2022
Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống
6.11 Chúa Nhật thứ Ba Mươi-Hai Mùa Quanh Năm
2 Mcb 7:1-2,9-14; Tv 17:1,5-6,8-1522; Lc 20:27-38; Lc 20:27,34-38
Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống
Tháng 11 là tháng cầu nguyện cho các linh hồn. Nhưng không chỉ như thế, tháng này còn nhắc nhở chúng ta về tính cách phù vân của cuộc sống thế gian, và nhất là về tính cách quan trọng đặc biệt của sự sống vĩnh cửu. Vì thế, thật ý nghĩa khi trong ngày Chủ Nhật đầu tháng 11 này, chúng ta được đọc bài tin mừng Lc 20, 37-38.
Để biện minh cho lập trường của mình là không tin kẻ chết sống lại, nhóm Xa-đốc giả định một “ca” khó giải: Nếu một người phụ nữ chẳng may goá chồng mà không có con nối dòng, chiếu theo luật Mô-sê (Đnl 25,5-10), cô ta cưới lần lượt cả bảy anh em, rồi tất cả đều chết mà không để lại người con nào, vậy thì khi sống lại cô sẽ là vợ của ai? Lập luận đó dẫn đến một tình huống bế tắc; suy ra không thể có việc sống lại. Chúa trưng dẫn từ Thánh Kinh rằng Thiên Chúa xưng mình là Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác, và Gia-cóp (Xh 3,15); mà Ngài là Chúa của kẻ sống, cho nên các tổ phụ vẫn đang sống, vậy sống lại là có thật. Chúa đâu nhắm đến việc lý luận hơn thua. Ngài nhắc chúng ta rằng cuộc đời này là vô thường, mà mục đích tối hậu chúng ta phải nhắm tới là sự sống đời sau bên Chúa, nơi chúng ta sẽ sống như các thiên thần.
Cuộc đời phù vân. “Trăm năm còn có gì đâu, chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì” (Nguyễn Gia Thiều). Xét theo một phương diện, suy nghĩ đó đúng. Nhưng xét theo phương diện khác thì không hẳn. Vì có sự sống lại, và trong sự sống lại đó, chúng ta là con cái được tham dự vào sự sống của chính Thiên Chúa là Cha chúng ta. Trang Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta điều đó.
Trang Tin Mừng được mở đầu bằng một sự kiện đáng chú ý: “Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Chúa Giêsu. Nhóm này bảo rằng không có sự sống lại” (c.27). Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tin mừng Luca nói đến những người thuộc nhóm Xađốc. Nhóm này bao gồm những gia đình tư tế giàu có và các giáo dân quý tộc. Hoạt động của họ tập trung chính yếu ở đền thờ và trong lãnh vực chính trị. Họ không gần gũi với dân chúng như những người Pharisêu. Về phương diện tư tưởng và thần học, họ là những người bảo thủ. Sau năm 70 họ không còn vai trò gì quan trọng trong lịch sử nữa.
Những người Xađốc tin rằng Thiên Chúa đã tạo nên vũ trụ và loài người. Họ cũng tin rằng Thiên Chúa đã ban cho Israel Lề Luật, nhờ cụ Môsê, để dân Chúa tổ chức đời sống mình theo ý của Thiên Chúa. Nhưng vì Luật Môsê không nói gì đến sự sống lại, nên họ không công nhận điều đó. Vậy lập trường của họ không hẳn là một sự phủ định mạnh mẽ. Tuy nhiên, chính khi chủ trương như vậy, thì trong thực tế, họ đã chấp nhận một tiền giả định sai lầm về Thiên Chúa và về mối tương quan của người ta đối với Thiên Chúa. Theo đó, Thiên Chúa không thể và không muốn làm bất cứ điều gì cho con người bên ngoài thế giới hiện tại và cuộc sống trong thế giới này. Người Israel, theo quan điểm của nhóm Xađốc, sống dưới sự hướng dẫn của Luật và trong tương quan với Thiên Chúa, nhưng một khi cái chết đã xảy đến, thì sự sống chấm dứt và mối tương quan với Thiên Chúa cũng chấm dứt.
Theo Chúa Giêsu, niềm tin phục sinh của chúng ta được đặt nền tảng tận cùng ở trên chính bản tính của Thiên Chúa, đó là bản tính hằng sống ; và vì Ngài là hằng sống, nên Ngài tình yêu của Ngài cũng sẽ là muôn đời, là mãi mãi ; như Tv 136 tuyên xưng : “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”
Thế mà Thiên Chúa là tình yêu, nên tình yêu của Chúa không thể là vắn vỏi, không thể là chóng qua. Do đó, chúng ta tin mạnh mẽ rằng, chính tình yêu muôn đời của Thiên Chúa hằng sống làm cho chúng ta được sống lại và sống mãi, cho dù chúng ta có phải chết.
Bởi vì, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, đang yêu thương chúng ta và sẽ yêu thương mãi mãi. Như chính Chúa Giêsu nói một cách rất mạnh mẽ và thuyết phục về sự sống lại : « Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống ».
Sau cùng, Chúa Giêsu không chỉ có quyền năng của một Thiên Chúa, trả lại cho con người sự sống tự nhiên, nhưng còn có quyền năng trao ban cho con người sự sống siêu nhiên sau khi chiến thắng satan, tội lỗi và sự chết bằng cách dâng hiến mạng sống mình cho Chúa Cha trên thánh giá đền thay tội lỗi cho nhân loại. Trái tim đã chịu lưỡi đòng đâm thâu hầu khơi nguồn các bí tích của Hội Thánh và sống lại trong vinh quang của Chúa Cha để thông chia sự sống mới ấy cho nhân loại.
Do đó mà nhờ bí tích Thánh Tẩy, con người được công chính hóa, được tái sinh trở nên con cái Thiên Chúa, chết đi đối với tội lỗi và sống trong sự sống mới với Chúa Giêsu. Nói cách khác, nhờ cái chết trên thập giá và sự sống lại, lên trời trong vinh quang của Chúa Cha mà tất cả nhân loại được trao ban niềm hy vọng sống đời đời. Với những ai tin vào Chúa Giêsu, niềm hy vọng đó đã trở thành hiện thực cho dù hiện thực ấy mới bắt đầu và thực sự viên mãn trong ngày cánh chung, ngày Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang để xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Thiên Chúa là nguồn sự sống và chính Ngài có quyền can thiệp vào sự sống. Ngài cho nó phát sinh, tồn tại và phát triển. Ngài có quyền cất nó đi và trả lại cho ai tùy ý. Ngài không những có quyền trên sự sống tự nhiên, nhưng còn có quyền trao ban sự sống siêu nhiên, sự sống viên mãn cho bất cứ ai tin. Chúa Giêsu được sai đến để làm điều đó. Bằng chứng là trong cuộc đời công khai, Ngài đã cho kẻ chết sống lại và sau khi từ cõi chết sống lại, Ngài đã bắt đầu công cuộc sáng tạo mới để kha sinh một nhân loại mới. Nguyện xin Chúa cho chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa Giêsu để được Ngài chữa lành cả phần xác lẫn phần hồn, cả sự sống tự nhiên lẫn siêu nhiên. Xin Chúa cũng cho chúng ta một khi đã được chữa lành thì luôn biết dùng môi miệng và cuộc đời để cao rao tình thương và quyền năng của Chúa cho mọi người.
2022
Năng lực diệu kỳ của lòng thương xót
Năng lực diệu kỳ của lòng thương xót
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – năm C
Bài đọc 1: Kn 11,22-12,2; Bài đọc 2: 2Tx 1,11-2,2; Tin Mừng: Lc 19,1-10.
Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một cơ hội chiêm ngắm Thiên Chúa tình yêu với quyền năng diệu kỳ của lòng thương xót.
Bài đọc thứ nhất trích từ sách Khôn ngoan diễn tả sự cao cả của tình thương Thiên Chúa. Trước nhan Chúa, toàn thể vũ trụ chỉ như hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai rơi trên mặt đất. Tuy nhỏ bé, mong manh, bất toàn, nhưng lại là đối tượng của tình thương Thiên Chúa. Ngài yêu thương tạo dựng và hằng nhẫn nại săn sóc mọi loài với lòng bao dung vô tận.
![]() |
Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô qua thư gởi cho tín hữu Thessalônica đã tha thiết nguyện cầu cho các tín hữu được nên xứng đáng với ơn ban tình thương của Chúa, để họ vừa được tôn vinh trong Đức Kitô, vừa làm hiển danh Chúa Kitô.
Câu chuyện Tin Mừng theo thánh Luca là một bằng chứng sống động về lòng thương xót tuyệt vời của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Đức Giêsu đã thể hiện một cách thế yêu thương với một năng lực đổi mới thật diệu kỳ.
– Ngài đi tìm kiếm để cứu chữa. Dù bị bao vây bởi biết bao người với những dáng vẻ, những lớp bọc khác nhau, nhưng Chúa Giêsu vẫn có thể nhận ra một con người cần được cứu chữa. Ông thu thuế Giakêu ẩn núp trên cây quả thực đã không ở ngoài sự quan tâm của Chúa. Người ta cho Giakêu là một người tội lỗi và loại trừ ông, thì Chúa Giêsu tìm đến cứu chữa ông. Chúa không chê, cũng chẳng bỏ một người tội lỗi nào, vì Ngài giàu lòng xót thương và Ngài hiểu rằng chính những kẻ xem ra bất xứng với lòng thương của Chúa lại là người “cần” đến lòng thương xót của Chúa hơn. Ngài đi tới và dừng lại nơi Giakêu đang núp để ngỏ lời với ông. Lòng thương xót đã thúc đẩy Chúa Giêsu đi bước trước kiếm tìm chứ không ngồi chờ, mở lời trước chứ không đợi van xin. Như thế là vì Chúa Giêsu đã nhìn đến Giakêu với một cái nhìn chan chứa lòng xót thương. Với lòng thương xót, Chúa Giêsu không chỉ nhìn thấy Giakêu là một người thu thuế, một kẻ tội lỗi, nhưng còn nhìn thấy ông là một người khao khát được yêu thương, một kẻ cần được cứu vớt và là “con cháu Abraham”.
– Ngài tìm gặp gỡ chứ không chỉ xã giao, qua đường. Thật táo bạo khi Chúa Giêsu ngỏ ý đến nhà Giakêu, một người bị coi là tội lỗi. Ngài sẵn sàng vượt qua những lời xầm xì, lên án của những người xung quanh để đến gặp gỡ và lưu lại nhà của Giakêu. Chúa Giêsu chấp nhận mọi giá để Giakêu có được niềm vui khi đón tiếp Chúa, và hơn nữa để ông có cơ hội hoán cải mà hưởng ơn cứu độ. Chắc hẵn Chúa Giêsu cũng vui lắm khi nghe thấy những tỏ bày đầy tinh thần đổi mới của Giakêu: “Tôi xin lấy phân nữa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Sự gặp gỡ với lòng xót thương đã đem lại một sự đổi mới không ngờ. Một sự hiện diện thực sự với lòng yêu thương làm được nhiều điều rất có giá trị.
– Ngài luôn yêu thương cứu chữa chứ không loại trừ, tiêu diệt. Đây chính là bản chất của Thiên Chúa và là mục tiêu của lòng Chúa xót thương. Chính nơi lòng thương xót của Chúa chúng ta khám phá ra một năng lực chữa lành và phục hồi sức sống thật tuyệt vời. Thay cho những thành kiến, lên án, loại trừ, tiêu diệt những kẻ yếu đuối lỡ lầm, Chúa Giêsu đầy lòng thương xót luôn khai mở niềm hy vọng, gieo mầm yêu thương nâng đỡ, khích lệ sự hoán cải, đổi mới cuộc đời. Vì cảm nhận được Chúa Giêsu yêu thương mình, dám tin và chọn mình, nên Giakêu đã không ngại bỏ tiền của, thay đổi đời sống. Niềm tin và lòng yêu mến đã khơi dậy một đời sống mới trong hoán cải và tin mến.
Lòng thương xót của Chúa thật diệu kỳ. Chúa hằng tìm kiếm và mong gặp gỡ con người và từng người chúng ta. Chúng ta có hay “trốn” để Chúa phải “kiếm” không? Đã có lần nào ta sẵn sàng đón tiếp Chúa vào nhà tâm hồn của mình chưa? Những lần rước Chúa hay viếng Thánh Thể có là dịp “gặp gỡ” thực sự với Chúa Giêsu không? Và những lần gặp gỡ Chúa có đổi mới được tâm hồn và cuộc sống mình không?
Mong sao những bước chân tìm gặp gỡ của Chúa Giêsu với lòng thương xót của Ngài, qua mọi dáng vẻ và trong mọi tình huống của cuộc đời, mang lại được những đổi mới tích cực cho cuộc đời chúng ta. Và chớ gì từ những kinh nghiệm được yêu thương cứu vớt của Chúa cũng giúp chúng ta biết đón nhận và đối xử cách nhân hậu, bao dung đối với những anh chị em yếu đuối, khó khăn bên cạnh mình.
Giám mục Giuse Nguyễn Tấn Tước, GP. Phú Cường
2022
Cầu nguyện hay cầu xin?
Cầu nguyện hay cầu xin?
Một thực tế trong đời Kitô hữu, đó là hễ cầu nguyện thì không thể không cầu xin. Có lẽ vì cuộc sống con người lắm gian truân và đầy rẫy những bất an, gian khổ, bên cạnh đó khát vọng cũng như nhu cầu của con người thì dường như vô tận. Cầu xin là một cách thế cầu nguyện mang tính hiện sinh, dẫu cho theo cái nhìn tu đức truyền thống thì việc cầu xin xem ra không bằng việc tạ ơn, ngợi khen hay chúc tụng Thiên Chúa.
Lần kia một môn đệ nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy các môn đệ của ông”. Và Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ: “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: Lạy Cha, xin làm cho thánh danh Cha vinh hiển…; xin tha tội cho chúng con…” (x.Lc 11,1-4). Tin Mừng Matthêu cũng tường thuật việc Chúa Giêsu dạy cầu nguyện với “Kinh Lạy Cha” bằng những lời cầu xin (x. Mt 6,9-13). Qua những lời cầu xin, chúng ta nhận ra một vài tâm tình vừa chính đáng vừa phải đạo và cũng vừa rất “dễ thương” như sau:
![]() |
1.
Tâm tình tin tưởng, cậy trông vào tình yêu và quyền năng của Đấng chúng ta cầu xin: Đã cất lời cầu xin với ai thì dĩ nhiên ít nhiều đã có sự tin tưởng và cậy trông vào người ấy. Xin với ai điều gì thì giả thiết đã tin tưởng người ấy có khả năng thực hiện điều chúng ta xin. Dưới một góc độ nào đó, lời cầu xin cũng là một lời tuyên xưng đức tin.
2.
Tâm tình thống hối, ăn năn: Nếu điều cầu xin là ơn tha thứ thì người cầu xin không chỉ bày tỏ lòng tin vào sự khoan dung của người mình xin, mà còn bày tỏ sự ăn năn thống hối về lỗi lầm mình đã phạm. Theo cái nhìn này thì lời cầu xin cũng là lời xưng thú tội lỗi.
3.
Tâm tình khiêm hạ nhìn nhận sự hạn chế, bất toàn và cả bất lực của mình: “Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ…” (x. Lc 11,3-4; Mt 6,11.13). Nội hàm những lời cầu xin trên đây quả là một lời thú nhận sự bất toàn, bất lực của người xin. Không có ơn Chúa thì chúng ta không thể làm được sự gì tốt đẹp. Nếu Chúa không nâng đỡ thì chúng ta không thể đứng vững trước mãnh lực của thần dữ, như “sư tử luôn rảo quanh chúng ta để rình chờ cắn xé, phân thây” (x.1P 5,8).
4.
Tâm tình thảo hiếu: “Nguyện cho danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (x. Mt 6,9-10; Lc 11,1). Một người con biết nghĩ đến Danh, Vương quyền, Ý, Lời của Cha là một người con sống đạo thảo hiếu đúng phận.
5.
Sự liên đới, tương thân tương ái trong nghĩa tình huynh đệ: Chúng ta nhận ra sự thật này qua hai từ “chúng con” của lời kinh “Lạy Cha”. Hơn nữa, khi đã tuyên xưng, nhìn nhận Thiên Chúa là Cha thì một cách nào đó đã nhìn nhận tha nhân là anh chị em của mình. Sự tương thân tương ái được biểu hiện cách rõ nét và thiết thực bằng sự liên đới.
Câu chuyện Abraham cò kè bớt một thêm hai để xin Thiên Chúa tha thứ cho dân hai thành Sôđôma và Gômôra là một minh hoạ. Lòng hiếu thảo luôn sánh đôi với nghĩa tình huynh đệ. Một người sống có tình với mẹ cha thì hẳn có lòng với anh chị em. Ngược lại, khi đã biết sống có tình với huynh đệ thì luôn làm đẹp lòng mẹ cha. Các đấng bậc sinh thành vốn nhận tình nghĩa huynh đệ của đàn con như là một trong những cách thế đẹp nhất mà đàn con bày tỏ lòng thảo hiếu với mình. Chúng ta nhận ra sự thật này khi cha ông chúng ta đã gắn kết hai mối tình ấy bằng hạn từ ghép “tình hiếu đễ”.
Mối tình của Abraham dành cho dân hai thành Sôđôma và Gômôra, một cách nào đó còn bị giới hạn. Dù rằng đã dùng hết cách để có kè bớt dần con số người công chính để xin Thiên Chúa thứ tha cho họ, nhưng Abraham đã không vượt qua con số “mười”. Điều này cho thấy rằng, mặc dù tình thân của Abraham đối với Thiên Chúa thật đậm đà, nhưng vẫn còn bị hạn chế cách nào đó. Chắc hẳn Abraham luôn mong ước được thấy ngày của Con Người, ngày mà chân lý được tỏ bày cách hoàn hảo nơi Đức Giêsu Kitô (x.Ga 8,56). Giả như ông chứng kiến ngày ấy thì ông đã bớt dần xuống chỉ còn một người công chính. Quả vậy, “cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng đã được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,18).
Tuy nhiên, có thể nói rằng, cầu xin không phải là để Thiên Chúa biết các nhu cầu của chúng ta, vì chính Người đã biết rõ những gì chúng ta cần trước khi con người cất lời khẩn xin (x.Mt 6,8). Đã là người Cha trên các người cha và là nguồn gốc của mọi tình phụ tử, Thiên Chúa sẵn sàng ban mọi sự tốt lành cho chúng ta. Như thế cần phải khẳng định rằng nội hàm những lời cầu xin là để giúp nhận biết những gì cần, và để sẵn sàng đón nhận cũng như sẵn sàng thực thi.
“Xin cho danh Cha cả sáng”. Chúng ta không xin thì trời xanh vẫn phản ánh vinh quang của Người, mà xin là để biết cách cộng tác với ơn Chúa làm cho Thánh danh Người tỏ rạng nơi cuộc đời con người chúng ta. “Xin Cha tha nợ cho chúng con”. Chúng ta chưa xin thì Đức Kitô đã chết để ban ơn tha thứ ngay khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch. Cầu xin là để biết cách thế đón nhận hồng ân tha thứ Chúa đã tặng ban. Một trong những cách thế để đón nhận hồng ân thứ tha của Thiên Chúa đó là quảng đại tha thứ cho tha nhân (x.Mt 6,14-15).
Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên để tiếp xúc, gặp gỡ Thiên Chúa. Tiếp xúc, gặp gỡ Chúa để biết Chúa, yêu mến Chúa và để thực hiện thánh ý của Người. Như thế, cầu nguyện, cầu xin không phải là để bắt Thiên Chúa thực hiện điều chúng ta muốn, nhưng là để bắt chính mình thực thi điều Thiên Chúa muốn. Vấn đề đặt ra đó là cần phải biết cầu xin những gì đẹp ý Chúa. Một trong những điều đẹp ý Chúa nhất đó là tôi và mọi người cùng được hưởng ơn cứu độ, được hưởng hạnh phúc ngay hôm nay và ngày sau.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa, GP Ban Mê Thuột
2022
Cầu nguyện là khiêm hạ trông cậy vào Thiên Chúa
Cầu nguyện là khiêm hạ trông cậy vào Thiên Chúa
Dụ ngôn tuần trước về bà góa và quan tòa mời gọi chúng ta kiên tâm trong thử thách, cầu nguyện không nản lòng. Trong câu chuyện bà góa, thánh Luca cho thấy cầu nguyện không phải là chuyện xin thì được ngay lập tức, không phải là xin Chúa thỏa mãn một cách nhanh chóng một danh sách các nhu cầu của chúng ta.
Cần phải cầu nguyện kiên tâm bền bỉ với lòng tin tưởng: “Khi Con Người ngự đến, liệu Ngài còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18: 8). Dụ ngôn hôm nay cho thấy một thái độ cơ bản khác khi cầu nguyện.
Từ quan tòa gian ác đến kẻ công chính giả dối
Câu giới thiệu của dụ ngôn hôm nay cho phép thánh Luca chỉ ra một trong những điểm mà dụ ngôn về bà góa và quan tòa có lẽ chưa nói hết. “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế” (Lc 18: 9-10). Khi chúng ta cầu nguyện vớiThiên Chúa, Ngài khác hẳn với ông quan tòa gian ác: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Ngài đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Ngài sao? Lẽ nào Ngài bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Ngài sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18: 6-8). Nhưng hôm nay: “Chúa Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18: 9).
Hai nhân vật đang ở trong Đền thờ, nơi hiện diện linh thiêng của Thiên Chúa, xa khỏi cái nhìn của người trần thế. Cầu nguyện trong Đền thờ là cơ hội để nhận biết cõi lòng của con người, không theo chuẩn mực người đời, nhưng theo ánh nhìn của Thiên Chúa. Thánh Luca lấy việc cầu nguyện này như cơ sở để suy ngẫm về sự phán xét và sự công chính dưới con mắt của Thiên Chúa. Công chính dưới mắt của Thiên Chúa có nghĩa gì?
Để có sự công chính.
Trong Sách thánh Do thái giáo, công chính liên quan đến cách hành xử công bằng, ngay thẳng, không gian dối: “Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử, cũng như khi đo đạc hay cân đong. Các ngươi phải có cán cân đúng, quả cân đúng, đúng thùng, đúng lít” (Lv 19: 35-36) hoặc: “Kính sợ Thiên Chúa là gớm ghét điều dữ. Thói kiêu căng ngạo mạn, và lối sống bất lương cũng như những lời gian manh, tráo trở, đó là những điều ta chê ghét” (Cn 8,13). Người công chính là người biết kiềm chế bản thân và hành xử theo lẽ phải, lẽ công minh, chính trực: “Người nào ăn ở công chính, thi hành điều công minh chính trực, không dự tiệc trên núi, không ngước mắt nhìn các ngẫu tượng của nhà Israel… không bóc lột ai, trả của cầm cho người cầm của, không cướp của ai, cho kẻ đói bánh ăn, lấy áo che thân kẻ mình trần, không cho vay ăn lời, không lấy lãi quá nặng, không nhúng tay vào chuyện bất công, xét xử công minh giữa người với người, sống theo những quy tắc của Ta và tuân giữ các quyết định của Ta mà thể hiện lòng trung tín của mình, người ấy mới là người công chính” (Ed 18,5-9). Trong nhãn quan Kinh Thánh, công chính vừa là ân huệ của Thiên Chúa vừa là bổn phận của người lãnh nhận. Người nào điều chỉnh bản thân mình để sống luôn trung thành với các điều răn của Ngài thì đó là người công chính. Vì vậy, chúng ta nhớ đến Nôê là một người công chính, hoàn hảo: “Ông Nôê là người công chính, hoàn hảo giữa những người cùng thời với ông, và ông đi trong đường lối của Thiên Chúa” (Kn 6,9) và “Ông Nôê được xem là người công chính vẹn toàn; trong thời thịnh nộ, ông đã trở thành một chồi non: Nhờ có ông, mặt đất còn lại một số sót, khi hồng thuỷ xảy ra” (Hc 44,17) hay ông Ábraham là người đã tin vào Chúa và Chúa coi ông là người công chính: “Ông tin Thiên Chúa, và vì thế, Thiên Chúa kể ông là người công chính” (Kn 15,6). Trở nên công chính là được đảm bảo sự cứu rỗi, giống như được cứu thoát khỏi cơn đại hồng thủy, và nhận được phúc lành thiêng liêng cho bản thân và gia đình mình.
Không giống những người khác.
Người Pharisêu là người tỉ mỉ tuân giữ các lề luật và điều răn của Thiên Chúa. Ông có thể hài lòng với những việc làm của mình. Ông ta đứng giơ hai tay lên trời mà cầu nguyện: “Người biệt phái đứng sững mà cầu nguyện” (Lc 18: 11), theo lời Thánh vịnh: “Hãy giơ tay hướng về cung thánh mà dâng lên lời chúc tụng Ngài” (Tv 134: 2). Ông ta cảm tạ Chúa vì đã trung thành thực thi Lề luật, và ông nêu ra một danh sách những việc tốt được làm: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18: 12). Theo lý mà nói, thì người Pharisêu đã cố gắng sống trung thành với các điều răn dạy của luật Môsê. Hẳn ông nghĩ rằng điều đó cho phép ông thấy bản thân mình đã sống phù hợp với Thiên Chúa, và tránh xa được tội lỗi. Ông ta đã làm tốt và đáng được sự ưu ái và phúc lành của Thiên Chúa chứ không phải hứng chịu điều ác và tội lỗi. và ông ta cho rằng mình đáng được gọi là công chính. Nhưng thực tế ông ta chỉ nghĩ đến mình, không nghĩ gì đến Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ còn là cái cớ để ông ta kể lể khoe khoang “công đức” của riêng mình. Thậm chí ông ta còn nâng mình lên trên người khác: “Con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia” (Lc 18: 11).
Lời cầu nguyện của người thu thuế.
Ngược lại với người Pharisêu, người thu thuế, dù cũng là người Do Thái, nhưng lại phục vụ quyền lực của đế quốc Rôma đang cai trị dân tộc mình. Anh ta không chỉ lấy tiền của những người đồng đạo nộp cho Rôma, mà còn lấy cho riêng mình nhiều hơn những gì suất thuế quy định, tùy theo nhu cầu hoặc mong muốn riêng của anh ta. Những người thu thuế không được người Do thái giáo của cả hai miền Giuđê và Galilê coi là đồng bào, thậm chí họ bị coi là người ngoại giáo, kẻ phản quốc, quân tội lỗi: “Những kinh sư thuộc nhóm Pharisêu thấy Chúa Giêsu ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Ngài: “Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!” (Mc 2: 16) Sự gần gũi của họ với thế giới ngoại giáo khiến họ trở thành những người phải tránh xa đối với người công chính.
Người thu thuế tội lỗi này ý thức thân phận xã hội của mình, và vì thế anh ấy chọn một chỗ đứng xa xa: “Còn người thu thuế thì đứng đằng xa” (Lc 18: 13). Làm sao anh ấy dám đứng giơ hai tay lên trời như bất cứ người cầu nguyện tốt lành nào; anh chỉ cúi mặt xuống với thái độ ăn năn: “thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời” (Lc 18: 13). Nhưng điều căn bản còn thiếu trong lời cầu nguyện của người Pharisêu, người thu thuế đã làm trọn vẹn: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18: 13). Một lời cầu nguyện ngắn gọn, cô đọng. đầy chân thật. Một lời thú nhận, một cái nhìn đúng thật về bản thân, về những gì nặng nề nhất và khó thú nhận nhất. Thú nhận mình là tội nhân, anh ấy biết rằng mình chỉ có thể trông cậy vào Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể cứu được anh ấy. Trong khi người Pharisêu xác định sự cứu rỗi của mình bằng những việc làm tốt lành của mình thì người thu thuế khiêm tốn nhìn nhận ơn cứu độ của mình là ở nơi hành động nhân từ của Thiên Chúa. Ở đây, người thu thuế, có lẽ giàu có tiền của vật chất, bộc lộ sự nghèo nàn về con người và tâm hồn của mình. Đối diện với Thiên Chúa, anh biết mình là một tội nhân, nhưng hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ có cái nhìn nhân từ đối với anh. Đó là tất cả niềm tin của anh.
Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống.
Theo quan niệm phổ biến của những người Do thái giáo thời Chúa Giêsu, người công chính đối nghịch với tội nhân, vì người công chính là người đi theo đường lối Chúa và sống theo ý muốn và lề luật của Ngài: “Người nào ăn ở công chính, thi hành điều công minh chính trực” (Êdêkiel 18,5). Dụ ngôn của Chúa Giêsu, cụ thể đối với Luca, một lần nữa đảo ngược quan điểm. Bởi vì, theo những người Pharisêu, lòng trung thành với Lề luật bảo đảm họ là người công chính, không giống như người thu thuế tội lỗi này. Giờ đây, một trong những người thu thuế tội lỗi này lại được tuyên bố là công chính chỉ vì lời cầu nguyện khiêm hạ của anh ta. Ngược lại, ở đây người Pharisêu đã cố gắng hết sức để vâng theo ý Chúa, kể cả trong việc bố thí và bác ái, lại không nhận được danh hiệu công chính này.
Đây là điều không thể hiểu được và thậm chí quá quắt. Làm nhiều việc “đạo đức tốt lành” đến thế để được gì, nếu một tên thu thuế tội lỗi, chẳng làm gì ngoài một lời cầu nguyện lại có thể làm cho hắn nên công chính?
Những việc làm của người Pharisêu thúc đẩy sự kiêu ngạo của ông ta nhiều hơn là thúc đẩy ông ta đến với đức tin vào Thiên Chúa và lòng thương xót đối với người tội lỗi đang bên cạnh. Sự tự hãnh của ông ta thậm chí đã trở thành một thứ khinh miệt, như một bức tường ngăn chặn không để bất cứ điều gì hướng về người khác lọt qua được. Một tâm thế xem mình là trung tâm, ngoài cái tôi của ông ta ra không còn ai khác là quan trọng, kể cả Thiên Chúa! Trong khi đó, người thu thuế trong dụ ngôn chỉ biết trông cậy vào một mình Thiên Chúa, Đấng thấu hiểu tình trạng nghèo hèn của mình và mong muốn có được ân huệ của Ngài. Vậy, việc đạt tới sự công chính không còn được đo lường bằng những công trình được coi là tốt lành, nhưng chỉ bằng sự chân thành khiêm tốn trong một việc duy nhất: tin vào ân sủng nơi Thiên Chúa và kêu cầu lòng thương xót của Ngài.
Trong dụ ngôn bà góa, thánh Luca cho thấy cầu nguyện không phải là đòi hỏi Thiên Chúa thỏa mãn nhanh chóng những yêu cầu của mình, nhưng cầu nguyện là một tiếng kêu bền bỉ của đức tin lên Thiên Chúa. Cầu nguyện thực chất là một thái độ sống tin tưởng, phó thác và yêu mến liên lỉ đối với Thiên Chúa trong từng giây phút của cuộc sống. Còn dụ ngôn hôm nay cho thấy tầm quan trọng của lời cầu nguyện như là một cách thế để nhận ra sự thật về bản thân “đáng tội” của mình theo cái nhìn của Thiên Chúa và nhờ đó biết khiêm hạ cậy nhờ vào lòng thương xót của Ngài và đi vào tương quan gặp gỡ cảm thương với người khác. Chỉ khi đó người ta mới có thể làm theo lời khuyên của thánh Phaolô: “Hãy cầu nguyện ở bất cứ nơi nào, tay giơ lên trời, tâm hồn thánh thiện, không giận hờn, không xung khắc” (1 Tm 2: 8).
Phêrô Phạm Văn Trung


