2023
Khuôn vàng thước ngọc
22.6 Thứ Năm trong tuần thứ Mười Một Mùa Quanh Năm
2 Cr 11:1-11; Tv 111:1-2,3-4,7-8; Mt 6:7-15
Khuôn vàng thước ngọc
Là Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng Kinh Lạy Cha. Một ngày sống chúng ta có nhiều dịp để đọc lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ cầu nguyện. Chúng ta đọc trong thánh lễ, trước mỗi bữa ăn, khi khấn nguyện cho bản thân hay cho những công việc chung. Thậm chí các bà mẹ còn dạy các em nhỏ khi bập bẹ biết nói lời kinh này. Nhiều em bé đọc lời kinh với thái độ hồn nhiên, thật đẹp.
Tuy nhiên từ lời đọc thuộc lòng đến thực hiện lời kinh ấy quả không dễ dàng. Khi các Tông đồ không biết phải cầu nguyện thế nào. Chúa Giêsu đã dựa vào kinh nghiệm của Ngài kết hợp với Thiên Chúa Cha mà Phúc âm vẫn thường ghi lại, sáng sớm tinh sương hay chiều tối. Chúa Giêsu thường lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện.
Các nhà tu đức cho rằng “Bước vào đời sống cầu nguyện là bước vào cuộc chiến đấu”. Có người cầu nguyện thật nhiều. Nhưng vẫn cảm thấy trống rỗng như Chúa chẳng nghe lời, rồi chán nản, bỏ cầu nguyện, thậm chí bỏ nhà thờ, vẫn nghĩ rằng cầu nguyện như một dịch vụ “xin cho”. Được thì tin, không thì thôi.
Trước khi dạy cho các môn đệ Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu đã mượn lời tác giả sách Huấn ca (Hc 7,14) để nhắc cho các ông những điều hết sức ý nghĩa: “Khi cầu nguyện, các con đừng nhiều lời như dân ngoại: họ nghĩ là phải nói nhiều mới được chấp nhận. Ðừng làm như họ, vì Cha các con biết rõ điều các con cần, ngay cả trước khi các con xin” (Mt 6, 7-8). Như vậy, Ngài nhắc cho các môn đệ và cũng nhắc cho mỗi người chúng ta nên nhớ rằng, mỗi người nên biết mình sẽ phải làm gì trong khi cầu nguyện. Lời cầu nguyện sẽ được Chúa đoái nghe không hệ tại ở việc nói nhiều hay ít, lâu hay mau; mà quan trọng là chúng ta cầu nguyện cái gì và như thế nào (thánh Têrêxa Avila). Hiểu được thế, chúng ta sẽ nhận thấy Kinh Lạy Cha tuy súc tích nhưng thật ý nghĩa biết bao.
Trước hết, Kinh Lạy Cha nhắc nhở chúng ta hãy sống với Chúa bằng tình con thảo, nghĩa là Thiên Chúa muốn chúng ta yêu mến Ngài như tâm tình của một người con, chứ không phải khiếp sợ như một kẻ nô lệ và hãy thể hiện lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa bằng việc mau mắn thực thi ý Ngài. Để hiểu được điều này, chúng ta nên lần giở lại bối cảnh thời bấy giờ. Dân ngoại thời đó sống trong một thế giới đầy thần linh. Hơn nữa, giữa các thần luôn có sự ghen tương, thù oán. Người ta luôn phải tìm mọi cách để chiều lòng các vị thần của mình. Nhưng vì chẳng bao giờ biết mình có bỏ sót hoặc quên tôn vinh vị thần nào đó hay không, kết quả là họ luôn sống trong sự lo lắng và khiếp sợ. Còn ở đây, Chúa Giêsu giới thiệu một Thiên Chúa là Cha của chúng ta. Điều này sẽ giúp giải quyết mối liên hệ giữa chúng ta với Chúa, không giống như nơi dân ngoại. Đó không phải là loại bỏ sức mạnh, quyền năng và sự oai nghiêm của Chúa nhưng là khiến chúng ta được đến gần hơn với Chúa, gần hơn với các thuộc tính chỉ có nơi Người.
Kế đến, Kinh Lạy Cha nhắc nhớ chúng ta hãy sống phó thác và cậy trông vào Thiên Chúa, là Cha chúng ta, đừng như dân ngoại lải nhải nhiều lời mà thiếu lòng tin. Biết bao lời dạy, đặc biệt, rất nhiều dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã dùng đều nhằm mời gọi chúng ta tin vào tình thương của Thiên Chúa. Chẳng hạn, dụ ngôn “Hoa huệ ngoài đồng”, chúng không canh cửi, cũng chẳng dệt khâu, vậy mà ngay cả vinh hoa của vua Salômôn cũng không thể sánh tày một bông hoa đó. Hay như dụ ngôn “Chim sẻ ngoài đồng”, chúng không gieo vãi, cũng chẳng gặt hái, vậy mà Cha trên trời vẫn nuôi sống chúng. Chúng ta còn đáng giá hơn muôn ngàn bông huệ và chim trời.
Như vậy, đức tin giúp chúng ta thêm xác tín vào một Thiên Chúa luôn quan phòng và hết mực yêu thương. Chúa Cha yêu thương chúng ta vô ngần, như lời thánh Phaolô đã nói: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban người còn con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta” (Rm 8, 32). Chẳng ai nhìn lên Thập giá mà còn có thể nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa là Cha của mình được nữa.
Cuối cùng, Kinh Lạy Cha nhắc nhớ rằng, nếu Thiên Chúa là Cha chúng ta, thì tất cả mọi người đều là anh em với nhau. Không thể thưa với Thiên Chúa “Lạy Cha chúng con”, mà lại không nhìn nhận mọi người là anh em hoặc đối xử với nhau như những người xa lạ. Chúng ta không thể đón nhận được tình thương tha thứ của Thiên Chúa nếu không sẵn sàng tha thứ cho nhau. “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” trở thành một trong những ý tưởng gần gũi nhất nhưng lại khó thực hiện nhất. Chúng ta mong Chúa tha thứ nhưng chính chúng ta lại chưa mở lòng đón nhận anh em, chưa hàn gắn những mối bất hòa, chưa giải quyết các cuộc xung đột, chưa dàn xếp ổn thỏa các cuộc tranh chấp… thì làm sao Chúa có thể chiều lòng chúng ta được.
Tin Mừng Chúa Giêsu đã nói rõ : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin. Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”, (Mt 6, 7-9).
Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu để lại là một mạc khải về Chúa Cha. Thiên Chúa của chúng ta không là Thiên Chúa xa vời hay nghiêm nghị, nhưng là Thiên Chúa gần gũi, thân mật đến độ chúng ta có thể gọi Ngài là Cha với tất cả trìu mến như một em bé gọi cha mình.
Tỏ lộ cho cho chúng ta một Thiên Chúa như người cha yêu thương, Chúa Giêsu cũng tỏ lộ chính chúng ta là ai. Phẩm giá của con người chính là được làm con Thiên Chúa, và bởi vì là con của cùng một cha, nên chúng ta là anh em với nhau. Tình Cha con (chiều dọc) và tình em (chiều ngang) được Chúa Giêsu mạc khải cách hài hòa qua kinh lạy Cha.
Đặc biệt trong mối tương quan chiều ngang đối với anh em. Chúa Giêsu đã đặc biệt nhấn mạnh trong lời kinh: “xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con”. Mt 6, 12).
Khi chúng ta có lỗi với Chúa. Chúng ta thường đến với Bí tích Hòa Giải để xin ơn tha thứ. Thế nhưng, khi chúng ta có lỗi với anh em, hay anh em xúc phạm đến mình, chúng ta khó có thể tha thứ. Cũng chính vì thế mã xã hội hôm nay hận thù gia tăng, đưa đến tình trạng trả thù, giết người. Trong gia đình, vợ chồng không thể tha thứ cho nhau đưa đến tình trạng đổ vỡ, ly thân ly dị. Anh chị em ruột không thể tha thứ cho nhau, coi nhau như người dưng nước lã.
Do vậy, Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ, nhưng Ngài không tha cho những ai không biết tha thứ : “Sao ngươi chẳng bạn ngươi như Ta đã thương ngươi?”. Bởi thế, tha thứ không còn là hành vi tự nguyện, mà là điều kiện bắt buộc. Đó cũng làm phẩm tính của Kitô hữu con một Cha trên trời.
2023
Các việc đạo đức
21.6 Thánh Aloysius Gonzaga, Tu Sĩ
2 Cr 9:6-11; Tv 112:1-2,3-4,9; Mt 6:1-6,16-18
Các việc đạo đức
Thánh Aloysius là một người nổi tiếng thời bấy giờ vì ngài sinh trong một gia đình quý tộc, nhưng đời sống như thiên thần, và cái chết thật thánh thiện.
Aloysius là con cả của Hầu Tước Ferrante ở Castiglione nước Ý, phục vụ dưới triều Philip II của Tây Ban Nha. Cha ngài mong cho con mình trở nên một nhà lãnh đạo quân sự tài ba, do đó ngay từ khi bốn tuổi Aloysius đã được tự do tung tăng trong trại lính, làm quen với các vũ khí. Nhưng khi lên bảy, đời sống tâm linh Aloysius thay đổi lạ lùng và hàng ngày cậu đã đọc kinh sách, thánh vịnh và đặc biệt kính mến Ðức Maria. Lúc 13 tuổi, cùng với người em, Aloysius theo cha mẹ lên triều đình và cả hai giữ nhiệm vụ phục dịch cho Don Diego, thái tử người Asturias ở Tây Ban Nha. Càng nhìn thấy sinh hoạt triều đình bao nhiêu, Aloysius càng chán ngán bấy nhiêu và tìm cách khuây khỏa qua hạnh các thánh.
Chính trong thời gian này, khi nghe biết về công cuộc truyền giáo của các cha dòng Tên ở Ấn Ðộ, Aloysius đã có ý định đi tu và tập sống kham khổ cũng như tụ tập các trẻ em nghèo để dạy giáo lý cho chúng. Mơ ước đi tu của Aloysius phải trải qua bốn năm tranh đấu với chính người cha của mình cũng như sự dụ dỗ của rất nhiều chức sắc trong triều. Sau cùng, Aloysius đã chinh phục được tất cả và được nhận vào đệ tử viện dòng Tên lúc 17 tuổi.
Vì nhận thấy sức khỏe yếu kém của Aloysius, các cha giám đốc đã buộc Aloysius phải chấm dứt sự kham khổ, phải ăn nhiều hơn, phải sinh hoạt với các đệ tử khác và không được cầu nguyện ngoài những giờ ấn định. Aloysius được gửi lên Milan đi học, nhưng vì sức khỏe yếu kém nên đã phải trở về Rôma.
Vào năm 1587, Aloysius tuyên khấn. Ðược vài năm sau, trận dịch hạch tấn công Rôma. Các tu sĩ dòng Tên mở một bệnh viện của nhà dòng. Chính cha bề trên cũng như nhiều linh mục đích thân chăm sóc bệnh nhân. Dù sức khỏe yếu kém, Aloysius cũng tận tình phục vụ bệnh nhân và bị lây bệnh. Sau ba tháng bệnh hoạn, Aloysius đã từ trần ngày 21 tháng Sáu 1591, lúc ấy mới 23 tuổi.
Ðời sống thánh thiện của Aloysius được cha linh hướng Robert Bellarmine (sau này là thánh) minh xác. Và ngài được Ðức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIII phong thánh năm 1726 và được đặt làm quan thầy các học sinh Công Giáo.
Cầu nguyện, ăn chay, bố thí là ba hình thức mà tín đồ nhiệt tâm, đạo đức của các tôn giáo thường làm. Đó là những việc thiện mà con người càng thành kính thi hành bao nhiêu thì càng đạt đến sự trưởng thành nhân bản bấy nhiêu. Tuy nhiên, những việc thiện tốt lành ấy lại bị con người lạm dụng cách không thương tiếc và nhiều khi lại gây ra nhưng hậu quả khó lường.
Quả thế, trong ba việc thiện ấy thì cầu nguyện là việc dễ làm nhất. Ai cũng có thể cầu nguyện, cầu nguyện thường xuyên và nhiều lần, nhưng có mấy ai biết cầu nguyện đúng cách. Và đúng như từ ngữ người ta thường dùng ‘cầu xin’ – Người ta đồng hóa việc cầu nguyện với việc ‘cầu cạnh, xin xỏ’ – vô hình chung người ta biến Thiên Chúa thành một ‘vị thần đèn’ để xin cái này cái kia, mà không biết rằng cầu nguyện chính là thiết lập mối tương giao thân thân mật với Thiên Chúa là cha yêu thương vô cùng, và điều quan trọng là tìm kiếm và thi hành ý Cha. Chính vì tương quan thân mật và rất riêng tư ấy mà Chúa Giêsu dạy: Khi cầu nguyện “hãy vào phòng đóng cửa lại, cầu nguyện với Đấng hiện diện ở nơi kín đáo…” (x.c.6 )
Có những người tham gia những giờ cầu nguyện chỉ là để phô trương cho người ta thấy, biết mình đạo đức; cũng có những người tham gia cầu nguyện như một hình thức để tụ tập giao lưu, và lắm khi những cuộc gặp gỡ như thế lại phát sinh những vấn đề tiêu cực như nói hành, nói xấu, bình phẩm không tốt về người khác; cũng có những nơi thì việc đọc kinh cầu nguyện trong khu xóm là dịp để các ông lai rai nhậu nhẹt … Đó là những điểm tiêu cực tồn đọng mà mỗi Ki-tô hữu chúng ta cần xét lại để hoán cải và canh tân như lời cảnh tỉnh và mời gọi của Đức Giê-su trong Tin mừng hôm nay, đồng thời sống tinh thần cầu nguyện đích thực như Người dạy hầu trở nên con thảo của Cha trên trời.
Thứ đến là ăn chay. Chay tịnh là một việc đạo đức tốt lành giúp con người kềm hãm xác thịt, làm chủ bản thân. Đối với người Ki-tô hữu ngày nay, luật Hội Thánh chỉ buộc một năm ăn chay hai ngày đầu và cuối mùa chay: thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh – ngày Chúa Giêsu chịu chết. Tuy thế, ngày nay, trong cuộc sống luôn gia tăng các nhu cầu hưởng thụ thì đối với không ít người, việc chay tịnh là rất khó khăn. Và ở nhiều nơi, nhiều người còn giữ tục lệ ‘ba béo’ – trước thư tư lễ tro và ‘năm béo’ trước thứ sáu tuần thánh, nghĩa là người ta sẽ ăn ngon, ăn thỏa thuê trước ngày ăn chay – người ta tìm cách ăn bù trước hoặc sau ngày chay. Lại có những người giữ luật kiêng thịt bằng cách ăn hải sản đắt tiền.
Vì vậy để trở về với Tin mừng, Giáo hội luôn mời gọi con cái mình giữ chay tịnh bằng cả tinh thần; sự chay tịnh phải hết sức tự nguyện và được thực hiện trong vui tươi; không những chay tịnh bằng việc kiêng ăn uống mà còn phải chay tịnh trong cả cách nghĩ, cách nói và thực hiện những nghĩa cử yêu thương; ăn chay không phải là để dành tiền để bữa khác ăn bù, nhưng là để chia sẻ với những người nghèo đói và kém may mắn hơn mình.
Về việc bố thí. Trong một xã hội thực dụng ‘hòn đất ném đi, hòn chì ném lại’ hoặc ‘thả con tép, bắt con tôm’ thì việc bố thí, chia cơm sẻ áo cho tha nhân lại càng hiếm hoi. Hoặc người ta bố thí theo hình thức ‘khua chiêng đánh trống’ để tìm danh lợi, lấy tiếng khen. Cũng có khi người ta bố thí chỉ là để thải ra những đồ thừa, hết hạn sử dụng, không thể sử dụng hoặc đem lại lợi nhuận cho họ – những việc bố thí như thế thường hạ thấp hơn là nâng cao nhân phẩm con người. Lại có những hình thức làm việc từ thiện để che lấp tội ác của mình như buôn thuốc phiện, buôn lậu, buôn người…. Chúa Giêsu dạy “khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm để việc bố thí được kín đáo” (c. 3) cho thấy Thiên Chúa muốn việc từ thiện, tương thân tương ái phải phát xuất từ trái tim chân thành biết yêu thương, rung cảm trước sự bất hạnh, nỗi đau của tha nhân. Vì vậy việc bố thí là để phục vụ, nâng cao nhân phẩm con người, giúp con người sống tốt hơn, hạnh phúc hơn chứ không thể trở thành hình thức khỏa lấp lương tâm hay mưu tìm danh lợi cho mình.
Tin Mừng hôm nay ghi lại những lời dạy của Chúa Giêsu về tinh thần tu đức cần phải có, với nguyên tắc sống đạo: đừng làm việc lành có ý phô trương cho người ta thấy. Theo luật Môsê, bố thí, cầu nguyện, ăn chay là những việc lành cao quý, và người ta thường tổ chức các việc đạo đức đó cách công khai để thúc đẩy nhiều người tham gia. Chúa Giêsu không phản đối các việc đó, nhưng Ngài chỉ muốn người ta thực hiện chúng với ý hướng mới, đó là làm vì lòng yêu mến và tìm đẹp lòng Chúa hơn là để được người đời khen ngợi. Chẳng vậy, các việc đạo đức ấy có thể chỉ có hình thức, đấy là chưa nói đến trường hợp có nhiều người làm bộ cầu nguyện lâu giờ, ăn chay nhiều ngày, bố thí rộng rãi để dễ lừa gạt người khác.
Chúa Giêsu cảnh giác chúng ta đề phòng thứ đạo đức vụ hình thức. Nhưng việc đạo đức tự nó rất ích lợi cho bản thân, cho tha nhân và đáng được Thiên Chúa ban thưởng, với điều kiện chúng được thực hiện với ý ngay lành. Chúng ta cần thực hành các việc lành với ý hướng này, vì đó là lẽ sống, là niềm vui và là động lực cho cuộc đời hy sinh phục vụ của chúng ta.
2023
Hãy yêu kẻ thù
20.6 Thứ Ba trong tuần thứ Mười Một Mùa Quanh Năm
2 Cr 8:1-9; Tv 146:2,5-6,7,8-9; Mt 5:43-48
Hãy yêu kẻ thù
“Yêu mến anh em, là sống chu toàn giới luật. Yêu mến người lành và yêu thương kẻ gian ác. Chính do tình yêu mà chúng ta được cứu độ, thành con Chúa Trời và thành bạn hữu Chúa Kitô”. Đây là lời bài hát mà có lẽ ai cũng thuộc vì nó được lặp lại nhiều lần trong Mùa Chay. Đây cũng chính là lệnh truyền của Chúa Giêsu cho các môn đệ, đồng thời cũng là lời mời gọi cho những ai đang bước theo Chúa Giêsu trên lộ trình cứu độ.
Thật vậy, cốt lõi Đạo Công Giáo của chúng ta là tình yêu thương. Tại sao vậy? Thưa vì Đạo chúng ta bắt nguồn từ Thiên Chúa, mà bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì thế: “Người làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương…”.
“Yêu thương kẻ thù” là một nghĩa cử anh hùng, một nỗ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, vượt trên phản ứng thường tình của con người. “Yêu thương kẻ thù” là bước vào thế giới siêu nhiên của con cái Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời.
Khi dạy “hãy yêu kẻ thù”, Chúa Giêsu không có ý cổ võ sự nhu nhược, nhát đảm, nhưng là đề cao tinh thần khoan dung, hiền từ, quảng đại, tha thứ.
“Hãy yêu kẻ thù”, đó là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chính Ngài đã nêu gương khi sẵn sàng tha thứ cho kẻ hại mình và cầu xin Chúa Cha tha cho họ. Ý tưởng ấy rất cao và rất khó nhưng nó tạo nên ý nghĩa.
Như vậy, Chúa Giêsu mở ra con đường mới cho nhân loại. Con đường lấy thiện thắng ác, lấy tình yêu vượt thắng hận thù. Chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận tiêu tan.
Là những Kitô hữu, chúng ta được mời gọi đứng về phía bất bạo động. Tuy nhiên đó không phải là một chọn lựa cho sự nhu nhược hay thụ động leo thang, nhưng chọn lựa bất bạo động có nghĩa là tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chân lý, của công bằng và tình yêu hơn là sức mạnh của chiến tranh, vũ khí và hận thù…. Chúng ta phải cố gắng dùng điều tốt nhất để đáp lại điều xấu nhất.
Những lời dạy của Chúa Giêsu mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, cũng không mập mờ, không nhượng bộ hay chiều theo khuynh hướng tự nhiên của con người muốn giới hạn tình yêu của mình đối với tha nhân.
“Hãy yêu mến anh em mình”, mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những “anh em” được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: “Hãy ghét kẻ thù địch” thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh. Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.
Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con”. Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.
Nhưng tại sao phải yêu thương như vậy? Bởi vì chính chúng ta là con cái của Thiên Chúa và do đó phải noi gương trọn lành của Ngài, Ðấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người lành.
Hãy nhớ rằng: “Viên đạn căm thù chỉ có thể làm thương tổn kẻ thù sau khi đã xuyên qua thân xác chúng ta trước”.Khi nuôi trong mình sự trả thù thì đồng nghĩa với việc ta đào thêm một cái hố nữa để chôn chính ta. Người Hy Lạp cổ thường ví von như sau: “Người khôn ngoan thà chịu đựng sự ác hơn là làm điều ác”.
Xin Chúa đổ tràn trên chúng ta tình thương của Chúa, để chúng ta được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với chúng ta.
2023
Ðừng báo thù
19.6 Thứ Hai trong tuần thứ Mười Một Mùa Quanh Năm
2 Cr 6:1-10; Tv 98:1,2-3,3-4; Mt 5:38-42
Ðừng báo thù
“Mắt thế mắt, răng đền răng”, đó là luật Talion, nghĩa là luật công bằng của người xưa. Câu đó đã thấy ở trong bộ luật của Hammourabi trước Chúa Giêsu khoảng 2000 năm và ở trong sách Xac 21,24 (Đnl 19,21. Lev 24,20). Luật này của ông Maisen cho phép về việc báo thù. Thật ra luật này đã là luật đặt giới hạn cho việc báo thù rồi, vì xưa Cain được báo thù 7 lần hơn là Lamek được 70 lần 7 (Stk 4,15. 4,7-24).
Có thể nói luật của người xưa là luật công bằng. Ta không hại người và người cũng không hại ta. Mình làm thiệt hại ai bao nhiêu thì phải trả cho họ bấy nhiêu. Tuy nhiên là con cái của Chúa, Chúa muốn con người sống siêu nhiên hơn, chứj đừng thấp lè tè vỏn vẹn với luật cũ là đức công bình. Thật ra sống công bằng ở trần gian đã là khó lắm rồi. Nhưng luật Chúa phải đời hỏi phải thêm hơn thế nữa. Chúa nói: “Đừng chống cự với người ác” (c.39), “Hãy cho cả áo dài trong” (c.40). “Hãy đi thêm hai dặm” (c.41), “Hãy đưa thêm má trái” (c.39).
Trước khi tìm hiểu những câu nói trên chúng ta cần nói ngay trước rằng có thể có người hiểu nghĩa đen lạm dụng câu nói này làm phiền khổ thêm cho người anh em mình. Hoặc có người chủ trương rằng với câu nói đó thôi, ta không cần phải lo nâng đỡ hay nâng đỡ những người gặp bất trắc, khó khăn.
Thật ra, chính Chúa muốn dạy nơi đây là việc trả thù hay ăn thua với người khác. Thường bản tính của con người là không chịu nhịn. Một người hay gây thiệt hại cho ta, là ta cũng muốn cho họ bị thiệt hại như ta. Càng nhiều hơn càng tốt. Ta muốn thấy công lý phải được thực hiện ngay trên đời này, ngay lập tức trước sự chứng kiến của ta. Nhưng Chúa nói rõ: “Oán phạt thuộc về Ta, ta sẽ báo ứng” (Rm 12,19). Chúa muốn nói rằng chính Ngài sẽ là người phán xử sau cùng và sau này. Còn chúng ta, cứ phục lụy Chúa đi. Chính Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta thấy sự công bình của Ngài được thực hiện. Đấy cũng là nguyên tắc Chúa đưa ra để chúng ta sử dụng trong cuộc sống cá nhân hàng ngày.
Luật người xưa là “mắt thế mắt, răng đền răng”. Không phải bây giờ Chúa bỏ luật này đi để dạy một luật khác. Cũng không phải là có mới nới cũ. Sự công bằng của Thiên Chúa vẫn còn đó. Điều Chúa muốn dạy ở đây là đừng đòi hỏi quyền lợi cho mình nhất là quyền trả thù hay hành hạ anh em. Nếu có thì phải đối xử trong tình yêu. Chính vì thế mà Chúa bảo: “Đừng chống cự với người làm dữ” (c.39). Làm thế không phải là Chúa phá đổ mọi luật pháp. Chúng ta thấy qua Kinh thánh, Chúa kêu gọi vâng phục nhà cầm quyền vì nhà cầm quyền được Chúa đặt ra để trừng trị kẻ dữ. Nhưng còn việc Chúa bảo đừng chống cự với người làm dữ nghĩa là đừng đòi hỏi cho mình quyền trả thù. Cho nên khi bị người khác vả má, nghĩa là bị hạ nhục khinh dể, trường hợp ấy, Chúa muốn chúng ta đem tình bác ái ra mà đối xử hầu phản ánh là con cái Thiên Chúa.
Kinh thánh dạy cho chúng ta thấy Chúa bị nguyền rủa mà Ngài không nguyền rủa lại, mà cứ phó mình cho Đấng phán xét chí công. Có quyền gây thiêt hại và trả thù là chính Chúa, mà Chúa đã không làm huống chi chúng ta là con cái Ngài. Việc cho áo trong áo ngoài, việc đi thêm vài dặm… cũng vậy. Khi làm vậy, không phải là để khuyến khích thêm tội ác đâu. Nhưng hãy đem tinh thần yêu thương bác ái ra mà xử sự. Chứ còn lối trả thù thua đủ, cãi vã, kiện tụng chỉ là oán chồng lên óan mà thôi, bạn hóa thành thù nhân, thay vì một người thù lại thêm hai nữa.
Chúa Giêsu đã đưa ra một pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với Cựu ước. Luật Cựu ước qui định: “Mắt đền mắt, răng đền răng “. So với các dân tộc chung quanh, luật Cựu ước cho thấy dân Israel đã đạt được một ý thức khá cao về công bình. Nhưng Chúa Giêsu đến để kiện toàn lề luật: thay cho thứ công bình “Mắt đền mắt, răng đền răng”, Chúa Giêsu đề ra luật của yêu thương và được qui tóm trong một lề luật duy nhất là mến Chúa, yêu người.
Luật yêu thương ấy không có giới hạn, cũng chẳng có luật trừ. Yêu thương là yêu thương mọi người và yêu thương cho đến cùng. Qua cách cư xử của Ngài đối với các tội nhân và ngay cả kẻ thù của Ngài, Chúa Giêsu đã chứng tỏ một tình yêu không điều kiện, không giới hạn, không luật trừ, và tình yêu ấy được thể hiện trọn vẹn qua cái chết của Ngài trên thập giá.
Khi tỏ bày tình yêu của Thiên Chúa và khi nối kết hai giới răn mến Chúa yêu người, Chúa Giêsu cũng chỉ cho con người thấy dược ơn gọi đích thực của nó. Chỉ có một cách thế hiện hữu đối với con người đó là sống yêu thương. Khước từ yêu thương, con người tự chối bỏ chính mình. Đón nhận mạc khải của Chúa Giêsu, người Kitô hữu hiểu rằng chỉ bằng yêu thương, họ mới sống đúng ơn gọi làm người, và tỏ bày hình ảnh của Thiên Chúa mà họ mang trong mình.
Chúng ta hãy cầu xin bằng chính lời kinh hòa bình của thánh Phanxicô Assisiô: Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn u sầu.
Ước gì chúng ta ý thức được sứ mệnh cao cả của mình, để trong mọi sự và trong mọi quan hệ, chúng ta luôn thúc đẩy và hướng đến bởi một động lực duy nhất là tình yêu.
