2024
BÁO TRƯỚC CÁI CHẾT
28.9 Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm
Gv 11:9-12; Tv 90:3-4,5-6,12-13,14,17; Lc 9:43-45
BÁO TRƯỚC CÁI CHẾT
Có thể nói tất cả các vấn nạn của con người đều được gắn liền với khổ đau. Và cũng vì không chấp nhận khổ đau mà con người gây ra bao tội ác khác: vì không muốn đối diện với thực tại khổ đau mà người ta tìm quên trong men rượu, ma túy và mọi thứ kích thích khác; vì không muốn chấp nhận những hệ luỵ của việc sinh ra một người con mà người ta đang tâm huỷ diệt những bào thai vô tội; vì không chấp nhận những đau khổ của tuổi già, bệnh tật mà người ta tìm đến giải pháp an tử… Không chấp nhận đau khổ, không đón nhận với lòng mến thì hậu quả là thế đấy. Các môn đệ Đức Giêsu cũng đã không muốn chấp nhận một Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá mặc dù Ngài đã hé lộ cho họ thấy niềm hy vọng Phục sinh đằng sau cái chết trên thập giá đó.
Sống trên cuộc hồng trần này, mầu nhiệm về khổ đau luôn là điều bí nhiệm. Các nhà hiền triết, các bậc thánh nhân, các nhà tiên tri và tri thức thần bí… từ ngàn đời đã trăn trở tìm kiếm để cho đau khổ một ý nghĩa. Sách sáng thế cho thấy đau khổ là hậu quả tất nhiên của tội lỗi, của việc con người không vâng phục những lời dạy bảo của Thiên Chúa, hay nói khác đi đầu mối của nó chính là sự kiêu ngạo, bất tuân đường lối, thánh ý Người.
Đối với niềm tin Ki-tô của chúng ta, đau khổ còn luôn có một giá trị trong việc tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa – thánh ý đã muốn cho con người được hạnh phúc nhờ sống yêu thương như chính Thiên Chúa là tình yêu. “Đang lúc mọi người còn bỡ ngỡ về tất cả các việc Chúa Giêsu làm, thì Người phán cùng các mộn đệ rằng: “Phần các con, các con hãy ghi vào lòng những lời này là: Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời”” (c. 43b – 44).
Người ta bỡ ngỡ, kinh ngạc về điều gì? Chúng ta hãy đọc lại những trình thuật bên trên của cùng chương 9: Sau lời tuyên tín của thánh Phê-rô: “Ngài là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa” (Lc 9, 20b), Đức Ki-tô “tiên báo cuộc thương khó lần nhất”; Khoảng tám ngày sau, Ngài hiển dung trên núi cao (Ta-bo) (x. Lc 9, 28 – 36); rồi hôm sau, Đức Giê-su chữa lành bệnh đứa trẻ bị bệnh kinh phong khiến mọi người đều kinh ngạc trước quyền năng cao cả của Thiên Chúa (x. Lc 9, 37 – 43) – và chính lúc này đây, Đức Giê-su “tiên báo cuộc thương khó lần hai” cho các môn đệ, nhưng “các ông vẫn không hiểu.” Tin mừng nói “các ông không hiểu, vì nó còn bị che khuất” (mắt các ông còn bị ngăn cản).
Tại sao mắt các ông lại bị ngăn cản? Thưa, vì những vinh quang đã làm mờ mắt các ông. Dù gì khi theo Đức Giê-su, các môn đệ hiển nhiên vẫn có những tính toán; như Phê-rô đã có lần thưa với Đức Giê-su: “Thưa thầy, chúng con đã bỏ tất cả mọi sự mà theo thầy, chúng con sẽ được gì?” (Mt 19, 27). Cũng thế, khi tuyên xưng Đức Giê-su là “Đấng Ki-tô của Thiên Chúa”, trong lòng các môn đệ vẫn mơ đến một Đấng Ki-tô – Messia của trần thế ‘đầy quyền lực và vinh quang’ sẽ khôi phục và làm cho Israel trở thành tiếng tăm lẫy lừng; và điều hiển nhiên là các ông sẽ có một tương lai huy hoàng với chức tước và bổng lộc vì lý do đó mà “Mắt các ông bị ngăn cản!” Và điều Đức Giê-su nói: “Con Người sẽ phải bị nộp vào tay người đời” (c.44b) khiến các ông không thể hiểu được, “không thể lĩnh hội được”.
Không chỉ với các môn đệ, ngày nay đối với chúng ta, đau khổ, thập giá vẫn luôn là điều khó hiểu. Nhất là chúng ta không thể hiểu nổi tại sao người công chính cứ gặp gian nan, khốn khó, thất bại và bị bách hại, còn phường gian ác lại cứ nhởn nhơ sung sướng.
Hơn nữa, trước mặt người đời, Thập giá luôn là điều khờ dại; vì con người sự thường ai mà không thích thảnh thơi, dễ dãi, ai mà không thích được thành đạt, ca ngợi, tôn vinh, ai mà không thích sung sướng, vui vẻ…. Nhưng Đức Giê-su đã cho thấy một chân lý khác – chân lý của “một hạt lúa mì không thể sinh hoa kết trái nếu không phải chịu mục nát và thối rữa đi” và có “gieo trong lệ sầu mới gặt trong hân hoan vui sướng”.
Chính vì vậy mà khi các môn đệ đang phơi phới hân hoan, và mơ tưởng những ‘vinh quang phù phiếm’ thì Đức Giê-su tuyên bố: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”; Đồng thời người cho biết ai muốn làm môn đệ bước theo dấu chân Người không thể không ôm ẵm, vác thập giá hằng ngày mà đi theo Người. (x.Lc 9, 23). Các môn đệ đã không hiểu không dám hỏi và cũng chẳng muốn đối diện với điều xem ra ‘ngược đời’ ấy. Và chỉ Thần khí của Đấng phục sinh – Thánh Thần của Thiên Chúa mới làm cho các môn đệ hiểu để rồi như Đức Giê-su các ngài đã giơ tay ôm ẵm Thập giá để loan truyền Tin mừng tình yêu của Thiên Chúa.
Như các môn đệ sau biến cố ‘vượt qua và Phục sinh’, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần mở trí, mở mắt tâm hồn để hiểu được con đường thập giá tình yêu mà Đức Giê-su đã chọn để làm giá cứu chuộc muôn người;
Đồng thời xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta đủ tình yêu và sức mạnh để đi trọn con đường thử thách gian nan; Bởi vì như thánh Phao-lô, người đã coi cuộc đời này là một trận chiến, một thao trường mà chúng ta phải chiến đấu để dành cho được ngành lá thiên tuế – ngành lá chiến thắng; Do đó mà không có sự dễ dãi, thoải mái hay hưởng thụ ích kỷ cho người môn đệ. Nhưng hạnh phúc đích thực chỉ có cho người biết gieo rắc tình yêu thương, Mà đường yêu thương là con đường hy sinh và dâng hiến.
Người tín hữu hôm nay cũng vậy, chỉ muốn thấy Giáo hội ‘hoành tráng’, chỉ mong ‘Chúa ra tay dẹp tan phường gian ác’, và vì thế mà thập giá của Đức Giê-su lần hồi trở nên xa vời, khó được đón nhận. Nhiều khi bạn và tôi đang phấn khởi vì những niềm vui và những thành công, thì thình lình, đau khổ và thất bại ập đến. Không phải Chúa làm chúng ta ‘mất hứng,’ mà Ngài đang dẫn chúng ta trở lại đúng con đường của mình.
2024
Thầy Là Ðức Kitô
27.9 Thánh Vincentê de Phaolô, Lm
Gv 3:1-11; Tv 144:1-2,3-4; Lc 9:18-22
Thầy Là Ðức Kitô
Gia đình Phaolô là những nông dân tại Pouy, gần Dax. Vincentê sinh năm 1581 là con thứ ba trong gia đình sáu người con. Trong những ngày còn thơ ấu, Ngài lo chăn cừu cho cha. Giữa miền đồi lộng gió này, Vincentê đã trải qua nhiều giờ trong ngày để chiêm ngắm cảnh đồng quê và hướng lòng lên cùng Chúa. Thời gian này cũng cho Ngài những kinh nghiệm đầu tiên về số phận của người dân quê. Từ đó, lòng bác ái sớm nẩy nở trong tâm hồn Vincentê. Có lần thu góp được 30 xu, số tiền đáng kể đối với Ngài, nhưng Ngài đã tặng tất cả cho những người cùng khốn. Lần khác trên đường tới nhà máy xay Ngài âm thầm lấy một số bột bố thí cho người nghèo.
Thấy con mình có lòng bác ái lại thông minh, ông Gioan đệ Phaolô quyết hy sinh cho Vincentê theo ơn gọi làm giáo sĩ. Vincentê theo học các cha dòng Phanxicô tại Dax. Nhưng để tiếp tục chương trình đại học của Vincentê, cha Ngài đã phải bán bầy cừu lo cho tương lai của con. Dầu vậy, khi học thần học tại Toulouse, Vincentê cũng vừa lo học vừa lo dậy kèm tư gia kiếm tiền bớt gánh nặng cho gia đình.
Sau khi thụ phong linh mục trong hai năm trời Vincentê biến mất. Cho đến ngày nay người ta vẫn không biết rõ trong thời gian này Vincentê ra sao. Người ta kể lại rằng có một góa phụ tại Toulouse đã công đức tất cả tài sản của bà. Trên đường từ Marseille tới Narbonne để nhận gia tài Ngài đã bị bọn cướp bắt bán cho một ngư phủ. Không quên nghề Ngài lại bị bán cho một người hồi giáo làm thợ kim hoàn. Sau cùng Ngài lại bị rơi vào tay một người phản đạo tên là Gautier. Nhờ đời sống thánh thiện cha đã cải hóa được ông. Chính ông đã đưa cha trở lại đất Pháp. Năm sau, ông theo cha đi Roma và vào hội bác ái để đền tội cho đến ngày qua đời.
Từ đây, cha Vincentê bắt đầu thi hành chức vụ linh mục của Ngài. Ngài được chỉ định làm tuyên úy cho nữ hoàng Marguerrite de Valois. Lúc này, cha Vincentê có dịp quen biết cha Phêrô Berulle, Đấng sáng lập dòng giảng thuyết và sau này làm Hồng y. Dưới ảnh hưởng của cha Phêrô Bérulle, cha Vincentê bắt đầu nhiệt tình sống đời hy sinh nhiệt tình. Theo lời khuyên của Ngài, cha Vicente nhận làm tuyên úy cho gia đình Gondi. Hướng dẫn một số một nông dân trong vùng này, Vincentê đã khám phá ra tình trạng phá sản về tôn giáo và luân lý. Chính sự dốt nát và biếng nhác của nhiều giáo sĩ là duyên cớ gây nên tình trạng này. Ngài quyết tâm sửa đổi thực trạng.
Vincentê đã trở nên bạn của người nghèo và dùng mọi phương tiện khả năng có được để hoạt động nhàm tái tạo cuộc sống luân lý và tôn giáo của họ. Một thử nghiệm nhỏ như một linh mục quản sở tại Chatillon les Dober cho Ngài thấy rõ vấn đề còn rộng lớn hơn nhiều. Dầu nỗ lực cải tiến họ đạo, Ngài vẫn ưu tư cho công cuộc được bành trướng rộng rãi hơn. Trở lại Paris với sự trợ giúp của bà Gondi Ngài bắt đầu công cuộc nâng đỡ cảnh khốn cùng bất cứ ở nơi đâu, Ngài tổ chức “hội bác ái” trên khắp đất Pháp cung cấp áo xống thuốc men cho người nghèo khổ hết sức rợ giúp những nô lệ bị bắt chèo thuyền từ Paris tới Marseille. Ngài thành lập một hội dòng Lazarits với mục đích truyền đạo cho dân quê và đào tạo giáo sĩ. Từ hội dòng bác ái ấy còn mọc lên hội nữ tử bác ái mà y phục của họ toàn thế giới biết đến như là biểu tượng của lòng bác ái nối liền với danh hiệu Vincentê.
Một linh mục nhà quê đã trở nên quan trọng đối với toàn quốc từ căn phòng tại xứ thánh Lazane Ngài bành trướng ảnh hưởng ra khắp nước Pháp, tới Balan, Ý, Hebrider Madagascar và nhiều nơi khác nữa. Nữ hoàng Anne d’Austria nhiếp chính cho tới khi vua Luy lên cầm quyền đã hỏi ý Ngài trong việc đặt giám mục chống lại Mazania, Ngài đã không ảnh hưởng được tới đường lối của vị giám mục này lại còn bị khổ vì ông khi nội chiến xảy ra.
Ngài quyên góp để hàn gắn những tàn phá do cuộc chiến xảy ra tại Loraine. Ngài lo chuộc các nô lệ tại Bắc Phi. Các nỗ lực trên cùng với các nhu cầu và việc quản trị hội dòng ngày càng mở rộng đã giam Ngài tại phòng riêng xứ thánh Lazane. Ngày lại ngày bận bịu viết thơ cho các Giám mục lẫn Linh mục nghèo khổ, cho biến cố vị vọng lẫn nhu cầu nghèo khổ trong nước. Các thư tín của Ngài hợp thành một tuyển tập làm say mê người đọc vì trong đó pha trộn những ưu tư cho nước Chúa lẫn đức bác ái ngập tình người.
Các thư tín và các bài giảng thuyết của Vincentê cho thấy Ngài là một trong những nhà phục hưng của Giáo hội Pháp thế kỷ XVI. Những cuộc tĩnh tâm Ngài tổ chức tại St. Lazane cho các tiến chức và những cuộc tĩnh tâm hàng tháng Ngài tổ chức cho các giáo sĩ tại Paris (có cả những khuôn mặt lớn tham dự như De Rotz, Bossuet…) cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của Ngài trong cuộc chấn hưng đạo đức .
Năm 1660, cha Vincentê ngã bệnh liệt giường và đau đớn vì bệnh tật Ngài vẫn vui tươi tin tưởng : – Chúa còn phải chịu hơn tôi gấp bội.
Đối diện với cái chết Ngài bình tĩnh : – 18 năm qua, mỗi tối tôi vẫn dọn mình chết. Ngày 27 tháng 9 năm 1660, cha Vincentê từ trần và được tuyên thánh năm 1737.
Trong số các trò chơi để trắc nghiệm mức hiểu biết của các em, có trò chơi đưa hình một danh nhân cho các em xem, sau đó yêu cầu các em nói thật vắn tắt và chính xác về nhân vật ấy. Em nào trả lời đúng sẽ được thưởng. Chúa Giêsu đã có lần áp dụng phương thức này với các môn đệ, chỉ khác ở chỗ nhân vật được đưa ra không ai xa lạ hơn là chính Ngài. Ðã có những câu trả lời được đưa ra, nhưng chỉ có câu trả lời của Phêrô là đúng, như được ghi lại trong Tin Mừng hôm nay.
Chúa Giêsu vốn là một vấn đề khó hiểu đối với nhiều người. Những giả thuyết về Ngài đều từ từ bị chứng minh là sai. Có người bảo Ngài là Gioan Tẩy giả, nhưng trong cách sống và giáo lý của Ngài, có nhiều điểm khác với Gioan Tẩy giả; có kẻ bảo Ngài là Êlia hay một ngôn sứ nào đó, nhưng ở đây cũng vậy, giáo lý và thái độ của Chúa Giêsu có nhiều điểm vượt quá và cắt đứt với giáo lý và thái độ của bất cứ ngôn sứ nào trong Cựu Ước. Dù đồng hóa Chúa Giêsu với Gioan Tẩy giả, với Êlia hay với một ngôn sứ nào đó, tất cả đều giống nhau ở chỗ chưa có câu trả lời nào nhận ra Chúa Giêsu là nhân vật chính, còn các vị kia chỉ là người loan báo và chuẩn bị.
Chúa Giêsu đã bị dư luận quần chúng coi là một trong các vị tiền hô cuối cùng, cho đến khi Phêrô đưa ra câu trả lời chính xác: “Thầy là Ðức Kitô Con Thiên Chúa”. Phêrô đã nhìn thấy nơi Chúa Giêsu chính nhân vật mà muôn dân mong đợi. Ngài là Ðức Kitô, có nghĩa là Ðấng hội tụ mọi hy vọng và chờ mong của con người, là Ðấng quyết định vận mệnh của dân tộc và cá nhân, là Ðấng nắm giữ và đưa lịch sử đến hồi kết thúc. Ðức Kitô có đủ mọi tư cách đó, bởi vì Ngài là Ðấng được Thiên Chúa sai đến, Ngài là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giêsu linh cảm thấy lời tuyên xưng của Phêrô có thể bị giải thích sai lạc, nếu được tung ra cho mọi người biết; chính vì thế chẳng những Ngài cấm ngặt các ông không được nói điều ấy với ai, mà kể từ đó Ngài còn đích thân nói rõ về tư cách Kitô của Ngài.
Chúa thường là chẳng giống ai cả! Đang khi các môn đệ của Ngài hào hứng hướng về tiền đồ tương lai rực rỡ vì chứng kiến những phép lạ Chúa làm và được nghe mọi người ca tụng thầy mình như một vị ngôn sứ lớn xuất hiện giữa dân chúng, thì Chúa quay ra chất vấn các ông: Anh em bảo thầy là ai vậy?
Dĩ nhiên, trong sự hào sảng, ông Phêrô láu ta láu táu thay lời các môn đệ khác trả lời: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa!” Lời tuyên xưng của Phêrô không hề sai, nhưng cách hiểu của ông và các môn đệ khác về tư cách thiên sai của thầy mình thì có vấn đề. Tâm hồn các ông đang bay bổng hướng về một tiền đồ tương lai vô cùng tươi sáng: Với những điềm thiêng dấu lạ thầy mình thi thố ra như thế này, thì chắc chắn thầy là Đấng thiên sai từ Thiên Chúa mà đến thiết lập một vương quốc thịnh vượng nhất trần gian; thầy thì làm vua, còn mình đã bỏ công theo thầy bấy nay thì ít ra không được làm quan lớn cũng phải làm quan vừa vừa.
Chúa đọc được suy nghĩ của của các môn đệ về một vị thiên sai có tính cách rất trần thế như vậy, nên Ngài minh định ngay cho các ông: Đúng quả thật Ngài là Đấng Thiên Sai từ Thiên Chúa mà đến, nhưng Ngài đến thế gian không phải để làm vua, làm hoàng đế theo cách thế của trần gian, nhưng Ngài đến để chịu đau khổ, chịu chết nhục nhã để cứu vớt người ta ra khỏi vòng nô lệ tội lỗi.
Chúa nói tới điều đó làm cho các môn đệ cụt hứng; từ lúc đó các ông im lặng, chẳng còn sôi nổi bàn tán tới tiền đồ sáng lạn theo cách thức trần gian nữa!
Suy xét hành trình theo Chúa của mỗi người chúng ta, có lẽ chúng ta cũng có cùng tâm trạng như các tôn đồ ngày xưa? Những khi cuộc đời ta thuận buồm xuôi gió và gặp nhiều thuận lợi may mắn thì ta có thể dễ dàng tuyên xưng Chúa là Chúa của tâm hồn ta, là Đấng dễ thương dễ mến vô cùng của lòng ta. Nhưng khi ta gặp thử thách, khó khăn, bất hạnh và ta xin Chúa ra tay cứu giúp mà dường như Chúa im lặng, khi đó có lẽ trong lòng ta không còn có chỗ cho Chúa nữa! Khi đó ta dễ dàng buồn chán, chằng thèm nghĩ đến Chúa nữa. Ta đâu biết rằng chính khi ta gặp thử thách, khổ đau là lúc ta họa lại con đường thập giá của Chúa khi xưa; chính lúc đó Chúa đang đồng hành với ta và đang cùng ta vác thập giá để cứu độ nhân loại.
2024
TÌM KIẾM VỚI LÒNG THÀNH
26.9 Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm
Gv 1:2-11; Tv 90:3-4,5-6,12-13,14,17; Lc 9:7-9
TÌM KIẾM VỚI LÒNG THÀNH
Tò mò là một trong những đặc tính gắn liền với bản chất con người. Sự tò mò xuất phát từ một tâm hồn đầy nhiệt huyết và chân thành tìm kiếm sự thiện thì có tác dụng làm thăng hoa đời sống con người. Cụ thể như thiên tài Albert Einstein đã từng thú nhận: “Tôi không có tài năng đặc biệt nào, tôi chỉ có sự tò mò đầy nhiệt huyết”.
Trái lại, sự tò mò khởi phát từ một tâm hồn gian manh, mưu mẹo thì chỉ có hại cho bản thân người đó và có hại cho đời mà thôi.
Theo Tin Mừng Mt 14,2 và Mc 6,14. Hê-rô-đê tin rằng Đức Giêsu chính là Gioan Tẩy Giả phục sinh và chính ông này đang làm những điều kỳ diệu nơi con người của Đức Giêsu . Nhưng theo Tin Mừng của Luca ở đây, thì lúc này Hê-rô-đê chưa xác tín như vậy hoặc ít ra cũng bán tín bán nghi.
Đức Giêsu với các môn đệ của Ngài đã nổi tiếng ở vùng Galilê, qua các hoạt động rao giảng và chữa bệnh. Tiếng đồn về Ngài ngày càng lan rộng (Lc 5, 15). Điều đó hẳn đã đến tai của Hêrôđê (c. 7), vị tiểu vương cai quản vùng Galilê trong hơn bốn mươi năm (Lc 3, 1). Hêrôđê bối rối và lúng túng trước những tin mình nhận được. Ông đã cho chém đầu Gioan Tẩy giả, kẻ được coi là ngôn sứ (c. 9). Người ta đồn đãi nhiều về nhân vật Giêsu này.
Có một số người nói ông này là Gioan bị chém đầu nay sống lại. Có những người khác nói đó là ông Êlia tái giáng sau khi đã được đưa về trời trong cơn gió lốc (2V 2, 11). Cũng có những kẻ nói Giêsu là một ngôn sứ nào đó thời xưa sống lại. Quả thật nhìn việc làm, lời giảng và lối sống của Giêsu, người ta dễ thấy Ngài là một ngôn sứ (x. Lc 7, 16-17). Mà chính Đức Giêsu cũng nhận mình là ngôn sứ (Lc 4, 24; 13, 33). “Ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?” Hêrôđê tò mò muốn biết Ngài là ai.
Vì thế, ông đã tìm cách gặp Đức Giêsu . Nhưng ước vọng này phát xuất từ tính hiếu kỳ, tò mò và sợ mất ảnh hưởng, chứ không phải do sự cảm phục để Đức Giêsu tỏ mình ra cho ông. Hê-rô-đê sẽ chỉ gặp Đức Giêsu trong cuộc khổ nạn mà thôi (Lc 23,8)
Chúa Giêsu đã là một dấu hỏi cho những người thời Ngài. Mỗi người chúng ta cũng phải là một dấu hỏi cho những người thời nay. Một kiểu sống rập khuôn “ai sao tôi vậy”, một kiểu sống sợ bị người khác coi là khác thường… không phải là một dấu hỏi. Ta không chủ trương sống lập dị, nhưng ta không có quyền che dấu những nét đẹp độc đáo của niềm tin chúng ta.
Ngày xưa có nhiều dư luận về Chúa Giêsu. Các tông đồ đã đi khắp nơi để làm chứng cho người ta hiểu đúng Chúa Giêsu thực sự là ai.
Ngày nay cũng có nhiều dư luận sai lạc về Chúa Giêsu. Người ta nghĩ Ngài là ai? (những người của các tôn giáo khác nghĩ gì? những người vô thần nghĩ gì? những người đầu óc nặng thành kiến khoa học, thực dụng nghĩ gì?…) Thực ra, Chúa Giêsu là Ai? Tôi phải làm chứng cho Ngài thế nào?
Những người lương dân họ vẫn đồng hóa Kitô hữu với Đức Kitô. Thấy kitô hữu thế nào thì họ nghĩ Đức Kitô thế ấy. Vì thế, dù muốn hay không, cách sống của kitô hữu cũng là một lời chứng về Đức Kitô. Làm chứng đúng hay sai, tốt hay xấu là trách nhiệm nặng nề của chúng ta.
Tin mừng hôm nay thuật lại rằng vua Hêrôđê muốn gặp Đức Giêsu vì ông muốn thỏa mãn trí tò mò, chứ không phải tìm kiếm chân lý. Ông muốn tận mắt chứng kiến một vài phép lạ Ngài làm như người ta đồn thổi về Ngài.
Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không bao giờ chiều ý một con người vừa có lòng hiếu kỳ vừa gian manh, quỷ quyệt như Hêrôđê. Kể cả sau này ông ta có dịp gặp Chúa trong cuộc thương khó, thì mãi mãi cuộc gặp của ông ta với Chúa có mà như không có, vì với một hồn chất chứa sự lưu manh, tính toán như ông dù có gặp Chúa thì đời ông ta chẳng bao giờ được biến đổi.
Cũng có tính tò mò như Hêrôđê, và có thể nói bàn tay cũng dính dáng đến sự tội, nhưng ông Giakêu, một người thu thuế, đã có dịp gặp được Chúa và được đổi đời bởi nơi cõi thẳm sâu tâm hồn Giakêu có một niềm khát khao mãnh liệt hướng về sự thiện.
Qua việc suy niệm bài Tin mừng hôm nay, chúng ta tự hỏi chính mình xem chúng ta đang tìm kiếm Chúa với một tâm hồn hướng thiện hay với một tâm hồn chất chứa đủ thứ mưu mô, tính toán? Biết đâu đấy, chúng ta đang tìm gặp Chúa để cầu mong Chúa làm một vài phép lạ cho đời ta no thỏa tiền tài, vật chất thế gian? Nếu ta tìm kiếm Chúa với một tâm hồn mưu mô tính toán như thế, thì chẳng bao giờ ta gặp được Ngài. Ngược lại, ta muốn gặp Chúa mỗi ngày để cho lòng ta được thanh thoát hướng về trời cao trước những khốn khó tư bề của cuộc sống trần gian, thì chắc chắn Chúa sẽ cho ta gặp Ngài và đời ta sẽ được biến đổi.
2024
Hành trang người được sai đi
25.9 Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm
Cn 30:5-9; Tv 119:29,72,89,101,104,163; Lc 9:1-6
Hành trang người được sai đi
Trước bất cứ một cuộc lên đường nào, người ta cũng đều chuẩn bị những hành trang cần thiết; hành trình càng dài thì hành trang càng cần đầy đủ và được tính toán kỹ lưỡng. Thế nhưng Chúa Giê-su, trước khi sai các tông đồ ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài dặn dò các ông: “Đừng mang theo gì…” Ngài muốn các ông hoàn toàn siêu thoát, loại bỏ tất cả những dính bén, ràng buộc để sẵn sàng lên đường, nhanh nhẹn, thanh thoát như chính cuộc sống của Ngài: “Chim có tổ, cáo có hang; còn Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Hơn thế nữa, người tông đồ không mang theo gì là để dành chỗ cho một thứ hành trang không thể thiếu, đó là Tin Mừng mà các ông có sứ mạng rao giảng.
Người ta thường nói “sểnh nhà ra thất nghiệp”. Chẳng đâu bằng ở nhà mình; ra khỏi nhà là người ta dễ bị bơ vơ, khổ cực, và nguy hiểm rình chờ. Vì lẽ đó, khi đi xa nhà, người ta thường thủ thân: Ít nhất cũng phải có mấy đồng dắt túi hay dày dép, quần áo cho tươm tất, phòng khi trái gió trở trời.
Nhưng với các tông đồ, Chúa có vẻ đòi hỏi rất khắt khe. Xem chừng Chúa muốn các ông đã ra khỏi nhà thì “ra thất nghiệp” thì phải?! Ngài bảo các ông: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo.” Tiền bạc, bao bị, lương thực các tông đồ không được mang theo đã đành, ngay cả cây gậy là vật dụng cần thiết nhất của người Do thái khi đi đường phòng khi bị sói dữ hay kẻ ngông cuồng tấn công thì còn có cái gì đó mà chống đỡ, vậy mà Chúa cũng không cho các ông mang theo. Nói tóm lại, Ngài chẳng cho các tông đồ có cái gì để mà phòng thân cả!
Ðược Chúa Giêsu tuyển chọn và sống với Chúa, các Tông đồ cũng đã nghe Chúa giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Ngài làm. Trong bài Tin Mừng hôm nay, tác giả Luca thuật lại biến cố Chúa Giêsu sai các ông đi rao giảng Tin Mừng, Ngài nhắc nhở các ông phải sống khó nghèo và hoàn toàn tin tưởng vào Chúa quan phòng.
So với lần Chúa sai các môn đệ thì lần này có điểm khác biệt là thay vì được sai đi từng hai người, các Tông đồ được sai đi từng người một và được ban cho sức mạnh và quyền năng để trừ ma quỉ và chữa lành bệnh tật. Tuy nhiên, các ông cũng chỉ được sai đi trước để loan báo Ngài sắp đến. Huấn lệnh cho các Tông đồ trước khi lên đường có thể gồm 3 phần: Thứ nhất, trên đường đi các ông không được mang theo gì cả, mặc dù sứ vụ của các ông kéo dài một thời gian, chứ không phải chỉ có một vài ngày; điều đó có nghĩa là các ông phải hoàn toàn từ bỏ chính mình và chỉ tin vào sức mạnh của Lời Chúa. Thứ hai: khi tới nhà nào thì phải kiên trì, không được lùi bước; nói khác đi, các ông phải tin vào sứ mệnh của mình, tin vào sự quan phòng và chờ đợi thời giờ của Chúa. Thứ ba: các ông phải có can đảm trước sự cứng đầu của những kẻ chống đối các ông.
Thật ra, các tông đồ là các sứ giả được sai đi loan báo sứ điệp tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa đối với dân Người; bởi thế, Chúa muốn các ông phải là những người trước hết kinh nghiệm về sự quan phòng của Chúa và phải là những người sống tinh thần phó thác tuyệt đối vào Chúa. Có như vậy, lời rao giảng của các ông mới có giá trị.
Mỗi thời đại có những cám dỗ riêng. Ma quỉ đã cám dỗ Chúa Giêsu từ bỏ sứ mệnh cứu thế, cũng như cám dỗ Ngài làm những việc lạ lùng, như hóa đá thành bánh, gieo mình xuống từ nóc Ðền thờ để mọi người thấy và tin. Ngày nay, không thiếu những người chỉ muốn dùng tiền bạc để giảng dạy hoặc dùng quyền bính để làm cho người khác kinh sợ. Một cám dỗ khác mà người Tông đồ thời nay thường mắc phải, đó là sự thiếu kiên nhẫn, chờ đợi thời giờ của Chúa. Họ dễ thoái lui rời bỏ nhiệm sở, thay đổi công việc. Cũng có những người Tông đồ không dám nói rõ những sai lầm của người khác cũng như những gì trái ngược với giá trị Tin Mừng. Thái độ chung của con người thời nay là ích kỷ và hưởng thụ, số người sẵn sàng để Chúa sai đi thật hiếm hoi, số các tệ nạn do sự sai lầm thiêng liêng ngày càng gia tăng, trong khi đó cái tôi tự do được thổi phồng.
Nhiều người tông đồ thời nay dễ dàng quan niệm rằng không thể truyền giáo thành công, nếu không có tiền, nếu không đủ phương tiện cần thiết như cơ sở khang trang, phương tiện hiện đại…! Tin Mừng hôm nay một lần nữa khẳng định rằng tất cả những điều đó không phải là hành trang tất yếu, nhưng TÌNH YÊU dành cho Chúa và tha nhân chính là động lực và Tin Mừng Nước Thiên Chúa là điều mà người tông đồ luôn mang theo để phân phát cho những ai họ được sai đến.
Với trang Tin mừng hôm nay, chúng ta không khỏi giật mình vì có những lúc chúng ta cảm thấy thiếu thốn, thiệt thòi về vật chất hay tình thần một chút, thì chúng ta liền than vãn, kêu trách Chúa ngay tức khắc: Lạy Chúa con sống đâu đến nỗi nào đâu mà sao Chúa để con phải chật vật, lam lũ, vật vả thế này! Biết đâu đấy, Chúa đang dạy cho ta bài học về sự tín thác tin tưởng vào Chúa trong hoàn cảnh cuộc sống của ta mà ta không nhận ra.
Thân phận người trần mắt thịt chúng ta là vậy, thường chúng ta chỉ nghĩ đến cái lợi ngay trước mắt và chỉ nhìn mọi sự theo quan điểm trần tục, vật chất. Cũng vì thế, chúng ta xếp giá trị đức tin, giá trị của mối liên lạc tín thác của ta vào Chúa hoàn toàn theo quan điểm lợi lộc vật chất trần gian. Mà nói về lợi lộc trần gian, thì có lần Chúa bảo: “Được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì!”
