2021
NÓI VÀ LÀM
11 05 X Thứ Bảy Tuần XXIII Thường niên.
(Tr) Lễ Đức Mẹ ngày thứ Bảy.
1Tm 1,15-17; Lc 6,43-49.
NÓI VÀ LÀM
Đã có người từng nhận định rằng: “khoảng cách xa nhất không phait từ Trái Đất đến Sao Hỏa, mà là từ miệng đến tay, hay đúng hơn là từ lời nói đến hành động”. Quả đúng như vậy, dân gian có câu “Nói dễ hơn làm”, những lời nói “phóng đại”, khoe mẽ chưa bao giờ khó bằng việc đưa nó vào hành động thực tiễn.
Nếu chỉ đánh giá con người qua lời nói, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng bị “dắt mũi” bởi những dời dối trá hoa mĩ. Không có gì ngạc nhiên khi có nhiều cô gái bị lừa gạt bởi những gã nhân tình “sở khanh”, “quất mã truy phong”; hay có rất nhiều người bị lôi kéo, dụ dỗ bởi những nhân viên “bán hàng đa cấp”… Lỗi một phần là do họ nhẹ dạ cả tin, dễ tin tưởng vào những lời nói đường mật. Tuy nhiên, cũng có thể là do những người lừa gạt ấy có một khả năng thuyết phục tuyệt hảo, chúng ta có thể thấy nơi họ một sự lôi cuốn khó cưỡng, từ đó khiến ta dễ dàng nghe theo lời họ nói mà chẳng cần quan tâm liệu họ có khả năng thực hiện những việc đó hay không.
Có người đã từng nói rằng: “đừng nghe những gì ‘người ta’ nói, mà hãy nhìn những gì ‘họ’ đã làm”. Một khi đã nhận thấy được những hành động của họ khác xa với lời nói, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thẳng vào tâm can chứa đầy sự dối trá, lừa phỉnh của những kẻ lừa gạt ấy. Từ đó, chúng ta có thể nhận ra rằng, chính việc nói được mà không là được đã đẩy con người vào đường tội lỗi, dối gạt lẫn nhau; và đương nhiên, đối với những người hết lòng tin tưởng vào chúng ta, hành động đó thật đáng lên án vì nó có thể gây ra những hậu quả khó lường.
Về cơ bản, những người thích nói hơn làm cũng tương tự những người có thói quen “phóng đại” (hay thường gọi là “nổ”). Mục đích của họ thường là tự đề cao bản thân hoặc “dắt mũi” những “linh hồn trong sáng”. Họ muốn người khác nhìn mình với đôi mắt kính trọng, nể phục nhưng khả năng của họ chưa đủ; họ muốn tạc một tượng đài kì vĩ trong lòng người khác nhưng chính bản thân họ không xứng đáng với điều đó; họ muốn dùng những lời nói hoa mĩ của mình để lôi kéo sự ủng hộ của người khác trong khi khả năng thực hiện điều đó không cao…Thế nhưng, dù là mục đích nào đi chăng nữa, ít nhiều họ cũng đã dối gạt tha nhân, đó vẫn là tội nói dối và tuyệt đối không nên cổ súy.
Đi ngang qua chợ trái cây, mát mắt với đủ loại màu xanh, đỏ, tím, vàng của những trái tươi chín mọng hay còn xanh xanh, hường hường chín tới…, dân miệt vườn có thể hình dung ra đủ loại rừng cây trái ngút ngàn xanh tốt. Thậm chí họ có thể hình dung được loại trái như thế nào là do thân hình cây mẹ thế nào sinh ra. Xem quả thì biết cây: “Không có cây nào tốt mà sinh trái xấu, và cũng không có cây nào xấu mà sinh trái tốt.” “ Người ta không hái trái vả nơi bụi gai, và người ta cũng không hái trái nho nơi cây dâu đất. Người tốt phát ra điều tốt từ kho tàng tốt của lòng mình, và kẻ xấu phát ra điều xấu từ kho tàng xấu của nó, vì lòng đầy thì miệng mới nói ra.”Trung tâm của trích đoạn tin mừng hôm nay là nghe và thực hành lời Chúa. Lời Chúa như hạt giống tốt mà việc khiêm tốn, chân thành lắng nghe và cầu xin ơn trợ giúp của Chúa để thực hiện lời Người như dưỡng chất bồi bổ giúp cho cây đức tin lớn lên mạnh mẽ và đơm bông kết trái tốt lành trong cuộc sống. Đồng thời việc nghe và thực hành lời Chúa cũng tựa như người xây nền móng nhà mình trên đá tảng khiến ngôi nhà được vững chắc, phong ba, bão táp cũng không thể xô ngã được.
Vâng, chính việc nghe, để lòng mình thấm nhuần Lời Chúa và đem ra thực hành là căn bản của một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc, trong đó, người với người sống để yêu thương nhau mà Chúa muốn đời sống con người hướng tới. “Xem quả thì biết cây”- Những người có tâm địa gian manh, độc dữ, dù có tìm cách che đậy thế nào thì rồi cũng có ngày nó sẽ lộ ra những hành vi bất chính. Vì vậy mà nhân gian có câu: “Chiếc áo không thể làm nên thầy tu.” Có những người hành động của họ khiến người ta có thể nhận ra ngay nó thuộc về hoa trái của tính xác thịt mà thánh Phao-lô thường đối lập nó với hoa trái của việc sống theo Thần Khí đó là: Dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy.” (Gl 5, 19 – 21).
Tuy nhiên có những người xem ra bề ngoài có những việc làm tốt đẹp: họ đi thăm viếng, tham gia các hội đoàn, làm việc tông đồ, thậm chí còn là những giáo lý viên đóng góp trong việc giảng dạy, giáo dục đức tin…; họ rất hăng say và nhiệt tình khi mọi việc xem ra thuận lợi và được mọi người khen ngợi, tán dương; tuy nhiên, khi công việc không được thuận lợi, khi có ai đó đụng chạm đến quyền lợi hay lòng tự ái của họ thì họ lập tức buông bỏ tất cả và có những phản ứng tiêu cực như đổ lỗi, nói hành, nói xấu và nhiều khi còn tìm cách báo thù. Còn những người người sống theo Lời Chúa là những người sống theo Thần Khí ban sự sống – Thần Khí mà Chúa Giêsu Ki-tô đã hứa sẽ ở lại cùng các môn đệ cho đến ngày tận thế – sẽ sinh hoa trái nhờ Thánh Thần mà “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” (Gl 5, 22-23a). Vì vậy, quan sát lời nói, hành động của một con người, người ta có thể biết tâm lòng, bản chất của người ấy tốt xấu, bởi “lòng có đầy thì miệng mới nói ra”.
Chúa Giêsu đã chất vấn các môn đệ rằng: “Tại sao anh em gọi thầy: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” mà anh em không làm điều thầy dạy?”. Ta có thể thấy rằng, nói được làm được là chuyện nhỏ, có một chuyện còn quan trọng hơn muôn phần, đó là phải biết lấy Lời Chúa làm lẽ sống, làm kim chỉ nam của cuộc đời mình. Người đề cao hành động thực tế hơn những lời sáo rỗng, Người muốn chúng ta phải thực thi thánh ý của Ngài. Có như vậy, chúng ta mới được ví như “Người xây nhà trên đá” những kẻ khôn ngoan biết thi hành Lời Người. “Xem quả thì biết cây”, nếu chúng ta sống như Người dạy, người khác sẽ đánh giá tốt những người mang danh Kitô hữu; và đương nhiên, một khi danh Chúa tràn ngập khắp cả địa cầu, nhiệm vụ của chúng ta đã hoàn thành.
Xã hội chúng ta đang sống chứa đầy những lời xảo trá, bịp bợm, nếu không cẩn trọng, chúng ta sẽ là những con cừu non tội nghiệp bị mắc bẫy của những lão sói già ranh ma, xảo quyệt. Mỗi người chúng ta phải biết tỉnh táo, cảnh giác trước những lời nói đường mật, vì “mật ngọt chết ruồi”. Chỉ có một Lời có thể đem lại cho chúng ta sự sống đời đời, đó là Lời của chính Thiên Chúa được mặc khải qua Chúa Giêsu.
Những lời Người đã nói ra, Người đều thực hiện, vì Chúa là Đấng Chân Thật và chính Người là Sự thật. Chúng ta phải biết học tập nơi Người, hãy để Chúa trở thành một “siêu người mẫu” – người mà tất cả chúng ta phải noi theo. Chúng ta hãy sống sao cho phải phép, để mai này Chúa sẽ không chất vấn chúng ta như đã chất vấn các môn đệ của Người, vì người không biết không có tội, còn kẻ “tri pháp phạm pháp” sẽ phải chịu phạt nặng hơn.
Sống trong một thế giới mà con người trở nên quá bận rộn với những toan tính vật chất, chủ nghĩa cá nhân, hưởng thụ ích kỷ và trở thành vô cảm với những khổ đau của tha nhân: “Đèn nhà ai người ấy rạng”, “sống chết mặc ai”, người Ki-tô hữu cần phải trở thành dấu chứng của tình thương, niềm vui và hy vọng nhờ một đời sống đức tin vững chắc như lời thánh thi trong giờ kinh phụng vụ: “Cây đức tin rồi ra nẩy mậm”.
2021
Biết Mình
10 04 X Thứ Sáu Tuần XXIII Thường niên.
1Tm 1,1-2.12-14; Lc 6,39-42.
Biết Mình
Trong suốt lịch sử cứu độ, chúng ta thấy Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo và luôn yêu thương bênh đỡ người biết khiêm nhường. Người ta định nghĩa: Khiêm nhường là sự thật. Người khiêm nhường thật sự là người có tấm lòng nhân biết yêu thương thực sự. Người khiêm nhường thật thì biết mình, biết người; biết mình có những khả năng để phát huy, biết mình có những giới hạn để biết bao dung trước những giới hạn và khiếm khuyết của người khác đồng thời biết nhìn nhận và tôn trọng những khả năng và khác biệt của tha nhân để giúp nhau cùng tiến, cùng xây dựng cuộc sống thêm tốt, thêm xinh và tràn đầy yêu thương.
Là thụ tạo mà muốn làm Thượng đế, đó là ảo tưởng muôn đời của con người. Ngay từ đầu lịch sử nhân loại, Ông Bà nguyên tổ của loài người đã trải qua cơn cám dỗ ấy. Ma quỷ nói với Ông Bà: Các ngươi hãy ăn trái cấm, các ngươi sẽ trở thành Thiên Chúa, nghĩa là các ngươi hãy chối bỏ Thiên Chúa và tự tôn mình thành Thiên Chúa để sống mà không cần có Thiên Chúa. Ðó là cơn cám dỗ triền miên của con người: sống không cần Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, để tự tạo cho mình một bậc thang giá trị và trở thành thẩm phán tối cao cho mọi hành động của mình cũng như của người khác.
Có nhận ra mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, con người mới thấy được tương quan của mình với tha nhân. Thật thế, chối bỏ và cắt đứt mối tương quan với Thiên Chúa, con người cũng đi đến chỗ chối bỏ tha nhân.
Ngược lại, nhận ra Thiên Chúa là Chủ tể, con người cũng sẽ nhận ra thân phận thụ tạo yếu hèn của mình và tình liên đới với tha nhân. “Hỡi người, hãy tự biết mình”, đó là khẩu hiệu mà nhà hiền triết Hy Lạp là Socrate thường đề ra như bài học vỡ lòng cho các môn sinh, có lẽ cũng được Chúa Giêsu nhắc lại theo một công thức khác: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. “Hãy sám hối” trước tiên là nhận ra thân phận bất toàn của mình, để từ đó sống cảm thông, kiên nhẫn, bao dung và tha thứ đối với người khác. Sống như thế, con người mới đạt được cùng đích của mình là trở nên giống Thiên Chúa, chứ không phải trở thành Thiên Chúa để gạt bỏ chính Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Tin Mừng hôm nay không chỉ là một bài học có tính cách luân lý. Chúa Giêsu không chỉ khuyên chúng ta không nên xét đoán người khác, Ngài còn mời gọi chúng ta tự đặt mình vào mối tương quan với Thiên Chúa: Chỉ có Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt lòng con người mới có thể xét xử con người. Nhìn nhận quyền xét xử của Thiên Chúa, con người cũng sẽ nhận ra thân phận tội lỗi yếu hèn của mình. “Hãy lấy cái dằm ra khỏi mắt ngươi trước đã”, nghĩa là hãy nhận ra thân phận bất toàn của mình trước.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô bảo rằng “những ai phán xét anh chị em mình, nói xấu anh chị em mình thì họ chính là kẻ giả hình vì họ không đủ can đảm nhìn lại những thiếu sót, lỗi lầm của bản thân mình.” Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay thì nói trực tiếp vào vấn đề hơn: “Sao người nhìn thấy cái rác trong mắt anh em, còn cái đà trong chính mắt ngươi thì lại không thấy?… Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi bấy giờ ngươi sẽ trông rõ để lấy cái rác khỏi mắt anh em ngươi”
Đặt mình trước Lời Chúa hôm nay, tôi với bạn thử ngẫm lại xem, mỗi khi ta chỉ trích, phán xét người khác, thì thật sự trong lòng ta đang an vui, hạnh phúc hay lòng ta đang ấm ức, bức xúc, tị hiềm? Nếu thấy lòng ta còn ấm ức, hậm hực, thì Chúa bảo ta rằng: Con hãy lấy cái đà ra khỏi mắt mình trước đã, rồi bấy giờ con sẽ trông rõ để lấy cái rác khỏi mắt anh chị em con!
Tin Mừng hôm nay không chỉ là bài học có tính cách luân lý. Chúa Giêsu không chỉ khuyên chúng ta không nên xét đoán người khác. Ngài còn mời gọi chúng ta tự đặt mình vào mối tương quan với Thiên Chúa: Chỉ có Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng con người mới có thể xét xử con người. Nhìn nhận quyền xét xử của Thiên Chúa, con người cũng sẽ nhận ra thân phận tội lỗi yếu hèn của mình. “Hãy lấy cái dằm ra khỏi mắt ngươi trước đã,” nghĩa là hãy nhận ra thân phận bất toàn của mình trước.
Có nhận ra mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, con người mới thấy được tương quan của mình với tha nhân. Thật thế, chối bỏ và cắt đứt mối tương quan với Thiên Chúa, con người cũng đi đến chỗ chối bỏ tha nhân.
Ngược lại, nhận ra Thiên Chúa là Chủ tể, con người cũng sẽ nhận ra thân phận thụ tạo yếu hèn của mình và tình liên đới với tha nhân. “Hỡi người, hãy tự biết mình,” đó là khẩu hiệu mà nhà hiền triết Hy Lạp là Socrate thường đề ra như bài học vỡ lòng cho các môn sinh.
Điều này cũng được Chúa Giêsu nhắc lại nhưng theo công thức khác: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” “Hãy sám hối” trước tiên là nhận ra thân phận bất toàn của mình, để từ đó sống cảm thông, kiên nhẫn, bao dung và tha thứ đối cho người khác. Sống như thế, con người mới đạt được cùng đích của mình là trở nên giống Thiên Chúa, chứ không phải trở thành Thiên Chúa để gạt bỏ chính Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.
Nhận ra mình tội lỗi đã là khó, nhận ra mình giả dối còn khó gấp bội, bởi vì người đạo đức giả lại cho mình đạo đức hơn ai hết, người giả dối lại nghĩ mình trung thực không ai bằng. Chúa Giêsu khiển trách những người giả hình, giả đạo đức bằng những lời có sức đánh động như thế, may ra họ thức tỉnh và nhận ra chân tướng của mình chăng!
2021
YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
09 03 X Thứ Năm Tuần XXIII Thường niên.
(Tr) Thánh Phê-rô Cơ-la-ve (Claver), Linh mục.
Hôm nay kỷ niệm ngày Tòa Thánh thiết lập hai Giáo phận tông tòa đầu tiên tại Việt Nam (Đàng Trong và Đàng Ngoài) và bổ nhiệm hai Giám mục coi sóc giáo đoàn Việt Nam với việc lo đào tạo linh mục bản xứ (09/9/1659).
Cl 3,12-17; Lc 6,27-38.
YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
Khi gửi huấn thị cho các vị thừa sai lên đường đi Châu Mỹ La Tinh, Thánh Phanxicô Borgia đã viết cho họ rằng: nếu hoàn cảnh đưa đẩy họ đến việc phục vụ những người nô lệ, “thì điều duy nhất phải làm là lo giải phóng cho họ, chứ không phải là làm điều gì khác.”
Sự mù quáng của các Kitô hữu thời bấy giờ đã không cho phép ngài đòi hỏi gì hơn, như người ta có thể nói ngày nay, là cầm đầu cuộc đấu tranh cho công bằng. Đều này cũng không hơn gì sự mù quáng hiện nay của nhiều Kitô hữu đã không hiểu rằng việc phá thai mà hằng trăm hàng ngàn người đang làm là “một tội ác ghê tởm” như công đồng Vatican II tuyên bố.
Sau khi chân nhận rằng “có những lời chí trích chống lại việc chấp nhận cho có nô lệ,” Borgia ra lệnh “chỉ dùng những thổ dân tự do và tự nguyện, là những người hiểu rõ việc họ làm và tự do muốn lao động trong một thời hạn với một giá lương tương xứng mà ta sẽ thỏa thuận với họ.” Lối xử sự này là một điều chưa từng nghe thấy đối với nhiều người thời bấy giờ, vì ngay cả những người lương thiện thời ấy cũng nghĩ rằng ở Mỹ châu cần có những lao động lực lưỡng làm thay cho họ, và đó là những người Phi Châu bị cưỡng bức đem đi làm nô lệ.
Trong bối cảnh xã hội ấy, có một Giêsu hữu Tây Ban Nha đã sống một cách hào hùng, người đó là Phêrô Claver.
Phêrô Claver khám phá thấy một vấn đề lớn lao và rất nghiêm trọng. Ngài đã tìm ra một lối giải quyết theo cách thức của Mẹ Têrexa: trở thành nô lệ hơn cả những người nô lệ để trả lại cho họ phẩm giá con người. Sau khi thụ phong linh mục, ngài làm Năm Ba, rồi khấn lần cuối với lời khấn phụ: suốt đời làm nô lệ cho người da đen: “tôi Phêrô Claver, mãi mãi là nô lệ của những người Êthiôpi”. Chữ Ethiôpi lúc bấy giờ ám chỉ bất kỳ ai đến từ Châu Phi, tuy nhiên chữ này lại đầy ý nghĩa vì nó trói buộc Phêrô Claver, người đã muốn truyền giáo ở Phi Châu, theo dự án “Ethiopi” của chính thánh I-nhã.
Lúc ấy Phêrô Claver đã được 36 tuổi. Ngài sẽ sống thân phận nô lệ của những người nô lệ. “Ngài đã ở đó, hôm qua, để tiếp rước họ. Ngài đang ở đó, hôm nay, để tiếp nhận họ. Ngài sẽ ở đó, ngày mai, để chào đón họ, và ngày mốt nữa, suốt mọi ngày trong 40 năm trường”, như vị tu huynh An-phong Rodriguez, người gác cổng ở học viện Montesion 40 năm dài.
Đối với Phêrô Claver, khi được tin một chiếc tàu nô lệ sắp đến, ngài chờ sẵn ở cảng. Tàu vừa cập bến, ngài xuống giúp đỡ những người đau yếu, bệnh tật, thiếu ăn, thiếu mặc… Tiếp đến, ngài ở bên cạnh họ khi họ bị dồn vào vào những khu tập trung và bị đem bán như súc vật. Rồi khi họ đã được ông chủ nào đó mua về làm nô lệ, ngài thăm viếng, bênh vực khi họ bị đối xử bất công.
Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô nuôi dưỡng linh hồn ngài, và ban cho lời nói của ngài một hiệu quả tuyệt vời, soi sáng và an ủi những người khốn khổ không còn hy vọng. Được sự trợ giúp của những người trợ tả, người Phi Châu và Tây Ban Nha, Phêrô Claver thực hiện một cuộc Phúc âm hóa thật lớn lao, công cuộc duy nhất có thể làm được vào thời ấy. Ngài đã cứu giúp, dạy dỗ và rửa tội cho khoảng 100.000 người Phi Châu.
Năm 1650, cha Claver thoát chết sau cơn bệnh dịch hạch, nhưng sức khỏe trở nên yếu kém. Cha bị quên lãng trong căn phòng nhỏ hẹp trong tình trạng thiếu thốn chăm sóc. Cha từ trần ngày 8 tháng 9 năm 1654. Chính quyền thành phố – trong quá khứ đã không đối xử đẹp với cha, nhiều lúc còn tỏ ra khinh miệt cha – trong dịp này lại đã làm đám tang ngài thật trọng thể.
Ngài được Đức Thánh Cha Lêo XIII tuyên thánh năm 1888. Hội Thánh biểu dương ngài như một Phanxico Xavier của người da đen, đặt ngài làm quan thầy cho các xứ truyền giáo cho người Châu Phi, và cũng làm quan thầy cho xứ Colombia.
Chúa Giêsu không đến trần gian để thiết lập một hệ thống luân lý, Ngài đến trước hết là để mặc khải tình yêu của Thiên Chúa và đặt con người vào mối tương quan với Thiên Chúa. Vì là hình ảnh của Thiên Chúa Tình Yêu nên con người cũng phải sống như Thiên Chúa Tình Yêu. Chỉ có một tình yêu đúng nghĩa nhất, đó là tình yêu của Thiên Chúa, và cũng chỉ có một cách yêu đúng đắn nhất, đó là yêu như Thiên Chúa yêu. Qua cuộc sống của Ngài, qua các quan hệ của Ngài với tha nhân, và nhất là qua cái chết của Ngài trên thập giá, Chúa Giêsu đã tỏ cho con người thấy được tình yêu của Thiên Chúa. Yêu như Thiên Chúa yêu là trao ban và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu; yêu như Thiên Chúa yêu là yêu mọi người, ngay cả kẻ thù mình.
Chúa Giêsu sẽ không mặc khải trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa, nếu từ Thập giá, Ngài không tha thứ cho chính những kẻ đang hành hạ Ngài. Tuyệt đỉnh của yêu thương chính là đang lúc giang tay ra cho kẻ thù đóng đinh vào Thập giá mà vẫn có thể thốt lên: “Lạy Cha! Xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Chúa Giêsu đã không rao giảng bất cứ điều gì mà chính Ngài không sống và minh chứng trước: dạy chúng ta tha thứ cho kẻ thù, Ngài đã chứng minh đó là điều nằm trong khả năng của con người.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta về ơn gọi cao cả của người Kitô hữu: Như Chúa Giêsu đã tha thứ cho những kẻ hành hạ Ngài, chúng ta cũng được mời gọi để yêu thương và tha thứ không ngừng, bởi vì chỉ có lòng tha thứ, chúng ta mới thực sự trở thành nhân chứng tình yêu Thiên Chúa đối với mọi người.
Yêu thương, tha thứ quả là điều vô cùng khó. Chỉ nguyên việc không tìm cách trả đũa kẻ gây ra những đau thương bất hạnh cho mình đã là khó, nói chi đến việc làm ơn, cầu nguyện cũng như chúc phúc cho những kẻ thù nghịch với mình.
Khó nhưng đó lại là tiêu chuẩn thực hành của người Kitô Hữu. Khó nhưng không phải là không làm được.
Trong Giáo Hội đã từng có biết bao vị thánh làm được điều mà Chúa đã dạy. Đó là thầy phó tế Stêphanô. Trước giờ chết, thày đã lớn tiếng cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa Giêsu xin nhận lấy linh hồn con”; và “xin đừng chấp tội họ”. Thánh tử đạo Việt Nam Emmanuel Lê Văn Phụng đã nói với các con của mình rằng: Các con đừng tìm cách báo thù; quay sang các bạn hữu, ngài nói: “Các bạn hãy tha thứ vì chính tôi đã tha thứ”.
2021
MỪNG SINH NHẬT MẸ
08 02 Tr Thứ Tư Tuần XXIII Thường niên.
SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A, lễ kính.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
Mk 5,1-4a (hoặc Rm 8,28-30); Mt 1,1-16.18-23 (hoặc Mt 1,18-23).
MỪNG SINH NHẬT MẸ
Giáo Hội không mừng ngày sinh của các thánh. Ngày sinh của con cái Adam là một ngày u buồn tràn đầy nước mắt, và cái di sản thảm khốc của tội lỗi mà chúng ta mang theo khi vào đời. Nhưng trong lịch sử phụng vụ công giáo, chúng ta thấy có ba lễ mừng sinh nhật: của chính Chúa Giêsu, của Trinh Nữ Maria và của thánh Gioan Tẩy giả.
Đối với thánh Gioan Tẩy giả, vì được thánh hoá ngay từ khi còn trong lòng mẹ, việc chào đời của Ngài là một biến cố vui mừng đặc biệt. Riêng với Đức Trinh nữ Maria, những lễ kính Ngài là “Những lễ kính nhớ biến cố sinh ơn cứu rỗi, trong đó Giêsu và Mẹ Maria đi liền với nhau, như lễ sinh nhật Đức Maria, ngày mà hy vọng và vầng cứu rỗi ló dạng trên trần gian” (Marialis cultus. 7): bởi vậy, ngày lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, Giáo hội hân hoan ca tụng.
– “Lạy Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, việc Mẹ sinh ra loan báo niềm vui cho cả thế gian. Vì từ lòng mẹ phát sinh mặt trời công chính là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Đấng xóa bỏ án phạt mà ban chúc lành, tiêu diệt sự chết và ban sự sống đời đời cho chúng con” (ad Bened, ad laudes)
Niềm vui mừng trong ngày sinh của Đức Trinh Nữ Maria phát xuất từ niềm mong đợi lâu đời của nhân loại tội lỗi. Chính Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại chúng ta niềm hy vọng này khi Chúa phán với con rắn cám dỗ:
– “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng dõi ngươi và giòng giống nó. Giòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).
Lời hứa ấy còn được lập lại nhiều lần để nuôi dưỡng niềm tin của dân Chúa. Chẳng hạn Isaia báo trước hình ảnh Đấng sẽ sinh ra Đấng cứu thế:
– “Này cô nương sẽ thụ thai và sinh con và bà sẽ gọi tên là Emmanuel” (Is 7,14).
Đấng cứu thế sẽ được sinh ra bởi một người mẹ đồng trinh (x. Lc 1,270. Như vậy Thiên Chúa đã dự liệu cho con Ngài. Một người mẹ đặc biệt. Maria còn được giữ cho khỏi vương nhiễm tội nguyên ngay từ buổi hình thai, để xứng đáng tước vị Mẹ Thiên Chúa. Theo truyền sử, cha mẹ Ngài là ông Gioakim và nà Anna, những người đạo đức thuộc dòng dõi vương giả David, và tư tế Aaron, nhưng lại son sẻ. Dầu sao đi nữa, chính Maria có một nét đẹp lạ lùng của ơn thánh. Giáo hội ca tụng Mẹ:
– Ôi Maria ! Mẹ đẹp tuyệt vời. Hơn hết mọi người.
Ngày Đức Trinh nữ Maria chào đời, mọi người thán phục. Hơn nữa biến cố này còn là khởi đầu cho ngày cứu rỗi, vì Ngài như “sao mai” dẫn lối loài người, như “rạng đông” báo hiệu mặt trời. Vì vậy ngay từ thế kỷ VI, cả Giáo hội Đông phương cũng như Tây Phương đã cử hành lễ mừng kính sinh nhật Mẹ.
Đến thế kỷ X lễ mừng được phổ biến phắp nơi và trở thành một trong các lễ chính mừng kính Đức Mẹ. Vào thế kỷ XII, lễ này còn kéo dài thành tuần bát nhật, theo lời hứa của các Đức hồng Y họp mật nghị để bầu giáo hoàng. Các Ngài hứa sẽ thiết lập tuần bát nhật, để tạ ơn Đức Mẹ nếu có thể vượt qua được các chia rẽ vì cuộc vận động của vua Frédéric và sự bất mãn của dân chúng. Đức giáo hoàng Célestinô V đắc cử cai quản có 18 ngày nên chưa thực hiện được lới hứa. Giữa thế kỷ XIII, Đức Innocentê đã hoàn thành lời hứa này.
Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria loan báo niềm vui cho toàn thế giới, chúng ta cùng chiêm ngắm và tha thiết nguyện cầu cho được niềm vui thiêng liêng từ biến cố này.
“Bà đã thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần”.
Mẹ Maria thuộc dòng dõi vua Ðavít, cha mẹ của ngài là thánh Gioankim và thánh Anna. Theo truyền thống kể lại, hai ông bà Gioankim và Anna đã già mà không có con. Với lời cầu nguyện chân thành, Thiên Chúa đã nhậm lời hai ông bà, cho ông bà sinh ra Maria. Maria đã chào đời là để thực hiện ý Thiên Chúa, Mẹ đã mở rộng cửa trời để đón nhận mọi người và lời xin vâng làm Mẹ Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.
Chúng ta cử hành lễ sinh nhật Đức Mẹ, vì từ nơi ngài đã xuất hiện Mặt Trời Công Chính, là Đức Kitô, Thiên Chúa chúng ta (Ca nhập lễ, lễ sinh nhật Đức Mẹ). Hôm nay mừng sinh nhật Đức Mẹ, nhân loại được hạnh phúc vì công trình cứu rỗi của Thiên Chúa đã ló rạng qua việc chào đời của người nữ tử Sion mang danh Maria.
Sinh nhật của Đức Trinh Nữ Maria nhằm hướng tới ngày trọng đại: sinh ra Đấng Cứu Thế. Tiếp đến “Đấng được sinh ra làm con một người đàn bà và sống dưới Lề luật” (Gl 4,4) đã cho chúng ta được sinh lại làm con cái Chúa. Đức Maria sinh ra trong ơn thánh, không vướng mắc nguyên tội. Còn chúng ta được khỏi tội tổ tông nhờ Bí tích Thánh tẩy, chúng ta mới được sự sống mới.
Chúng ta mừng Sinh nhật Đức Mẹ với niềm hạnh phúc vì luôn có Mẹ trong cuộc sống, như “Trong tiệc cưới Cana có thân mẫu Đức Giêsu” (Ga 2,1). Với Mẹ Maria chúng ta có được bông hồng cài áo. Đây là tập tục dễ thương của người Nhật, để tôn kính hiền mẫu, đã sớm du nhập vào Việt Nam.
Chúng ta mừng sinh nhật Đức Maria trong lời cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương sắp đặt cho nhân loại có một người Mẹ tuyệt vời, cùng hiệp lòng dâng lên Mẹ Maria những lời ngợi khen vì Mẹ chúng ta đã được Thiên Chúa yêu thương một cách đặc biệt, Thiên Chúa đã ban cho Mẹ muôn vàn ân phúc… “vì Mẹ đẹp lòng Thiên Chúa” (Lc 1,30).
Mừng Sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta cũng nhớ đến ngày sinh của chúng ta, để “Sao được cho ra cái giống người” (Tú Xương), hơn nữa cho ra người con Chúa. Cũng là lúc chúng ta nhớ đến công đức sinh thành của cha mẹ, cố gắng làm vui lòng các ngài, như gương sáng của Chúa Giêsu được Chúa Cha công nhận: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17).
