2020
Đường xuất hành mới
Hành trình đức tin của chúng ta không hướng về một miền đất nào, mà hướng về quê trời, nhưng vẫn là hành trình qua sa mạc để “lột xác” mà trở thành “con người mới”, nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Phép rửa cho chúng ta được mặc lấy con người mới, nhưng chỉ là cái mầm, nó phải lớn lên, vươn tới “chiều kích trưởng thành”.
Cuộc xuất hành mới không phải là ra khỏi một miền đất, một ách nô lệ phàm nhân. Đức Ki-tô không giải thoát chúng ta khỏi thân phận nô lệ ở trần gian, nhưng là ách nô lệ tội lỗi.
“Nước Chúa không thuộc về thế gian này” nhưng lại bắt đầu và lớn lên ở thế gian này như đồng lúa của Thiên Chúa, luôn bị kẻ thù lợi dụng đêm tối để gieo cỏ lùng vào. Nhưng Thiên Chúa không nóng nảy như ông Mô-sê, ông sai những người nhiệt thành đi nhổ liền. Thiên Chúa có đủ kiên nhẫn để chờ tới ngày thu hoạch cuối cùng sẽ tách lúa với cỏ.
Vấn đề đặt ra cho dân Chúa, cho những ai đã đón nhận hạt giống Lời Chúa, là để cho Lời Chúa lớn lên, bao trùm, biến đổi chính mình, không để cho ba kẻ thù “xa-tan, thế gian và xác thịt” làm biến chất, ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn Dân Chúa. Ngày nay thì xa-tan nhàn lắm, bởi vì “thế gian” của nó đã lớn mạnh và nó núp kỹ đến nỗi nhiều nhà thần học không tin là nó có thật, coi nó là biểu tượng thôi. Cái thế gian dưới quyền thống trị của nó mạnh thật, vì nó lấn sân của Hội Thánh từ lâu và tiếp tục lấn sân quyết liệt hơn nhờ tay chân của nó ngày càng đông và càng tinh vi. Thế gian ấy nuôi dưỡng “xác thịt” trở nên cường tráng mạnh mẽ tới mức những phương thế cổ điển nhằm chiến đấu với nó bị coi là lỗi thời ngay trong hàng linh mục, tu sĩ với những trào lưu thế tục do nó gieo vào, có vẻ rất đạo đức, rất đẹp, rất tinh vi và rất hấp dẫn, mà thực chất, như thánh Phao-lô gọi là “sống như kẻ thù của thập giá” (Pl 3,18).
Giao Ước Mới mở ra cho mọi dân tộc chứ không dành riêng cho đám người hỗn độn từ Ai-cập đi ra và được tụ họp ở núi Xi-nai để trở thành dân của Giao Ước. Đã mở ra cho mọi dân tộc thì không thể gom vào một mảnh đất nào nữa. “Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. 21Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người.” (Pl 3,20)
Từ khi Chúa Giê-su được rước về trời trong vinh quang mà Người vẫn có nơi Chúa Cha, các tông đồ vâng lệnh đi rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo, hình như thế giới vẫn càng ngày càng tệ hơn, những chia rẽ, mâu thuẫn ngày càng sâu xa hơn, chiến tranh ngày càng khốc liệt hơn. Chiến tranh giữa các nước gọi là “ki-tô giáo” với nhau, rồi những cuộc thánh chiến. Những cuộc xung đột giữa giáo hội phương đông và phương tây…
Sau đó thì hình như Hội Thánh của Chúa lại tục hóa, học theo cách tổ chức và lối sống của xã hội phong kiến phương tây, thay vì “Phúc Âm hóa” nó. Người đứng đầu Hội Thánh Rô-ma, giám mục của Rô-ma bỗng thành Giáo Hoàng, có một giáo triều, với các vị chức sắc mang phẩm phục kiểu cách, màu sắc, giống như tại các triều đình của vua chúa, cả cái ngôn ngữ của triều đình cũng được du nhập rộng rãi. Hàng giáo sĩ cũng có thành phần quí tộc thông thái để nắm địa vị, quyền lực, hưởng bổng lộc, sống như và với giai cấp quí tộc, và hàng thường dân ít học để sống như và với dân quê. Cho tới Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Giáo Hoàng đội cái mũ ba tầng[1], “ba [vương miện] trong một”: vua của Giáo Hội, vua của “nước Đức Giáo Hoàng” và vua toàn thế giới, nắm quyền tấn phong các vua của các nước trên trần gian [Chúa Giê-su có làm vua của thế gian đâu !]. Phẩm phục của Giáo Hoàng là phẩm phục đế vương, màu đỏ đế vương, giày đỏ tía. Các Hồng Y nay vẫn còn mặc áo đỏ bằng thứ vải đắt tiền của bậc đế vương. Công đồng Va-ti-ca-nô II đã “cắt bỏ cái đuôi” của phẩm phục Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám mục, bớt được vài người hầu đi theo cầm đuôi áo cho mỗi vị.
Nhắc lại vài điều “khó tin mà có thật”, trong số nhiều điều mà – tạ ơn Chúa – thế hệ sau 1970 không còn “phải” thấy, để “có thể thấy” Hội Thánh đã trải qua bao nhiêu thế kỷ bị tục hóa, nay đang trên đường trở về với Đấng Chịu Đóng Đinh Trần Truồng trên thập giá, dù cuộc trở về này vẫn còn đầy chông gai, vì vẫn còn những người thích đeo và sống với “thập giá vàng nạm ngọc”, hơn mang và sống thánh giá bằng gỗ của Chúa Giê-su.
Rồi khi các nước “ki-tô giáo” phương tây tự cho là “khám phá ra châu Mỹ” [!!!] thì lại đua nhau chiếm đất của các dân tộc vốn sinh sống ở đó, coi họ là mọi rợ, nghi ngờ họ có phải là người chưa[2] ; bắt họ làm nô lệ, dồn họ vào rừng sâu nước độc để chiếm đất đai màu mỡ của họ. Rồi cũng từ các nước ki-tô giáo xuất phát những kẻ buôn bán nô lệ, do các triều đình Âu châu bảo trợ, lùa dân Phi Châu xuống tàu chở qua châu Mỹ bán ở “chợ nô lệ” như bán một đàn vật. Tàn tích của sự khinh thị người nô lệ da đen vẫn còn nóng bỏng, ngay tại cái nước ở Bắc Mỹ tự cho là văn minh, dân chủ nhất thế giới.
Khi ngành hàng hải của Âu châu phát triển, thì các nhà truyền giáo từ các nước “ki-tô giáo” Âu Châu theo tàu buôn đi loan báo Tin Mừng cho các nước Nam và Đông Á. Các nước này vốn có những nền văn minh văn hóa cùng thời với các nền văn minh văn hóa cổ xưa của Ai-cập, Trung Cận Đông, trước cả Hy-lạp và Rô-ma mấy ngàn năm. Nhưng Giáo Hội phương Tây lại lẫn lộn Tin Mừng với cái vỏ ngôn ngữ, văn hóa, y phục, nghi lễ La-tinh… áp đặt lên các dân tộc xa lạ, biến họ thành lai căng, gây lẫn lộn giữa việc theo đạo Thiên Chúa và theo văn hóa phương Tây. Rồi các nước phương Tây ấy lại theo sau các nhà truyền giáo, dưới danh nghĩa “bảo vệ” đạo. Gây thêm ngộ nhận giữa truyền giáo và thực dân… Những người tự coi là môn đệ Đức Ki-tô dần dần chia nhau thành hàng ngàn phái, khiến người ngoài hoa mắt chẳng còn biết đâu thật, đâu giả, đâu chánh, đâu tà.
Nay thì tại các nước quen gọi là “ki-tô giáo”, Ki-tô giáo đang trở thành “kẻ lạ mặt”, bị thay thế bởi các thứ chủ nghĩa, triết thuyết bài tôn giáo, phá hủy cả đạo làm người… Các thứ chủ nghĩa, triết thuyết này lan đi nhanh hơn Ki-tô giáo. Người ta đã tiến sang giai đoạn “hậu vô thần”, không còn đặt vấn đề về Thiên Chúa nữa. Điều Xa-tan xúi giục ở vườn Địa Đàng nay trở thành đương nhiên trong luật pháp của nhiều nước “hậu Ki-tô giáo”: con người là ông thần bà thần, làm chủ tuyệt đối của chính mình, của mạng sống mình và mạng sống người khác. Bào thai bao lâu còn trong bụng mẹ chỉ là một phần thân thể người mẹ, nên người mẹ có quyền hủy hoại nó. Người cùng phái có quyền kết hôn và mọi quyền lợi như một gia đình. Đỉnh cao của văn minh tới đó rồi. “Con người hậu vô thần” đang vươn lên bá chủ thế giới.
Dân tự coi là dân của Giao Ước Xi-nai đã lấy lại được cái gọi là Đất Hứa, đem Sách Thánh làm văn tự chứng minh chủ quyền. Dù 50% trong số người này chẳng tin thần thánh nào cả. 10% nhiệt thành giữ Luật Mô-sê với mọi thứ chi tiết mà các Ráp-bi của họ đã thêm vào suốt hai ngàn năm qua. 40% còn lại thì xếp hạng từ đậm tới lạt…
Tất cả những hiện tượng này trong lịch sử và ngay thời chúng ta có vẻ như thách đố cả tín hữu và người ngoài: Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác, của Gia-cóp, Thiên Chúa của Ít-ra-en, Thiên Chúa Cha của Đức Giê-su Ki-tô và ơn cứu độ trong Đức Ki-tô mà các môn đệ của Ngài rao giảng còn có nghĩa gì nữa không, vì đã hơn bốn ngàn năm Thiên Chúa của Áp-ra-ham chẳng thay đổi được con người và thế giới này?
Thiên Chúa đã ban quả tim mới, quả tim mới ở đâu? Quả tim của con người hôm nay cũng như hôm qua, vẫn đầy tham sân si. Trong Hội Thánh của Chúa còn đầy những ngẫu tượng: bảo thủ, cấp tiến đều là thờ một thứ gì đó làm ngẫu tượng như: tiếng la-tinh, “nghi thức” thời thánh Pi-ô V, Pi-ô X ; địa vị, chức quyền, áo, mão, hia, gậy. Trong hàng Hồng Y, Giám Mục[3], linh mục, phó tế, trong tu viện cũng còn đầy ganh ghét, bon chen, tranh giành ảnh hưởng, chưa kể những “xì-căng-đan” khác ở mỗi giai đoạn lịch sử. Giảng đài nhiều khi thành diễn đàn tự do, sàn biểu diễn, thành sân khấu hài ; người giảng có khi biết đủ thứ, thuyết đủ thứ, trừ Lời Chúa… Đức Thánh Cha Phan-xi-cô tiếp tục cuộc canh tân của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, thì bị chống đối ngay từ trong hàng Hồng Y, giám mục, linh mục. Không thiếu kẻ công khai cầu cho Ngài chết lẹ đi, để họ đưa ông “Vũ như Cẩn” trở lại trên bàn thờ.
Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, Ngài đến thay đổi mặt địa cầu! Ngài ở đâu bây giờ? Sao địa cầu có vẻ tồi tệ như hoặc hơn xưa?
Câu trả lời ở nơi con người.
Kinh Thánh nói rằng “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người”, nhưng từ khi Thiên Chúa đã “thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên loài có sự sống”, thì nó không như những sinh vật khác, mà nó có tự do, có thể từ chối cả Đấng đã tạo ra nó ; nghĩa là nó có thể tùy ý chọn lựa trở nên giống ai, giống cái gì… và nó vuột khỏi bàn tay nhào nặn của Thiên Chúa. Thiên Chúa có thể nói với nó, nhưng nó nghe hay không là tùy nó.
Con người không còn nhớ và không muốn nhớ nguồn gốc của mình từ bụi đất nữa. Rồi từ khi con người từ chối cả Đấng đã cho mình hơi thở, thì nó tưởng mình đã thành ông thần, bà thần, ngang hàng với Thiên Chúa rồi. Ngày xưa con người nặn, đúc, đẽo những ông thần rồi đặt lên ngai mà thờ ; ngày nay những con người tự cho mình là văn minh, tiến bộ, không ngu gì mà thờ tượng gỗ tượng đá, tương vàng… Nhưng thờ vàng, bạc, kim cương, giấy xanh giấy đỏ, cái ngai… Họ sẵn sàng sát tế cả cha mẹ vợ con, cả dân tộc để được các thứ thần kia làm sở hữu. Người ta còn tôn nhau hay tôn chính mình làm thần nữa. Dân của Giao Ước Xi-nai coi các thần của các dân khác là thần ngoại lai, thần lạ… Người thời nay có đủ thứ thần để say mê, nên coi Thiên Chúa của Ít-ra-en, Thiên Chúa Cha của Đức Giê-su Ki-tô là thần lạ !
Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của người thời nay cũng như của người thời xưa. Trong lời Mô-sê giã từ dân Giao Ước Xi-nai trước khi họ qua sông vào Đất Hứa, còn ông phải lên núi “biến khỏi màn hình”, ông hết lời nhắc nhở, nhắn nhủ dân, và chỉ có thể kết thúc bằng lời mời chọn lựa: “Hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc hoặc là phải chết, bị tai họa.” (Đnl 30,15).
Thế nhưng cái Đất Hứa thì chưa ai thấy, chưa ai hưởng và chưa biết bao giờ mới được hưởng. Nồi thịt, con cá, quả dưa, củ hành củ tỏi bên Ai-cập thì họ đã ăn rồi, biết mùi vị rồi. Thiên Chúa mà ông Mô-sê nói, và họ cũng đã nghe tiếng uy nghi từ trên đỉnh núi thì quá xa vời và họ không điều khiển được, còn những ông thần của Ai Cập thì họ điều khiển hoàn toàn theo ý họ được. Cái triết lý của người nông dân miền Bắc Việt Nam “biết có sống đến mai mà để dành củ khoai đến tối” có vẻ hấp dẫn hơn. Thờ các thứ thần trước mắt thì sướng ngay bây giờ. Còn thờ Thiên Chúa thì phải chờ tới đời sau mới được. Hạnh phúc Chúa Giê-su hứa: “sẽ được Nước Đức Chúa Trời làm của mình, sẽ được… sẽ được…” toàn ở thì tương lai thôi, lại thêm gia vị “bách hại” nữa (Mt 5,3-12) ! Mà biết có được không nữa, vì còn phải tuân theo điều kiện !? Đang đói, vớ được củ khoai thì cứ ăn đi cho sướng bây giờ.
Đó là điệp khúc của dân thời Giao ước Xi-nai cũng như của thời Giao Ước Mới.
Thiên Chúa để con người tự chọn, không cưỡng ép. Nếu Thiên Chúa nặn hình tượng của Thiên Chúa hay đẽo tảng đá cho thành hình tượng của Thiên Chúa, rồi để yên đó thì nó chẳng chạy đi đâu được, nhưng Thiên Chúa dựng nên con người như loài có sự sống nên nó chuyển động không ngừng và Ngài đã cho nó tự do chọn nên giống ai. Nó thích giống thứ thần mắt thấy được, tay sờ được và có thể soi gương đối chiếu để xem mình đã giống thần tới mức nào. Còn nên giống Thiên Chúa thì chỉ có nghe theo lời của Thiên Chúa mà làm theo, khó quá !
Thiên Chúa chiều chuộng con người nên đã cho “Con Một là hình ảnh toàn hảo của Thiên Chúa” đến làm người để làm mẫu và chỉ đường. Nhưng chính những môn đệ đi theo Người Con ấy trên những nẻo đường từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem cũng chẳng hiểu gì, đến bữa ăn cuối cùng còn cãi nhau ỏm tỏi, tranh giành địa vị với nhau. Rồi một người phản nộp Thầy, một người chối bỏ Thầy, mười người còn lại bỏ Thầy trốn hết.
Sau khi Phục Sinh, Người qui tụ mười một ông lại để từ giã thì họ còn hỏi: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc cho Ít-ra-en không?” (Cv 1,6).
Người hứa ban Thánh Thần để dạy dỗ họ, để cho họ sức mạnh mà đi làm chứng.
Nhưng ngay trong cái cộng đoàn kiểu mẫu đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem đã có những kẻ toan lừa dối Thánh Thần (x. Cv 5,1-11). Một ông phù thủy ở Sa-ma-ri sau khi xin chịu Phép Rửa đã hỏi mua quyền đặt tay ban Thánh Thần (Cv 8,18-24). Đến chương 15 trong sách Công Vụ thì thấy trong hàng ngũ những người rao giảng Tin Mừng đã xuất hiện những rạn nứt do tình trạng lẫn lộn giữa Thánh Thần và “thổ thần”, Thánh Thần thì vượt ranh giới sắc tộc, phong tục tập quán, còn “thổ thần” thì bắt người ngoài đạo Do Thái muốn thành môn đệ Đức Ki-tô phải theo đạo Do Thái nữa. Đó cũng là một thứ thờ ngẫu thần. Trong hội nghị Giê-ru-sa-lem nhằm giải quyết những xung khắc thì các vị lãnh đạo, là các “tông đồ và kỳ mục”, cũng bắt đầu cãi lý sùi bọt mép chẳng đi tới đâu, cho tới khi ông Phê-rô yêu cầu “nghe” cho biết Thánh Thần đã làm những gì, thay vì cãi. Sự nhất trí trong hội nghị Giê-ru-sa-lem cũng không đem lại ổn định hoàn toàn đâu, vị tông đồ dân ngoại là Phao-lô sẽ bị theo dõi và chống đối suốt đời.
Chúa Giê-su và các Tông Đồ đã không ảo tưởng khi đi rao giảng. Lời Thiên Chúa là Lời Tạo Dựng, Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng” thì ánh sáng xuất hiện (St 1, 1-25), nhưng khi dựng nên con người thì Thiên Chúa chỉ tự nói với mình: “Nào Ta hãy làm nên con người giống hình ảnh Ta” rồi phải làm. Lần đầu tiên Thiên Chúa đến gọi con người trong vườn địa đàng thì con người đã lẩn trốn mất rồi, vì đã nghe lời kẻ lạ mặt dụ dỗ, đi tìm bùa ngải để khỏi cần đến Thiên Chúa nữa… Từ đó Lời Thiên Chúa nói với con người chỉ còn là “Nghe đây…”, “Hãy nghe…”, và hoàn toàn lệ thuộc con người.
Thiên Chúa bắt đầu hạ mình từ khi bắt đầu nói với con người. Chúa Giê-su đã ví Lời Thiên Chúa nói với con người như hạt giống gieo xuống đất. Hạt giống có mọc được hay không còn tùy thuộc mảnh đất nó rơi vào, là người nhận. Hạt giống có “ba rủi”: lề đường, đất sỏi đá và gai góc, và “một may”: đất tốt. (x. Mt 13,3-23; Mc 4,3-8; Lc 8, 5-8). Chính Chúa Giê-su đã ngậm ngùi nói lên nỗi khắc khoải: “Khi Con Người ngự đến, liệu còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8)
Các tông đồ cũng chẳng thể làm gì hơn các ngôn sứ đã đi trước, chỉ biết khuyên răn tha thiết, cả bằng nước mắt và máu. Bức thư đầu tiên được giữ lại và trở thành bản văn viết sớm nhất của sách Tân Ước là thư thứ nhất của thánh Phao-lô Tông Đồ gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, đã ghi lại lời tâm sự:
Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ.8Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi. 9Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi khó nhọc vất vả của chúng tôi: đêm ngày chúng tôi đã làm việc để khỏi thành gánh nặng cho một người nào trong anh em, suốt thời gian chúng tôi loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em. 10Anh em làm chứng, và Thiên Chúa cũng chứng giám, rằng với anh em là những tín hữu, chúng tôi đã cư xử một cách thánh thiện, công minh, không chê trách được. 11Anh em biết: chúng tôi đã cư xử với mỗi người trong anh em như cha với con; 12chúng tôi đã khuyên nhủ, khích lệ, van nài anh em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng kêu gọi anh em vào Nước của Người và chia sẻ vinh quang với Người. (2,7-12)
Thư 2 Cô-rin-tô, khoảng 10 năm sau: “tôi đã vô cùng đau khổ, con tim se thắt, nước mắt chan hoà khi viết cho anh em: tôi viết không phải để gây ưu phiền, nhưng là để cho anh em biết tôi hết lòng yêu mến anh em.”
Khi chịu phép rửa thì tín hữu đã mặc lấy con người mới, nhưng thực tế không đơn giản, vì phải tiếp tục suốt đời: giết chết con người cũ để con người mới được lớn lên. Thư Rô-ma cho biết cái đã được khi chịu phép Rửa:
“Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? 4Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.
5Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. 6Chúng ta biết rằng: con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. 7Quả thế, ai đã chết, thì thoát khỏi quyền của tội lỗi.” (Rm 6, 3-7)
Thư Ê-phê-sô cho biết đó là khởi đầu cuộc chiến trường kỳ: “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô” (Rm 6,6) nhưng lại cứ phải tiếp tục “lột bỏ nó”:
“Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, 23anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, 24và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. (4,22-24).
Con người mới không phải là cái áo may sẵn mặc vào là xong, nhưng là “con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa” (Cl 3, 10).
Thư Ga-lát cho biết “mặc lấy con người mới” chính là “mặc lấy Đức Ki-tô”: “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô” (3,27).
Làm sao có thể mặc lấy Đức Ki-tô? Trước hết là mặc lấy “những tâm tình đã có nơi Đức Ki-tô” (Pl 2,5) ; cư xử như Đức Ki-tô: “bước đi như Đấng ấy đã bước đi” (1Ga 2,6) [dịch sát] ; được biến hình: “Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương ; như vậy, chúng ta được biến đổi[4] nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.” (2Cr 3,18)
Với Tổ phụ Áp-ra-ham thì Thiên Chúa bảo: “Hãy bước đi trước mặt Ta và sống hoàn thiện.” (St 17,1).
Đến ông Mô-sê, người phải dẫn đưa dân vào Đất Hứa, khi nhận ra mình sai thì ông khiêm tốn xin: “Xin khấn tỏ cho con biết đường lối của Ngài để con biết Ngài” (Xh 33,13). Thiên Chúa trả lời:
“Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống.” 21ĐỨC CHÚA còn phán: “Đây là chỗ gần Ta; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. 22Khi vinh quang của Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. 23Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy.”
Con Thiên Chúa đã làm người, đã sống trọn thân phận con người trong tư cách là Con Thiên Chúa, đã thi hành trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa, để trở thành “Con đường, Sự Thật và Sự Sống” và có thể mời gọi chúng ta: “Hãy theo Thầy”. “Vác thập giá của mình hàng ngày mà đi đàng sau Thầy”. (Lc 9,23). Ông Phê-rô kéo Người lại để yêu cầu Người thay đổi đường lối thì Người bảo: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của người phàm” (Mt 16,23; Mc 8,31-33; Lc 9,22).
Mầu nhiệm hạ mình của Thiên Chúa không kết thúc với mầu nhiệm nhập thể, mà vẫn diễn ra hôm nay: Thiên Chúa vẫn hạ mình lệ thuộc vào thọ tạo, không cưỡng ép. Ngài vẫn đứng ngoài cửa và gõ. Ai mở cho Ngài thì Ngài vào, mở đến đâu thì Ngài vào đến đó, không mở thì Ngài vẫn kiên nhẫn chờ… Trong sách Diễm Ca, chàng đến gõ cửa và năn nỉ:
Tôi ngủ, nhưng lòng tôi chợt thức; có tiếng người tôi yêu gõ cửa:
“Mở cửa cho anh vào, hỡi em gái, người bạn tình của anh, hỡi bồ câu, ôi mười phân vẹn mười !
Này đầu anh, lớp sương dày đã phủ, và tóc anh, đêm khuya làm đẫm ướt.”
Tiếng trả lời từ trong nhà vang ra thật phũ phàng, đầu anh phủ sương hay tóc anh ướt đẫm không quan trọng bằng bàn chân em đã rửa. Đứt ruột:
“Em đã cởi xiêm y, lại mặc vào sao được?
Em đã rửa chân rồi, lại để lấm hay sao?”
Chàng làm một cử chỉ năn nỉ cuối cùng, nhưng không tự ý đẩy cửa bước vào:
Người tôi yêu luồn tay qua khe cửa…
Chàng đành đội sương khuya, lững thững ra đi cho tóc ướt thêm.
Sách Khải Huyền trong Tân Ước cũng lặp lại cảnh này trong bức thư thứ bảy, gởi Hội Thánh ở Lao-đi-ki-a:
Ta khuyên ngươi đến với Ta mà … mua áo trắng để mặc khiến ngươi khỏi xấu hổ vì để lộ thân thể trần truồng… 19Phần Ta, mọi kẻ Ta yêu mến, thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn ! 20Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta. (Kh 3,18-20).
Tình yêu không thể mua được, cũng không thể chiếm đoạt hay cưỡng ép.
Thiên Chúa là Tình Yêu.
Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu,
ắt sẽ bị người đời khinh dể (Dc 8,7)
Con người là công trình kỳ diệu nhất của Thiên Chúa, bởi vì được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng lại càng kỳ diệu hơn khi tự do trở nên giống Thiên Chúa, THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU.
Chỉ Tình Yêu mới có đủ sức mạnh để cho con người tự do, và đủ kiên nhẫn để chờ suốt đời.
Sách Khôn ngoan đã diễn tả sự thật ấy một cách khác, khi lý giải sự kiên nhẫn của Thiên Chúa với dân Ai-cập và dân Ca-na-an:
Chúa xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh.
Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con,
nhưng có thể sử dụng quyền năng bất cứ khi nào Ngài muốn.
19Làm như thế Chúa đã dạy dân rằng:
người công chính phải có lòng nhân ái.
Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề
là người có tội được Ngài ban ơn sám hối.
Lời mời gọi của các ngôn sứ là “Hãy nghe Lời Thiên Chúa !”, “hãy quay về” với Thiên Chúa.
Lời mời gọi của vị Tiền Hô: “Hãy hoán cải, vì Nước Trời đã kề bên” (Mt 3,2)
Lời rao giảng mở đầu của Chúa Giê-su là: “Hãy hoán cải, vì Nước Trời đã kề bên” (3,17)
Lời rao giảng đầu tiên của các tông đồ là: “Hãy hoán cải” (Cv 2,38)
Lời nhắn nhủ cuối cùng trong bức thư thứ bảy của sách Khải Huyền là: “Hãy nhiệt thành và hối cải !” và mời gọi: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (3, 19.22).
__________________
[1] Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã cho cái “mũ ba tầng” cuối cùng vào viện bảo tàng ở nhà thờ tại Washington. Đôi giày đỏ thì còn trong chân của Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI, hy vọng nó sẽ là đôi giày đỏ cuối cùng ở Va-ti-ca-nô. Người thợ giày chuyên môn của Va-ti-ca-nô chắc không muốn mất mối ngon.
[2] Trong phim Mission có một cảnh thật phũ phàng: trong buổi văn nghệ chào mừng vị “khâm sai Tòa Thánh”, một em bé đang hát với giọng ca thiên thần làm mọi người say mê, thì một vị áo tím tháp tùng khâm sai hỏi: liệu nó có linh hồn không?
[3] Trước Công Đồng Va-ti-ca-nô II, trong lễ trọng thể do giám mục cử hành, phải để hai tấm bánh trên đĩa thánh. Đến khi dâng của lễ thì phụ phó tế long trọng đem một trong hai tấm bánh cho vị Tổng Đại Diện quì dự lễ trên cung thánh, vị này phải ăn để chứng tỏ không có thuốc độc trong bánh!
[4] Bản văn Hy-lạp dùng cùng một từ “biến hình” như trong trình thuật Tin Mừng về Chúa Giê-su “biến hình”.
Lm. Giu-se Nguyễn Công Đoan, S.J.
Giê-ru-sa-lem, CN V mùa Phục Sinh 2020
2020
Ý nghĩa tên & các tước hiệu của Chúa Giêsu
a- Vì sao Thiên Chúa Cứu rỗi?
Trong Kinh Thánh, tên gọi thường liên hệ với lai lịch của một người.
Sự kiện đầu tiên nói về lai lịch của Đức Giê-su đó là tên gọi mà thiên sứ bảo ông Giu-se phải đặt cho Ngài: “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Như vậy thiên sứ đã cho thấy Đức Giê-su là Đấng Cứu Chuộc nhân loại.
Nguồn gốc: Nhìn lại từ Khởi nguyên, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ muôn loài trong 6 ngày và ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi. Ông Adam và bà Eva là tổ phụ của loài người, không nghe lời Thiên Chúa đã ăn trái của “cây biết điều thiện điều ác” (trái cấm), nên bị Thiên Chúa đuổi khỏi Vườn địa đàng. Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội tổ tông, nguyên tội) cho con cháu là loài người. Bởi loài người mang tội, Đức Giêsu (vị Thiên Chúa Cứu rỗi) vì yêu thương nhân loại, nên đã giáng trần để loài người được hòa giải với Thiên Chúa.
Minh định: Ngày đó Đức Giê-su gặp một phụ nữ cạnh bờ giếng bên ngoài một ngôi làng. Ngài đã làm cho bà hết sức ngạc nhiên đến nỗi bà chạy về làng và nói với dân làng: “Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” (Ga 4,29). Họ kéo đến và xin Ngài dạy dỗ họ. Sau khi nghe giảng xong, dân làng nói với nhau: “Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42). Lại nữa sau khi Đức Giê-su trở về với Chúa Cha, thánh Gio-an viết cho các Ki-tô hữu sơ khai như sau: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa… Đó là Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga 1,3 ; 4,14).
– trước hết, chính trong bối cảnh tội lỗi mà Chúa Giê-su cứu chúng ta khỏi họa bị hủy diệt. Ngài cứu chúng ta khỏi sự chết: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết… Cho nên, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,12.18). Vậy Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế vì Ngài cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết.
b- Chúng ta được cứu rỗi để làm gì?
Được rửa tội trong Đức Ki-tô, chúng ta trở nên chi thể của Nhiệm Thể Ngài và được ban sự sống mới trong Ngài. Điều này đưa chúng ta sang khía cạnh thứ hai của sứ mệnh cứu chuộc của Đức Giê-su: Ngài cứu chuộc chúng ta để làm gì?
– Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được củng cố để tiếp tục công cuộc cứu chuộc mà Đức Giê-su đã khởi sự. Chúng ta đã được cứu khỏi tội lỗi để làm công việc tái tạo trần gian mà tội lỗi đã phá hủy, để hoàn tất triều đại của Thiên Chúa. Những ai nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế thì đều trở nên phần tử trong công cuộc làm thay đổi trần gian. Do đó trách nhiệm của chúng ta lúc này là hãy đem Nước Chúa đến cho mọi người.
2. danh hiệu: Chúa & Con Thiên Chúa.
a- Đức Giê-su là Chúa.
Sau khi nghe Chúa nói “Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Lập tức Tô-ma quỳ sụp xuống và nói: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20, 27-28). Kể từ giây phút đó cho đến nay, từ ngữ Chúa trở thành một danh hiệu dành riêng để gọi Đức Giê-su. Trong bài giảng sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, thánh Phê-rô nói về Đức Giê-su như sau: “Thiên Chúa đã đặt Người (Đức Giê-su) làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô” (Cv 2,36). Thánh Phao-lô viết cho tín hữu Rô-ma: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10, 9).
b- danh hiệu Con Thiên Chúa.
Danh hiệu thứ hai họ gọi Đức Giê-su để biểu lộ đức tin vào thiên tính của Ngài, đó là
Chúa Con, hay con Thiên Chúa. Mác-cô mở đầu sách Tin Mừng bằng câu: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa”. Và cũng để kết thúc sách Tin Mừng, Mác-cô ghi lại việc viên đội trưởng Rô-ma sau khi chứng kiến cuộc tử hình của Đức Giê-su đã phải thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15, 39).
Học hỏi kỹ những sách Tin Mừng, chúng ta thấy các tác giả dùng danh hiệu Con Thiên Chúa với ý nghĩa khác hẳn các tác giả Cựu Ước. Danh hiệu Con Thiên Chúa được dùng để gọi Đức Giê-su hiểu theo nghĩa rõ ràng, đích thực, chứ không phải theo nghĩa ám chỉ như thời Cựu Ước.
3. Đức Giê-su là Ngôi Lời.
Tựa mở đầu sách Tin Mừng thánh Gioan viết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người” (Ga 1, 1-14).
Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa đã mặc lấy thân xác con người và sống giữa chúng ta. Ngôi Lời hiện diện, giảng dậy, yêu thương và mạc khải: Tỏ lộ cho chúng ta những điều chúng ta chưa bao giờ biết. Ngài mạc khải không những qua những gì Ngài nói, mà còn qua những gì Ngài thể hiện. Thư gửi tín hữu Do-thái nói về Đức Giê-su như sau: “Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3). Chính Đức Giê-su cũng nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Cho nên, điều mà không thể có trong lịch sử nhân loại là Ngài đã làm cho Thiên Chúa hiện diện trong thân xác con người cách sống động như thánh Gioan viết: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng … để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (Ga 1,1-4).
* Cùng trong ý nghĩa ấy, chta lại còn có thể hiểu Ngôi Lời chính là Lời của Thiên Chúa vì Ngài mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta. Ngài còn làm cho chúng ta nhận thức được chính chúng ta một cách rõ ràng hơn. Ngài là hình ảnh toàn hảo của một con người mà mỗi người chúng ta phải cố gắng đạt tới. Qua Ngài, chúng ta thấy rằng với bản năng của một con người, chúng ta có thể vượt thắng mọi khó khăn để trở nên hoàn hảo. Nhân tính của Đức Giê-su đã chứng minh điều đó. Tất cả những gì Ngài đã làm, chúng ta đều có thể học và làm theo Ngài, chẳng hạn như yêu thương kẻ thù, tha thứ cho kẻ bách hại ta, làm bạn với kẻ bị ruồng bỏ, và có khả năng thay đổi người khác bằng ánh mắt hay lời nói.
Tóm lại: Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa theo hai ý nghĩa. Qua bản tính Thiên Chúa, Ngài hé mở cho chúng ta hiểu được Thiên Chúa. Qua bản tính loài người, Ngài thể hiện mức độ hoàn hảo của con người mà chúng ta đều có thể trở thành – nếu chúng ta mở lòng đón nhận lời giảng dạy của Ngài và nhờ ơn Thánh Thần của Ngài biến đổi cuộc sống mỗi ngày của chta.
4. Đức Kitô (từ ngữ Hy Lạp) hay Đấng Messiah (Mê-si-a).
Vào một thời điểm quan trọng trong Tin Mừng, đó là biến cố tại Xê-da-rê Phi-líp-phê khi Đức Giê-su hỏi Phê-rô “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” và Phê-rô đã trả lời “Thầy là Đấng Ki-tô” (Mc 8,29). Ki-tô nghĩa là “Đấng được xức dầu”. Từ “Kitô” xuất phát từ chữ Khristos trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là “Đấng được xức dầu”, dịch từ chữ Messiah trong tiếng Hebrew (Híp-ri – Do Thái cổ ngữ). Từ ngữ này dùng để chỉ về một người được Thiên Chúa tuyển chọn và giao phó cho một sứ mệnh.
*Lần đầu tiên Đức Giê-su nói về chính Ngài là Đấng được xức dầu là khi Ngài ở trong hội đường Na-da-rét. Ngài đọc đoạn Kinh Thánh trích sách ngôn sứ I-sai-a:
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Rồi Đức Giê-su đã thốt lên những lời đáng nhớ sau đây: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Đức Giê-su đã coi mình như người được Thiên Chúa trao cho sứ vụ “cứu chuộc” đặc biệt.
*Việc Đức Giê-su được “xức dầu” đã xảy ra trong dịp Ngài chịu phép rửa, khi ấy tầng trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Ngài và có tiếng từ trời phán: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22). Sau này, khi nói với dân chúng về biến cố ấy, ông Phê-rô giảng rằng: “Quý vị biết rõ… Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỉ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,36-38).
– Vậy: Danh hiệu Mê-si-a chỉ về Đức Giê-su là Đấng được Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại để thi hành sứ vụ cứu chuộc họ.
Từ này được thấy lần nữa trong Cựu-ước (Đn 9:25-26) ám chỉ một vị được uỷ nhiệm bằng việc xức dầu thánh hiến, do Thiên Chúa sai đến (Đấng Thiên Sai) tạo hạnh phúc cho dân Ngài hay là để cứu rỗi dân Ngài.
– Cũng từ đó ta có từ “Kitô hữu” có nghĩa là “người có Chúa Kitô hiện hữu (ở trong)”, hay “người thuộc về Chúa Kitô”.
5. Emmanuel (Em-ma-nu-ên) hay Immanuel.
Là một trong những danh hiệu của Chúa Jesus. Trong tiếng Anh, chữ này được viết là Immanuel. Danh hiệu Em-ma-nu-ên có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Danh hiệu Em-ma-nu-ên xuất hiện ba lần trong Thánh Kinh: hai lần trong Cựu Ước (Is 7:14, 8:8) và một lần trong Tân Ước (Mt 1:23). Vua Đa-vít đã chia sẻ kinh nghiệm được Chúa ở cùng như sau: Khi có Chúa bên cạnh, ông không phải lo lắng gì; thậm chí có lúc ông đang đi giữa hiểm nguy có thể mất mạng, Đa-vít không sợ hãi vì Chúa bảo vệ ông (Tv 23:1-4).
Người Do Thái tự hào họ là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Họ có Chúa ở cùng. Lịch sử Do Thái ghi lại những kinh nghiệm thắng trận nhờ Chúa ở với họ.
*Đức Giêsu Kitô: Đấng Em-ma-nu-en: Ngài là Thiên Chúa hiện thân làm người. Ngài đến thế gian sống giữa loài người và ở với loài người, như Tiên tri Isaia đã dự báo trong Cựu Ước. Ngài không chỉ cứu loài người ra khỏi cảnh cơ hàn, nhưng đến thế gian để cứu loài người ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Thánh Matthêu đã giải thích danh hiệu Em-ma-nu-ên trong ý nghĩa Thiên Chúa ở cùng chúng ta chỉ về Đức Giêsu: “Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn xứ: Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:22-23).
2020
Ở lại trong tình yêu của Thầy
14.5 Thánh Matthia
Ga 15, 9-11
Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THẦY
“Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”, đó là lời mời gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ, và cũng là lời mời gọi cho bất kỳ ai muốn nên nghĩa thiết với Ngài, và muốn có được niềm vui trọn vẹn. “Hãy” đó là một sự mời mọc, sự khuyến khích đầy yêu mến và tế nhị, vì Chúa Giêsu luôn tôn trọng tự do của các tông đồ, cũng như tôn trọng tự do đáp trả của mỗi chúng ta.
Ngài mời gọi các tông đồ hãy “Ở lại trong”, đây quả là một điều hết sức đặc biệt được thánh sử Gioan diễn tả về mối thâm tình kết hiệp giữa thầy Giêsu và các môn đệ, giữa Thiên Chúa và con người. “Ở lại trong” chứ không phải “ở lại với” (diễn tả một sự liên hệ gần kề, mang tính thể lý), “ở lại trong” diễn tả một sự liên kết mật thiết hơn nhiều, đó là sự đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha, các môn đệ ở trong Chúa Giêsu, và như thế có nghĩa rằng tất cả nên một bản vị, một Hiện hữu duy nhất không thể tách lẻ hay chia rời.
Niềm vui của Chúa Giêsu là được ở lại trong tình thương của Chúa Cha. Ở lại là tuân giữ điều răn mà Chúa Cha truyền dạy. Trong sứ mạng rao giảng công khai, Chúa Giêsu đã tìm cách làm đẹp lòng Chúa Cha bằng chính lời nói và hành động của mình, “tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi”. (Ga 5, 30). Ngài còn khẳng định: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4, 34). Khi phải thực hiện chọn lựa, Ngài luôn đặt thánh ý Chúa Cha trên hết để hướng dẫn cuộc đời mình: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26, 39).
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn có được niềm vui. Chúa Giêsu đã nhận niềm vui từ Chúa Cha và Ngài không giữ riêng cho mình. Ngài mời gọi các môn đệ và mỗi người chúng ta ở lại trong tình thương của Ngài (Ga 15, 9) để có niềm vui ấy. Là người môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta chỉ có niềm vui thực sự khi ở lại trong tình thương của Ngài. Chúng ta có thể ở lại trong tình thương này khi biết tuân giữ điều răn của Chúa. Điều răn này được tóm gọn trong luật mến Chúa yêu người.
Khi để tâm hồn chìm trong suy tưởng về tình yêu theo mối tương liên này, ta cảm nhận có một sức mạnh tình yêu lan tỏa từ đời đời. Chúa Cha là nguồn mạch tình yêu. Chúa Giêsu là người trực tiếp đắm mình trong nguồn suối đó. Và Ngài biết, nếu chỉ giữ lại cho riêng mình là chưa đạt tới cùng đích của thánh ý, nhưng phải được sẻ chia để nhiều tâm hồn khác cũng được hưởng nguồn ân huệ ấy.
Vì thế, trong cuộc sống hằng ngày, ta cần tìm cách làm theo thánh ý Chúa và đẹp lòng Ngài, nhất là khi phải quyết định một chọn lựa nào đó. Sống theo thánh ý Chúa được thể hiện qua lời nói và hành động của chúng ta trong đời sống. Đó có thể là một lời hỏi thăm, an ủi những ai buồn phiền hay là giúp đỡ những người lâm vào hoàn cảnh túng thiếu. Trong xã hội thực dụng hôm nay, dù biết rằng ta sẽ gặp khó khăn khi tuân giữ điều răn của Chúa, thậm chí là lội ngược dòng nữa nhưng ở lại trong Chúa đó là cách thức để ta có niềm vui của Chúa và niềm vui ấy được nên trọn vẹn.
Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ : “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15, 9). Lưu lại trong tình yêu con người sẽ được tình yêu tắm gội và biến đổi. Nhưng muốn ở lại trong tình yêu, con người phải tuân giữ lệnh truyền yêu thương của Ngài, một tình yêu hướng về người khác và trao ban điều tốt lành cho người khác. Vì yêu thương Thiên Chúa đã thông ban sự tốt lành cho các thụ tạo của Ngài, Ngài đã cho con người được chung hưởng tình yêu của Người.
Chúa Giêsu đã ở lại trong tình thương của Chúa Cha. Ngài lệ thuộc vào Cha trong mọi sự. Đến lượt chúng ta cũng hãy gắn kết mọi sự đời mình trong Thầy Giêsu. Chỉ khiở lại trong Người và được Ngài ở với, chúng ta mới đạt được hạnh phúc tròn đầy. Ở lại để biết Chúa xót thương tôi ra sao! Sự ở lại này phải đưa tôi tới hành độngbiết xót thương người khác nữa. Những việc làm cụ thể sẽ nói lên thiện chí ta đã‘giữ các điều răn’của Ngài ra sao. Việc làm không có nghĩa là chỉ thi hành bằng những hình thức bên ngoài và nghĩ rằng thế là xong nhiệm vụ. Hình thức bên ngoài cũng cần nhưng đó chỉ là những yếu tổ bổ sung, điều cần thiết nhất vẫn là tấm lòng. Hành động thiếu tình yêu thì việc làm chỉ là giả tạo và người làm việc ấy chỉ là giả hình đáng nhận lời kết án: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm” (Is 29,13).
Chính khi các tông đồ thực hiện những điều Chúa dạy, thì các ông mới được ở trong niềm vui của Đức Kitô, và như vậy niềm vui của các ông mới được nên trọn vẹn. Quả thế, niềm vui của Chúa Giêsu là yêu mến và vâng phục Chúa Cha; niềm vui của Chúa Giêsu cũng chính là niềm vui của người môn đệ, mà chính Ngài đã chia sẻ cho họ. Do vậy, niềm vui của người môn đệ chính là yêu mến và vâng phục Chúa Giêsu, và qua đó họ vâng phục Chúa Cha.
Quy tụ tất cả mọi người ở lại trong Chúa. Đó là ước mơ cháy bỏng Chúa Cha chia sẻ với Con của Người. Thiên Chúa cũng mong mỗi người hiệp thông cùng Ngài tâm tư ấy. Một khi đón nhận được tình yêu chúng ta sẵn sàng ra đi, chịu hao mòn trên dòng đời, chịu biến tan vì yêu thương và tha thứ. Cuối cùng sức mạnh Thiên giới sẽ hút ta trở về để được ở lại mãi mãi trong cung lòng rất thánh, nơi phát sinh sứ mạng yêu thương.
Trong xã hội ngày nay, lời mời gọi “Hãy ở lại trong tình thương của Chúa” luôn là một động lực mạnh mẽ, thúc bách người Ki-tô hữu đến gần Chúa hơn. Năm Lòng Chúa Thương xót như là một phương thế cụ thể mà Đức Giêsu qua Giáo Hội giang rộng vòng tay đón nhận và ôm ấp bất kỳ ai đến với Ngài.
2020
Cắt tỉa để sinh hoa trái
13.5.2020
Thứ tư tuần V PS
Ga 15, 1-8
CẮT TỈA ĐỂ SINH HOA TRÁI
Hình ảnh cây nho và các cành nho cho thấy sự ở lại thâm sâu và sự hiệp thông thường trực giữa Chúa Giêsu và các môn đệ chân thật của Người, đồng thời nêu bật dây liên kết bên trong bằng việc mang hoa trái. Giống như cành nho, vì liên kết với cây nho, được thông dự vào sự sống của cây nho, người tín hữu, nhờ gắn bó với Đức Kitô, được thông dự vào sự sống chân thật, là sự sống của chính Thiên Chúa.
Tuy vậy, sự thông dự này bó buộc họ phải sống và hành động theo nếp sống mới đã được Chúa Giêsu mạc khải cho biết. Niềm tin vào Chúa luôn được thử thách, gọt dũa và cắt tỉa như hình ảnh của cây nho.
Hệ quả của sự cắt tỉa trong việc trồng nho: Có một dạo phong trào trồng nho đã nở rộ tại một số tỉnh dọc theo duyên hải miền Trung. Cây nho không còn là một thứ cây xa lạ đối với nhiều người Việt Nam nữa. Cây có trái là chuyện thường, nhưng cây phải bị cắt tỉa mới có thể đâm chồi, trổ hoa và sinh trái, đó là hình ảnh đặc trưng của cây nho. Thật thế, với đôi mắt không chuyên môn, khi nhìn vào thân nho bị cắt tỉa, có lẽ ai cũng phải xót xa, có lẽ người ta sẽ nhìn vào người trồng nho như một con người nhẫn tâm, vì người trồng nho xem ra cắt tỉa cây nho không chút tiếc xót. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, người ta sẽ ngạc nhiên khi nhìn thấy từ những cành trơ trụi những mầm non nhú ra và hoa cũng bắt đầu xuất hiện.
Chúa Giêsu đã dùng rất nhiều hình ảnh để nói về những thực tại Nước Trời. Nhưng trong các hình ảnh ấy, cây nho hẳn phải chiếm một chỗ ưu việt : ưu việt vì cây nho là giống cây phổ thông nhất của miền Palestina, ưu việt vì trong Cựu ước cây nho vốn được xem là biểu trưng của dân riêng. Nhưng như các tiên tri đã nhiều lần lên tiếng tố cáo : thay vì sản xuất rượu ngon, cây nho Israel chỉ mang lại thứ rượu đắng của bất trung và phản bội. Tiếp tục truyền thống tiên tri, Chúa Giêsu cũng lấy lại hình ảnh cây nho, nhưng cây nho chính là Ngài.
Lòng tín trung mà Thiên Chúa hằng chờ đợi nơi Israel nay Ngài đã tìm thấy nơi cây nho đích thực là Chúa Giêsu. Một giao ước mới phát sinh, bởi vì lòng trung tín của Chúa Giêsu được diễn tả trong sự vâng phục và vâng phục cho đến chết trên Thập giá, không phải là cố gắng thuần tuý của con người, mà chính là lòng thủy chung của con Thiên Chúa trong chừng mực của con người. Cây nho của giao ước mang lại những trái xum xuê có tên là tình yêu. Đó là kết quả của sự cắt tỉa : cây nho không thể sinh hoa kết trái nếu không bị cắt tỉa, tình yêu sẽ không là tình yêu đích thực và phong phú nếu không được cắt tỉa khỏi những ngọn nhành thừa thải của ích kỷ.
Giáo hội Israel mới chính là cây nho của Chúa. Lịch sử cho thấy có lúc xem ra Giáo hội bị cắt tỉa một cách tàn nhẫn, nhưng cũng chính những lúc đó Giáo hội mang lại nhiều hoa trái hơn cả. Những cuộc bách hại đẫm máu lại là những cắt tỉa làm cho Giáo hội sinh được nhiều hoa trái nhất. Đó là cái nhìn chúng ta phải có để nhìn vào Giáo hội: sức sống của Giáo hội có khi không chỉ được nhìn thấy và đánh giá qua những biểu dương bên ngoài, hoa trái đích thực khi chấp nhận được cắt tỉa khỏi những phù phiếm rườm rà của thế tục. Cơ cấu hữu hình có thể bị phá vỡ, cơ sở vật chất có thể bị cướp mất, những quyền cơ bản nhất gắn liền với tự do tôn giáo có thể bị tước đoạt, đôi tay hoạt động có thể bị khóa chặt; đó có thể là những cắt tỉa cần thiết để cây nho Giáo hội trổ sinh hoa trái dồi dào.
Ta còn nhớ rằng lời của Chúa Giêsu còn mời gọi chúng ta chiêm ngắm người trồng nho, là chính Chúa Cha. Thật vậy, Người nói : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho” (c. 1) ; và Người nói tiếp : « Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: “Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” » (c. 8). Điều Chúa Cha ước ao, và qua đó Ngài được tôn vinh, là chúng ta sinh nhiều hoa trái. Chúng ta có thể tự hỏi, đâu là hoa trái mà Chúa Cha ước ao chúng ta làm phát sinh ? và chúng ta phải làm sao để làm phát sinh nhiều hoa trái ? Và Chúa Cha không chỉ ước ao chúng ta sinh hoa trái, nhưng còn “chăm sóc” chúng ta, vì Ngài là người trồng nho.
Khi chúng ta chịu phép Rửa tội, Giáo Hội đã tháp nhập chúng ta như những nhành cây nho vào Mầu nhiệm Phục sinh và Khổ Nạn của Chúa Giêsu là thân cây nho. Từ gốc nho này chúng ta lãnh nhận nhựa sống và sống sự sống của Chúa Giêsu, tự bản chất là sinh hoa kết quả khi kết hiệp với Chúa Giêsu, hầu được tham dự vào cuộc sống vĩnh hằng. Như các môn đệ, chúng ta cũng vậy, nhờ sự trợ giúp của các Mục tử trong Giáo hội, chúng ta lớn lên trong vườn nho của Chúa, được bao bọc trong tình yêu của Ngài. Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết :”Nếu hoa trái của chúng ta là tình yêu, thì điều tạo ra hoa trái này chính là việc “ở lại” cách thâm sâu và trung tín với Chúa”. Điều quan trọng là luôn gắn kết với Chúa Giêsu, phụ thuộc vào Người bởi vì “nhành nho tự nó không thể sinh trái được, nếu không dính liền với cây nho” (Ga 15,4). Chúa Giêsu nói rõ ràng, “các con cũng vậy, nếu không ở trong Thầy” (Ga 15,5).
Hoa quả mà Chúa Cha hy vọng nơi chúng ta, là những việc lành phúc đức, là những công việc tốt chúng ta làm. Mang lại hoa trái không có nghĩa là làm những điều phi thường, nhưng là những điều bình thường. Hoa quả ấy là những việc lành phúc đức, là những việc tốt chúng ta làm. Nhưng thử hỏi : kết hiệp với Đức Kitô như thế nào để giúp chúng ta sinh nhiều hoa trái ? Thưa, đức tin và đức ái, nghĩa là ở trong ân sủng của Thiên Chúa. Nếu chúng ta sống trong ân sủng, các hành vi đạo đức của chúng ta sẽ là hoa trái dễ chịu của Chúa Cha. Thật quí trọng biết bao khi luôn được sống trong ân sủng của Thiên Chúa! “Ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như ngành nho, và sẽ khô héo, người ta sẽ thu lại, quăng vào lửa cho nó cháy đi” (Ga 15, 6).
Để sinh nhiều hoa trái, chúng ta được mời gọi ở lại trong Chúa Giêsu, như cành nho gắn liền với thân nho. Chúa Giêsu ở lại trong chúng ta, và chúng ta được mời gọi ở lại trong Ngài. Và như chúng ta đều biết, “ở lại trong nhau” là ngôn ngữ của tình yêu. Thực vậy, Chúa Giêsu sẽ nói tới tình yêu trong phần tiếp theo: “Chúa Cha yêu mến thầy thế nào, thầy cũng yêu mến anh em như vậy”. Lời mời gọi ở lại, được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại từ đầu đến cuối, qua hình ảnh thân nho, cành nho và trái nho, và theo những cách thức khác nhau.
Và để sinh nhiều hoa trái, chúng ta phải trở nên môn đệ của Chúa Giêsu; để trở nên môn đệ, chúng ta phải ở lại trong Ngài; và để ở lại trong Ngài, chúng ta phải đón nhận Lời của Ngài như là nhựa sống, như là lương thực nuôi sống chúng ta. Trong những lời này, Đức Giê-su còn mời gọi chúng ta xin. Nhưng chúng ta xin gì, nếu không phải là xin trở thành người môn đệ sinh nhiều hoa trái cho Vinh Danh Thiên Chúa Cha.
