
Đây là bản dịch sắc lệnh chính thức của Vatican ngày 19 tháng 11 năm 1958, và sau đó được tái khẳng định vào năm 1959:
Bản chất siêu nhiên của những điều mặc khải cho nữ tu Faustina là không rõ ràng. Không được thiết lập bất cứ lễ nào về Lòng Chúa Thương Xót. Cấm tiết lộ những hình ảnh và bài viết tuyên truyền lòng sùng kính này dưới hình thức mà nữ tu Faustina nhận được.
Tuy nhiên, Cha Sopocko, người trực tiếp tiếp xúc với nữ tu Faustina, đã tự an ủi mình khi biết rằng tất cả những điều này là ứng nghiệm một lời tiên tri của nữ tu Faustina. Sơ đã viết (mục 378): « Sẽ đến lúc công việc này [của Lòng Thương Xót], mà Thiên Chúa đang đòi hỏi rất nhiều, sẽ như thể hoàn toàn bị hủy bỏ. Và rồi Chúa sẽ hành động với quyền năng to lớn, vốn sẽ đưa ra bằng chứng về tính xác thực của nó. Nó sẽ là một vẻ huy hoàng mới cho Giáo hội, mặc dù nó đã tiềm tàng trong đó từ lâu ».
Lệnh cấm này đã bị Tổng Giám mục Krakow, Karol Wojtyła, đặt vấn đề vì ngài biết rõ rằng Vatican đã nhận được những bản dịch sai của cuốn Nhật ký. Vị Giáo hoàng tương lai chắc chắn rằng việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót không trái với đức tin Công giáo và đã coi đó là sứ mệnh của mình để chứng minh quan điểm của mình.
Do đó, vào năm 1965, ngài bắt đầu quá trình điều tra về cuộc đời và nhân đức của nữ tu Faustina Kowalska và giao cuốn « Nhật Ký Nhỏ » cho một trong những nhà thần học hàng đầu của Ba Lan là cha Ignacy Różycki. Tuy nhiên, cha không thực sự muốn lãng phí thời gian để phân tích những gì mà người ta đồn đại với ngài là ảo giác của một nữ tu ít học. Tuy nhiên, ngay trước khi gửi lá thư từ chối cho Đức Tổng Giám mục, cha cầm cuốn Nhật ký lên và tình cờ bắt đầu đọc vài trang « chỉ để giết thời gian. » Thành kiến của cha đối với nó ngay lập tức bị lung lay. Rồi, ngài đọc hết toàn bộ, và sau đó đã quyết định dành phần đời còn lại của mình để nghiên cứu và truyền bá thông điệp của nữ tu.
Văn bản đã được xem xét lại và Đức Wojtyła đã đệ trình lại cho Vatican để xem xét vào năm 1977. Vài tháng sau, vào năm 1978, Đức Hồng y Karol Wojtyła trở thành Giáo hoàng Gioan-Phaolô II.
Năm 1979, Bộ Giáo lý Đức tin nhận được kết quả nghiên cứu của cha Różycki cũng như các bản dịch chính xác hơn. Bộ nghiên cứu văn bản về việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót với bản dịch chính xác hơn này và không tìm thấy điều gì có thể ngăn cản sự lan truyền của nó. Bộ đã thông báo cho Dòng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội rằng lệnh cấm về lòng tôn sùng của nữ tu Faustina cuối cùng đã được dỡ bỏ. Trong một lá thư giải thích về quyết định này, Bộ đã viết: « Về phía Thánh Bộ này, không còn tồn tại bất kỳ trở ngại nào đối với việc truyền bá việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót dưới những hình thức đích thực do Nữ tu [Faustina] đề xuất. » Cuối cùng, đó là: « Nihil Obstat » từ chính Vatican!
Với lệnh cấm được bãi bỏ, Bức Ảnh, Nhật Ký, Tràng Chuỗi, đánh dấu ngày Lễ và Giờ cầu nguyện với Lòng Chúa Thương Xót lan rộng nhanh chóng trên khắp thế giới.
Vào ngày 30 tháng 4 năm 2000, trong thánh lễ phong thánh cho nữ tu Faustina Kowalska, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thiết lập Lễ Kính Lòng Chúa Thương Xót, vào Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh theo lịch phụng vụ, và kể từ đó, lòng sùng kính này đã lan rộng khắp thế giới.
Tý Linh (theo Philip Kosloski, Aleteia , và The Mercy Devotion)
