2022
Đón nhận biến cố
10.11 Thánh Lêo Cả, Ghts
Tv 146:7,8-9,9-10; Lc 17:20-25
Đón nhận biến cố
Thánh Lêô sinh tại Roma vào khoảng năm 400, thuộc dòng họ quí tộc Tuscan. Sau khi đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo Hội đến năm 440 thì được bầu lên nắm giữ chức vụ Giáo Hoàng. Triều đại của ngài đang ở trong thời kỳ khủng hoảng. Đế quốc La Mã, một thời vàng son nay đang trên đà thoái hóa và sụp đổ. Các lý thuyết sai lầm lạc giáo tự do lan tràn, các đoàn rợ quân rình mò nơi biên giới. Trong thời kỳ như vậy nếu không có một thiên tài lãnh đạo và sáng suốt như thánh Lêô thì Giáo Hội khó mà đứng vững.
Là người kế vị thánh Phêrô, ngài có trách nhiệm nặng nề là hướng dẫn Giáo Hội trong kỷ cương. Ngài chứng tỏ là người cương quyết và uy quyền. Trong thông điệp “Tome” gởi cho Công Đồng Chalcedon (451) ngài phán quyết một cách rỏ ràng về bản tính của Chúa Kitô. Đức Lêô phán dạy Chúa Kitô là một Nhân vị, Ngôi Lời cực thánh, trong Chúa có bản chất người và Thiên Chúa, được kết hợp làm một không thể phân chia và pha trộn. Khi thông điệp của thánh Lêô được đọc lên trong Hội nghị các Giám Mục đã hết sức khâm phục mà kêu lên: “Thánh Phêrô đã nói qua Lêô”. Giáo huấn của thánh Lêô trở thành một tín điều cho Giáo Hội.
Sau Công Đồng là một thời kỳ đen tối, quân Mông cổ của Thành Cát Tư Hãn đang tiến về Roma. Thánh Lêô đã tự mình tay không đến gặp và yêu cầu quân Mông cổ rút lui đừng tiến vào Roma. Lần này thì thành công nhưng đến năm 455 ngài lại đến xin giàn hòa với quân rợ Vandals thì hoàn toàn thất bại. Ngài yêu cầu chúng có thể tịch thu mọi tài sản nhưng đừng giết người và thiêu đốt thành Roma.
Quân rợ Vandals đã cướp phá thành phố trong 14 ngày và cuối cùng chúng đã rút về Bắc Phi mang theo nhiều của cải cướp được và một số tù binh. Trong nhiều năm thánh Lêô đã cố gắng hàn gắn lại những đổ nát và giúp đỡ những nạn nhân còn sống sót.
Ngài qua đời ngày 10/11/461 và được chôn cất tại Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô. Nhờ ngài Giáo Hội không những sống còn qua cơn tai ương mà còn tiến mạnh đến những định chế vững mạnh trong thời Trung Cổ. Do đó ngài được tôn kính với biệt hiệu là “Vĩ đại” cùng với hai thánh Giáo Hoàng khác là Gregory I và Nicolas I.
Năm 668, Đức giáo hoàng Sergiô I dựng bia mộ người, đã viết: “Người vẫn còn canh thức, kẻo chó sói hằng luôn rình rập, xông vào cắn xé đoàn chiên”. Đức giáo hoàng Biển Đức XIV đã tuyên xưng Thánh Giáo Hoàng Lêô I là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 15/10/1754. Ngài được giáo hội kính nhớ vào ngày 10/11.
“Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” Hầu hết Người Ki-tô hữu cầu nguyện bằng kinh lạy cha chí ít một tuần một lần khi tham dự thánh lễ Chúa nhật. Và lời cầu nguyện ấy bắt đầu bằng câu:
Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước (triều đại) Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. (x. Mt 6, 9 – 11; Lc 11,2)
Thường thì người ta cầu nguyện, người ta van xin khi khát khao, mong mỏi hoặc cảm thấy cấp thiết được đáp ứng một điều gì đó. Lời cầu nguyện đúng nghĩa phải là lời cầu nguyện phát xuất từ thẳm sâu tâm hồn con người; không câu nệ, không máy móc, không cảm thấy áp lực hoặc bị cưỡng ép. Chúng ta thường đọc kinh lạy Cha với tâm tình nào?
Phải hiểu, phải cảm được sự tối cần thiết của nước Thiên Chúa trong cuộc sống con người thì con người mới khát khao mong mỏi ‘Nước Chúa hiển trị’. Nhưng trình thuật Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta biết nước Thiên Chúa đã đến rồi: “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” (c. 21b). Vậy chúng ta cần hiểu triều đại Thiên Chúa như thế nào?
Đức Ki-tô là hiện thân của nước Thiên Chúa. Đức Ki-tô đã đến. Người không những ở trong chúng ta mà còn ở giữa chúng ta nơi những người anh chị em sống chung quanh ta. Và hơn nữa, Người còn đồng hóa mình với những người nghèo nàn, bất hạnh. (Mt 25, 35 – 36) Vì vậy, chúng ta không thể chỉ tôn thờ Chúa trong nhà thờ hay khi đọc kinh cầu nguyện mà còn phải phục vụ Người trong cuộc sống, nơi tha nhân, nhất là những người chúng ta có bổn phận và trách nhiệm. Chúng ta khát khao ước ao nước cha hiển trị bởi vì đó là lẽ sống đích thực của chúng ta – sống trong nước tình yêu. Bởi vì bộ mặt thế gian này luôn qua đi, nhưng nước tình yêu của Thiên Chúa sẽ tồn tại mãi, nơi ấy chúng ta có Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau.
Vì thế nước Thiên Chúa không ở xa, nhưng ở giữa chúng ta, và mỗi người chúng ta có bổn phận trách nhiệm xây dựng nước ấy bằng tình yêu chân thực phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa đã dành cho chúng ta. Đồng thời lời kinh lạy Cha mà chúng ta đọc có thể là rất nhiều lần trong một ngày “xin cho nước cha hiển trị” sẽ không là những lời máy móc, vô nghĩa, nhưng là lời khẩn nài tha thiết với ước vọng ơn Cha giúp cho Giáo hội, mọi Ki-tô hữu cũng như chính bản thân ta biết sống như là một công dân của nước trời làm sáng danh Thiên Chúa tình yêu và làm cho tình yêu ngự trị khắp vũ hoàn.
“Người ta sẽ bảo anh em: ‘Người ở kia kìa!’ hay ‘Người ở đây này!’ Anh em đừng đi, đừng chạy theo.” (c. 23) Ngược lại với lời Chúa Giêsu, dường như thói thường chúng ta thường thích xem chuyện lạ, thích xem Chúa, Mẹ hiện ra; nghe ở đâu có chuyện lạ là ùn ùn đến ‘xem’; nhưng lại không muốn tuân giữ những điều Chúa dạy – con người, đời sống chẳng có gì biến đổi. Niềm tin của chúng ta thật mong manh. Chúng ta đang đắm mình và hòa vào một thế giới loại bỏ Thiên Chúa ra ngoài. Cuộc sống chỉ còn là những ganh đua và cạnh tranh, lao theo những nhu cầu vật chất không bao giờ đủ. Vì vậy, lời Chúa hôm nay như một tiếng chuông cảnh tỉnh, mời gọi mỗi người Ki-tô hữu nhìn lại tâm linh, duyệt xét đời sống của mình xem chúng ta có còn tin Chúa thực sự để biết rằng chúng ta là con Thiên Chúa và chúng ta phải sống như là con cái Chúa, như là công dân của nước trời.
Qua cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu đã vạch ra cho con người đường đi vào vĩnh cửu, đó là sống sung mãn trong từng giây phút hiện tại. Chính trong cuộc sống mỗi ngày mà con người phải tìm kiếm và xây dựng những giá trị vĩnh cửu. Sống như thế là sống tỉnh thức theo tinh thần mà Chúa Giêsu hằng nhắc nhở trong Tin Mừng của Ngài; sống như thế, con người mới có thể nhận ra ý nghĩa của cuộc sống. Một cuộc sống có đáng sống và có ý nghĩa hay không, là tùy ở thái độ trân trọng và tích cực của con người đối với mỗi giây phút hiện tại.
Nguyện xin Chúa ban thêm niềm tin để chúng ta không ngừng đón nhận Chúa qua từng biến cố và gặp gỡ mỗi ngày.
2022
Xây dựng đền thờ bản thân
9.11 Lễ cung hiền đền thờ Thánh Gioan Latêranô
St 3:1-7; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Lc 17:11-19
Xây dựng đền thờ bản thân
Vương cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô là một trong những thánh đường đầu tiên được xây cất sau những cuộc bách đạo ban đầu. Thánh đường được Hoàng Đế Constantinô xây và được ĐTC Sylvester thánh hiến năm 324. Thánh Đường này tiếp tục là Nhà Thờ Chánh Tòa của Giám Mục Rôma, Đức Thánh Cha. Thánh Đường này được gọi là ‘Mater Ecclesiae Romae Urbis et Orbis’, Mẹ của tất cả các thánh đường ở Rôma và trên thế giới.
Năm 313, sau khi ra chiếu chỉ ở Milano cho giáo hội được tự do hành đạo, Hoàng Đế Constantine cho xây đền thờ ở Laterano trong thời gian 313-318 để dâng kính Chúa Cứu Thế. Thời Đức Giáo Hoàng Gregorio I (590-604) đền thờ được dâng kính cả Thánh Gioan Tẩy Giả và Thánh Gioan Tông Đồ. ĐGH Lucio II đã ấn định tên đền thờ như hiện nay, Đền Thờ Thánh Gioan ở Laterano, năm 1144.Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14, đền thờ này là trung tâm của giáo hội Roma, trụ sở và biểu tượng của Đức Giáo Hoàng.
Như các đền thờ khác, Đền Thờ Thánh Gioan ở Laterano nhiều lần bị tàn phá, hỏa hoạn, hoang tàn sau hơn 73 năm vắng chủ khi giáo triều dời về Avignon, Pháp, đươc xây lại như ngày nay thời ĐGH Sisto V (1585-1590).
Thánh đường dài 130m, có 5 gian. Gian chính dài 87m, rộng 16m, có tượng 12 Thánh Tông Đồ bằng đá cẩm thạch trắng. Bước vào đền thờ, bên phải có đàn phong cầm vĩ đại với hai ngàn ống. Sau tòa giám quản có Giếng Rửa Tội (theo truyền thuyết, chính Hoàng Đế Constantine được ĐGH Silvestro rửa tội nơi đây). Ngoài nhà thờ, bên hông trái, có tháp bút cao nhất (47m) và cổ kính nhất ở Roma bằng đá hoa cương đỏ của Ai Cập có từ thế kỷ 14 trước Chúa KiTô. Là Mẹ của các nhà thờ và là nhà thờ chánh tòa của giáo phận Roma, đền thờ Thánh Gioan ở Laterano nhắc nhở các tín hữu “hồng ân rửa tội” với tất cả ý nghĩa của ơn này và mời gọi các tín hữu cảm tạ Thiên Chúa bằng chính cuộc sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô
Bốn mươi sáu năm, gần một nửa thế kỷ để xây dựng Đền Thờ Giê-ra-sa-lem,– quả là một công trình vĩ đại và đáng tự hào. Nhưng giá trị của Đền Thờ không hệ tại ở tính cách qui mô của công trình mà là Đấng ngự trong Đền Thờ. Chính Đấng ấy làm cho mọi công trình trở nên Đền Thờ; nhưng nếu như sự tôn nghiêm thánh thiện mà mất đi thì cái gọi là “đền thờ” sẽ chẳng khác gì cái chợ hoặc hang ổ bọn cướp. Thế nên, với Chúa Giê-su, những nơi gọi là Đền Thờ mà không xứng đáng, thì thà phá đi để xây dựng lại còn hơn. Bởi Thiên Chúa cần lòng nhân chứ không phải lễ tế. Ngài có thể hiện diện ở bất cứ nơi đâu, thậm chí là hang bò lừa, nhưng nơi Ngài ngự phải là nơi thánh.
Qua trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thánh Gioan đã cho chúng ta thấy Chúa Giêsu giận dữ vì những người khác đã biến đền thờ trở nên nơi buôn bán, đổi chác, v.v. Hay nói cách khác là họ đã “mại thánh”. Chúa Giêsu không chấp nhận những hành động trên, nên Người đã làm “cuộc cải cách” để trả lại ý nghĩa thiêng liêng đích thực của việc tôn thờ Thiên Chúa ngự trong đền thờ: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”.
Bên cạnh đó, Người còn cho chúng ta thấy đền thờ đích thực đó chính là thân thể Người: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại”. Đền thờ mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người.
Từ những lời dạy của Chúa Giêsu trên, mỗi người chúng ta cần ý thức lại thân xác của chúng ta cũng chính là đền thờ để cho Thiên Chúa ngự. Vì, qua bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên đền thờ cho Thiên Chúa ngự, như lời thánh Phaolô đã nói: “Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần sao”.
Một khi đã ý thức thân xác chúng ta là đền thờ của Chúa, chúng ta cần luôn biết giữ gìn sự thánh thiêng của thân xác mình; đừng dùng thân xác của chúng ta để buôn bán, vui chơi, hay là đồ vật thỏa thích cho người khác mà quên mất tính linh thánh thân xác của mình được chính Chúa Giêsu cứu chuộc bằng chính giá máu của Người.
Kỷ niệm ngày cung hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, là chính thân thể Chúa Giêsu Kitô (Ga 2,21). Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại. Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa. Quả thế, Thánh Linh đã phục sinh thân thể Chúa Giêsu. Chúa Cha đã đặt Người làm Trung gian duy nhất để chuyển cầu cho nhân loại (2 Tm 2:5; Dt 9:15; 12:24).
Tất cả mọi giá trị và ý nghĩa của vương cung thánh đường Latêranô cũng như mọi thánh đường khác đều phải bắt nguồn từ đền thờ này. Thật vậy, “không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô.” (1Cr 3,11). Máu và nước từ cạnh sườn Chúa Giêsu tuôn chảy như giòng sông. “Sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống.” (Ed 47,9). Người được phúc đón nhận sự sống đó là Kitô hữu. Vì họ là “thân thể Đức Kitô.” (2 Cr 12, 27). Bởi đó, họ cũng là “Đền Thờ của Thiên Chúa.” (1 Cr 3,16).
Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta đã cùng chết với Chúa Ki-tô, để được sống lại với Ngài. Đó là cách thế Ngài tái thiết Đền Thờ cho ta. Nhưng sẽ thật là uổng phí, nếu công trình được chuộc bằng giá máu của Con Thiên Chúa lại biến thành nơi buôn bán hoặc hang ổ của bọn cướp!
2022
Tiêu diệt gương xấu
7.11 Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mươi-Hai Mùa Quanh Năm
St 1:1-9; Tv 24:1-2,3-4,5-6; Lc 17:1-6
Tiêu diệt gương xấu
Mở đầu bài Tin Mừng, thánh sử giới thiệu vị thầy dạy là Chúa Giêsu và các học trò là môn đệ của Ngài. Đối tượng bây giờ là các môn đệ, là cộng đoàn của các ông chứ không phải dân chúng. Chúa Giêsu khẳng định : đành rằng có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng Ngài lại chúc dữ cho kẻ làm điều ấy “ khốn cho kẻ làm cớ…” ( c1) và Ngài đưa ra hình phạt ngay : “ Cột cối đá vào cổ nó và xô xuống biển thì có lợi cho nó hơn…” (c. 2).
Một câu nói tưởng chừng như một hình phạt nhưng lại là công phúc, đem lại lợi ích cho kẻ gây ra và nhất là không gây tác hại cho kẻ khác, làm cớ cho người khác vấp ngã còn do những lời giảng dạy sai lầm, khiến người nghe, hiểu và có những hành động sai lạc. Đây cũng là lời cảnh tỉnh cho những người có trách nhiệm chăm sóc dạy dỗ linh hồn người khác như : Linh mục, tu sĩ, các giáo lý viên và ngay cả mỗi người Kitô hữu… Khi chúng ta sống trái với đạo lý, ngược với Tin Mừng. Chúng ta cần phải làm chứng về Đức Kitô cho những anh em tân tòng, các anh em thuộc các tôn giáo bạn bằng cách sống hằng ngày của chúng ta.
Kế đó, Chúa Giêsu còn chỉ dạy chúng ta cách sửa lỗi nhau : “Nếu người anh em của anh xúc phạm đến anh, hãy khiển trách nó” (c .3). Chúa không muốn chúng ta phủ nhận hay xem thường lỗi của người anh em, nhưng là lấy tình bác ái mà sửa dạy lẫn nhau. Ngài muốn chúng ta chỉ rõ lỗi của anh em, nói thẳng những điều xấu của họ trong tình bác ái. Không phải để la mắng, vùi dập, tố cáo… nhưng là nâng đỡ, vạch ra hướng đi, và giúp người anh em chỗi dậy và bước tiếp : “ nếu nó hối hận, hãy tha cho nó”
Tha thứ là hành vi bác ái mà luật Chúa Kitô đòi hỏi: “Dù nó xúc phạm một ngày 7 lần và 7 lần trở lại nói : Tôi hối hận; thì cũng phải tha cho nó” (c.4). Tha thứ không giới hạn, không kể đến vì lỗi lầm người kia cứ xúc phạm, nhưng nếu không tha thứ cho người anh em là chúng ta phủ nhận Tình Yêu của Chúa đối với ta qua bí tích Hòa giải. Thiên Chúa đã tha thứ cho ta và tha thứ cho người anh em, vậy sao ta lại cố chấp nhận không tha thứ ?. Sự tha thứ cần thiết vì con người quá yếu đuối, mỏng giòn. Tha thứ còn là cảm thông với những yếu đuối của họ và truyền sinh lực cho họ bước tiếp quãng đường.
Ý thứ ba mà bài Tin Mừng : Lần này người khởi xướng đề tài là các môn đệ. Có lẽ sau khi nghe bài giảng về việc “ làm cớ” và “ sửa lỗi”, các ông nhận ra giới hạn của bản thân, nên cùng nhau thưa với Chúa rằng “ Xin thêm lòng tin cho chúng con” (c. 5). Một lời cầu đích đáng và thích hợp cho mọi người trong mọi thời. Đây là dịp Chúa Giêsu dạy các ông về sức mạnh của lòng tin “ Nếu lòng tin bằng hạt cải, cây dâu sẽ vâng lời anh em” (c. 6).
Lòng tin làm được mọi sự. Nhiều khi chúng ta yếu đức tin, vì chưa phó thác vào Tình Yêu Thiên Chúa, vì còn nương tựa vào bản thân hay sức con người. Lòng tin còn là sự đáp trả của con người trước những phép lạ hoặc những điều kỳ diệu Chúa làm như trong Tin Mừng chúng ta thường thấy.
Chúng ta thấy con người thời nay như mất hết niềm tina nơi Chúa và họ chẳng còn tin cậy lẫn nhau. Cha của kẻ dối trá là ma quỷ đã gieo vào lòng con người sự ngờ vực, ngờ vực Tình Yêu tha thứ của Thiên Chúa, ngờ vực lòng tốt của người anh em. Đến nỗi, chúng con không phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, điều nào nên làm hay không nên làm. Xin Chúa củng cố thêm niềm tin của chúng ta, để cho dù trời đất có thay đổi, lòng chúng ta vẫn một niềm phó thác, tin cậy vào Chúa.
Qua bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy chúng ta bài học không được làm gương xấu, xúi dục hay nên cớ cho người khác phạm tội bằng bất cứ hình thức nào. Vì đời sống của chúng ta ảnh hưởng đến anh chị em xung quanh.
Trong Tin Mừng, nhiều lần Chúa Giêsu đã lên án gắt gao với các Luật sĩ, biệt phái: “Các Luật sĩ và các người biệt phái ngồi trên toà Môsê: vậy những gì họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ: vì họ nói mà không làm”. Các luật sĩ, biệt phái sống cuộc sống hai mặt: Họ dạy người khác giáo lý về Thiên Chúa, nhưng chính họ lại không thực hành điều đúng đắn và phải làm. Điều này gây ảnh hưởng không tốt cho những người xung quanh, những người thuộc quyền, mà đáng lý ra họ phải là những người đầu tiên làm gương tốt.
Hôm nay, Chúa Giêsu cũng lên án những kẻ làm gương xấu: “Không thể nào mà không xảy ra gương xấu, nhưng vô phúc cho kẻ nào gây ra gương xấu.”
Gương xấu dễ lây lan ra nhanh như đại dịch, gương xấu ảnh hưởng những người xung quanh, vì “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Ngày nay chúng ta dễ nhận ra trong thế giới văn minh tiến bộ giúp con người sống đầy đủ tiện nghi, mọi phương tiện sống rất thuận tiện, mang lại nhiều lợi ích, cuộc sống con người thoải mái hơn. Song chúng ta cũng phải thừa nhận rằng: con người đã lạm dụng tự do, kinh tế thị trường lôi cuốn con người chạy theo cách làm ăn phi pháp, gian dối, tham nhũng, lừa đảo; con người lạm dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật, để sống hưởng thụ, thỏa mãn các đam mê…
Trong xã hội, vàng thau lẫn lộn, gương tốt thì ít và gương xấu lại quá nhiều. Chẳng hạn, phương tiện truyền thông khiến những gương mù gương xấu dễ tràn lan và đầu độc con người, đặc biệt là giới trẻ – đã không tự làm chủ được bản thân mình, mà sống một cách buông thả theo lối sống phương Tây. Môi trường giáo dục còn khiếm khuyết trong việc giảng dạy, đặc biệt về thi cử. Trong gia đình, đạo đức gia phong, đời sống tôn giáo xuống cấp trầm trọng, vì cha mẹ chỉ lo làm ăn buôn bán, không dạy dỗ con cái nên người hữu ích; cha mẹ làm ăn gian dối, đã gây tổn hại nặng nề cho con cái của họ sau này.
Chúa Giêsu tỏ ra thái độ dứt khoát và nghiêm khắc những kẻ làm gương xấu, vì đó là tiếp tay với ma quỉ: “vô phúc cho kẻ nào gây ra gương xấu. Thà nó bị cột cối đá vào cổ mà ném xuống biển còn hơn là làm gương xấu cho một trong những trẻ nhỏ này.”
Gương xấu là thái độ và thói xấu có ở nơi chúng ta, hoặc do chính chúng ta bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Làm thế nào để diệt trừ các thói xấu?
2022
Sử Dụng Tốt Tiền Của
5.11 Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
Pl 4:10-19; Tv 112:1-2,5-6,8,9; Lc 16:9-15
Sử Dụng Tốt Tiền Của
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà tiền của đóng một vai trò rất quan trọng, vì chủ nghĩa duy vật hưởng thụ đang thống trị và điều khiển xã hội về nhiều phương diện. Con người cũng thường đánh giá người khác dựa trên thế lực tiền của. Vì thế, người có nhiều tiền của dễ trở thành người có địa vị và danh giá. Đây quả thật là một thảm họa cho thời đại hôm nay!!!
Tin Mừng hôm nay đưa ra một đòi hỏi: “Hãy chọn lựa giữa Thiên Chúa và tiền của”, bởi vì không ai có thể làm tôi hai chủ được. Tiền của tự nó không phải là điều xấu, nó chỉ xấu khi con người tôn thờ nó như cùng đích cuộc sống. Thật ra, không có tiền của xấu, mà chỉ có cách tìm kiếm, sử dụng xấu của con người mà thôi. Cách tìm kiếm, sử dụng trở thành xấu là khi con người bóp nghẹt tiếng nói lương tâm, chối bỏ chính mình, khước từ người anh em, chối bỏ Thiên Chúa. Kẻ tham lam là người ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, nhưng thực ra, họ cũng là kẻ đang tự hủy, chối bỏ cùng đích của cuộc sống.
Tham nhũng và lừa đảo ở mọi qui mô trong xã hội chúng ta, đó là một kết luận hiển nhiên. Thế nhưng “thà đốt lên một ngọn nến, hơn là ngồi đó nguyền rủa bóng tối”. Chúng ta hãy bắt đầu chống tham nhũng, lừa đảo, ích kỷ ngay trong con người của chúng ta. Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Nếu các con không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm và giao phó của cải chân thật cho các con?”. Nếu chúng ta chưa loại được tham lam, lừa đảo trong những sinh hoạt hằng ngày, liệu chúng ta có thể chống tham nhũng ở qui mô lớn hơn không?
Tham nhũng đối với mỗi người chúng ta có thể mang nhiều tên gọi: ích kỷ, khước từ chia sẻ, liên đới, cảm thông. Xét cho cùng, của cải là đển mọi người cùng hưởng dùng; nếu tham nhũng, lừa đảo là chỉ muốn lấy của người để dành riêng cho mình, thì bất cứ hành động ích kỷ nào, bất cứ khước từ san sẻ nào cũng là một hình thức tham nhũng. “Không ai có thể làm tôi hai chủ”: của cải vật chất chỉ là phương tiện giúp chúng ta thờ phượng người chủ duy nhất và đích thực là Thiên Chúa.
Trong khi mưu cầu cho cuộc sống, xin Chúa cho chúng ta biết tìm kiếm và xây dựng giá trị Nước Trời. Xin cho chúng ta biết nhìn xa hơn về của cải vật chất, biết ra khỏi chính mình để gặp Chúa qua những chia sẻ, cảm thông đối với tha nhân.
Lời Chúa hôm nay chính là lời cảnh tỉnh cho mỗi chúng ta trong việc sử dụng tiền của ở đời này. Ngài mời gọi chúng ta hãy trung tín trong việc sử dụng tiền của. Vì tiền của cũng là một ân huệ Thiên Chúa tặng ban, nên chúng ta phải biết đặt tiền của vào đúng vị trí của nó như Thiên Chúa muốn. Đó là sự khôn ngoan cần thiết khi chúng ta sử dụng tiền của trong cuộc sống thường ngày.
Khi ta biết dùng tiền của Chúa ban để làm những việc tốt hữu ích cho bản thân và tha nhân là cách thức đẹp lòng Chúa nhất, “dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” (c. 9a). Tiền của chỉ là những phương tiện giúp ta có điều kiện thực thi lòng bác ái đối với tha nhân, và đó là những nén bạc ta đang ký gởi nơi Thiên Chúa, để sau này ta được “đón rước vào nơi ở vĩnh cửu” (c. 9b).
Có một câu danh ngôn rất ý nghĩa: “Tiền của là một đầy tớ tốt và là một ông chủ xấu”. Chúng ta suy nghĩ gì về nhận định trên?
Còn Chúa Giêsu thì nói: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ” (c. 13a). Lời Chúa hôm nay thật cụ thể sống động cho thời đại chúng ta. Bởi lẽ nhiều người đã xem tiền của như ông chủ của đời mình, để rồi sẵn sàng để tiền của điều khiển cuộc đời mình, và cũng vì tiền của mà đánh mất phẩm giá và mất đi các mối tương quan tốt đẹp trong cuộc sống.
Vì thế, Chúa Giêsu đã khẳng định thật rõ ràng: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (c. 13b). Thiên Chúa chính là Đấng Tạo Hóa đã dựng nên con người cùng với muôn tạo vật trong vũ trụ mênh mông này. Ngài còn là Người Cha giàu tình yêu thương nhân ái, luôn quan tâm chăm sóc từng người chúng ta bằng muôn vàn ân sủng của trời cao. Thế nên, chỉ mình Thiên Chúa là Ông Chủ duy nhất của đời ta, Ngài điều khiển và nắm giữ vận mạng của từng người chúng ta. Bổn phận của chúng ta là tôn thờ, yêu mến và vâng phục thánh ý Ngài trong từng biến cố của đời ta.
Chúng ta hãy ý thức để tự mình điều khiển tiền của theo cách Chúa muốn và mang lại hiệu quả tốt đẹp cho bản thân và tha nhân. Đừng bao giờ để tiền của vượt quá giới hạn của nó, nhưng chúng ta hãy làm chủ tiền của và sử dụng chúng theo ý muốn của chúng ta cách chính đáng.
