2021
CỦA CẢI VÀ SỨC HÚT
17 10 X Thứ Ba Tuần XX Thường Niên.
Tl 6,11-24a; Mt 19,23-30.
CỦA CẢI VÀ SỨC HÚT
Sau câu chuyện người thanh niên buồn rầu bỏ đi, Chúa Giêsu tiếp tục nói chuyện với các môn đệ. Ngài phán: “Người giàu khó mà vào Nước trời”. Câu tuyên bố này làm các môn đệ hết sức bỡ ngỡ nên đã nói: “Vậy thì ai mới có thể được cứu độ ?” Nhưng Chúa Giêsu an ủi: “Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được”.
Sau đó Chúa hứa phần thưởng cho các môn đệ đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài: họ sẽ được gấp trăm và được sự sống đời đời. Nên lưu ý: người thanh niên giàu có cũng muốn được sự sống đời đời, nhưng vì anh không chịu từ bỏ, nên Chúa không hứa gì với anh. Bây giờ các môn đệ đã từ bỏ mọi sự, nên Chúa hứa ban cho họ sự sống đời đời.
Của cải có sức thu hút và mê hoặc lòng người, bởi vì dường như nó có thể đáp ứng mọi nhu cầu và đời sống hưởng thụ của con người. Chẳng vậy mà người đời có câu: “có tiền mua tiên cũng được”, hay “tiền là tiên là phật…” Người có nhiều tiền của được gọi là người giàu.
Theo quan niệm của người Do-thái cũng như quan niệm của nhiều người thì đó là những người được phúc. Thế nhưng, lời của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay gây sốc không những cho người nghe lúc bấy giờ (các môn đệ vô cùng sửng sốt) mà gây sốc cho rất nhiều người trong mọi thời đại: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa” (c. 24). Đồng thời ngược lại, Chúa lại hứa ban thưởng gấp trăm cả đời này lẫn đời sau cho những ai từ bỏ mọi sự mà theo Người.
Có mâu thuẫn không giữa những điều Chúa nói? Chẳng phải nếu Chúa ban cho họ gấp bội ở đời này thì họ lại trở thành người giàu hay sao, và khi ấy phải chăng họ lại trở thành những kẻ khó vào nước trời? Thực ra, mấu chốt của vấn đề là tinh thần từ bỏ; người có tinh thần từ bỏ không bị ràng buộc bởi của cải, hay nói khác đi, họ không bị của cải vật chất cản trở bước đường làm người môn đệ, nhưng biết dùng nó như phương tiện Chúa ban để sống theo ý Chúa. Vì thế, họ có thể là người rất giàu có về của cải nhưng luôn coi nó là hồng ân, là quà tặng của Thiên Chúa ban mà sống trong tinh thần tri ân, cảm tạ và luôn sẵn sàng chia sẻ, cho đi không tính toán.
Đã hẳn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải sống nghèo nàn mạt rệp. Vì cái nghèo cho thấy sự tồn tại của điều ác. Nó chỉ cho chúng ta biết xã hội, môi trường chúng ta sống vẫn còn đó sự bành chướng của ích kỷ; vẫn còn đó những con người không biết chia sẻ, chỉ biết vun đắp cho chính mình, thiếu vắng tinh thần quảng đại sẵn sàng cho đi của một tình yêu vị tha.
Hơn nữa, sự nghèo túng, bần hàn, khốn cùng như ‘sự dữ hiện hình’ làm cho con người không còn nhân phẩm, sống không ra người và đó không phải là điều Thiên Chúa muốn; vì khi tạo dựng vũ trụ, con người, chẳng phải Thiên Chúa đã chúc phúc và ra lệnh cho nó sinh sôi và phát triển phong phú hay sao? Và Thiên Chúa – Chúa Giêsu Ki-tô khi đến cứu độ trần gian Ngài đã đến với thân phận nghèo hèn khốn cùng của con người là để cứu vớt, nâng họ lên khỏi vực sâu của bần cùng tội lỗi cho họ trở nên ‘giàu có’ vì được làm con Thiên Chúa.
Tuy nhiên, sự giàu có lại khiến con người dễ xa rời Thiên Chúa bởi mê lầm, tự mãn. Mê lầm vì nghĩ rằng của cải là cứu cánh có thể thỏa mãn tất cả, đem lại sung sướng và hạnh phúc – tiền có thể làm cho họ đạt được danh vọng, vinh quang và mọi thú vui ở đời – bởi thế mà ‘có tiền mua tiên cũng được’; và cũng từ đó dẫn đến tự mãn không cần Thiên Chúa, và tồi tệ hơn nữa là họ có thể quay lưng lại với Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa, bất chấp mọi thủ đoạn để có thể đạt được những ước muốn bất chính của mình. Vì vậy mà Chúa Giêsu nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ… các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của được” (Lc 16,13). Vì tiền của có thể là một tên đầy tớ tốt, hữu dụng, nhưng ngược lại nó sẽ là ông chủ xấu xa, độc ác.
Cuối bài Tin mừng, chúng ta thấy một câu có vẻ không ăn nhập gì lắm, nhưng thực ra là một ý hướng chủ đạo dẫn dắt bản văn: “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.” (c. 30) Những kẻ ‘đứng chót’ ở đây – Chúa Giêsu muốn nói đến những con người ‘nghèo’ của Tin mừng – những người sống khiêm tốn, chỉ biết cậy dựa vào Thiên Chúa chứ không cậy dựa vào thế lực của giàu sang vinh hoa phú quí; họ là những kẻ được Thiên Chúa yêu thương, bênh vực và là những ‘người lớn’ trong nước trời (Lời kinh Magnificat).
Bởi vì họ lấy Chúa là sức mạnh, là gia nghiệp của đời mình. Họ là những người khôn ngoan biết tích lũy kho tàng trên trời nơi mối mọt không thể đục khoét hơn là tìm kiếm của cải phù vân (Lc 12,33); họ hiểu ý nghĩa và vị trí của tiền của, biến nó thành phương tiện để thi hành ý Chúa chứ không coi nó là mục đích của cuộc đời. Vì thế, họ là những người được Thiên Chúa chúc phúc và nước trời sẽ là phần thưởng của họ. (c. 28. 29)
Như đã nói: Tiền của có sức hút và mê hoặc con người – ‘Đồng tiền đi liền khúc ruột’ – do đó, để có thể làm chủ được nó, con người không được khinh suất, nhưng rất cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa. Bởi thế mà Đức Giê-su đã nói: “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (c. 26) Với sự hướng dẫn và ơn Chúa ban, con người sẽ biết cách sử dụng tiền của để mưu cầu lợi ích cho mình và cho tha nhân, giúp phát triển xã hội ngày càng tươi đẹp, lành mạnh và phong phú.
Trong tương quan với cuộc sống, tiền của luôn là phương tiện cho cuộc sống, nhưng nếu để của cải chi phối nó trở nên mục đích và cứu cánh, trở thành chủ chi phối cuộc sống của mình và mình trở thành nô lệ chúng, Chúa Giêsu cảnh báo: “Không được làm tôi hai chủ…” (Mt 6,24; Lc 16,13).
Xin đừng để tiền bạc làm mờ tối tâm hồn chúng con, cho chúng con biết dùng của cải mà mua nước Trời. Chúng con chỉ tùy thuộc vào Chúa…
2021
TỪ BỎ
16 09 X Thứ Hai Tuần XX Thường Niên.
(Tr) Thánh Stê-pha-nô Hungary.
Tl 2,11-19; Mt 19,16-22.
TỪ BỎ
Người Hung, gốc từ Á Châu, đã tiến vào lập cư trên bờ sông Danuble. Họ sống bằng chiến tranh cướp bóc, và dữ tợn như thú hoang. Vào đầu thiên niên kỷ này, Geysa, con cháu dòng Attila cai trị họ.
Hầu tước Geysa cưới Sarolta, một thiếu nữ công giáo và dưới ảnh hưởng của nàng, ông đã trở lại đạo công giáo. Nữ hầu tước rất nhiệt thành với đạo. Tương truyền rằng thánh Stêphanô đã báo cho bà biết rằng người con bà trông đợi sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và sẽ tiêu diệt ngẫu tượng trong xứ.
Vì lòng sùng kính thánh tử đạo, bà thêm tên Stêphanô vào sau tên Vaik của con trẻ. Mười năm sau, Geysa xin thánh Ađalbert rửa tội cho con trẻ và mời các nhà truyền giáo đến. Stêphanô được trao cho các nhà thông thái và thánh thiện giáo dục. 15 tuổi Ngài đã chia sẻ với cha trách nhiệm trị nước và 22 tuổi Ngài kế nghiệp cha sau khi ông qua đời.
Lên cầm quyền chính, thánh Stêphanô tìm thỏa hiệp với các lân bang và hiến thân cải hóa toàn dân. Nhưng các lãnh Chúa theo ngẫu tượng bất mãn vì việc phóng thích nô lệ đã coi dân Hungari là dân phản loạn. Stêphanô chuẩn bị chiến tranh bằng lời cầu nguyện và sám hối cùng thi hành việc bố thí. Trên kỳ hiệu dẫn đầu binh đội, Ngài trưng hình thánh giá Martinô và Grêriô. Thắng trận Ngài cho xây tại chỗ là Vesprem một tu viện kính thánh Martinô.
Để chinh phục các thần dân cứng cỏi Ngài chạy đến các tu sĩ Cluny. Từ các tu viện, chính các tu sĩ mở mang văn hóa cho xứ sở do các trường học cạnh tu viện. Thánh Stêphanô còn đề ra một chương trình ngoạn mục, Ngài sai sứ giả sang triều yết Đức giáo hoàng Sylvester III, xin nhận Hungari vào số các quốc gia Kitô giáo và phong vương cho Ngài. Đức giáo hoàng gởi cho Ngài một triều thiên và một thánh giá vàng, ban cho Ngài đặc ân dành cho các tông đồ. Thánh Stêphanô được công nhận là vua và tông đồ. Thánh Astrik đã phong vương cho vua năm 1001.
Một thời gian sau Ngài đã hoàn thành được 10 giáo phận với một tòa tổng giám mục tại Esztergem. Rất có lòng tôn sùng Đức Mẹ, Ngài xây một thánh đường nguy nga kính Mẹ tại Székes-Féhéwaz.
Lòng bác ái của thánh Stêphanô còn vượt ra ngoài biên giới Hungari. Ngài thiết lập nhiều nhà thương và tu viện ở Roma, Constantinople và Giêrusalem, cũng như các nhà cho khách hành hương Hungary. Trong lãnh thổ mình, Ngài ra các sắc luật chống lại tội ác và lộng ngôn. Rất nghiêm khắc với những người lỗi luật Chúa, Ngài lại rất nhân hậu đối với những bất công Ngài lãnh chịu.
Ngài ân cần săn sóc các người nghèo khổ, để hiểu rõ thực trạng, Ngài hay tàng hình đi tìm kiếm họ. Một lần bọn ăn xin xô tới hành hạ Ngài và cướp của. Tiếng đồn vang xa. Các lãnh chúa cười nhạo Ngài, nhưng Ngài càng hiến thân cho người cùng khốn nhiều hơn nữa. Người ta nói rằng: Ngài được ơn chữa bệnh và nói tiên tri. Đêm kia có tiếng bên trong giục Ngài sai người tới tin cho dân vùng biên giới rút lui khỏi làng mạc của họ để khỏi bị tấn công. Sự việc xảy tới, vì được báo trước kịp thời, dân chúng được cứu thoát.
Conrad, tấn vương Germany muốn xâm chiếm Hungary với một đội quân hùng hậu. Stêphanô truyền cho binh lính ăn chay cầu nguyện. Binh đoàn của Conrad bị lạc giữa rừng cây, đầm lầy sông lạch, không thể tiếp tế được mà phải lui binh. Stêphanô toàn thắng mà không phải chiến đấu. Thánh vương ao ước thanh bình, đã phải chiến đấu nhiều để bảo vệ thần dân. Ngài chiến đấu ở Balan, cùng Balkan. Dầu chiến thắng Ngài không ngừng cầu nguyện cho dân khỏi thảm hoạ chiến tranh. Thắng được hoàng tử Transyvania, Ngài thả tự do cho ông và chỉ đòi điều kiện là ông cho phép các nhà truyền giáo đến xứ ông. Sự Thánh thiện của Stêphanô đã khuất phục được tất cả thủ địch lẫn những người thán phục Ngài.
Các thử thách lớn lao hoàn tất việc thánh hóa nhà vua. Ngài đã lập gia đình với nữ công tước Gisèle, con gái vua Henry II, bá tước miền Bavière. Hoàng hậu Gisèle là người đạo đức đã giúp vua Stêphanô rất nhiều. Nhưng chẳng may con cái họ đều qua đời lúc tuổi còn xanh. Còn một mình hoàng tử Emeric sẽ kế nghiệp cha nhưng lại tử nạn trong một tai nạn lúc đi săn. Thánh Stêphanô vượt cùng mọi đau đớn bằng cách nhiệt tâm với bổn phận. Ngài đã chịu bệnh trong một thời gian dài, lại còn bị ghen tương ám hại. Theo một tường thuật, các lãnh Chúa giận dữ và sự công thẳng của Ngài đã tìm cách sát hại Ngài. Kẻ sát nhân lận dao trong áo lẻn vào phòng Ngài. Nhưng khi vừa thấy Ngài hắn bỗng hối hận và tự thú ý định tội ác của mình. Vua chỉ nói: hãy giải hòa với Chúa và đừng sợ bị tôi trả thù.
Ngày lễ Mông Triệu 15 tháng 8, thánh Stêphanô qua đời và được mai táng trong đền thờ Đức Bà ở Székes-Féhéwaz
Giữa một “rừng luật” tỉ mỉ của Do Thái, người thanh niên muốn Đức Giêsu nhấn mạnh đến điều răn nào cụ thể nhất. Đức Giêsu kể ra một số điều luật căn bản như: không được giết người, không được ngoại tình, không được trộm cắp, không được làm chứng gian. Phải thờ cha kính mẹ và phải yêu đồng loại như chính mình. Sau khi nghe Chúa Giêsu kể ra những điều luật quan trọng nhất, người thanh niên tỏ ra là người “ngoan đạo” vì anh đã giữ tất cả những điều luật ấy. Cuối cùng Đức Giêsu đề nghị một điều đụng chạm mạnh mẽ đến tham vọng thâm sâu nhất của người thanh niên đó là bán tất cả của cải anh có để chia cho người nghèo thì sẽ có một kho tàng ở trên trời. Câu chuyện có một kết thúc đáng buồn, đó là cảnh người thanh niên bỏ đi chỉ vì anh ta có quá nhiều của cải.
Thái độ của người thanh niên cho thấy, của cải như một thứ keo dính đeo bám vào con người khiến họ không thể rời xa được “đồng tiền đi liền khúc ruột” là thế. Của cải tự nó không có gì là xấu, nhưng vì con người bị mê hoặc và tôn thờ nó như một thứ thần thánh, nó có sức lôi cuốn mãnh liệt, là vật cản vô hình khiến người ta không đến được với sự sống đời đời. Của cải có sức trói buộc khiến người ta mất ăn mất ngủ, mất cả mạng sống và linh hồn.
Có câu chuyện kể về hai người hàng xóm nọ sống rất thân thiết với nhau. Một người là nông dân nghèo, còn người kia là một thương gia giàu có. Người nông dân mặc dù nghèo nhưng có cuộc sống bình yên và hạnh phúc. Mỗi tối, anh ngủ rất ngon và chẳng bao giờ quan tâm tới việc đóng cửa nhà.
Trái lại, người thương gia giàu có thường sống trong trạng thái lo lắng. Mỗi tối, anh luôn chú ý khóa cửa cẩn thận. Anh ngủ không ngon vì sợ kẻ trộm phá cửa vào nhà và lấy hết hũ vàng bạc châu báu. Người giàu có thường hay ghen tị với cuộc sống yên bình của người nông dân. Một hôm, người thương gia gọi người nông dân tới tặng cho anh một chiếc hộp đầy tiền và nói: – Hỡi bạn thân mến, gia tài của tôi rất nhiều trong khi bạn lại đang túng thiếu. Bạn hãy cầm lấy hộp tiền này mà hưởng thụ và sống sung túc. Người nông dân nhận hộp tiền và vui mừng hạnh phúc suốt ngày hôm đó.
Khi màn đêm buông xuống, anh đi ngủ như thường nhưng không tài nào chợp mắt được. Anh trở dậy đóng tất cả các cửa sổ và cửa ra vào mà vẫn không ngủ được. Cả một đêm dài anh canh thức để ý tới hộp tiền của mình.
Qua nhiều đêm như thế, người nông dân quyết định đem hộp tiền tới trả cho người hàng xóm giàu có và nói: – Bạn thân của tôi, quả thật tôi rất nghèo, nhưng tiền của bạn không mang lại cho tôi sự bình yên. Hãy thông cảm cho tôi và nhận lại hộp tiền của bạn.
Câu chuyện về hộp tiền của hai người đàn ông trên đã cho chúng ta một suy nghĩ: Tiền bạc có một giá trị nhất định nhưng không phải là cứu cánh của cuộc đời. Cách chọn lựa của người nông dân thật khôn ngoan, anh đã từ bỏ hộp tiền để có được cuộc sống bình yên. Quả thật, tiền bạc có thể mua được chiếc giường ấm êm nhưng không mua được giấc ngủ ngon. Tiền có thể mua được địa vị, sự nổi tiếng nhưng không mua được lòng kính trọng. Tâm trạng của người nông dân phần nào giống với câu chuyện Người thanh niên giàu có trong Tin Mừng hôm nay. Là một người nhiều tiền, trẻ trung và có địa vị trong xã hội, người thanh niên còn là người mẫu mực, chu toàn mọi lề luật, biết lo xa và mong muốn có cuộc sống hạnh phúc đời sau.
Đôi lúc chúng ta cũng có thái độ giống người thanh niên quyến luyến và nô lệ cho tiền bạc mà từ chối kho tàng Nước Trời. Sống trong một xã hội đề cao sự hưởng thụ, con người bị cuốn hút vào cơn lốc của tiền bạc. Mọi người tranh thủ làm giàu, điên cuồng hưởng thụ nhanh chóng và cũng gánh chịu nhiều nỗi thất vọng ê chề. Trước thái độ ấy, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sử dụng tiền bạc cho đúng mục đích, hãy ưu tiên cho việc tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời.
Niềm tin kitô giáo dạy chúng ta rằng: tất cả những gì chúng ta đang có như tiền bạc, thời gian, tài năng và ngay cả tội lỗi đều do ân sủng Thiên Chúa ban. Người là Đấng quảng đại hào phóng đã ban cho chúng ta đấu đủ lượng đã dằn đã lắc. Những ân huệ Thiên Chúa ban để chúng ta sử dụng và mưu ích cho người khác. Khi đi theo Chúa trên con đường trọn lành, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ dứt khoát, từ bỏ mọi sự quyến luyến của tiền bạc và sống nghèo khó theo tinh thần Tin Mừng.
Một khi đã trút bỏ hết sự bảo đảm vật chất thế gian, chúng ta mới phó thác trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa. Thánh tiến sĩ Augustinô là người đã cảm nghiệm sâu sắc về sự giàu sang và khôn ngoan của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào. Thánh nhân nói: “Ai có nhiều của cải mà không có ơn nghĩa Chúa, ấy là kẻ nghèo nhất. Ai trở nên bần cùng mà có ơn nghĩa Chúa, người ấy có tất cả mọi sự”. Như vậy dù có nhiều tiền mà không có Thiên Chúa, chúng ta vẫn là kẻ tay trắng. Trái lại, khi sống tâm tình của trẻ thơ tin tưởng vào Thiên Chúa, chúng ta sẽ có Thiên Chúa là gia nghiệp. Muốn được hưởng hạnh phúc dài lâu trong Nước Trời, chúng ta phải tuân giữ các điều răn của Chúa và sống siêu thoát với của cải vật chất. Sống tinh thần nghèo khó, chúng ta thoát được sự lo lắng ở đời và thảnh thơi lo việc phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.
Có hai điều kiện để đạt đến sự sống đời đời là tuân giữ những lời Chúa dạy và từ bỏ mọi của cải vật chất trần gian. Thực hiện được hai điều kiện này quả là điều khó vì chúng ta còn mang thân phận yếu đuối. Chúng ta không đủ khiêm tốn và tin tưởng để trao phó cuộc đời cho Thiên Chúa lo liệu nên chỉ lo tìm sự bảo đảm nơi tiền bạc vật chất.
2021
CHÚA YÊU TRẺ THƠ
14 07 Đ Thứ Bảy Tuần XIX Thường Niên.
Thánh Mac-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê [Maximilian Kolbe], Linh mục, Tử đạo, lễ nhớ.
Gs 24,14-29; Mt 19,13-15.
(Tr) Chiều: Lễ Vọng RẤT THÁNH TRINH NỮ MA-RI-A HỒN XÁC LÊN TRỜI, lễ trọng.
1Sb 15,3-4.15-16;16,1-2; 1Cr 15,54b-57; Lc 11,27-28.
CHÚA YÊU TRẺ THƠ
Cuộc đời của một con người được đánh giá bằng những việc tốt đẹp mình đã làm, đã để lại cho hậu thế. Chết là hết theo quan niệm của con người. Nhưng người xưa đã để lại một câu chí lý: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”. Xem ra cái da của cọp có giá trị kinh tế cao, tiếng tăm của con người lại còn có giá trị hơn nữa Con người được đánh giá bằng những công việc thiện,công việc tốt họ đã làm.
Thánh Mác-xi-mi-li-a-nô Konbê cũng không khỏi định luật ngàn đời ấy. Ðời của Ngài trải qua nhiều thăng trầm, nhưng cũng để lại bằng chứng anh hùng khiến bao người ca ngợi .Thánh nhân đã biến cuộc đời mình hòa tan cho tha nhân, đã gắn kết đời mình với thập giá Chúa Kitô. Một cuộc đời , một con người.
Cuộc đời của thánh nhân liên kết chặt chẽ với sự khổ nạn của Chúa Giêsu. Nếu, chặng đường khổ nạn dẫn Chúa Giêsu lên ngọn đồi Can-vê để lãnh nhận cái chết trên thập giá :” ơn cứu độ chứa chan nơi Người ” ”Khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”. Chúa Giêsu đã qui tụ và cứu độ muôn người. Thánh Mắc-xi-mi-li-a-nô Konbê đã cứu mạng sống cho một bạn tù nhân vì hạnh phúc của anh ta, của vợ và của các con anh ta. Hành động của thánh nhân là hành động cứu độ vì thánh nhân đã chấp nhận cái chết vì hạnh phúc cho người khác . Ðây là tình yêu hy sinh cao cả như lời Chúa nói : “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13 ).
Thánh nhân sinh ngày 7/01/1894 tại Zdunska-wola nước Ba Lan. Năm 1918, Ngài được thụ phong linh mục Dòng Thánh Phanxicô. Cả cuộc đời linh mục của Ngài gắn chặt lấy Ðức Maria vô nhiễm nguyên tội. Ngài có khiếu về báo chí, nên năm 1922, Ngài thành lập giới báo chí công giáo tại Ba Lan và năm 1930 tại Nhật Bản. Ảnh hưởng của Cha Macximilianô Konbê rất lớn không những về mặt trí thức, tư tưởng do báo chí Ngài phát hành, mà đời sống đạo đức của Ngài cũng lan rộng.
Vì thế, Ðức Quốc Xã đã quyết tâm trừ khử ảnh hưởng lan rộng của Ngài. năm 1940, phát xít Ðức đã bắt Ngài vào trại giam Oranienburg và vào năm 1941, họ chuyển Ngài vào trại giam khét tiếng Auschwitz. Trại giam này đã giết chết bao nhiêu người vô tội. Ở đây có qui luật khắt khe, cứ một tù nhân trốn trại, 10 tù nhân khác phải thế mạng. Hình phạt lúc đầu là bắn chết, nhưng để đỡ tốn đạn, họ đã bỏ đói tù nhân cho tới chết. Một ngày tháng 8 năm 1941, có một người tù trốn trại, thế là 10 người tù khác được chỉ định thay mạng trong số đó có anh lính tên Gajowniczek. Trước án tử hình oan uổng, người lính này khóc lóc thảm thiết vì anh còn vợ hiền và đàn con.Cảm động và chạnh lòng thương xót như Chúa Giêsu cảm thông, xót thương Maria, Mácta và con bà góa thành Naim, Cha Mácximilianô Konbê đã xin chết thay cho người lính tử tù trẻ. Lời xin của Ngài đã được chấp nhận. Cha và 9 người tử tù khác phải bước qua phòng hơi ngạt số 14.
Sáng hôm sau, người ta phát hiện ra Ngài còn thoi thóp thở, nên họ đã chích cho Cha một mũi thuốc ân huệ. Cha Macximilianô Konbê đã trút hơi thở đúng vào lễ vọng Ðức Maria hồn xác lên trời. Cha Mácximilianô Konbê đã được Mẹ Maria đưa Cha vào trời ngay chiều áp lễ Mẹ lên trời vì suốt đời Cha đã gắn bó với Ðức trinh nữ Maria vô nhiễm nguyên tội .
Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nâng Cha Macximilianô Maria Konbê lên hàng chân phước ngày 17/10/1971 và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong hiển thánh cho Ngài .
Người Do Thái coi khinh trẻ nhỏ, vì chúng chưa đến hội đường để học cho nên chưa biết Luật Môisê. Trong chuyện này, các môn đệ cũng theo quan niệm khinh thường trẻ nhỏ như thế, cho nên khi người ta đem chúng đến với Chúa Giêsu thì các ông đuổi. Đó là thái độ khai trừ.
Chúa Giêsu không đồng ý với thái độ khai trừ đó. Ngài bảo: “Cứ để trẻ em đến với Thầy và đừng ngăn cấm chúng.” Trẻ nhỏ và những người giống như chúng được Chúa đề cao. Chúa Giêsu nói: “Cứ để trẻ em đến với Thầy đừng ngăn cản chúng vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mt 19,14).
Với những lời của Chúa Giêsu: “Cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì những ai giống như chúng mới được vào Nước Trời”. Người ta dẫn các trẻ em đến với Chúa Giêsu để Ngài đặt tay và cầu nguyện cho chúng. Ðặt tay và cầu nguyện cho một người là nghi thức tôn giáo quen thuộc trong Do thái giáo thời Chúa Giêsu. Những vị lãnh đạo tôn giáo và các Rabbi thường đặt tay và cầu nguyện cho những ai đến xin được chúc lành; họ cũng đặt tay trên trẻ nhỏ và cầu nguyện cho chúng, mặc dù theo phong tục người Do thái thời đó, những trẻ nhỏ không có địa vị, không có giá trị gì, chỉ khi nào trẻ đến tuổi 12, nó mới được nhìn nhận có chỗ đứng trong cộng đoàn. Các môn đệ Chúa Giêsu lúc đó chưa thay đổi tâm thức, họ còn ngăn cản không cho người ta đem các trẻ nhỏ đến với Chúa.
Thái độ và lời dạy của Chúa Giêsu nhắc cho các môn đệ lúc đó và cho chúng ta ngày hôm nay rằng trong cộng đoàn Giáo Hội, mọi người không tùy thuộc hạng tuổi, đều có quyền đến với Chúa để Chúa đặt tay, cầu nguyện và chúc lành cho; không ai bị loại khỏi tình yêu và ân sủng của Chúa, dù là một đức trẻ. Các nhà chú giải đã xem đoạn Tin Mừng này như là căn bản cho việc rửa tội trẻ nhỏ được cộng đoàn tiên khởi thực hiện.
Là ai, nếu không phải người lớn vô tình làm vấy bẩn tâm hồn trong trắng của các em. Hơn ai hết, chúng đủ tư cách hưởng hạnh phúc nhất, nhưng xã hội rất nhẫn tâm đè bẹp những cánh hoa mong manh ấy bằng những gương xấu, bằng những cơ chế nghèo hèn, thất học. Thậm chí những em bé kém may mắn bị đẩy ra ngoài đời sớm còn tiêm nhiễm biết bao thói hư tật xấu. Thiên Đàng của các em là đấy!
Xã hội phân hóa giàu nghèo, con người quay cuồng với miếng cơm manh áo. Nhưng xin Cha cho chúng con luôn biết nhớ và tôn trọng quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em.
Các trẻ nhỏ được Chúa Giêsu yêu thương và đưa ra làm mẫu mực cho những ai muốn bước vào Nước Trời: “Nếu các con không hóa nên trẻ nhỏ, các con không được vào Nước Trời.” “Ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ, đó là kẻ lớn nhất trong Nước Trời.” Tinh thần tu đức trẻ thơ là đơn sơ, phó thác, không cậy dựa vào sức riêng, nhưng đặt trọn tin tưởng vào Chúa.
Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta nghe hôm nay đề cập đến trẻ nhỏ trong một hoàn cảnh khác, với những Lời của Chúa Giêsu: “Cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì những ai giống như chúng mới được vào Nước Trời.” Người ta dẫn các trẻ em đến với Chúa Giêsu để Ngài đặt tay và cầu nguyện cho chúng. Đặt tay và cầu nguyện cho một người là nghi thức tôn giáo quen thuộc trong Do Thái giáo thời Chúa Giêsu.
Những vị lãnh đạo tôn giáo và các Rabbi thường đặt tay và cầu nguyện cho những ai đến xin được chúc lành, họ cũng đặt tay trên trẻ nhỏ và cầu nguyện cho chúng, mặc dù do phong tục người Do Thái thời đó, những trẻ nhỏ không có địa vị, không có giá trị gì, chỉ khi nào trẻ đến tuổi 12, nó mới được nhìn nhận có chỗ đứng trong cộng đoàn. Các môn đệ Chúa Giêsu lúc đó chưa thay đổi tâm thức, họ còn ngăn cản không cho người ta đem các trẻ nhỏ đến với Chúa
Các trẻ nhỏ được Chúa Giêsu yêu thương và đưa ra làm mẫu mực cho những ai muốn bước vào Nước Trời: “Nếu các con không hóa nên như trẻ nhỏ, các con không được vào Nước Trời. Ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ, đó là kẻ lớn nhất trong Nước Trời”. Tinh thần tu đức trẻ thơ là đơn sơ, phó thác, không cậy dựa vào sức riêng, nhưng đặt trọn tin tưởng vào Chúa.
2021
CHUNG THỦY
13 8 X Thứ Sáu Tuần XIX Thường Niên.
(Đ) Thánh Pông-xi-a-nô (Pontianus), Giáo hoàng, và thánh Hi-pô-li-tô (Hypolitus), Linh mục, Tử đạo.
Gs 24,1-13; Mt 19,3-12.
CHUNG THỦY
Nhìn thập giá Chúa Kitô với con mắt đức tin, nhân loại sẽ thấy thập giá ánh ngời hào quang và là nguồn cội mọi ơn phúc. Thập giá sẽ là một kho tàng quí giá, không gì sánh được: đó là các hồng ân của ơn cứu chuộc. Do đó, con người sẽ không chạy trốn hay khinh chê mà đón nhận thập hình tự giá với lòng hân hoan, phấn khởi. Thánh Phaolô viết: “ Những đau khổ đời này không thể sánh với vinh quang sẽ được tỏ ra nơi chúng ta “ (Rm 8, 18 ).
Thánh Pon-ti-a-nô lên Ngai Tòa Giáo Hoàng vào năm 230 giữa lúc Hội Thánh đang lâm tình trạng hỗn loạn, phân tán do ảnh hưởng của linh mục Hip-pô-ly-tô, một vị mục tử rất giỏi về Kinh Thánh và có nhiều tư tưởng sâu sắc gây ra. Tuy linh mục Hip-pô-ly-tô giỏi giang, am tường môn Thánh Kinh học, nhưng Ngài lại chống đối và không chấp nhận việc chọn lựa phó tế Callixtô lên ngôi Giáo Hoàng năm 217.
Và từ lúc đó, thánh nhân trở thành một vị lãnh đạo tôn giáo ly khai với Giáo Hoàng Callixtô và Ngài luôn xác tín việc Ngài làm đúng theo truyền thống các thánh tông đồ. Đức Thánh Cha Callixtô và các Đấng kế vị Ngài đã ngả theo tình hình thời cuộc và đâm vào thế phải nhượng bộ.
Đúng vào năm 235, khi Hoàng Đế Maximinô ra lệnh cấm cách, bắt đạo, làm khổ Giáo Hội của Chúa. Hoàng Đế Maximinô tưởng rằng các tín hữu Roma đều tuân phục hai vị Giám Mục, nên ông đã ra lệnh bắt cả hai : Đức Giáo Hoàng Pon-ti-a-nô và linh mục Hip-pô-ly-tô, đồng thời kết án khổ sai các Ngài. Để khỏi vắng bóng chủ chăn, lãnh đạo Giáo Hội phổ quát, Đức Giáo Hoàng Pon-ti-a-nô và linh mục Hipp-pô-ly-tô đều từ chức để cho Hội Thánh được yên hàn.
Hai thánh Pon-ti-a-nô và Hip-pô-ly-tô đều bị đầy ải qua Sardaigne và tại nơi đây, hai vị đều tuyên xưng đức tin để làm chứng cho Đức Kitô phục sinh. Năm 236-250, cơn bách đạo đã lắng dịu, Hội Thánh được an bình, Đức Thánh Cha Fabianô đã truyền đưa xác các Ngài về Roma. Dân chúng từ từ đã quên thánh Hip-pô-ly-tô trước kia đã từng là người lạc giáo, tách rời Hội Thánh, nhưng giờ đây các tín hữu đã cùng vớ Giáo Hội tuyên phong Ngài là vị thánh tử đạo và là tiến sĩ Hội Thánh.
Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô 1 Co 2, 9 đã viết:” Mắt ta chưa hề xem thấy, tai chưa từng nghe thấy và tâm trí con người chưa hề hiểu được những gì Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài “. Hai thánh Pon-ti-a-nô và Hip-pô-ly-tô quả đã cùng chịu đau khổ, bị đầy ải, bị hất hủi khinh chê, bị dằn vặt khổ cực về thân xác và tâm hồn, nhưng các Ngài đã biết nhìn lên Chúa, các Ngài đã hiểu thế nào là phần thưởng Chúa dành cho những ai yêu mến Ngài. Đúng như lời thánh vịnh viết :” Ai gieo trong nước mắt, sẽ gặt hái trong hoan lạc “. Giờ đây trên Nước Trời, hai thánh nhân đã được luôn luôn chiêm ngưỡng Thánh Nhan Thiên Chúa và các Ngài đã biến các giọt nước mắt xưa nhỏ xuống trở thành những viên ngọc sáng ngời và quý hiếm.
Vào thời Chúa Giêsu, dựa trên luật Môsê được ghi lại trong sách Tl 14, 1-4, thì mọi trường phái giải thích luật đều phải nhìn nhận việc ly dị, nhưng có điểm khác nhau về lý do ly dị. Trường phái Hillel cho phép ly dị vì bất cứ lý do gì, còn trường phái Shammai gắt gao hơn, chỉ cho phép ly dị trong trường hợp ngoại tình mà thôi. Những người Biệt phái đến chất vấn Chúa Giêsu như được ghi lại trong Tin Mừng hôm nay, không phải về việc có được phép ly dị hay không, nhưng về lý do của việc ly dị: họ muốn Chúa Giêsu phải chọn một trong hai lập trường: hoặc cho phép ly dị vì bất cứ lý do gì, hoặc chỉ cho phép ly dị trong trường hợp ngoại tình.
Trong câu trả lời, Chúa Giêsu không theo lập trường của con người, không đứng về nhóm nào, nhưng Ngài kêu gọi trở về với chương trình nguyên thủy của Thiên Chúa khi tạo dựng con người: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Ðời sống hôn nhân và gia đình giữa người nam và người nữ là một định chế do chương trình của Thiên Chúa khi tạo dựng con người, chứ không do con người thiết định. Môsê cho phép ly dị vì chiều theo lòng dạ chai đá của dân chúng, chứ ngay từ đầu không có như vậy.
Chúa Giêsu trả lời cho Pharisiêu một thái độ tiên quyết trong bậc sống hôn nhân. Đối với Chúa không được phép sống và giữ luật của Chúa cách nửa vời. Chúa nói: “Người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt… Vì, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Chúa còn nói thêm : “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình”. Hôn nhân công giáo đã được Chúa liên kết và chúc phúc. Chúa cũng đòi hỏi người sống bậc hôn nhân sự trung thành với nhau. Vì hình ảnh tinh tuyền trong hôn nhân cũng chính là hình ảnh về Chúa Giêsu và Hội Thánh của Người.
Chứng kiến cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và những người Biệt phái, các môn đệ phản ứng: “Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì thà đừng lấy vợ còn hơn”. Trong câu trả lời, Chúa Giêsu cho các ông biết là cần phải có ơn Chúa, con người mới có thể hiểu rõ ơn gọi cao cả của đời sống hôn nhân cũng như của đời sống độc thân trinh khiết vì Nước Trời. Bậc sống độc thân hoặc lập gia đình, không phải thuần túy tùy thuộc ý định con người, nhưng là một ơn ban đến từ Thiên Chúa.
Nếu không tin có Thiên Chúa và bị ảnh hưởng của tinh thần thế tục, con người sẽ không hiểu giá trị cũng như không thể sống trọn vẹn ơn gọi độc thân hoặc lập gia đình. “Ai có thể hiểu được thì hiểu”, ơn ban của Thiên Chúa tùy thuộc tự do của con người. Con người thời nay đã lạm dụng tự do để quyết định những điều nghịch lại chương trình của Thiên Chúa. Con người đã trần tục hóa cả bậc độc thân lẫn bậc hôn nhân và gia đình. Tất cả đều được phép, kể cả việc hai người cùng phái tính được luật pháp cho phép sống với nhau như vợ chồng, để rồi tình thương của cha mẹ đối với con cái trong trường hợp nào cũng bị hạ thấp.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ý thức tính bất khả phân ly của Bí tích Hôn Nhân trong Giáo Hội. Luật này do chính Chúa đặt ra chứ không phải do con người. Hơn nữa, hình ảnh người nam, người nữ kết hợp và thủy chung với nhau diễn tả hình ảnh Đức Kitô yêu thương Giáo Hội và không bao giờ xa lìa Giáo Hội.
Vì thế, nguyện ước sống chung, không phải do loài người đặt ra, nhưng chính Thiên Chúa se kết người nam và người nữ, để yêu thương, giúp đỡ nhau, sống trung thành với nhau đến trọn đời. Chỉ có cái chết của một bên mới cho phép bên kia được tái hôn mà thôi. Vì vậy, Chúa Giêsu nói rõ ràng rằng: “Trong lúc mối dây hôn nhân vẫn còn hiệu lực, rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình”.
Người Kitô hữu chúng ta đừng để mình bị cám dỗ chạy theo tâm thức trần tục. Giải pháp cho vấn đề không phải là luật lệ do con người đặt ra, nhưng là tình thương, là trở về với Thiên Chúa và chương trình nguyên thủy của Ngài khi tạo dựng con người. Ðiều này đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh, nhưng đó là bí quyết để con người sống trọn ơn gọi của mình và đạt hạnh phúc vĩnh cửu. Chúng ta đừng sợ cố gắng hy sinh, bởi vì Thiên Chúa sẽ trợ giúp chúng ta, nếu chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận Ngài và để Ngài hướng dẫn cuộc đời chúng ta.
