2024
TRỞ NÊN MÔN ĐỆ ĐÍCH THỰC
25.7 Thánh Giacôbê, Tông Đồ
Gr 2:1-3,7-8,12-13; Tv 36:6-7,8-9,10-11; Mt 13:10-17
TRỞ NÊN MÔN ĐỆ ĐÍCH THỰC
Trong danh sách mười hai Tông đồ mà Chúa chọn, có hai người cùng mang tên là Giacôbê, một người là anh của Thánh Gioan viết Phúc âm, con ông Giêbêđê và một người là con của ông Alphê. Để phân biệt hai Tông đồ này, người ta gọi Thánh Giacôbê Tông đồ hậu và Giacôbê Tông đồ tiền. Phụng vụ vào ngày 25 tháng 7 hằng năm cử hành lễ kính Thánh Giacôbê Tông đồ Tiền.
Thánh Giacôbê xuất thân trong một gia đình ngư phủ tương đối khá giả tại Betsaiđa, thân sinh là ông Giêbêđê có người làm thuê (Mc 1, 19-20). Cũng theo Tin mừng của Marcô thì Giacôbê là một trong bốn môn đệ được Chúa gọi đầu tiên tại biển hồ Galilêa (Mc 1, 16-20).
Trong những biến cố quan trọng của cuộc đời Đức Giêsu, vị Tông đồ này luôn có mặt, ông đã chứng kiến phép lạ Chúa chữa nhạc mẫu Phêrô khỏi bệnh (Mt 1, 29-31), con gái ông Giairô sống lại (Mc 5, 37-43), Chúa biến hình trên núi (Mc 9,2-8), và lúc Chúa Giêsu hấp hối ở vười Gietsimani (Mt 26,37). Hai anh em Giacôbê và Gioan được Chúa đặt cho một biệt hiệu khá “kêu” là: ”Boanergès” có nghĩa là con sấm sét (Mc 3,17). Chắc cũng vì cá tính của Giacôbê hơi nóng nảy khi cùng với Chúa Giêsu đi vào làng Samari và dân làng không đón tiếp. Thấy vậy, Giacôbê và Gioan cùng đề nghị với Chúa rằng: ”Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?” (Lc 9, 54).
Theo sách Công vụ kể lại thì có thể Thánh Giacôbê chịu tử đạo dưới thời vua Hêrôđê Agrippa I, vào cuối thế kỷ thứ II, khỏang năm 44: ”Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gioan” (Cv 12,1-2). Đây là thời kỳ bách hại các Kitô hữu rất dữ dội, trong suốt ba thế kỷ đầu và chỉ tạm lắng xuống sau sắc chỉ Milan của hòang đế Constantianop vào năm 313. Giáo hội phương tây mừng kính Ngài từ thế kỷ thứ VIII. Các Giáo hội theo nghi lễ Copte và Byzantin thì mừng lễ Ngài sớm hơn vào một ngày gần lễ Phục sinh.
Khi xin Chúa Giêsu cho được ngồi bên hữu và bên tả của Ngài, Giacôbê đã được Chúa báo trước cuộc tử đạo mà những ai muốn theo Chúa phải đón nhận. Chén đắng cùng với mũ triều thiên vinh quang trong nước trời. Bài giảng của Thánh Gioan Kim Khẩu đã làm sáng tỏ chén đắng mà Chúa Giêsu uống, khi Người trao lại cho Thánh nhân, và Giacôbê sẵng sàng đón nhận: ”ngay từ phút đầu tiên, Người đã cháy lửa nhiệt tình, và trong sự khinh chê lạ thường các lợi lộc trần gian, Người đã tiến tới đỉnh cao đến độ tức thời bị đem đi giết”
Muốn có tinh thần phục vụ như Đức Giêsu, người ấy phải được Chúa ở cùng, cụ thể phải được hiệp thông Thánh Thể, vì chỉ có Chúa Giêsu Thánh Thể mới ban cho ta nghị lực thực thi giáo huấn Ngài dạy để làm lớn trong Nước Thiên Chúa. Ngài nói : “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,25-28 : Tin Mừng). Đức Giêsu đã sống Lời Ngài dạy để làm gương cho các môn đệ, nó cũng đã trở thành “chén đắng” làm Ngài run sợ đến toát mồ hôi máu, nên xin với Chúa Cha “cất chén ấy đi, nhưng đừng theo ý Con, một theo ý Cha” (x Lc 22,39-46).
Tông Đồ Phaolô biết mình là người yếu đuối, đầy bất xứng, nhưng nhờ ông có Chúa ở cùng, được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài (x Gl 2,20), ông lại trở nên mẫu người phục vụ như Thầy Giêsu đã dạy, ông nói với giáo đoàn Corinthô : “Chúng tôi mang sứ vụ Tông Đồ nơi mình như chứa đựng kho tàng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi. Như thế, sự chết hoạt động nơi chúng tôi, còn sự sống thì lại hoạt động nơi anh em. Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy cũng sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy với Chúa Giêsu, và đặt chúng tôi bên hữu Người cùng với anh em (đạt quyền cao chức cả). Thật vậy, tất cả những điều ấy xảy ra là vì anh em. Như thế, ân sủng càng dồi dào, thì càng có đông người hơn dâng lên Thiên Chúa muôn ngàn lời cảm tạ, để tôn vinh Người”
Đã có những phút giây Giacôbê vì yếu đuối như các tông đồ khác, như khi ngủ vùi khi Chúa Giêsu trải qua cơn hấp hối hay như việc ông trốn chạy trước cuộc khổ nạn của Thầy. Tuy nhiên, sau khi gặp gỡ Đấng phục sinh, nhất là sau ngày lễ Hiện Xuống, Giacôbê đã thực hiện lời hứa của Ngài, trở thành vị tông đồ đầu tiên lấy máu đào làm chứng đức tin và tình mến của mình vào thế kỷ II. Theo sách Công vụ kể lại thì có thể Thánh Giacôbê chịu tử đạo dưới thời vua Hêrôđê Agrippa I, vào cuối thế kỷ thứ II, khoảng năm 44: “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gioan” (Cv 12,1-2). Đây là thời kỳ bách hại các Kitô hữu rất dữ dội, trong suốt ba thế kỷ đầu và chỉ tạm lắng xuống sau sắc chỉ Milan của hòang đế Constantianop vào năm 313.
Quả thực, khi xin Chúa Giêsu cho được ngồi bên hữu và bên tả của Ngài, Giacôbê đã được Chúa báo trước cuộc tử đạo mà những ai muốn theo Chúa phải đón nhận. Chén đắng cùng với mũ triều thiên vinh quang trong nước trời. Bài giảng của Thánh Gioan Kim Khẩu đã làm sáng tỏ chén đắng mà Chúa Giêsu uống, khi Người trao lại cho thánh nhân, và Giacôbê sẵng sàng đón nhận: “Ngay từ phút đầu tiên, Người đã cháy lửa nhiệt tình, và trong sự khinh chê lạ thường các lợi lộc trần gian, Người đã tiến tới đỉnh cao đến độ tức thời bị đem đi giết”
Mỗi người chúng ta được Chúa mời gọi hãy trở nên người môn đệ đích thực của Chúa, sống theo gương của Chúa: khiêm tốn và phục vụ. Ý thức là người tông đồ truyền giáo, chúng ta sẵn sàng hy sinh phục vụ công cuộc của Giáo Hội hôm nay là ra đi Loan báo Tin Mừng cho mọi người. Dù bất cứ ở đâu, trong bất cứ môi trường sống nào, chúng ta hãy lấy tinh thần khiêm tốn như Chúa dạy để đối xử tốt với nhau, và xa tránh thái độ ích kỷ, ghen tương, đố kỵ, ghen ghét nhau.
2024
THÁI ĐỘ VỚI LỜI CHÚA
24.7 Thứ Tư trong tuần thứ Mười Sáu Mùa Quanh Năm
Gr 1:1,4-10; Tv 71:1-2,3-4,5-6,15,17; Mt 13:1-9
THÁI ĐỘ VỚI LỜI CHÚA
Bác nông phu đi ra ruộng và gieo hạt giống. Đây là một hình ảnh đẹp và quen thuộc. Bác nông phu đi với dáng bộ nghiêm trang và thận trọng, vai đeo thúng lúa. Ông thọc tay phải vào thúng, bốc hạt giống xạ xuống trên ruộng đồng theo nhịp chân bước. Người gieo giống đi gieo và đã xảy ra là có những hạt rơi trên vệ đường và chim trời đến ăn mất. Những hạt khác rơi trên sỏi đá, chúng mọc lên nhưng vì không đủ đất, cho nên bị ánh nắng mặt trời làm cho khô héo. Còn những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm cho chúng chết ngạt. Và sau cùng, những hạt khác rơi vào đất tốt, chúng sinh hoa kết quả, có hạt được 100, hạt 60, hạt 30.
Chúng ta có thể nghĩ rằng: gieo giống gì mà kỳ lạ quá vậy. Tại sao không gieo trên đất tốt, mà còn gieo cả trên vệ đường, trên đất xấu và cả vào trong bụi gai. Gieo như thế vì đó là phương pháp làm ruộng của người dân miền Palestina. Họ có cách gieo giống khác với chúng ta. Họ gieo giống trước rồi mới cày úp sau. Vì vậy, ông bạn gieo giống trong dụ ngôn, đi gieo trong ruộng chưa cày bừa chi cả.
Suốt thời gian đất nghỉ, dân làng thường đi tắt qua những thửa ruộng đã gặt hái chỉ còn lại những gốc rạ. Vậy khi gieo, ông ta đã tung hạt giống trên cả thửa ruộng, trên cả những con đường tắt này với ý định là sẽ cày cả con đường này lên, nhưng chim trời đã nhìn thấy những hạt giống đó và đã ăn mất trước khi chúng nẩy mầm. Ông cũng chủ ý gieo vào cả bụi gai khô héo vì ông cũng định cày cả đám gai này nữa. Nhưng hạt gai đã rụng xuống đất, lại được cày úp lẫn lộn với những hạt lúa, do đó gai mọc lên và làm cây lúa non chết ngạt. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy những hạt rơi trên sỏi đá. Đó là lớp sỏi đá cứng nằm ngầm dưới mặt đất, chỉ có một lớp đất mỏng phủ trên, người ta không trông thấy và chỉ khám phá ra khi lưỡi cày đụng phải. Nếu gặp lớp sỏi đá này, rễ lúa không thể đâm sâu xuống được và ánh nắng mặt trời sẽ làm cho chúng khô héo. Hình như người gieo giống không mấy lạc quan với công việc của mình. Nhưng may thay, phần lúa giống còn lại rơi trên đất tốt và đã sinh hoa kết quả tốt đẹp, hạt được 30, 60 hay 100.
Dĩ nhiên chúng ta phải nhớ rằng Chúa Giêsu đang giảng bằng dụ ngôn, và chân lý tôn giáo được núp sau hình ảnh của dụ ngôn đó. Điều này thực sự muốn nói là kết quả của lời Chúa. Lời ấy có khả năng phát triển và sinh hoa kết trái cách phi thường trong lòng người. Chính thánh Marcô đã cắt nghĩa dụ ngôn này một cách vắn tắt: Người gieo giống là chính Thiên Chúa và hạt giống là Tin Mừng, hay nói một cách khác, chính Chúa Giêsu là người gieo giống và hạt giống là những lời Ngài giảng dạy, còn tâm hồn chúng ta là những thửa đất. Thế nhưng những thửa đất ấy giờ đây như thế nào?
Nói về việc rao giảng lời Chúa, chúng ta thấy có hai thực tại đối kháng nhau. Trước hết chúng ta xác tín lời Chúa là lời hiệu nghiệm, một khi đã gieo trồng thì chắc chắn sẽ đem lại mùa xuân với hoa trái dồi dào. Đàng khác là sự chai cứng của những tâm hồn, khiến cho cuộc sống cứ chìm trong tội lỗi và mùa đông ảm đạm cứ kéo dài tưởng chừng như vô tận.
Thực vậy, giữa lòng cuộc đời ồn ào và náo nhiệt này, nhiều khi lời rao giảng chỉ là một tiếng kêu trong sa mạc và người nói chỉ thấy vọng lại chính âm điệu của mình và không có một người đáp trả. Cuộc sống hình như vẫn bước đi theo nhịp điệu riêng của nó, vẫn được lượng giá bằng cái thước đo quen thuộc của nó. Cảm giác ấy gắn liền với sự cô đơn của người rao giảng. Cô đơn vì không một ai chia sẻ nỗi thao thức với mình. Từ nỗi cô đơn ấy, người ta dễ dàng buông xuôi, chán nản và tuyệt vọng.
Thế nhưng, lời Chúa lại không cho phép chúng ta được đánh mất niềm tin. Bởi vì đánh mất niềm tin là đánh mất sứ vụ gieo rắc Tin Mừng, là đánh mất sự sống đem lại niềm vui và sự hăng say cho những bước chân truyền giáo. Đánh mất đức tin là đánh mất cả cái lý do hiện hữu của Giáo Hội trong lòng thế giới.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Figaro, Đức Hồng Y Paul Poupard, chủ tịch văn phòng đối thoại với những người không tin, đã nhìn nhận cuộc hành hương của 500.000 người trẻ về quảng trường Compostellos như biểu tượng cho nỗi khát vọng và sự tìm kiếm những giá trị tâm linh. Con người không thể sống mà lại không nhìn nhận một chiều kích tâm linh siêu việt trong đời mình. Người ta loan báo Thượng Đế đã chết, nhưng hôm nay người ta lại nhìn nhận sự hiện diện sống động của Ngài ngay giữa lòng những xã hội tục hoá hay vô tín ngưỡng. Đồng thời ĐHY cũng nhìn vào sự xuất hiện của nhiều giáo phái huyền bí hiện nay như một thách đố cho Giáo Hội. Khi những khát vọng tôn giáo hay không tìm được lời giải đáp nơi Giáo Hội thì người ta sẽ lần đến những giáo phái khác. Vì thế, sau thách đố của chủ nghĩa vô thần, là thách đố về mục vụ đối với Giáo Hội hôm nay.
Chính Công đồng Vat. II cũng đã xác quyết: Người tín hữu phải chịu trách nhiệm không nhỏ trong việc khai sinh ra chủ nghĩa vô thần. Phải nói rằng họ che giấu hơn là bày tỏ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo.
Chúng ta có thể than phiền vì người đời không đón nhận Tin Mừng. Thế nhưng trước khi than phiền, chúng ta cũng cần phải tự hỏi: Tôi đã thực sự rao giảng lời Chúa, hay mới chỉ là rao giảng những suy nghĩ, những lập trường của cá nhân tôi. Hay chỉ cố thuyết phục bằng sự khôn ngoan theo cái thước đo thiếu hụt của thế gian chứ chưa phải là những chân lý Phúc Âm ngàn đời dịu mát. Chúng ta nên nhớ sức mạnh đích thực là sức mạnh của lời Chúa chứ không phải là sức mạnh của chúng ta. Nếu không, cả những lúc xem ra thành công, thì cũng chỉ nhất thời, hời hợt mà thôi.
Đồng thời lời Chúa là lời sống động. Lời đó không phải chỉ là ngôn từ mà còn phải trở thành những hành động. Vì thế, trước khi than phiền về sự lãnh đạm của người đời đối với lời Chúa, chúng ta cần phải tự hỏi xem: Chính bản thân chúng ta đã đón nhận lời Chúa ra sao? Và lời Chúa đã phát sinh những hậu quả nào trong mảnh đất là cuộc đời chúng ta? Khi cuộc sống chúng ta đã thấm nhuần tinh thần lời Chúa, thì tự bản chất, cuộc sống ấy đã là một bằng chứng hùng hồn về hậu quả của lời Chúa và trở nên một sự rao giảng sống động, một cách tay tung gieo hạt giống Nước Trời trong lòng trần thế.
Lời Chúa nơi chúng ta không phải là những hạt giống rơi trên vệ đường, rơi giữa bụi gai hay ở trên sỏi đá. Nhưng lời đó phải được thâm nhập vào tận đáy lòng chúng ta để rồi sinh hoa kết trái một cách tốt đẹp. Lời Chúa luôn có một sức sống làm nẩy sinh hoa trái, nhưng lời ấy có thực sự đem lại kết quả tốt cho tâm hồn chúng ta hay không, thì còn tuỳ thái độ đón nhận và cộng tác của chúng ta đối với lời Chúa.
2024
Thực Hành Lời Chúa
23.7 Thứ Ba trong tuần thứ Mười Sáu Mùa Quanh Năm
St 7:14-15,18-20; Tv 85:2-4,5-6,7-8; Mt 12:46-50
Thực Hành Lời Chúa
Mỗi tác giả Tin Mừng đều có một lối giải thích về thái độ của Chúa Giêsu đối với gia đình của Ngài, và sự khẳng định về tình liên đới của Ngài đối với gia đình thiêng liêng gồm những ai thực thi ý Chúa. Ðối với thánh Marcô, thái độ của Chúa Giêsu được tỏ ra sau khi Chúa chọn Nhóm Mười Hai. Trong Nhóm Mười Hai đã có một cuộc tranh cãi sôi nổi về chuyện ai sẽ được ngồi bên tả hay bên hữu Chúa Giêsu; những người có họ hàng với Ngài dĩ nhiên nuôi nhiều hy vọng hơn. Chính trong bối cảnh đó, Chúa Giêsu khẳng định trong Nước Ngài, quan hệ máu mủ ruột thịt không quan trọng bằng niềm tin; gần gũi với Ngài không đương nhiên là bà con ruột thịt, mà chính là những ai thực thi ý Chúa.
Trong Tin Mừng Luca, thì thái độ của Chúa Giêsu đối với gia đình ruột thịt của Ngài được ghi lại như một kết luận của toàn bộ những lời giảng dạy của Ngài về Nước Chúa, cũng như những điều kiện để thuộc về Nước Chúa. Như vậy, đối với Luca, chỉ có việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa mới thực sự làm cho con người được đi vào quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu.
Ðoạn Tin Mừng hôm nay là phần kết luận của trình thuật về cuộc chiến đấu giữa thần khí Chúa và thần khí ma quỉ. Ma quỉ vốn làm cho con người ra câm điếc đối với Lời Chúa; do đó, như người câm được Chúa Giêsu chữa lành, con người cũng cần phải được tháo cởi khỏi xiềng xích của ma quỉ mới có thể lắng nghe được Lời Chúa và thần khí của Ngài. Ðức Maria chính là mẫu mực của con người không hề bị giam hãm trong xiềng xích của ma quỉ. Mẹ luôn luôn lắng nghe và đáp trả Lời Chúa. Chính vì lắng nghe Lời Chúa mà Mẹ đã cưu mang Con Chúa; nơi Mẹ, quan hệ máu mủ ruột thịt với Chúa Giêsu được xây dựng trên chính thái độ lắng nghe Lời Chúa; Mẹ chỉ là Mẹ Chúa Giêsu, bởi vị Mẹ đã lắng nghe Lời Chúa.
Thánh Giacôbê so sánh Thánh Kinh như một cái gương. Khi chúng ta đọc Lời Chúa, hoặc khi chúng ta nghe Lời Chúa được công bố trong Thánh Lễ, chúng ta thường nhìn thấy chính chúng ta trong những câu chuyện và những giáo huấn mà Thánh Kinh chứa đựng. Thánh Kinh giúp chúng ta “phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người”, cả những tư tưởng tốt cũng như tư tưởng không tốt (Hr 4,12). Thánh Kinh có thể vạch trần sự kiêu hãnh của chúng ta, chạm trán với sự căm phẫn của chúng ta, hoặc phơi bày sự dối trá, tính tham lam hoặc ghen tương của chúng ta. Nhưng đồng thời, Thánh Kinh cũng bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa đã sáng tạo chúng ta theo hình ảnh của Người. Nó thuyết phục chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và rằng ân sủng của Người không chỉ đủ mà con dư tràn để biến đổi chúng ta.
Không quan trọng biết bao ân sủng Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhưng thánh Giacôbê nói rằng chỉ nghe Lời Thiên Chúa thôi thì không đủ – không phải nếu chúng ta muốn nhìn thấy bất cứ sự thay đổi ý nghĩa nào trong những lĩnh vực tội lỗi của cuộc sống chúng ta. Tương tự, chỉ nghe Lời của Thiên Chúa thôi sẽ không dẫn đến sự lớn lên trong ân sủng và trong các nhân đức của chúng ta. Chúng ta phải vừa là “người lắng nghe” vừa là “người thực hành” Lời Thiên Chúa (Gc 1,22).
Thánh Giacôbê cho chúng ta một hình ảnh tuyệt vời để giúp chúng ta thực hành điểm này: người lắng nghe mà không thực hành Lời Thiên Chúa “thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi và quên ngay không nhớ mặt mình thế nào” (Gc 1,23-24). Ở đây thánh Giacôbê không đang nói về trí nhớ kém. Thánh nhân đang nói về những ưu tiên nghèo nàn. Người ta “quên” Thánh Kinh bởi vì họ đã đặt những mối ưu tiên khác trước cả việc đi theo Chúa.
Lời Thiên Chúa có sức mạnh để giúp chúng ta – nhưng mức độ tùy theo sự cộng tác của chúng ta với Lời ấy. Vì thế hãy chắc chắn đọc Thánh Kinh mỗi ngày. Nhưng cũng hãy chắc chắn để quyết tâm một bước hành động mà bạn có thể thực hiện dựa trên những gì bạn đã đọc. Rồi, bạn hãy dâng ngày sống của bạn để nhận lấy một bước khác bất cứ khi na có cơ hội. Hãy để cho Lời Chúa giúp bạn nói không với tội lỗi và thưa vâng với Thiên Chúa hôm nay. Nếu bạn thực hành, bạn sẽ được “chúc lành” ngoài sự mong đợi của bạn (Gc 1,25)!
Chúa Giêsu đã đề cao thái độ của Mẹ Maria, để từ đó nói lên mối giây liên kết đích thực trong gia đình Giáo Hội mà Ngài sẽ thiết lập. Hầu hết các tôn giáo đều dựa trên gia đình như là cộng đoàn nền tảng nhất. Truyền thống khôn ngoan và luật Do Thái luôn đề cao tầm quan trọng của gia đình. Chúa Giêsu xem ra đã làm một cuộc cách mạng táo bạo khi xây dựng tôn giáo của Ngài, không dựa trên mạng lưới những quan hệ gia đình, mà trên nền tảng của sự tự do. Trong gia đình Giáo Hội, con người trở nên thân thiết với nhau, không nhất thiết nhờ máu mủ ruột thịt, mà do chính niềm tin.
Dĩ nhiên, gia đình tự nhiên vốn là nơi con người đón nhận và nuôi dưỡng đời sống đức tin; gia đình là trường học đầu tiên về cung cách làm người cũng như sự trưởng thành trong đức tin. Chúa Giêsu không bao giờ chối bỏ vai trò ấy của gia đình. Cộng đoàn xã hội, nhất là xã hội gia đình là môi trường cần thiết giúp con người đón nhận và phát huy đức tin.
Khi đề cao thái độ lắng nghe và thực thi Lời Chúa của Ðức Maria, Chúa Giêsu muốn chúng ta thấy rằng đức tin là sự gặp gỡ cá biệt giữa con người với Thiên Chúa, đó là cuộc gặp gỡ của mỗi người mà không ai có thể thay thế được. Càng sống Lời Chúa, càng đi sâu vào sự thân tình với Chúa, con người càng nhận ra tương quan của mình với tha nhân. Hai giới răn mến Chúa và yêu người gắn liền mật thiết với nhau là thế đó: người yêu mến Chúa một cách nồng nàn không thể không yêu thương người anh em của mình, trái lại, lòng bác ái đối với tha nhân cũng không thể không làm cho con người thêm gần gũi với Chúa hơn.
2024
Giêsu : Người lòng tôi yêu dấu
22.7 Thánh Maria Mađalêna
St 6:1-4,6-8; Tv 50:5-6,8-9,16-17,21,23; Mt 12:38-42
Giêsu : Người lòng tôi yêu dấu
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh nữ Maria Mađalêna. Sứ điệp Lời Chúa trong ngày lễ kính nhớ thánh nữ cho chúng ta nhiều góc nhìn.
Tuy nhiên, từ sách Diễm Ca trong bài đọc một như mở ra cho chúng ta một hướng nhìn để cùng cảm nhận với chị thánh, khi viết “Suốt đêm trường tôi tìm người lòng tôi yêu dấu …. Các anh có thấy chăng người lòng tôi yêu dấu ?” (Dc 3:1-4)
Câu này trong sách Diễm Ca đã có thể diễn tả nỗi niềm khắc khoải của Maria Mađalêna. Chị đã khắc khỏai đi tìm Ngài, Đấng đã đi tìm chị và phục hồi cho chị tất cả những gì là cao quý nhất trong phẩm giá của một con người. Cuôc đời của chị sẽ chỉ trở nên trọn vẹn khi có Ngài. Đấng ấy, Đấng mà chị đang khắc khoải kiếm tìm, đã bị chôn vùi trong nấm mộ như chị đã biết. Nhưng tình yêu đã không ngăn được người phụ nữ chân yếu tay mềm kia lên đường tìm kiếm Ngài, với khát mong là được nhìn thấy Ngài, cho dẫu là một thân xác đã bị chôn vùi trong mộ. “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây…” (Mc 16:3).
Vâng, dẫu biết Chúa đã được mai táng trong mồ, dẫu biết Chúa đã chết thật, và dẫu biết rằng tảng đá lấp cửa mồ quá to, nhưng Maria vẫn đến. Cái khắc khoải tìm “người lòng tôi yêu dấu” đã đưa Maria lên đường đi tìm Ngài.
Niềm khát mong đó, cộng với nỗi đau đớn sầu buồn mà Maria và các môn đệ Chúa vừa trải qua, đã làm cho chị không còn đủ tỉnh táo để nhận ra Chúa nữa. Dòng lệ sầu buồn đã làm nhòa đi tất cả. Ánh mắt Maria đã chỉ còn chăm chú nhìn vào trong mộ, nơi đã đặt xác Chúa. Có chăng những sầu muộn buồn phiền, khiến mỗi chúng ta cũng giống như Maria đã không còn đủ tỉnh táo để nhận ra tiếng Chúa, nhận ra sự hiện diện của Chúa trong những khó khăn mà thế giới chúng ta đang phải đối mặt, giữa lúc dịch bệnh vẫn đang hoành hành? Như chính Chúa đã hỏi Maria: “Này bà, sao bà khóc, bà tìm ai?” (Ga 20,15). Dòng lệ nhoà giữa nỗi buồn nặng trĩu trong lòng đã khiến cho Maria thật không còn nhận ra Đấng bà đang tìm kiếm nữa.
Tuy buồn là thế, xong lại có một điều khiến cho Đấng Phục Sinh cũng như tất cả những ai, khi nghe câu nói này của Maria Mađalêna, đều phải rung động trước tình yêu bà dành cho Chúa. “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” (Ga 20:15). Trong cái giờ phút mà Maria đang khắc khoải tìm “Người lòng ‘mình’ yêu dấu” đó, thì tại sao bà không hỏi rõ với “người làm vườn” rằng: “thưa ông, nếu ông đã đem Chúa Giêsu của tôi đi….” mà chỉ đơn giản xưng bằng đại từ “Người” xem ra rất chung như thế. Đó chính là vì, đối với Maria thì Đức Giêsu đã trở nên thân thương đến mức tràn ngập tâm hồn, đến mức mà bà nghĩ rằng chỉ cần hỏi về “Người” thôi, thì ai cũng biết, ai cũng hiểu, như chính bà hiểu, cảm và biết về Người.
Thế đó, tâm hồn Maria tràn đầy lòng mến cho Chúa Giêsu, thế giới trong bà là Chúa Giêsu. Cảm nhận của bà là cảm nhận Giêsu, nó sống động và tràn đầy đến mức như điều mà nhà thơ Tagore đã mong ước: “Chỉ mong tôi thôi chẳng còn chi, cho tôi gọi Người: là tất cả của tôi. Chỉ mong tôi thôi chẳng còn chi, để cảm thấy Người ở mọi chốn mọi nơi. Đến với Người trong mọi thứ mọi điều, và sẵn sàng dâng hiến, dâng trọn tình tôi.” (Thơ Tagore).
Vâng đối với Maria thì niềm mong ước đó đã một lần là hiện thực, đã một lần có Thầy Giêsu trọn vẹn là lẽ sống, là tình yêu và “là tất cả”. Và dĩ nhiên, Maria cũng nghĩ “Người”, Đấng bao trùm toàn bộ tâm hồn và cuộc đời bà, Đấng ấy, khi chỉ cần xưng “Người” thôi, ai cũng biết bà đang muốn nói về ai.
Vâng, nhờ cảm nhận tình yêu đó, bà xứng đáng được chính Đấng Phục Sinh, “Người giữ vườn” mà bà đang hỏi đó, gọi đích danh “Maria” với tất cả sự trìu mến. Thế giới trong Maria vụt sống lại, như trước đây đã một lần sống lại từ bùn đen tội lỗi và sự chết. Dòng lệ nhòa đôi mắt kia giờ đã được lau khô. Thay vào đó là một tình yêu chữa lành, một tình yêu biến đổi. Biến đổi bóng tối thành ánh sáng, gian dối nên sự thật, hận thù thành yêu thương, và sự chết thành sự sống. Tình yêu đó có tên gọi là Giêsu – “Người lòng tôi yêu dấu.”
Maria Mađalêna là mẫu gương cho chúng ta, mẫu gương với tình yêu nồng nhiệt đi tìm Chúa, một tình yêu luôn thao thức muốn được sống gần bên Chúa. Và vì thế mà sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Maria vội vàng lên đường đi tìm Chúa. Ðây là quan tâm đầu tiên, quan tâm có ưu tiên trong cuộc sống của Maria, và khi chưa tìm được đối tượng là Chúa Giêsu trong ngôi mộ đã an táng Chúa, Maria đứng ngoài và khóc.
Chúa Giêsu phục sinh đã không để cho Maria gặp thử thách lâu. Chúa đến với Maria và gọi đích danh bà, rồi biến đổi cuộc đời từ bên trong để sai bà đi làm người chứng đầu tiên cho Ðấng phục sinh nơi các môn đệ Chúa. Trong biến cố được ghi lại trong đoạn Phúc Âm chúng ta vừa đọc lại trên đây, chúng ta thấy rằng để gặp được Chúa Giêsu, những cố gắng riêng của con người không mà thôi thì chưa đủ. Chính Chúa Giêsu phục sinh là người đi bước đầu, Chúa hiện ra và gọi: Maria. Chúa đáp lại thiện ý và cố gắng của Maria. Chúa luôn làm như vậy với tất cả những ai thành tâm tìm Chúa.
Hôm nay mừng lễ Thánh Nữ, chúng ta hãy hợp nhau cùng thánh nữ Maria Mađalêna, dõi tìm Đấng lòng ta yêu dấu. Hãy thổn thức với Người yêu dấu, trong nguyện cầu, tâm tư ước vọng của chúng ta. Để như xưa ngài đã phục sinh thánh nữ Maria Mađalêna, xin Ngài cũng ban cho chúng ta mỗi người sức sống mới. Để hồn an xác mạnh, chúng ta mỗi người cùng với thánh nữ Maria Mađalêna có đủ sức thưa lên: Rapbuni – Lạy Thầy; và một lần nữa chúng ta lại cảm nhận: “cho tôi gọi Người là tất cả của tôi.” Amen.
