2022
Sự thật sẽ giải phóng các ông
6.4 Thứ Tư trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Đn 3:14-20,91-92,95; Đn 3:52,53,54,55,56; Ga 8:31-42
Sự thật sẽ giải phóng các ông
Tin Mừng hôm nay cho thấy thái độ của Chúa Giêsu đối với những người Do Thái mới tin vào Ngài. Lòng tin của họ chưa được trọn vẹn và Ngài đề nghị những biện pháp để củng cố niềm tin đó, như sống theo lời Chúa, chấp nhận được giải thoát khỏi tội lỗi, phát triển mối tương quan với Ngài. Tuy nhiên, các người Do Thái không đủ khiêm tốn để chấp nhận đề nghị của Chúa, họ tự phụ cho mình là con cái của Abraham và do đó không cần ai dạy thêm điều gì nữa, cũng chính vì thế họ không thể tiến xa hơn trên con đường đức tin.
Chúa Giêsu đã đương đầu sự chống đối và thù ghét của họ bằng sự can đảm và quyết tâm thực thi ý Cha. Người sẵn sàng ôm lấy thập giá để hủy diệt công việc của Satan và giải cứu người Do Thái và dân ngoại ngang qua lễ đền tội của Người cho tội lỗi của thế gian. Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta con đường tới vương quốc của Thiên Chúa – ngang qua đức tin và sự vâng phục lời Chúa và ý Chúa dành cho cuộc đời chúng ta. Trở nên người môn đệ của Chúa Giêsu đòi hỏi đức tin và sự vâng phục – chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền. Hạn từ môn đệ theo nghĩa đen là người học hỏi Thầy mình và lắng nghe tiếng nói của thầy. Và hạn từ vâng phục theo nghĩa đen là lắng nghe và lệ thuộc vào người có thẩm quyền đúng đắn để giảng dạy và tuyên bố điều gì là ngay chính và chân thật.
Chúa Giêsu đã nói: Ai ở lại trong Ta thì biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng cho kẻ đó được tự do. Sự tự do mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây là sự sống trong ân sủng của Thiên Chúa. Khi chúng ta phạm tội mất ơn thánh, nghĩa là chúng ta phải sống xa Chúa là sự tự do tuyệt đối. Khi phạm tội, chúng ta bị trói buộc vào con đường của ma quỉ, của những đam mê dục vọng. Chúng ta chỉ có thể sống hạnh phúc và tự do khi sống đúng địa vị làm con Thiên Chúa. Sự tự do ấy chỉ có được trong Chúa Giêsu, khi chúng ta liên kết cuộc đời chúng ta với Ngài.
Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu nói cho người Do thái biết điều gì đã trói buộc họ khiến họ phải làm nô lệ, và điều gì sẽ giải thoát họ để họ được tự do. Điều giải thoát họ khỏi nô lệ và được tự do: “Nếu các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, và sẽ được biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi”.
Giải phóng cho chúng ta tự do… Sự tự do mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây là sự sống trong ân sủng Thiên Chúa. Khi chúng ta phạm tội mất ơn thánh, nghĩa là chúng ta phải sống xa Chúa là sự tự do tuyệt đối. Sự tự do ấy chỉ có lại được trong Chúa Giêsu, khi ta gắn bó lại, liên kết lại cuộc đời chúng ta với Ngài. Chúng ta chỉ có thể hạnh phúc khi sống địa vị làm con Thiên Chúa – con cái tự do.
Khi nguyên tổ Adong-Evà phạm tội lỗi nghịch cùng Chúa, ma quỉ đã đem tội lỗi vào trần gian. Và khi tội lỗi xâm nhập trần gian, con người đắm chìm trong tội, nô lệ cho mọi khuynh hướng xấu, bị giam hãm trong tội nguyên tổ, sự xuống cấp của một luân lý suy đồi “tội trần gian” và làm tôi cho ma quỉ. Tự sức mình con người không thể tự giải thoát mình, nên cần đến ơn Cứu độ. Đức Giêsu đã phải trả giá đắt để chuộc con người và đem con người trở nên con cái tự do. Chúa Giêsu cũng khẳng định: “Kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi” (Ga 8,35).
Muốn được sống tự do, muốn giải thoát con người của mình khỏi những trói buộc của lỗi lầm và khuyết điểm, thì điều cần thiết trước tiên là phải biết sự thật về mình. Nhà văn văn Shakespeare nói: “Người dại thường nghĩ rằng mình khôn, còn người khôn lại tự biết mình dại”. Như vậy, chúng ta cần phải khôn ngoan. Có nhiều người bỏ xưng tội rước lễ cả mấy chục năm, nhưng khi đề nghị với họ nên xét mình xưng tội, thì họ trả lời: “Con chẳng có tội gì!”
Người Do Thái tự cho mình là tự do, là dòng dõi Abraham và là con Thiên Chúa, nhưng rốt cuộc họ hành động bạo lực : họ ném đá Chúa Giê-su. Còn Chúa Giê-su cũng mặc khải mình là Con Thiên Chúa, nhưng hành động cách hiền lành. Chính những cung cách hành động như thế cho thấy, ai ở trong sự thật và ai ở trong gian dối. Gian dối đi đôi với bạo lực, còn sự thật đi đôi với hiền lành.
Tin rằng Thiên Chúa coi chúng ta là những người công chính trong Đức Giêsu-Kitô, có lẽ là phương cách thích hợp nhất với Tin Mừng, để cuối cùng có được sự xấu hổ đối với tội của chúng ta và nhất là có được nhiều lòng thương cảm hơn đối với tội của những người khác.
Chúa Giêsu khẳng định cho họ biết rằng: nếu họ ở trong Lời của Ngài, tức là sự thật thì họ thuộc về Ngài và trở thành môn đệ, bằng không sẽ trở thành nô lệ cho tội và bị truất phế bất cứ lúc nào!
Khi xác định như thế, Chúa Giêsu cảnh báo sự kiêu ngạo tự phụ của người Dothái. Bởi vì họ luôn nghĩ rằng mình thuộc hạng người ưu tuyển, dân riêng, nên có đặc quyền đặc lợi trước mặt Thiên Chúa và không ai có quyền đụng tới họ.
Khi sống trong tội và sự dối trá, con người luôn bất an dầu cho có tự do về mặt thể lý. Vì vậy, muôn đời, chỉ có sự thật mới giải phóng con người. Ấy vậy, vẫn còn quá nhiều người u mê chọn cho mình một thể chế chính trị hay một đường lối giả dối để suốt đời bất an. Bất an đến mức khi thấy sự thật họ phải che mặt lại như tù nhân quá lâu ngày trong hang tối lần đầu tiên thấy mặt trời. Hãy can đảm đối diện dù lúc đầu nước mắt chứa chan nhưng sẽ được ngẩng cao đầu và bước đi trong tự do. Là Kitô hữu, chúng ta được hạnh phúc hơn hết vì chúng ta có Sự Thật là chính Chúa Giêsu Chúa chúng ta. Người giải phóng và đưa ta vào vương quốc tự do. Xin cho mỗi chúng ta biết can đảm sống thật, để sự thật sẽ giải thoát chúng ta.
Sự giải thoát mà Chúac Giêsu ban cho các môn đệ là sự giải thoát khỏi quyền lực tội lỗi, Satan, và ảnh hưởng thế tục của những kẻ chống đối Thiên Chúa và những đường lối của Người. Chúng ta bất lực để tự giải thoát mình khỏi sự ràng buộc của Satan, tội lỗi, và cái chết (Rm 3,23; 5,6). Ðó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã mang lấy những tội lỗi trên mình và đóng đinh chúng vào thập giá (1Pr 2,24; Is 53,5-6; Col 2,14). Cái chết của Người trên thập giá đã mang lại chiến thắng và sự tha thứ cho chúng ta, và sự bình an với Thiên Chúa.
Ngang qua hy lễ của Chúa Giêsu, chúng ta không chỉ được tha thứ và hòa giải với Thiên Chúa – chúng ta còn trở nên con cái của Thiên Chúa nữa (Rm 8,14-16). Chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha bởi vì Chúa Giêsu đã hòa giải chúng ta và cứu chuộc chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và Satan.
2022
Lòng tin
5.4 Thứ Ba trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Ds 21:4-9; Tv 102:2-3,16-18,19-21; Ga 8:21-30
Lòng tin
Trong bài sách Dân số hôm nay, khi nhìn lên con rắn đồng được Môsê giương cao trong sa mạc, dân Chúa đã nhận ra tội lỗi của mình. Họ đã quên ơn giải thoát, đã phàn nàn trách móc và bất trung thất tín, muốn bỏ Chúa để trở về đời sống cũ. Chính tội lỗi, như nọc độc rắn lửa, đã gây ra cho con người biết bao đau khổ và sự chết. Cũng vậy, khi chiêm ngắm Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá, chúng ta đã chẳng đấm ngực cúi đầu mà than khóc tội mình được sao?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su nói: “Các ông sẽ mang tội mình mà chết tới ba lần”. Ngài quả quyết rằng điều đó chắc chắn sẽ xảy ra nết con người không tin vào sự Hằng Hữu của Ngài. Quả thật, Đức Ki-tô Giê-su đã tự nhận mình là Đấng Hằng Hữu. Ngài đang hiện hữu ngay trước mắt con người. Ngài cảm thấy buồn chán trước lòng tin chai đá của họ. Họ đã được Ngài dạy dỗ rất nhiều, được chứng kiến những dấu lạ…. Vậy mà, họ vẫn không tin Ngài bởi Thiên Chúa Cha mà đến và sẽ còn ở lại với họ luôn mãi. Về phía con người, họ mang trong mình quá nhiều tội lỗi, chắc chắn họ không muốn mang theo những tội lỗi này để đi vào cõi chết. Họ muốn được giải thoát, nhưng thật chớ trêu thay, họ lại không thể tin vào Đấng giải thoát đang ở trước họ.
Cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với người Do thái ngày càng trở nên căng thẳng vì giữa Chúa với họ có sự hiểu biết khác nhau. Do không hiểu nhau sinh ra xung đột, căng thẳng đến mức độ gây ra sự chia rẽ sâu sắc. Tuy nhiên, Tin Mừng Gioan cho thấy một lối thoát về sự căng thẳng này, đó là sau khi nói những lời trên, có nhiều kẻ tin vào Người. Những điều Chúa Giêsu nói từ hôm qua, Ngài là ánh sáng, gợi lên cho chúng ta mặc khải quan trọng, Người là Đấng Hằng Hữu, như hôm nay, Người lại nói rõ điều đó, các ngươi sẽ biết Ta là Đấng Tự Hữu. Điều Chúa Giêsu nói với họ làm cho họ chao đảo, bởi chưa một ai nói với họ như thế. Tuy nhiên, cũng mở ra cho nhiều người sự hiểu biết chân thật, và sự hiểu biết này dẫn họ đến đức tin, tin vào Người và xác tín những lời Người nói.
Trong cuộc sống ngày hôm nay, cũng không ít lần chúng ta quên mất sự hiện diện thường trực của Thiên Chúa trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta không cảm thấy vai trò của Ngài quan trong như thế nào đối với hành trình dương thế của chúng ta. Nhất là khi gặp những đau khổ hay bất hạnh trong cuộc đời, thay vì tìm đến Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực, chúng ta lại cố bám víu vào những lối giải thoát khác. Có thể, những lối giải thoát này sẽ giúp chúng ta bình an, nhưng đó chỉ là thứ bình an chóng qua, và rồi, tâm hồn chúng ta sẽ trở về với cảm giác trống rỗng. Quả thật, chúng ta đã cầu nguyện với Chúa mà chẳng thấy Ngài nhậm lời. Chúng ta tâm sự với Ngài nhưng lòng vẫn bất an. Tại sao thế? Bởi vì đức tin chúng ta còn quá non yếu chưa thể tin tưởng và bám vào con người Giê-su cách chắn nhất.
Sách Giáo Lý khẳng định: “Các tội nhân là những tác giả và tác viên của mọi cực hình mà Đức Kitô đã phải chịu” (GLHTCG 598). Nhìn lên thập giá Chúa Giêsu, ta thấy mình cũng đã có lúc ghen ghét, đặt điều vu khống như các kinh sư và Pharisêu thuở xưa. Đã biết mấy lần ta cũng như Philatô rửa tay làm ngơ trước nhu cầu của những người đau khổ. Ta gặp thấy mình nơi đám đông dân chúng, dễ dàng xuôi theo dư luận xã hội mà chối từ chân lý. Ta gặp thấy mình nơi những người môn đệ, bỏ Thầy chạy trốn ngay từ những cơn thử thách đầu tiên. Ta nhận ra mỗi lần phạm tội chính là mỗi lần ta đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá. Quả thật, “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta” (lCr 15,3).
Thập giá Chúa Giêsu không chỉ rọi sáng thực trạng tội lỗi của chúng ta mà thôi, nhưng trên hết tất cả, là điểm hẹn cho ta gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa, là cội nguồn ơn tha thứ và sự sống đời đời. “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sổng muôn đời” (Ga 3:14-15). Thập giá nói lên một tình yêu cao quý khôn cùng, như Đức Thánh Cha Benedict XVI viết trong tác phẩm Đức Giêsu Thành Nazareth: nơi đó, mặc cho tất cả những sự phủ nhận từ phía con người, Con Thiên Chúa vẫn tự nguyện hiến ban chính mình, đón nhận tất cả tiếng nói “không” của con người vào chính thân xác mình, để thưa lời “xin vâng” trọn vẹn dâng lên Thiên Chúa Cha.
Tình yêu Thiên Chúa phủ lấp muôn vàn tội lỗi thế trần. Nhìn lên thập giá, ta bắt gặp ánh mắt trìu mến của Thầy Chí Thánh đang thấu suốt tận thẳm sâu tâm hồn, cùng vòng tay dịu dàng ôm trọn thế trần tội lỗi. Ta lắng nghe môi miệng Người hằng cất lời tha thứ và hứa ban hạnh phúc Nước Trời. Người đã đón nhận, đã chiến đấu và chiến thắng hiển vinh trên chính sự chết, để chúng ta được sống. Nhìn lên thập giá Chúa Giêsu, ước gì chúng ta cũng tin kính thưa lên như viên đại đội trưởng: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).
Nếu tiếp tục thiếu lòng tin vào Thiên Chúa, không tin tưởng vào sự hiện hữu của Ngài, những đau khổ trong cuộc sống chúng ta chắc chắn sẽ không có lối thoát. Và rồi, chúng ta sẽ mang bao tội lỗi của mình đi vào cõi chết, điều đó thật khốn đốn cho linh hồn chúng ta. Vì thế, Lời Chúa hôm nay mời gọi ta vững tin vào Ngài. Chúa muốn ta tin vào phẩm tính Hằng Hữu của Ngài. Ngài không phải chỉ thương xót hay cứu độ chúng ta cách nhất thời rồi bỏ đi mất, nhưng Ngài vẫn luôn hiện hữu trong đời sống của từng người chúng ta. Ngài vẫn mãi là nơi để chúng ta chạy đến mỗi khi chúng ta cảm thấy đau khổ cùng cực hay hạnh phúc ngập tràn trong cõi lòng chúng ta.
Đức tin là điều khó lý giải được nếu chúng ta không để cho phạm trù siêu nhiên khai mở và kích thích lý trí tự nhiên của chúng ta tìm hiểu. Chính đức tin mà cha ông của người Do thái, tổ phụ của họ đã đi theo tiếng gọi của Chúa. Môsê từ mặc khải bụi gai bốc cháy, đã trở nên thủ lĩnh và là người giải phóng dân ra khỏi Ai Cập. Thiên Chúa vô hình – Siêu Hữu Thể – đã là tiếng gọi mà cha ông họ đã nghe. Đáng lẽ những điều Chúa nói, phải là cơ hội gợi mở cho lòng trí họ đi qua những thung lũng u mê. Nhưng không, họ càng chất vấn, càng muốn tỏ ra thông thái, thì họ càng khép kín lòng trí mình lại với thực tại siêu nhiên mà Chúa Giêsu mang đến cho họ.
2022
Ai sạch tội
4.4 Thứ Hai trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Đn 13:1-9,15-17,19-30,33-62; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Ga 8:1-11
Ai sạch tội
Người Do thái có nhiều lễ trong một năm. Lễ Lều Trại có lẽ là cơ hội để người ta lạm dụng, ăn ở phóng túng. Trong suốt tám ngày sống ở lều, ngoài rừng, thuận tiện cho những cuộc gặp gỡ lả lướt. Những cuộc giao du nơi này qua nơi khác vẫn hay có những hội ngộ tình cờ, không hợp với luân thường đạo lý là bao. Chính sau cuộc lễ này mà xảy ra câu chuyện trong bài Tin mừng.
Sau bài giảng trong Đền thờ nhân dịp lễ Lều Trại của người Do thái, Đức Giêsu đi ra nghỉ tại núi Cây Dầu. Bao giờ có dịp về thủ đô, Ngài cũng qua nghỉ đêm tại đó. Tảng sáng hôm sau, Ngài lại vào Đền thờ và toàn dân đến cùng Ngài, nên Ngài ngồi xuống đất mà giảng.
Tình cờ người ta đem đến cùng Ngài một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Những người luật sĩ và biệt phái lợi dụng cơ hội này để thử thách Chúa Giêsu.
Hôm nay, các luật sĩ và biệt phái sử dụng “nguyên lý triệt tam” để tung ra một đòn quyết định, đặt Chúa Giêsu và một tình thế tiến thoái lưỡng nan, mà nếu Ngài ngả theo phía nào thì họ cũng có cái cớ để tố cáo Ngài.
Họ đưa đến trước mặt Chúa Giêsu một người phụ nữ phạm tội ngoại tình, rồi hỏi Ngài sẽ xử lý thế nào khi luật Maisen dạy phải ném đá chết. Cái bẫy của họ gài vào là nếu Đức Giêsu nói không thì họ kết án Chúa lỗi luật Maisen, còn nếu Ngài nói có thì họ sẽ có cớ phản bác trái với luật yêu thương mà Ngài giảng dạy.
Ðối diện với Chúa Giêsu là một phụ nữ tuyệt vọng chờ chết. Tội chị rành rành ra đấy nên đối với con người thì là vô phương cứu chữa, nhưng may mắn thay cho chị, trước mặt chị Ðấng được mệnh danh là Chiên Thiên Chúa, là Ðấng xóa bỏ tội trần gian. Người xót thương số phận bi đát của chị. Người muốn cứu chị khỏi án chết trước mắt và nhất là Người muốn cứu chị khỏi án chết muôn đời trong thế giới mai sau. Người sẽ cứu chị, đồng thời Người cũng sẽ cho những kẻ muốn ám hại Người một cơ hội nhìn lại bản thân họ: “Chị ta thật xấu đấy, nhưng không chừng các ông lại còn xấu xa hơn chị bội phần.
Tội của chị thì ai cũng thấy vì chị ta không khéo che đậy; còn tội các ông thì thiên hạ ít người nhận ra bởi các ông khéo tô son trét phấn cho chúng, và đã đến lúc các ông phải nhìn lại mình rồi đấy”. Chúa Giêsu im lặng suy nghĩ. Người cúi xuống, lấy tay viết lên trên mặt đất để khỏi đưa ra lời phán quyết. Người không ngây thơ rơi vào bẫy của các kinh sư và người pharisiêu như họ tưởng. Chuyện đơn giản, hóa ra chẳng đơn giản tí nào. Họ nóng lòng thúc giục Chúa Giêsu lên tiếng: “Ðược, nếu các ông muốn tôi nói thì xin nghe đây; ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”.
Các kinh sư và người pharisiêu không ngờ cục diện lại thay đổi đột ngột đến thế, từ chỗ nắm dao đằng cán, bây giờ họ lại phải nắm lấy lưỡi dao do chính mình đưa ra, không khéo lại đứt tay chảy máu, thế là hỏng bét. Họ lần lượt bỏ đi, không kèn không trống, chỉ còn lại hai người trên hiện trường: Chúa Giêsu và người phụ nữ, Ðấng có quyền tha tội và người đã lỡ lầm phạm lỗi. Chúa Giêsu nhìn lên, người phụ nữ hồi hộp chờ đợi, nhưng không có lời kết án nào cả, mà chỉ có một câu nói dịu dàng: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” và một câu nói nhẹ nhàng khác tiếp theo: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi và từ nay đứng phạm tội nữa.”
Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp với họ, nhưng với một lời nói của Ngài đã đặt các luật sĩ và biệt phái vào một sự chất vấn của lương tâm và phơi bày lòng dạ khi đối diện với Đấng thấu suốt mọi sự: “Ai trong các ngươi sạch tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Cuối cùng họ lặng lẽ rút êm, bắt đầu từ người lớn tuổi nhất.
Lời Chúa Giêsu đã làm cho họ thay đổi ý định, họ đã rút lui từng người một, trước tiên là những người nhiều tuổi. Trong cuộc đời, nhiều lúc chúng ta cũng cần phải rút lui. Rút lui không cho phép mình phê bình chỉ trích người khác, rút lui trước hành động xét đoán, loại trừ anh em. Vì khi làm như thế chúng ta gián tiếp cho rằng mình là người công chính.
Ta cũng cần lưu ý đến điểm tương đồng trong hai câu chuyện, đó là sự có mặt của đám đông dân chúng. Họ tụ họp nhau để theo dõi phiên toà, để hò hét ủng hộ hay nếu cần, có thể cầm đá ném người tử tội cho đến chết. Đây cũng là thái độ thường xuyên của mỗi chúng ta, nếu chúng ta thiếu lòng bao dung thông cảm đối với anh chị em. Sứ điệp Tin Mừng mời gọi mỗi người chúng ta hãy nhìn lại mình, hãy xét lại những hành vi xấu xa tội lỗi chúng ta đã làm và thành tâm ăn năn sám hối để đáng hưởng lòng xót thương của Thiên Chúa. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới là thẩm phán, tất cả chúng ta đều là những tội nhân luôn cần được Thiên Chúa thứ tha và ban ơn cứu độ.
Nếu như người phụ nữ trong câu chuyện thứ nhất được Thiên Chúa ra tay bênh đỡ vì chị vô tội thì người phụ nữ trong câu chuyện thứ hai được Chúa Giêsu cứu là vì tình thương. Chúa Giêsu thương cho số phận của người phụ nữ ngoại tình vì cứ chiếu theo luật thì cuộc đời của chị đến đây là kết thúc. Chị sẽ chết trong tội lỗi của chị. Nhưng câu chuyện thứ hai đã kết thúc tốt đẹp không kém gì câu chuyện thứ nhất. Chúa Giêsu đã mở ra cho chị một tương lai tươi sáng, từ đây, chị đã có hướng để đi, có nơi để về, cuộc đời của chị đã được hoàn toàn biến đổi. Chắc hẳn những ngày còn lại trong cuộc đời của chị là chuỗi những lời tạ ơn, chị cảm nghiệm được tình thương mà ông Giêsu nào đó đã dành cho chị, nhờ ông mà chị được sống. Chỉ khi chúng ta mang lấy tâm trạng của người thoát chết trong gang tấc, chúng ta mới nói lời tạ ơn cách chân thành tận đáy lòng.
Rõ ràng có một sự khác biệt rất lớn giữa cách hành xử của những người luật sĩ, biệt phái với Đức Giêsu. Nhóm biệt phái thì muốn kết tội, còn Đức Giêsu thì muốn tha thứ. Nếu đọc kỹ câu chuyện chúng ta thấy, nhóm biệt phái chỉ muốn ném đá người đàn bà này cho chết, và họ còn cảm thấy rất thích thú khi được làm điều này. Họ cảm thấy vui sướng khi quyền lực được sử dụng để kết án. Còn Đức Giêsu, thì Ngài không muốn làm như vậy. Ngài không cảm thấy vui khi quyền lực được dùng để kết tội. Ngài muốn dùng quyền hành để tha thứ.
Qua sự kiện này, chúng ta thấy có một nghịch lý đáng buồn và cũng đáng trách: một đàng Thiên Chúa là Đấng thánh thiện vô cùng lại đầy lòng thương xót và khoan dung đối với người tội lỗi… Còn con người thì ai cũng mắc tội không nhiều thì ít, không nặng thì nhẹ lại hay xét đoán, phê bình chỉ trích và lên án người khác nhất là những kẻ tội lỗi. Do đó, nhiều khi đã vô tình xô đẩy thêm kẻ có tội vào vũng lầy không lối thoát.
Qua câu trả lời của Đức Giêsu: “Ai trong các ông sạch tội thì hãy ném đá người phụ nữ này đi”, chúng ta tìm ra được nguyên tắc của Đức Giêsu là chỉ người vô tội mới được đoán xét những lỗi lầm của người khác.
Hôm nay, Chúa dạy chúng ta một bài học là phải dành quyền xét đoán cho Thiên Chúa, vì chỉ ai không có tội mới có quyền xét đoán và lên án, còn chúng ta là những người tội lỗi phải có lòng thương cảm đối với tội nhân.
Còn về phía mình, Chúa nhắc nhở ta phải biết hồi tâm, phải nhận ra mình là kẻ có tội, phải đi xưng tội để làm hoà với Chúa. Khi đã có một tâm tình như vậy, tự nhiên chúng ta không dám xét đoán và lên án ai.
2022
Đừng đố kỵ
2.4 Thứ Bảy trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Gr 11:18-20; Tv 7:2-3,9-10,11-12; Ga 7:40-53
Đừng đố kỵ
Càng ngày, Chúa Giêsu càng tiến đến gần lúc nguy hiểm. Dân chúng trước đây cách chung ủng hộ Ngài nay hoang mang, kẻ thì nói Ngài là Đức Kitô, kẻ khác không còn tin nữa, vì theo những kẻ này Đức Kitô không xuất thân từ Galilê mà phải xuất thân từ Bêlem thành của vua Đavít. Các thượng tế và biệt phái thì nóng lòng muốn bắt Ngài. Gamaliên lên tiếng bênh vực Ngài thì bị chụp mũ là đồng bọn Galilê với Ngài.
Lời Chúa trong Tin Mừng Thánh Gioan thuật lại hôm nay, soi sáng cho chúng ta thấy một thái độ sống rất cần thiết, một cách thế để nhận định và đánh giá về một người nào đó.
Khi nghe Chúa Giêsu giảng trong Đền thờ, dân chúng đã dị nghị về Ngài. Và khi nghe bài giảng xong, dư luận càng chia rẽ về nguồn gốc của Ngài. Bài Tin mừng cho biết dân chúng trước đây cách chung ủng hộ Ngài nay hoang mang, kẻ thì nói Ngài là Đấng Kitô, kẻ khác không còn tin nữa, vì theo những kẻ này Đức Kitô không xuất thân từ Galilê, mà phải xuất thân từ Belem thành của Đavít. Các thượng tế và biệt phái thì nóng lòng muốn bắt Ngài. Nicôđêmô lên tiếng bênh vực Ngài thì bị chụp mũ là đồng bọn Galilê với Ngài.
Chúa Giêsu là ai ? Đứng trước Chúa Giêsu, kẻ thì nhìn nhận Ngài là Con Thiên Chúa làm người, kẻ thì nghĩ Ngài là một vĩ nhân, một tiên tri có sứ mệnh đặc biệt nào đó, kẻ khác nữa thì cho là một người phàm như mọi người. Thế là người ta hoang mang chia rẽ nhau. Đó cũng là thái độ của người Do thái thời Chúa Giêsu như được thuật lại trong bài Tin mừng hôm nay.
Chúac Giêsu đã trở nên một dấu hỏi lớn. Mỗi người phải tìm một câu trả lời cho câu hỏi: “Đức Giêsu là ai ? Thật ra điều kiện chính yếu để có thể nhận biết Thiên Chúa, đó là thái độ khiêm tốn, vô tư, trung thực, gạt bỏ tự cao tự đại, thay đổi quan điểm, thành kiến, hy sinh quyền lợi riêng tư, để theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa. Người Do thái xưa đã không tin nhận Đức Giêsu là vì họ thiếu những điều kiện kể trên.
Ta quan sát đám đông dân chúng, một số người đã nghe Đức Giêsu giảng thì nhận định : “Ông này thật là vị ngôn sứ” ; “Ông này là Ðấng Kitô”. Nhưng Thánh Gioan lại cho biết thêm, có những người trước khi nghe giảng thì đã có những định kiến sẵn về nguồn gốc của Đức Giêsu rồi : “… Nào chẳng phải : Ðấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Ðavít và từ Bêlem, làng của vua Ðavít sao ?” Chúng ta nhận thấy sự khác biệt của hai thái độ nghe này : một là nghe bằng sự trong sáng, hai là nghe khi đã có định kiến, chắc chắn hai cách nghe này sẽ dẫn đến hai cách hành xử khác nhau.
Thánh Gioan cũng cho thấy một nhóm người khác là các vệ binh, những người này được sai đi để bắt Đức Giêsu, nhưng họ đã trở về với các thượng tế và người Pharisêu rồi trả lời họ : “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !”. Nhóm người thứ hai này có một thái độ khác, họ không chỉ nghe với tất cả sự trong sáng mà thôi, nhưng họ còn biết so sánh và nhận định “xưa – nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy”…, cuối cùng họ mới đưa ra một kết luận và quyết định cách hành xử, quay trở về và không tra tay bắt Chúa Giêsu nộp cho các thượng tế.
Các thượng tế, biệt phái và người Pharisiêu dường như lại có thái độ ngược lại, họ không chịu lắng nghe, mà nếu có nghe, thì họ đã có những định kiến rồi. Họ chẳng nghe cho kỹ, hiểu cho sâu. Họ cũng chẳng so sánh, chẳng nhận định, chẳng diện đối diện như các vệ binh. Trái lại họ dựa vào ý kiến của một số người để kết luận“Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pharisêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ?” (Câu 48). Sau khi dựa vào một số người, không thấy có gì thuyết phục, họ dựa vào “lề luật” để kết luận “Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !” (Câu 49). Thái độ đánh giá người khác dựa vào: định kiến, dựa vào lề luật, dựa vào nguồn gốc xuất thân của người đó, dựa vào tiếng nói của một số người mạnh thế, chắc chắn không phải là một thái độ của Tin Mừng.
Rất may mắn cho chúng ta, là đoạn Tin Mừng còn nói đến một nhân vật khác nữa, một Pharisêu, người tên là Nicôđêmô, trước đây đã đến gặp Ðức Giêsu ; ông nói với họ : “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?”. Vâng, lời nói của ông Nicôđêmô thật đáng cho mọi người suy nghĩ. Ông xứng đáng là một người trong giới lãnh đạo. Ông cũng dựa vào “lề luật”, nhưng không phải là để bắt bẻ, dèm pha. Ông tìm thấy sự nghiêm túc của “lề luật”, sự liên quan đến luật hoàn hảo là đức ái, muốn kết án ai phải nghe và biết người ấy đã làm gì.
Như vậy, muốn kết luận hay đánh giá về một người nào đó, Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta : trước tiên phải biết lắng nghe, nghe cả những người hèn kém thấp cổ bé miệng nhất; nghe với toàn bộ sự trong sáng của tâm hồn, không dựa vào định kiến, không dựa vào vị thế hoặc nguồn gốc xuất thân của người đối diện; cũng không dựa vào một nhóm người nào đó ủng hộ hoặc về phe của mình; cuối cùng, sau khi nghe phải đến tận nơi tìm hiểu để biết người ấy đã làm gì, rồi mới được kết luận hành xử.
Chúa Giêsu đã trở nên một dấu hỏi lớn. Mỗi người phải tìm một câu trả lời cho câu hỏi “Giêsu là ai ?”. Câu trả lời của tôi thế nào: đối với tôi, Giêsu là Đấng để tôi chạy tới xin ơn ? Là Đấng nhân từ luôn thông cảm tha thứ ? Là người rắc rối hay đặt vấn đề cho lương tâm tôi ? Là đấng mà tôi phải trung thành đi theo, cho dù phải theo trên con đường Thập giá ?
Trong khi nhiều người chống đối Chúa Giêsu, nhiều người khác hoang mang không xác định rõ lập trường, thì Gamaliên đã can đảm lên tiếng bênh vực Ngài. Chung quanh chúng ta ngày nay cũng có nhiều người chống đối hay chưa hiểu Chúa Giêsu. Tôi có can đảm như Gamaliên không ?
Qua bao nhiêu thế hệ, kể từ khi Chúa Giêsu xuống trần gian rao giảng Tin Mừng, thực hiện ơn cứu rỗi cho con người, mở đầu một giai đoạn lịch sử cứu rỗi mới, nhưng lúc nào cũng có những con người cứng lòng chối bỏ Chúa. Và ngược lại thì cũng có nhiều tâm hồn chân thành tin yêu Chúa, sống kết hợp với Chúa như trường hợp các vị chư thánh trong Giáo Hội.
Ước gì Lời Chúa hôm nay soi sáng tâm hồn và cuộc đời chúng ta, để chúng ta biết cách nhìn người khác, lắng nghe và hiểu ngọn nguồn trước khi có kết luận đánh giá.
Đối với chúng ta ngày nay, chúng ta đã tin nhận Đức Giêsu, nhưng chúng ta có thực hiện Lời Chúa dạy bảo không ? Đức tin không việc làm là đức tin chết. Mùa Chay là ăn năn sám hối và sửa đổi đời sống, chúng ta hãy nghe Lời Chúa kêu gọi: “Hôm nay nếu anh em nghe Lời Chúa, thì đừng cứng lòng nữa”.
