2024
VẬN MỆNH NGÔN SỨ CỦA CHÚA
29.8 Thứ Năm Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả bị chém đầu
1 Cr 1:1-9; Tv 145:2-3,4-5,6-7; Mt 24:42-51
VẬN MỆNH NGÔN SỨ CỦA CHÚA
Để dọn đường cho Chúa Giêsu đến cứu chuộc loài người, Thiên Chúa đã cho bà Ysave son sẻ được sinh con. Người con đó là Gioan Tẩy giả. Lớn lên, ngài vào sống khổ hạnh trong sa mạc: Mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.(Mt. 3,4).
Chính Gioan Tẩy Giả là người đã chỉ đường đến Ðức Kitô. Ðời sống và cái chết của Gioan là để hy sinh cho Thiên Chúa và loài người. Lối sống đơn giản của ngài thực sự là lối sống tách biệt khỏi vật chất thế gian. Tâm hồn của ngài đặt trọng tâm ở Thiên Chúa và lời mời gọi ngài nghe được từ Thần Khí Thiên Chúa đã đánh động tâm hồn ngài. Tin tưởng ở ơn Chúa, ngài đã can đảm nói những lời kết tội hoặc kêu gọi sám hối, vì sự cứu độ.
Năm 29 tuổi, thánh nhân đến sông Giođan, rao giảng kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và lãnh phép rửa sám hối của Ngài, để dọn lòng xứng đáng đón rước Chúa Cứu thế. Nhiều người đã đến lãnh nhận phép rửa thống hối, và xin ngài chỉ dạy cách thế để hoán cải đời sống. Chính Chúa Giêsu khi bắt đầu đi rao giảng Nước Trời, cũng đến nhờ Ngài làm phép rửa, để được Chúa Thánh Thần tấn phong làm Đấng Cứu Thế, và Chúa Cha công khai nhìn nhận là Con Yêu Dấu.
Thời điểm Gioan Tẩy Giả làm phép rửa sám hối bên bờ sông Giođan trùng hợp với lúc Hêrôđê Antipa làm quận vương cai trị xứ Galilêa. Cuộc sống của ông có nhiều lầm lỗi và lầm lỗi lớn nhất mà ai cũng biết đó là ông ngang nhiên lấy vợ của anh làm vợ của mình. Người đàn bà xấu nết đó là bà Hêrôđia. Thấy vậy, Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng công khai cảnh cáo và ngăn cản. Việc đó đã đến tai Hêrôđia làm cho bà hết sức tức giận. Bà đã yêu cầu Hêrôđê bắt giam Gioan Tẩy Giả. Gioan Tẩy Giả đã bị bắt giam nhưng bà ta vẫn chưa vừa lòng. Biết Gioan Tẩy Giả là một con người không thể mua chuộc cho nên bà luôn tìm dịp để giết ngài. Và đây là dịp. Chúng ta hãy nghe thánh sử Márcô thuật lại việc làm này của Hêrôđia:
Một ngày thuận lợi đến: nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hêrođê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Galilêa. Con gái bà Hêrôđia vào biểu diễn một điệu vũ làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái:
– Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.
Vua lại còn thề :
– Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước, cũng được.
Cô gái đi ra hỏi mẹ
– Con nên xin gì đây ?
Mẹ cô nói :
– Đầu Gioan Tẩy giả.
Lập tức cô vội trở vào, đến bên nhà vua và xin rằng :
– Con muôn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gioan Tẩy giả, đặt trên mâm.
Nhà vua buồn lắm, nhưng vì lời thề, và khách dự tiệc, nên chẳng muốn thất hứa với cô. Lập tức vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gioan tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm, trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ “. (Mc. 6,2128).
Thánh Hiêrônimô còn cho chúng ta biết thêm một chi tiết thú vị này: Sau khi nhận được đầu của Gioan Tẩy Giả, Hêrôđia đã lấy dao cạy miệng thánh nhân ra và đâm một nhát thấu qua cái lưỡi đã dám nói lên những lời xúc phạm đến bà.
Thánh Linh mục Bêđa khả kính đã giải thích ý nghĩa cái chết của ngài như sau:
“Đấng thánh loan báo Chúa sinh ra, rao giảng và chịu chết, đã tỏ cho chúng ta thấy một sức mạnh xứng đáng được Chúa nhìn. Như lời Kinh Thánh chép: “Theo nhãn giới người phàm, thì người đã gặp nhiều đau khổ, nhưng hy vọng của người đã tràn đầy bất tử.”
Thông điệp Tin mừng rất lôi cuốn bởi vì hy vọng nó đem đến, nhưng cũng làm bối rối bởi vì cách nó thách thức chúng ta. Hêrôđê đã bị cuốn hút bởi sứ điệp của Gioan nhưng đã không thể quay lưng với tội lỗi trong đời sống của ông. Những nét đặc trưng hay điểm yếu nào đã cản trở Hêrôđê đến với sự lôi cuốn ban đầu đối với lời rao giảng của Gioan? Có điều gì đó tương tự trong đời sống của chúng ta đã ngăn cản chúng ta theo Chúa chặt chẽ hơn?
Gioan không bao giờ sợ hãi công bố sự thật, bất chấp hậu qủa. Khi chúng ta có cơ hội bênh vực sự thật, chúng ta có cảm thấy sợ hãi vì bị ngược đãi hay đau khổ? Trong buổi cầu nguyện hôm nay, hãy xin Chúa Giêsu giải thoát bạn khỏi mọi sợ hãi có thể có trong việc công bố sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa.
Gioan Tẩy giả là một ngôn sứ, đã sống cuộc đời chứng tá cho công lý; là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương: một phía bị đế quốc Rôma cai trị hà khắc, nhiều phe nhóm trong dân muốn nổi loạn; phía khác, vị vua Hêrôđê đang cai trị là một hôn quân bạo Chúa, sống loạn luân. Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng ngăn cản và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua, mong nhà vua trở về với đường ngay nẻo chính. Vì thế, Gioan đã bị nhà vua bắt giam và sau này bị chém đầu. Người Kitô hữu không những phải làm chứng cho Thiên Chúa, mà còn cho chân lý, cho công lý, cho tình yêu của Thiên Chúa nữa. Đời sống chứng nhân đòi hỏi ta phải dám chấp nhận thiệt thòi, mất mát, nguy hiểm. Làm ngôn sứ mà lại muốn được an toàn và bảo toàn đủ mọi mặt những gì mình đang có, không muốn hy sinh hay mất mát điều gì, thì không xứng đáng.
Hiểu biết về Thiên Chúa của Gioan Tẩy giả đã tạo cho ông một sự khiêm nhường mạnh mẽ. Khi được hỏi liệu ông có phải là Chúa Kitô, Gioan đã trả lời rằng ông thậm chí còn không xứng đáng cởi quai dép cho Chúa (Ga 1: 27). Tại sao sự khiêm nhường của Gioan lại rất cần thiết đối với sứ mệnh Thiên Chúa đã giao cho ông để loan báo việc Chúa Giêsu đến? Làm sao sự tăng trưởng trong khiêm nhường có thể giúp chúng ta thực hiện ý Chúa tốt hơn trong đời sống của riêng chúng ta?
2024
TÌNH YÊU ĐÃ BIẾN ĐỔI PHẬN NGƯỜI
TÌNH YÊU ĐÃ BIẾN ĐỔI PHẬN NGƯỜI
Augustinô chào đời năm 354 trên đất Phi Châu đầy sức sống. Xuất thân từ một gia đình trung lưu với những khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp: Cha chàng là Patricius, một người ngoại đạo sống khá phóng túng, nuôi nhiều tham vọng cho cậu con trai đầy hứa hẹn này. Mẹ chàng là Monica, một Kitô hữu sốt sắng đã dành cho chàng một tình thương đặt biệt sáng suốt, đã phải khuyên răn và khóc lóc nhiều về hạnh kiểm của con mình nhưng cuối cùng đã được chứng kiến cuộc trở lại của Augustinô và đồng thời được Augustinô dẫn lên những đỉnh cao của chiêm niệm và lòng say mê Thiên Chúa.
Nói về thiếu thời của mình, Augustinô tự nhân: “Tôi chỉ ham chơi”. Cậu bé thần đồng ấy rất sợ đi học, nhưng khi đã bị đẩy đến trường thì cậu trở thành một học sinh ưu tú vượt hẳn các bạn đồng liêu.
Đặt nhiều hy vọng vào con đường học vấn của cậu, thân sinh đã gửi cậu đến Carthagô là một trong những trung tâm văn hóa trứ danh nhất thời đó. “Tôi đến thành Carthagô, tất cả chung quanh tôi vùng dậy những quay cuồng đam mê ngang trái”.
Augustinô học hành xuất sắc bao nhiêu thì ăn chơi cũng sành sỏi bấy nhiêu. Chàng đã yêu và yêu tha thiết với sức đam mê mãnh liệt của loài người với một trái tim nóng hổi, với tất cả giác quan nhạy bén. “Lao mình vào tình ái, tôi muốn bị kẹt trong đó luôn”.
Với tài hùng biện sẵn có, Augustinô tự rèn luyện khoa ăn nói và làm quen với các văn hào la tinh, với các triết gia Hy Lạp. Một hôm tình cờ chàng giở quyển Hortensius của Cicéron, và nhận được ánh sáng bừng chiếu qua những hàng chữ của tác giả.
“Quyển sách này đã đổi hẳn các tình cảm của lòng con, hướng con về với Chúa, các ước nguyện và ý muốn của con được xoay chiều. Tất cả những ước mộng viển vông trở thành phi lý. Với một sức mạnh phi thường, con thèm muốn đức khôn ngoan bất diệt. Con bắt đầu đứng dậy trở về với Ngài”.
Từ Carthagô, cuộc sống dần đưa chàng đi tìm kế sinh nhai tại Rôma, Milan. Augustinô nay đã 30 tuổi, với thời gian, nhiều mộng đẹp đã tan vỡ. Những khó nhọc của cuộc sống giúp chàng trưởng thành hơn.
Cho tới một ngày kia, ơn Chúa đã toàn thắng, như một cơn gió lốc cuốn đi tất cả những do dự, khắc khoải trong lòng Augustinô. Một hôm, ngồi ngoài vườn với một người bạn chí thân, Augustinô nghe tiếng trẻ nhỏ nhẩm câu:
“Hãy cầm lấy mà đọc”. Nghe vậy, Người mở thánh thư và câu đâu tiên Người đọc là: “Hãy mặc lấy Đức Kitô và đừng thỏa mãn với những đam mê xác thịt”.
Câu này quả dành riêng cho Augustinô đó. Đây chính là lời đáp của ơn trên. Augustinô chạy báo tin vui này cho mẹ. Bà điềm nhiên trả lời: “Mẹ đã biết mà, Mẹ ở đâu thì con cũng sẽ đến đó”. Sứ mệnh của bà đã chấm dứt, bà mừng rỡ thấy Augustinô bắt đầu cuộc sống mới. Từ nay, Augustinô sẽ rảo bước trên con đường của Luật Chúa.
“Dưới sự hướng dẫn của Ngài, Lạy Chúa, con đã bước vào chính thâm tâm con. Con đã làm được điều đó nhờ sức Chúa nâng đỡ.”
Sau khi khám phá Thiên Chúa là Đấng đáng để cho ta bán hết tất cả để đi theo, Augustinô quyết tâm rút vào sa mạc sống ẩn dật để được thưởng thức Chúa, nhưng Augustinô sẽ không bao giờ được sống ẩn dật lâu. Danh tiếng của ngài đã được truyền lan, dân chúng theo đuổi Augustinô xin ngài hướng dẫn họ, xin ngài cố vấn cho họ trong công ăn việc làm, chỉ dẫn cho họ đường ngay nẻo chính.
Một hôm, trong khi dự lễ tại Hippone, dân chúng nảy ra ý kiến: Augustinô sẽ làm Linh mục của họ, và hơn thế nữa sẽ là Giám Mục chăn dắt học. Ý dân là ý trời, ngay lúc đó Augustinô được tôn làm làm Linh mục và sau một thời gian Augustinô trở thành Giám Mục của dân.
Vì mến Chúa đi đôi với yêu người, Augustinô mang tất cả kinh nghiệm, kiến thức rộng lớn của mình để phục vụ anh em. Nhưng trên hết mọi sự, Augustinô là con người của tình yêu: Ngài dành trọn vẹn tất cả khả năng yêu đương cho Chúa và cho anh em, điểm nổi bật của Ngài là một trái tim nóng hổi.
Năm 430, sau một cơn hấp hối, Augustinô về với Chúa, Đấng mà Ngài đã tha thiết mến yêu.
Augustinô, con người được yêu; đúng hơn, một linh hồn được cứu. Như bao con người, chàng khát vọng, một khát vọng cháy bỏng, khát Chân Thiện Mỹ; Augustinô lao mình đi tìm. Là một giáo sư tu từ học chuyên về hùng biện, mười chín tuổi, chàng mê say các triết thuyết tại thành phố của các triết gia, Milan; ở đó, đã một thời, con người tài hoa này chạy theo lạc giáo; cũng tại chốn phồn hoa ấy, Augustinô vùi mình vào những cuộc vui thâu đêm để rồi, mệt mỏi trong vô vọng, thừa mứa trong chán chường và trống rỗng trong hư vô. Chàng trai trẻ cảm thấy luống công vì chẳng tìm được gì. Augustinô viết, “Con trở thành điều bí ẩn quá lớn đối với chính con; con tự hỏi lòng mình, ‘Tại sao mi buồn, và tại sao mi làm ta buồn?’, nhưng nó không trả lời. Rồi khi con nói, ‘Hãy cậy trông vào Chúa’, nó cũng giả vờ không nghe; vậy mà, ‘Con càng khốn khổ, Ngài càng gần con’”, vì Ngài luôn đi bước trước.
Mười tám năm trường rong ruổi chạy tìm hạnh phúc, Augustinô khác nào chú nai khờ khạo một sáng kia, vụt chạy tìm hương cỏ lạ, chạy mãi đến chiều… và khi trời tối, sa xuống lũng sâu; trong cơn hấp hối, nai chợt nhận ra mùi dạ thảo trong túi xạ hương trước yếm ngực mình, nhưng đã muộn. Với chú nai kia, đã muộn; với Augustinô thì không, bởi lẽ, chàng đã kịp chộp được sợi thừng thương xót từ trời cao thòng xuống khi Thiên Chúa sai Thánh Ambrôsiô, một người cha, một người thầy kịp chỉ cho cậu đường về; bên cạnh đó là sự kiên trì cầu nguyện bảo ban của người mẹ đạo đức, Mônica. Augustinô viết, “Chính lúc đó, tay Ngài đã giựt con khỏi bùn nhơ và rửa sạch, nhưng con không hay biết. Phần con, con cảm nhận, con càng khốn khổ, Ngài càng gần con”. Nhìn lại quảng đời đã đi, Augustinô tâm sự, “Lạy Chúa, con thật xấu hổ khi mải tìm Chúa nơi các tạo vật, đang lúc Chúa, Đấng Tạo Thành, là ánh sáng, là hương thơm, là vẻ đẹp rạng ngời đang ở trong con. Con thật mù loà, điếc lác khác nào chiên lạc bao lần xa đàn khiến Chúa phải vất vả đi tìm”. Augustinô trải nghiệm, khi con người vừa cất bước đi tìm Chúa, thì đã từ lâu, Người đã cất công kiếm nó; khi nó vừa đặt chân xuống dòng suối tìm lên ngọn nguồn thì chính dòng nước yêu thương đã ôm chầm dưới chân nó.
Một khi đã ý thức được tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu luôn đi bước trước của Đấng rạng ngời có tên là Chân Thiện Mỹ, Augustinô bỏ hết mọi sự và buông mình để được cuốn hút về Người, một sự cuốn hút còn mãnh liệt hơn, nồng nàn hơn gấp bội những gì đã cuốn hút người trai trẻ lúc thiếu thời. Augustinô hối tiếc vì đã hoang phí thời gian, “Thật quá trễ để con yêu mến Ngài, ôi Ðấng Tuyệt Mỹ xa xưa, nhưng mới lạ hơn bao giờ hết. Chúa gọi con, Chúa la to, thét gào vào sự ngơ khờ của con; Ngài lấp lánh, rực chiếu vào sự mù loà chệch choạc của con; Ngài thở hương thơm, con hít lấy và con khao khát Ngài. Con nếm thử, và nay, con đói, con khát. Ngài chạm con và con bị thiêu đốt bởi khát khao bình an của Ngài”. Để rồi, Augustinô kết luận, “Lãng quên Thiên Chúa, có nghĩa là chết; tìm kiếm Thiên Chúa, có nghĩa là tái sinh; ở trong Thiên Chúa, có nghĩa là sống”. Thật may, “Con càng khốn khổ, Ngài càng gần con”.
2024
THEO CON ĐƯỜNG CHỊU ĐAU KHỔ NHƯ THÁNH MONICA
27.8 Thứ Ba Thánh Monica
St 2:1-3,14-16; Tv 96:10,11-12,13; Mt 23:23-26
THEO CON ĐƯỜNG CHỊU ĐAU KHỔ NHƯ THÁNH MONICA
Thánh Monica là bổn mạng của những cha mẹ chịu đựng đau khổ vì gánh nặng gia đình. Thánh nhân được mệnh danh là “Người Bạn của Thánh Giá”.
Niềm hạnh phúc của thánh nữ Monica là trở nên gương mẫu cho các bà mẹ Công giáo, Monica là bổn mạng của các người mẹ Công giáo trong mọi thời đại. Xuyên thời gian, niềm hạnh phúc lớn lao của Monica vang vọng và lan tỏa trong Hội Thánh …
Hoàn cảnh cuộc đời Thánh Monica đã có thể biến ngài thành một người vợ hay mè nheo, một nàng dâu nhiều cay đắng, và một người mẹ tuyệt vọng, tuy nhiên ngài đã không chịu thua bất cứ cám dỗ nào. Mặc dù ngài là một Kitô Hữu, cha mẹ ngài đã gả cho một người ngoại giáo, ông Patricius, là người sống trong cùng tỉnh Tagaste ở Bắc Phi Châu. Patricius là người tốt nhưng ông vô cùng nóng nẩy và phóng túng.
Ngoài ra Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng hay gắt gỏng. Ông Patricius thường rầy la vợ vì bà hay thương người. Nhưng sự cầu nguyện và gương mẫu đời sống của Thánh Monica sau cùng đã chinh phục được người chồng cũng như mẹ chồng, ngài đã đưa họ trở về với đức tin Kitô Giáo.
Thánh Monica sinh năm 332 tại Tagaste, Bắc Phi (nay là Souk Ahras, thuộc Algeria). Ngài đã sống các nhân đức Kitô giáo một cách nổi bật, nhất là chịu đựng sự nóng nảy và một đời sống phóng túng của người chồng. Ngài cũng đã khóc hằng đêm vì “cậu ấm” Augustinô và chuyên cần cầu nguyện cho con hoán cải, điều mà chính Thánh Augustinô đã viết trong cuốn Tự Thuật.
Năm 22 tuổi, vì vâng lời cha mẹ, Mônica đã kết hôn với Patricius. Chồng cô thuộc dòng dõi quý tộc. Vì thuộc về thành phần giàu sang trong làng, nên ngay từ khi còn nhỏ, chàng Patricius đã được nuông chiều thái quá, dẫn đến tình trạng ngang tàng, hách dịch, nghiện rượu, độc ác và tàn nhẫn và không chung thủy… Ông luôn tỏ vẻ khó chịu mỗi khi thấy vợ làm từ thiện và cầu nguyện.
Hơn nữa, sẵn có lợi thế con nhà giàu, lại hơn tuổi của Mônica quá nhiều, nên Patricius thường xuyên thể hiện vai trò chủ – tôi đối với cô. Mặt khác, cô lại còn phải chịu cảnh hất hủi của mẹ chồng. Điều làm cho cô Mônica buồn nhất, đó là bà lại hùa theo con trai để bênh vực chủ trương không tôn giáo và đời sống phóng khoáng, tự do cho Patricius. Vì những lý do đó, cuộc sống gia đình của Mônica gặp rất nhiều khó khăn, đau khổ.
Kèm theo đó, sau khi sinh được Augustinô, người con trai đầu lòng, bà vui mừng, phấn khởi khôn xiết. Nhưng chẳng bao lâu, Augustinô buông theo lối sống của cha, nên cung cách và lối sống của con trai chính là bản sao của chồng.
Thế nhưng, điều ta thấy tuyệt với là khi gặp những nghịch cảnh ngập đầu, Mônica không hề oán trách, nhưng ngài đã tìm ra những liều thuốc giải độc tốt nhất cho linh hồn mẹ chồng, chồng và các con. Liều thuốc đó là sự hy sinh, lời cầu nguyện liên lỷ, cộng thêm những đức tính tuyệt vời như lòng bác ái, tình yêu thương, tinh thần quả cảm, đức tính khiêm nhường và niềm tin vào Chúa.
Vì vậy, mưa dầm thấm lâu. Thiên Chúa đã thưởng công Mônica bằng việc hoán cải mẹ chồng. Patricius chồng cô đã xin Rửa Tội và tin theo Chúa. Augustinô quyết định chia tay bè rối Manichê (Nhị Nguyên) là một tà thuyết chống lại Giáo Hội và đức tin Công Giáo mà ông đã dồn toàn tâm toàn trí trong suốt chín năm trường, sau đó ngài được Rửa Tội. Hai người con còn lại là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập Giáo Hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng.
Đây là ân huệ lớn lao do lòng thương xót của Người đã dành cho Mônica. Niềm vui tột cùng đó đã làm cho Mônica thốt lên với Augustinô trong những giây phút cuối đời: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui hơn được nữa… Vì mọi hy vọng … mẹ đã được mãn nguyện”.
Cuối năm 387, khi hai mẹ con đang chuẩn bị trở về quê hương là Phi Châu, thì Thiên Chúa đã gọi Mônica về với Người, hưởng thọ 56 tuổi. Thánh nữ được chôn cất tại Ostite và sau được dời về Rôma vào năm 1430.
Trong vai trò là người mẹ, Monica cũng hết sức hiền lành. Hiền lành khi đối diện với những người con khó tính, muốn làm ngược ý mẹ mình, làm những điều phiền lòng mẹ mình. Yêu mến, biết ơn mẹ mình về sự hiền lành, nhẫn nhục, kiên trì và về niềm tin vững vàng, Augustinô kể lại : “Tôi đã làm nước mắt mẹ tôi chảy nhiều như dòng suối, mẹ đã khóc rất nhiều nhưng không làm tôi mềm lòng. Một vị Giám Mục đã an ủi mẹ tôi và nói rằng : “Con bà không hư đâu vì Chúa nhìn tới nước mắt của bà. Một người mẹ đã khóc nhiều và cầu nguyện kiên trì cho con mình thì người con không bao giờ hư mất.”
Thánh Monica rất được mộ mến, nên nhiều người đã nhận tên Thánh Monica. Giáo Hội tôn vinh ngài là bổn mạng của các bà mẹ, cách riêng các bà mẹ Công Giáo. Nhờ có được một Người Mẹ Tuyệt Vời, sau này Augustinô trở thành nhà giảng thuyết hùng biện, học giả uyên bác, một Thánh Giám Mục được phong là Tiến sĩ Hội Thánh.
Trong xã hội ngày nay, mọi thứ đều sẵn sàng, từ mì ăn liền, cà phê uống liền, đến việc tiêu xài liền khiến chúng ta không còn kiên nhẫn. Tương tự như thế, chúng ta cũng muốn lời cầu xin của chúng ta được đáp trả ngay lập tức. Thánh Monica là gương mẫu của sự kiên nhẫn. Những năm trường cầu nguyện, cộng với đức tính kiên cường và kỷ luật, sau cùng đã đưa đến sự trở lại của người chồng nóng nẩy, người mẹ chồng ưa gắt gỏng, và người con thông minh nhưng bướng bỉnh, là Augustine.
Ngày lễ Monica cũng quy tụ tất cả chúng ta. Yêu mến, biết ơn, kính trọng các hiền mẫu, chúng ta ước mong các thế hệ hiền mẫu tiếp tục đi theo con đường của Monica. Không những tại nhà thờ, mà còn nơi mỗi gia đình, các hiền mẫu trở nên những người mẹ hiền thật sự, làm cho gia đình mình được ấm cúng thuận hòa, làm cho các thế hệ con cháu trong gia đình và trong giáo xứ được vẻ vang. Như Monica có con cái là triều thiên của mình thế nào, các hiền mẫu trong giáo xứ cũng có các thế hệ con cháu làm vẻ vang cho chính các bà mẹ Công giáo như vậy.
2024
TA TÌM GÌ TRONG CUỘC SỐNG ?
26.8 Thứ Hai Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
Ed 24, 15-24; Mt 19, 16-22
TA TÌM GÌ TRONG CUỘC SỐNG ?
Sự sống đời đời là điều chàng thanh niên trong Tin Mừng cũng như chúng ta ngày hôm nay đang tìm kiếm. Nhưng tự chúng ta không thể có được, phải cậy nhờ vào Chúa Giê-su Ki-tô. Chàng thanh niên đã chạy đến với Chúa Giê-su để xin Chúa chỉ cho anh việc phải làm để được sống đời đời, chứng tỏ là anh biết chắc sự giàu có của anh không làm thỏa mãn, nhất là không bảo đảm cho anh, khiến anh đi tìm kiếm một thứ hạnh phúc cao hơn, có giá trị bền vững hơn là của cải vật chất.
Thái độ hiền lành, hòa nhã của Đức Giê-su đã thu hút được đủ mọi hạng người. Một chàng thanh niên giầu có, Lu-ca gọi là “Thủ lãnh” (Lc 18,18-23), đến hỏi Đức Giê-su về điều kiện phải có để được sống đời đời… Qua đối thoại với Chúa Giê-su, anh còn cho biết anh đã tuân giữ tất cả giới răn từ thuở nhỏ. Thấy thiện chí của anh, Chúa Giê-su mời anh tiến một bước xa hơn nữa: bán tài sản, bố thí cho người nghèo, rồi trở lại theo làm môn đệ của Ngài. Điều này đòi hỏi một sự từ bỏ lớn lao. Anh không thể đáp ứng được vì anh có nhiều của cải. Vì thế anh đã buồn rầu bỏ đi.
Mặc dầu anh thanh niên này là một người tốt. Nhưng xét cho cùng, anh ta còn ích kỷ, anh chỉ nghĩ đến thu vào, anh đã có nhiều thứ và anh chỉ muốn có thêm chứ không muốn mất đi. Khi đến hỏi Chúa Giê-su, anh muốn được thêm sự sống đời đời nghĩa là anh muốn được cả đời này lẫn đời sau.
Giữa việc tuân giữ Lề Luật và thật sự yêu mến Chúa và anh chị em bằng những cử chỉ cụ thể, chàng thanh niên bắt đầu cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su cách tốt đẹp với những phẩm tính tốt như ước muốn làm điều tốt, cố gắng tìm hiểu xem phải làm gì để trọn hảo hơn và tuân giữ những giới răn Chúa truyền dạy. Nhưng không thể dừng lại mãi nơi điểm khởi đầu, người môn đệ của Chúa phải tiến lên, phải thực hiện lý tưởng và đạt cho được cùng đích là Chúa Giê-su Ki-tô, sống với Người, được trở nên giống như Người mỗi ngày một hơn: ”Nếu con muốn nên hoàn thiện, hãy bán đi tất cả những gì con có đem cho kẻ nghèo, rồi đến theo Ta”.
Chúng ta nên lưu ý, Chúa Giê-su không đến đề bần cùng hóa nhân loại, Ngài đến là để con người được sống và sống sung mãn, và cuộc sống sung mãn trong nhân cách dĩ nhiên không hề đồng nghĩa với bần cùng. Của cải vật chất là phương tiện cần thiết để sống. Tuy nhiên, khi sinh ra và lớn lên trong nghèo khó, Chúa Giê-su muốn chứng minh rằng con người có thể sống sung mãn, mà vẫn không phụ thuộc của cải vật chất. Đối với Chúa Giêsu, siêu thoát đối với của cải vật chất là điều kiện tiên quyết để vào Nước Trời. Đây là lý do tại sao tám mối phúc thật đầu tiên và cơ bản bao gồm các mối phúc khác chính là: ”Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”.
Thật ra, tự nó, của cải không ngăn trở người ta vào Nước Trời, nhưng thái độ ham mê của cải cản trở người ta yêu mến Thiên Chúa và Chúa Ki-tô. Cần phải có tinh thần sẵn sàng từ bỏ mọi của cải, mọi đam mê, để được tự do nghe tiếng Chúa dạy dỗ trong tâm hồn. Thái độ từ bỏ của cải và đam mê, không nhất thiết bắt người ta trở thành nghèo mạt, bởi vì từ bỏ mọi sự vì Chúa và vì Tin Mừng, chẳng những không làm người ta bị thiệt thòi, mà còn mở rộng tương giao xã hội của nó, vì họ sẽ được đại gia đình nhân loại, và rồi với những thử thách đã vượt qua, họ sẽ được hưởng sự sống đời đời.
Qua câu chuyện anh thanh niên với Chúa Giê-su, ta thấy con đường nên hoàn thiện phải gồm hai điều: trước hết là phải ước muốn: ”Nếu anh muốn nên hoàn thiện…”. Không thể đạt được điều gì chính đương sự không muốn, không tha thiết. Hễ muốn ta có thể đạt được, như câu ngạn ngữ Pháp: ”Muốn là có thể”; thứ đến, sự hoàn thiện không hệ tại những việc lành làm được, mà ở tại việc đi theo Chúa, gắn bó với Chúa: ”hãy đến theo tôi”. Những việc tốt lành làm được chỉ mới là một phần thiện, còn phải trở nên một với Đấng là “Chân, Thiện, Mỹ” nữa thì mới gọi được là hoàn thiện.
Người thanh niên đã giữ giới răn, đã làm những việc tốt, nhưng điều anh thiếu là chính Chúa. Vì thế phải cảnh giác với thái độ tự mãn rằng khi giữ những giới răn của Chúa và Giáo hội là tôi đã hoàn thiện rồi, trong khi thực ra “Không có Thầy, các con không thể làm được gì”. Một đời sống không gắn bó với chính Đấng nguồn mạch sự thiện, thì chưa phải là hoàn thiện
Những cản trở giũ bỏ sự giàu có bên ngoài để làm giàu trong tâm hồn, từ bỏ của cải ở dưới đất để đổi lấy kho tàng trên trời là sự sống đời đời. Trước một đòi hỏi quyết liệt của Chúa Giê-su, chàng thanh niên sa sầm nét mắt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải (x. Mt 19, 22).
Đoạn Tin Mừng trên cho thấy: Con đường hoàn thiện dẫn tới sự sống đời đời không phải là việc con người làm, nhưng là tin theo Chúa Giê-su. Nhiều lúc ta cứ tưởng giữ các điều răn cho thật đầy đủ là đương nhiên Chúa trả công cho ta. Ơn cứu độ của chúng ta chỉ được thực hiện trong Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu Độ duy nhất đem lại hạnh phúc đích thực cho con người. Tin Chúa và thực hành giáo huấn của Chúa là chìa khoá để chúng ta có được sự sống đời đời.
Câu kết của trang Tin mừng hôm nay đã nói rất rõ lý do tại sao người thanh niên ấy quay lưng với Chúa Giêsu: “vì anh ta có nhiều của cải”. Như thế, phải chăng của cải là thứ rào cản thật lớn lao đối với những người muốn bước theo Chúa trên con đường hoàn thiện?
Tin mừng mở ra là lời mong ước của chàng thanh niên với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?”. Nếu kết hợp với câu cuối thì ta dễ dàng thấy được rằng: đối với người thanh niên, anh ta hầu như có tất cả, có cả về vật chất lẫn tinh thần. Có nhiều vật chất nên anh mới được gọi là người có nhiều của cải, có nhiều về mặt tinh thần vì anh đã thực thi tất cả những gì mà lề luật dạy. Như thế anh nghĩ là anh đang có nhiều điều.
Thế nhưng, những cái có ở thế gian này dường như không làm cho anh thỏa mãn, cho nên, anh muốn có thêm cả nước Trời nữa, nghĩa là anh muốn sở hữu nước Trời như cách mà anh đã từng sở hữu nhiều thứ khác trong cuộc đời này.
Qua câu trả lời, Chúa Giêsu dạy cho chàng thanh niên nhưng cũng nói với mỗi người chúng ta rằng: Nước Trời không phải là thứ để sở hữu, không phải là thứ để mình muốn có là được, nhưng nước Trời hệ tại ở việc mình cho đi và bước theo Chúa. Cho nên Chúa Giêsu mới nói với anh ta rằng: “hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”.
Thật vậy, nếu chúng ta không biết sống thanh thoát với của cải, thì chúng ta khó mà thực thi hai giới răn quan trọng nhất của Thiên Chúa, đó là mến Chúa và yêu người. Mà hai giới răn như là “tấm vé” duy nhất để ta có thể tiến vào nước Trời.
