2023
Thái Ðộ Bao Dung
3.8
Thứ Năm trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm
Xh 40:16-21,34-38; Tv 84:3,4,5-6,8,11; Mt 13:47-53
Thái Ðộ Bao Dung
Chúa dùng dụ ngôn “mẻ lưới bắt được mọi thứ cá” để dạy dân chúng. Qua dụ ngôn này Chúa Giêsu muốn khẳng định rằng, Nước Trời được trao tặng, hay mở rộng ra cho hết mọi người. Cho cả “cá tốt” cũng như “cá xấu”. Nghĩa là không phân biệt người tốt kẻ xấu, cũng không kỳ thị chủng tộc, giai cấp sang hay hèn. Giống như mẻ lưới bắt được mọi thứ cá lớn cũng như bé, ai cũng có cơ hội được vào Nước Trời. Nhưng để được tuyển chọn vào trong Vương Quốc của Thiên Chúa thì phải là những loại cá tốt. Cá tốt chính là giá trị quý giá của Nước Trời. Ai là cá tốt sẽ được sống trong nước trời.
Như vậy, dụ ngôn mẻ lưới này gợi lên vấn đề là số phận của người lành và kẻ dữ. Chỉ người lành mới được vào Nước Trời hưởng phúc đời đời; ngược lại số phận người dữ sẽ bị quăng ra ngoài, nơi khóc lóc và nghiến răng. Vì thế, khi ví Nước Trời qua hình ảnh mẻ lưới, Chúa Giêsu muốn đặt con người trong những chọn lựa giá trị tốt đẹp nhất cho cuộc đời của mình, nhất là cho một cuộc sống duy nhất hiện hữu trong hạnh phúc bất diệt, mà nếu chọn sai thì sẽ mất nó vĩnh viễn! Do đó, đối với Chúa , người tốt là người biết từ bỏ mọi sự mà đi theo Người; và khi đã đi theo Người, phải sống theo Thánh ý của Chúa. Ai làm như thế sẽ là cá tốt trong ngày cánh chung. Còn ai không đón nhận Nước Trời mà Ðức Giêsu mang lại, sẽ là cá xấu bị loại ra trong ngày sau hết.
Ví Nước Trời với hình ảnh lựa lọc cá tốt, cá xấu, Chúa Giêsu rõ ràng nhấn mạnh đến sự phân định và chọn lọc sẽ xảy ra vào thời cánh chung: người tốt được chọn, người xấu bị loại trừ. Việc làm của chúng ta là quyết định mình trở nên người tốt hay người xấu, nhưng không phải tốt hay xấu theo kiểu thế gian mà là theo tiêu chuẩn của Tin Mừng. Nói cách khác, sự phân định và chọn lựa của Thiên Chúa vào hồi chung cuộc kêu gọi chúng ta phải biết phân định và chọn lựa ngay trong hiện tại này.
Qua trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn cảnh báo cho chúng ta về ngày tận thế, ngày ấy xảy ra khi chúng ta phải nhắm mắt lìa đời. Sinh ra chúng ta Thiên Chúa luôn ấp ủ gìn giữ bảo vệ chở che, Ngài đặt trong tâm hồn mỗi người tiếng nói của lương tâm để chỉ dẫn cho chúng ta làm lành lánh dữ. Tình yêu của Thiên Chúa bao phủ loài người có thể ví như chiếc lưới. Không một ai bị loại trừ và thoát ra khỏi tấm lưới yêu thương ấy.
Thế nhưng Thiên Chúa chỉ chọn những cá tốt, nói cách khác; Thiên Chúa chỉ đón nhận những ai muốn được Ngài biến đổi để trở nên tốt. Còn những ai chối bỏ Ngài thì trở nên cá xấu, bị quang ra ngoài, nơi đó sẽ là bất hạnh và than khóc muôn đời.
Xét lại mình, chúng ta đang là loại cá gì? Có xứng đáng được lựa chọn để nhận vào Nước Hằng Sống không?
Khi chúng ta sống và hành động theo tiếng chỉ bảo của lương tâm, nghĩa là sống theo ý Chúa, thì chúng ta sẽ có một cuộc sống thanh thản bình an ngay ở đời này, và chắc chắn sẽ được hạnh phúc đời sau. Còn ngược lại, nếu sống trong gian ác, tội lỗi thì ngay ở đời này sẽ là một chuỗi những tháng ngày sống trong bất an, bất hạnh và rồi sẽ đánh mất luôn cả sự sống đời sau!
Với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy có thái độ kiên nhẫn bao dung hơn đối với Giáo Hội của Ngài. Qua hình ảnh chiếc lưới thả xuống biển, kéo lên với đủ loại cá, trong đó người ta giữ lại những con cá tốt và ném đi những con cá xấu, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người chỉ được thực hiện trọn vẹn vào ngày cánh chung mà thôi, trong khi chờ đợi, thì người môn đệ của Ngài cần có thái độ kiên nhẫn, bao dung.
Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô. Tự bản chất, Giáo Hội là thánh thiện, như chúng ta vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, nhưng Giáo Hội thánh thiện ấy lại gồm những con người tội lỗi. Ý thức cơ bản và quan trọng nhất của người Kitô hữu chính là luôn nhận biết mình là tội nhân, để từ đó kêu cầu lòng thương xót của Chúa và sự tha thứ của anh em.
Nếu thiếu ý thức ấy, người Kitô hữu sẽ rơi vào thái độ kiêu căng giả hình của những người Biệt phái bị Chúa Giêsu lên án gắt gao. Ðồng hành với nhân loại, mang đến cho nhân loại Tin Mừng cứu rỗi, cũng như Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ, Giáo Hội chỉ có thể thực thi sứ mệnh của mình với thái độ kiên nhẫn, cảm thông, yêu thương, tha thứ mà thôi. Không ngôn ngữ nào hùng hồn hơn, không sứ điệp nào có tính thuyết phục hơn lòng nhân từ, sự khoan dung và tha thứ. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá là tuyệt đỉnh của hành động cứu rỗi của Ngài và lôi kéo mọi người lên với Ngài.
Luôn ý thức về thân phận tội lỗi yếu hèn của mình, không ngừng cảm thông với những thiếu sót bất toàn trong Giáo Hội, cố gắng thực thi lòng nhân từ bao dung với mọi người, đó là thách đố đang đặt ra cho người Kitô hữu chúng ta hơn bao giờ hết. Xin Chúa khơi dậy trong tâm hồn chúng ta lòng yêu mến Giáo Hội được thể hiện bằng những cử chỉ cảm thông bao dung, kiên nhẫn mỗi ngày.
2023
Nước Trời quý giá hơn tất cả
2.8 Thứ Tư trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm
Xh 34:29-35; Tv 99:5,6,7,9; Mt 13:44-46
Nước Trời quý giá hơn tất cả
Chúa Giêsu dùng hình ảnh kho báu và ngọc quý, nói lên giá trị tuyệt đỉnh của nước Trời, theo Chúa Kitô đó là mục đích lớn nhất của đời người. Muốn đạt tới nước Trời, con người phải nỗ lực đi tìm và hy sinh tất cả để gìn giữ khi tìm thấy. Nếu như giá trị của kho tàng, vàng, ngọc, kim cương vượt lên trên mọi giá trị của con người mà họ hăng say tìm kiếm ở trần gian, qua hình ảnh này, Chúa Giêsu cũng nói về niềm vui, giá trị nước Trời vượt trên tất cả.
Tuy nhiên, kho tàng nước Trời, ngọc quý của Thiên quốc là những của cải không hề bị mất đi trong lúc vàng, kho tàng, ngọc, kim cương sẽ chỉ có giá trị ở đời này, còn kho tàng nước Trời là vĩnh cửu, nên nước Trời sẽ vượt lên trên mọi thứ vật chất, vui sướng của trần thế.
Hai dụ ngôn “kho tàng” và “ngọc quí” mà Tin mừng hôm nay thuật lại qua lời rao giảng của Chúa Giêsu là một lời mời gọi chúng ta đừng để mất cơ hội khi Nước Thiên Chúa đến. Nước Thiên Chúa đó không phải là chuyện tình cờ, nhưng là một thực tại bị ẩn giấu như kho tàng chôn giấu trong thửa ruộng và như viên ngọc lẫn lộn trong số các loại ngọc giữa chợ đời. Vì thế, phải thao thức đi tìm, biết phân định chọn lựa, dám dấn thân và từ bỏ tất cả để đổi lấy nó.
Dụ ngôn kho tàng không đặt vấn đề luân lý về hành động của người mua thửa đất. Dụ ngôn chỉ muốn đề cao giá trị của Nước trời, nên nhấn mạnh niềm sung sướng của người kia thôi. Theo luật Rôma thời ấy, thì kẻ gặp được báu vật chôn giấu như vậy, có quyền chiếm hữu. Còn theo luật Do thái, trong văn mạch của dụ ngôn này thì quyền sở hữu báu vật thuộc về chủ thửa đất, vì thế người kia khi tìm thấy, đã chôn giấu rồi về nhà bán tất cả những gì mình có để mua thửa ruộng ấy.
Dụ ngôn đi tìm ngọc quí cũng mang ý nghĩa tương tự như dụ ngôn kho tàng. Nước trời cao quí hơn tất cả mọi sự con người có thể có, nên con người phải sẵn sàng hy sinh tất cả, để chiếm được nước ấy. Có người hiểu thương gia là Chúa Giêsu, và viên ngọc quí là con người: Con Thiên Chúa đã hy sinh tất cả vì loài người chúng ta (2Cr 8, 9; Pl 2, 6-11).
Dụ ngôn kho báu và viên ngọc quí nói tới sự cao quí tột bực của Nước trời mà không có thứ giá trị nào sánh bằng. Tựa như khi phát hiện ra khó báu hay tìm được viên ngọc quí, người ta bán hết tất cả những gì mình có để tậu cho được, thì khi những ai khám phá ra Nước trời, mọi giá trị người ta từng theo đuổi từ trước đều phải nhường chỗ và họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để dành cho được nước ấy.
Và ta thấy theo cách diễn đạt của dụ ngôn, thì thường là Thiên Chúa “chôn giấu lại” kho tàng sau khi đã chỉ cho chúng ta thấy. Nó chỉ thuộc về chúng ta sau khi đã bền bỉ kiên trì và chịu đựng khổ đau, để có khả năng lãnh nhận kho báu ấy. Hình ảnh “kho báu” và “viên ngọc quí” vừa rõ ràng vừa huyền bí. Rõ ràng ở chỗ ai biết giá trị của chúng thì quí hoá, còn huyền bí ở chỗ có nhiều người không biết giá trị tiềm ẩn trong đó. Nước trời có đó nhưng mấy ai khám phá ra và mấy ai nhận thấy được giá trị vĩnh cửu để đầu tư đời mình. Kho báu được chôn giấu nên phải tìm kiếm và đào bới, muốn có ngọc đẹp phải bôn ba đây đó tìm mua. Nước trời là một thực tại siêu việt nên phải vất vả tìm kiếm với cả lòng khao khát và hy sinh.
Kitô giáo thiết yếu chính là Chúa Giêsu Kitô. Làm Kitô hữu có nghĩa là chọn Chúa làm gia nghiệp và sẵn sàng đánh đổi tất cả để sống cho Ngài và vì Ngài. Làm Kitô hữu có nghĩa là đặt Ngài vào trọng tâm cuộc sống, để dù khi ăn, dù khi uống, dù làm bất cứ việc gì, luôn luôn tôn vinh Ngài. Làm Kitô hữu là sống cho Ngài và sống bằng chính sức sống của Ngài, để có thể thốt lên như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Một cuộc sống như thế chắc chắn đòi hỏi nhiều hy sinh, phấn đấu, mất mát.
Ngày hôm nay, con người vẫn mải mê tìm kiếm vật chất mà quên đi những giá trị của nước Trời, con người lo lắng mọi sự thế gian: Làm tất cả để giàu, để đẹp, chính vì mải mê đó mà quên đi những thực tại quê Trời mà họ cần phải tìm kiếm. Con người hôm nay đặt tất cả mọi lo toan, lo lắng, mà quên Đức Kitô và nước Ngài như thánh Âugustinô đã nhìn thấy trong cách sống con người: “Chúa Giêsu không đáng giá chútnào, nếu Ngài không được coi trọng hơn tất cả”
Hôm nay, Chúa Giêsu muốn mỗi người chúng ta xác định lại căn tính ơn gọi của mình, đó là đi theo Ngài. Đi theo Chúa Giêsu là đón nhận Ngài làm gia nghiệp, lấy lời Ngài làm kim chỉ nam hướng dẫn. Sẵn sàng sống những giá trị Tin mừng ấy trong cuộc đời dù gặp những khó khăn. Quyết tâm từ bỏ những điều bất chính trái với thánh ý Chúa. Làm được điều đó, ấy là lúc chúng ta khôn ngoan như người lái buôn và chàng thanh niên trong Tin mừng đi tìm “kho tàng” và “viên ngọc quí” hôm nay.
Mong sao mỗi người chúng ta hiểu rằng: Nước trời là “kho tàng” bền vững và Chúa Giêsu là “viên ngọc quí” đích thực. Đạt được “kho tàng” là Nước trời; chiếm hữu được “viên ngọc quí” là chính Chúa Giêsu thật là điều không dễ! Muốn đạt được điều đó, chúng ta phải đánh đổi bằng những hy sinh, cố gắng và tin tưởng tuyệt đối, ngay cả cái chết.
2023
LÒNG YÊU MẾN CHÚA VÀ MẸ CỦA THÁNH ANPHONGSÔ

Nói về cuộc đời của thánh Anphongsô là nói về cuộc đời của một con người ngoại hạng, một người vĩ đại của thế kỷ Ánh sáng với những tác phẩm để đời mà ảnh hưởng còn kéo dài cho đến hôm nay như bộ Thần Học Luân Lý, Vinh Quang Mẹ Maria, Nữ Tu Thánh Thiện, Chân Lý Đời Đời…một cuộc đời hoạt động không mỏi mệt vì các linh hồn, một trái tim đầy lòng thương xót đối với những con người bị bỏ rơi bên lề cuộc sống tâm linh, một đời sống bôn ba xuôi ngược để xây dựng một hội dòng lo đến phần rỗi linh hồn của những người nghèo khổ để rồi cuối cùng lại là người chết bên ngoài hội dòng, một người dám thề hứa với Chúa không bỏ phí một phút nào trong đời mình, một vị thánh của cầu nguyện với câu nói thời danh “ai cầu nguyện chắc chắn sẽ được cứu rỗi, ai không cầu nguyện sẽ phải hư mất”… Làm thế nào mà Anphongsô có thể làm được tất cả những điều cao cả ấy ? Đó là vì lòng yêu mến Chuá Giêsu, vì khi yêu người ta có thể làm được tất cả.
Thánh Anphongsô Maria Liguori sinh ngày 27 tháng 9 năm 1696 tại Marinella gần Naples, nước Ý. Ngài là con trưởng trong một gia đình quý tộc có bảy anh em. Ngài có đầu óc rất thông minh và có trái tim hết sức nhạy cảm. Cha Ngài làm việc trong triều đình, còn mẹ ngài là người có lòng nhân đức và bác ái. Anphongsô ngay từ thửa bé đã học rất giỏi và có đầu óc sáng suốt. Bên cạnh đó ngài cũng có một tấm lòng quảng đại đối với tất cả mọi người.
Ta thấy Thánh Anphongsô đã chứng tỏ ngài là một sinh viên ưu tú và xuất sắc. Ngài đã được ban giám khảo miễn trừ cho 3 tuổi, do đó vào năm 16 tuổi, Anphongsô đã lấy bằng tiến sĩ giáo luật và dân luật của Đại học Napôli. Sau một thời gian thì ngài lại bỏ nghề luật sư, và từ đó ngài đã dấn thân cho công cuộc bác ái. Kể từ đó ngài nhận ra được tiếng Chúa mời gọi ngài dấn thân trong cánh đồng phục vụ nước Chúa.
Năm 1726 ngài được thụ phong linh mục và ngài đã dồn mọi nỗ lực trong việc tổ chức tuần đại phúc ở các giáo xứ, cũng như nghe xưng tội và thành lập các đoàn thể Kitô giáo.
Vào tháng 11 năm 1732, ngài đã thành lập dòng Chúa Cứu Thế tại Scala. Đây là một hội dòng gồm các linh mục và tu sĩ sống chung với nhau, tận tụy thei gương Đức Kitô và hoạt động chính yếu là tổ chức tuần đại phúc cho nông dân ở thôn quê. Như một điềm báo cho điều sẽ xảy ra sau này, sau một thời gian hoạt động thì những người đồng hành với ngài từ lúc khởi đầu đã từ bỏ tu hội và chỉ còn lại có một thầy trợ sĩ. Nhưng sau bao nỗ lực, tu hội đã dần phát triển trở lại và được chập nhận vào 17 năm sau, dù rằng khó khăn vẫn chưa hết.
Sự canh tân mục vụ lớn lao của thánh Anphongsô là cách giảng thuyết và giải tội. ngài thay thế kiểu hùng biện khoa trương bằng sự giản dị dễ hiểu, và thay thế sự khắc nghiệt của thuyết Jansen bằng sự nhân từ.
“Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Thánh Anphongsô đã vạch ra cho nhân loại con đường theo Chúa : “Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình,vác thập giá của mình mà theo Ta” (Lc 9, 23). Nên, thánh Anphongsô, hôm nay đã giơ tay cao, đã chỉ cho các sĩ tử Dòng Chúa Cứu Thế của Ngài nhớ về cội nguồn của mình. Cội nguồn mà chính thánh Anphonsô đã lập ra một Dòng mang tên Chúa Cứu Thế vào năm 1732 với bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu khó khăn, thử thách. Thánh Anphongsô đã viết nên trang sử oai hùng cho đời mình, cho Dòng mình sáng lập.
Với 16 tuổi đời, hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời đã hé mở tương lai rạng rỡ cho cuộc đời thăng tiến của Anphongsô. Vinh quang vẫn là thách đố lớn nhất đối với gia đình của Anphongsô. Cha của Người không đồng ý cho Anphongsô tận hiến cuộc đời cho Chúa. Nhưng ý Chúa nhiệm mầu, một vụ kiện, đáng lẽ Anphongsô phải thắng, nhưng vẫn là đường lối quan phòng kỳ diệu của Chúa, thánh Anphongsô đã từ bỏ pháp đình, từ bỏ tất cả. Với sự nhất quyết theo chân Chúa, Anphongsô đã thắng cả sự ngăn cản của người cha và Người đã quyết định dứt khoát đi vào con đường hẹp.
Thánh Anphongsô, sau khi học xong triết và thần học,đã lãnh nhận sứ vụ linh mục vào ngày 21 tháng 12 năm 1726. Người đã chuyên cần giảng dậy và khuyên bảo mọi người thay đổi, tiến bước trên con đường nên thánh. Vì chính Người, sau một cuộc thua kiện đã thay đổi tất cả, đổi mới tất cả. Thánh Anphongsô đã đặt chiếc gươm, biểu tượng của dòng quí tộc dưới chân Ðức Mẹ. Thánh Anphongsô đã biến giây phút đó, giây phút hiện tại mà Người đặt thanh bảo kiếm dưới chân Ðức trinh nữ Maria làm giây phút hồng phúc và cứu độ. Cái giây phút mà trong cuộc hành trình chịu chết, Chúa đã nhìn Phêrô khiến Phêrô ăn năn và quay trở về với Chúa. Ðó là giây phút cứu độ của Phêrô. Còn đối với Anphongsô, giờ cứu độ của Người ở ngay dưới chân Ðức Mẹ.
Trong tác phẩm được rất nhiều người biết đến “ Vinh quang Mẹ Maria” ngài đã viết trong lời tựa: Mẹ biết rồi đó, sau Chúa Giêsu thì mẹ là người con đặt tất cả niềm cậy trông sẽ được phần rỗi đời đời. Như vậy có nghĩa là lòng yêu mến Chúa Giêsu được đặt ở vị trí hàng đầu trong lòng mến của ngài. Yêu mến Chúa Giêsu là điều ngài luôn bận tâm trong suốt cuộc đời để rồi ngài đã có thể nói lên xác quyết cách mạnh mẽ : tất cả những sự trọn lành của chúng ta chỉ hệ tại ở việc yêu mến Chúa với trót cả tâm hồn (Thực hành Yêu Mến Chúa Giêsu). Có nhiều người đã tưởng rằng sự trọn lành hệ tại việc sống khổ hạnh, việc đọc nhiều kinh, việc siêng năng lãnh các bí tích, việc làm phúc bố thí… song họ đã lầm. Thánh Anphongsô đã quả quyết như thế. Có lẽ đây là kinh nghiệm của chính ngài. Thời trẻ ngài đã hi sinh, hãm mình phạt xác cách nhặt nhiệm, có cả việc đánh tội rất dữ dội nhưng rồi ngài đã khám phá ra điều cốt yếu lại chính là là lòng yêu mến Chúa Giêsu chứ không phải việc làm nào khác.
Anphongsô đã đáp lại tình yêu Chúa bằng một tình yêu trao hiến được biểu tỏ trong mọi hành vi của cuộc đời, là hiến thân hoàn toàn cho Chúa để phục vụ các linh hồn, dành thời gian cho việc rao giảng tin Mừng, viết sách vở giúp các linh mục và hàng giáo sĩ, tu sĩ và bề trên, giáo dân nhất là tầng lớp những con người bình dân, nghèo khổ, ít học thiếu thốn sự hướng dẫn thiêng liêng. Ngài đã cảm và đã hiểu được tác động và ý nghĩa của lòng yêu mến và đã đáp trả bằng cách hiến trọn cho tình yêu, nhất là lòng yêu mến Chúa Giêsu.
Trong việc giảng dạy, thánh Anphongsô đã căn dặn các tu sĩ rằng: “Tôi xác tín và tôi vẫn luôn luôn xác tín một cách mạnh mẽ rằng phương cách rao giảng của chúng tôi có một hình thái rất đặc biệt. Sự gần gũi của chúng tôi đối với dân chúng, lối giảng dạy bình dân, sự hiểu biết thần học và những chân lý căn bản, cộng với lòng nhân ái của chúng tôi nơi tòa giải tội – tất cả những nét đặc thù này đã lôi kéo đông đảo dân chúng đến với chúng tôi, và chúng tôi luôn sẵn sàng đáp ứng một cách hiệu quả”.
Năm 1762, Đức giáo hoàng Clementô XIV đặt Ngài làm giám mục cai quản địa phận Agata. Ngài đã nỗ lực thăng tiến lòng đạo đức trong địa phận, khởi sự từ viêc canh tân hàng giáo sĩ. Năm 1775, Ngài được đức giáo hoàng Piô VI cho phép từ nhiệm để về sống trong dòng tại Nocera.
Những năm cuối đời, thánh Alphongsô đã trải qua rất nhiều đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Dầu trong “đêm tối của linh hồn”, ngài vẫn không nao núng và luôn kiên trì cầu nguyện. Ngài nói: “Ai cầu nguyện sẽ được cứu thoát, ai không cầu nguyện sẽ tự luận phạt”. Cuối cùng ngài tìm được bình an và qua đời năm 1787. Ngài được phong thánh năm 1831 và được tuyên xưng tiến sĩ Hội Thánh năm 1871.
Nhìn vào lòng yêu mến Chúa Giêsu của thánh Anphongsô, chúng ta hiểu được sự kỳ diệu của tình yêu khiến cho ngài trở nên một vị thánh vĩ đại với lòng yêu mến các linh hồn cách mãnh liệt, làm nhiều việc cao cả sinh ích cho Giáo hội, giúp chúng ta có được những hướng dẫn thiêng liêng thật quí giá để tiến tới trên con đường yêu mến Chúa Giêsu .
Chúng ta cùng cầu nguyện với thánh Anphongsô trong những lời này:
Lạy Chúa Giêsu là niếm cậy trông của con, là tình yêu ngọt ngào duy nhất của hồn con! Con thật chẳng xứng đáng được Chúa an ủi. Xin Chúa dành ơn ấy cho những người vô tội vốn hằng yêu mến Ngài. Phần con là kẻ tội lỗi. Con chẳng đáng được như vậy. Con chẳng dám xin ơn ấy. trọn cả ước muốn của con là: xin Chúa hãy làm cho con yêu mến Chúa, xin Chúa hãy làm cho con biết thực thi thánh ý Chúa trong mọi cảnh huốn cuộc đời con, và hãy thực hiện nơi con điều đẹp lòng Chúa. Amen.
2023
Ranh giới mong manh giữa lúa và cỏ lùng
Ranh giới mong manh giữa lúa và cỏ lùng
Kn 12,13.16-19; Rm 8,26-27; Mt 13, 24-43
Suy niệm về dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng của bài Tin Mừng hôm nay là dịp giúp mỗi người chúng ta nhìn lại tâm hồn của mình, để nhận ra mình đang trồng “cỏ lùng” hay “lúa” đây? Từ đó, chúng ta biết cách điều chỉnh đời sống của mình hầu mảnh ruộng tâm hồn mình thu được hoa trái tốt lành.
Trước hết, mỗi chúng ta phải khám phá lại con người và cuộc sống của mình, khám phá lại bằng cái nhìn nội tâm tức là nhìn lại chính mình. Nhiều khi cuộc sống quá bận rộn, mỗi người chúng ta không còn những khoảnh khắc thinh lặng để bình tĩnh nhìn lại chính tâm hồn của mình và vì thế, mình không thấy được con người thật của mình. Khi đưa ra dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng, Chúa Giêsu muốn chúng ta nhìn lại cuộc sống và khám phá ra con người thật của mình. Muốn khám phá ra con người thật của mình, chúng ta cần phải đặt mình đối diện với Lời Chúa, để từ đó chúng ta tìm ra nguyên nhân tại sao mảnh đất tâm hồn mình không phải là “lúa” mà lại đầy “cỏ lùng” gai góc? Đã bao lần chúng ta mải mê đi tìm dục tình, tiền bạc và vinh quang của cải trần thế, những tham, sân, si, những thù hận, chia rẽ, những thú vui chóng qua, những hạnh phúc giả tạo…. gieo vào mảnh đất tâm hồn, làm cho tâm hồn phát triển đầy cỏ lùng. Khi mảnh đất tâm hồn đầy những cỏ lùng gai góc, khi đó chúng ta trở thành những con người tội lỗi, tâm hồn sẽ không bình an.
Thực tế cuộc sống, đã rất nhiều lần chúng ta để mảnh đất tâm hồn mọc đầy cỏ lùng. Đôi khi do kẻ thù gieo rắc, cũng có lúc do người thân của chúng ta, thậm chí nhiều khi lại do chính chúng ta. Sự mong manh giữa “lúa” đại diện cho hạt giống Lời Chúa và “cỏ lùng” đại diện cho tội lỗi, những ham muốn bất chính, thói hư, tật xấu…. dẫn đến chúng ta phải đưa ra những chọn lựa cho mảnh đất tâm hồn của mình. Nơi con người, ai cũng có các động lực vị kỷ, thiển cận, ngại khó, thích nhàn, thúc đẩy một chọn lựa sai lạc mà kết quả là nỗi niềm bất hạnh. Bài Tin Mừng hôm nay đã nói rất rõ cho những ai cố tình gieo “cỏ lùng” thì sẽ gặt kết quả “cỏ lùng”: “Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quang chúng vào lò lửa; ở đó người ta sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (Mt13, 41-42). Nhưng với phận người yếu đuối, dễ hướng chiều điều xấu, làm sao để gieo “lúa” – hạt giống Lời Chúa phát triển nơi tâm hồn mình đây?
Bài đọc thứ nhất trích Sách Khôn ngoan đã chỉ cho chúng ta phải chọn Chúa và phải có lòng nhân ái (x.Kn 12,19). Bởi vì, “ngoài Ngài ra, chẳng còn thần nào khác và vì Chúa làm bá chủ vạn vật, nên Chúa nương tay với muôn loài”. Mỗi một ngày sống trên trần gian, chúng ta sẽ phải không ngừng chọn lựa. Một chọn lựa ngay chính sẽ giúp cho việc chọn lựa ngay chính kế tiếp của chúng ta dễ dàng hơn. Trái lại, một sự nhu nhược đầu hàng cũng dễ kéo theo những đầu hàng nhu nhược tiếp theo. Khi đó, chúng ta dễ sa ngã bởi bản tính yếu đuối của con người. Trong thực tế, muôn đời “cỏ lùng” không bao giờ chuyển hoá thành “lúa” được và ngược lại. Nhưng với con người khoảng cách giữa thiện “lúa” và ác “cỏ lùng” rất mong manh. Cỏ lùng và lúa luôn lẫn lộn trong tâm hồn mỗi người. Nếu không cố gắng, cỏ lùng sẽ chiếm hạt giống Lời Chúa và làm cho nó chết ngạt và không thể sinh hoa trái. Thông thường “lúa” thì phải chăm sóc rất kỹ, còn “cỏ lùng” lại mọc rất nhanh, mảnh đất tâm hồn dễ hướng chiều về nó. Đó chính là những cám dỗ ngọt ngào của thế gian, sự ham muốn của xác thịt và sự rình rập gieo rắc sự chết của ma quỷ.
Đứng trước những lời mời gọi ngọt ngào của thế gian và bao hấp lực quay cuồng của xác thịt, sự từ khước hay vượt thoát nào cũng hàm ngậm một cân lượng khổ đau, nếu không nói là “chết” trong lòng ít nhiều. Bất cứ sự thắng vượt gian dối, điêu ngoa, dục tình, tức giận, ích kỷ, kiêu căng, hay ươn lười nào cũng đòi hỏi một cuộc chiến gay go, lắm khi phải rướm máu và mất mát. Thế nhưng, cần phải chiến đấu để có thể chiến thắng! Cho dù “cỏ lùng” có mọc rậm rạp đến đâu chúng ta vẫn xác tín, cậy trông vào Thiên Chúa, nhất là cầu xin Chúa Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho chúng ta như Thánh Phaolô đã dạy: “Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,27). Sự chọn lựa “lúa” tức gieo hạt giống Lời Chúa chỉ có thể đạt tới nhờ liên kết chân thành với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện.
Vì vậy, chẳng dễ gì để có thể diệt hết “cỏ lùng” trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Đã có lúc chúng ta thất bại. Nếu có thất bại thì chúng ta hãy biết rằng Chúa luôn cảm thông, sẵn sàng tha thứ, và hằng chờ đợi chúng ta đến lấy hạt giống Lời Chúa để gieo vào mảnh đất tâm hồn hầu làm át đi cỏ lùng. Có thất bại, nhưng không có nghĩa là thất bại mãi mãi. Chúng ta cũng có thể chiến thắng nếu chúng ta biết sống một cuộc đời cầu nguyện hy sinh hãm mình, luôn biết sống theo ý Chúa và biết dựa vào Chúa trong mọi sự. Có Chúa chúng ta sẽ làm được tất cả, vì Người đã dạy rằng: “Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối”. Lạy Chúa xin cứu giúp con, xin biến đổi chúng con và diệt cỏ lùng nơi mảnh đất tâm hồn chúng con, hầu sau này chúng con được hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa. Amen.
Lm. Jos. Duy Trần
