2020
Đức Maria – Mẹ Giáo hội
Đức Maria – Mẹ Giáo hội
Vào ngày 11 tháng 2 năm 2018, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã quyết định thêm vào lịch chung Rôma một lễ mới về Đức Mẹ, lễ Đức Maria – Mẹ Giáo hội. Trước đây lễ này đã được cử hành ở cấp độ địa phương tại một số giáo phận và dòng tu. Bây giờ lễ này được cử hành trong toàn thể Giáo hội hoàn vũ, và được ghi trong Nghi thức Sách Lễ Rôma. Lễ mới này không có ngày cố định trong năm Dương lịch, vì nó phụ thuộc vào chu kỳ lễ Phục sinh. Lễ được cử hành vào ngày thứ Hai sau Chúa Nhật lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Người ta có thể tự hỏi danh hiệu mới này của Đức Maria có nghĩa gì? Và tại sao chúng ta mừng lễ này? Như câu thành ngữ cổ: “de Maria numquam satis” (về Đức Maria, thì nói không bao giờ đủ). Lý do theo nhà Thánh Mẫu học, Linh mục Hugh Rahner, SJ, giải thích là vì “bất cứ điều gì được nói về sự khôn ngoan vĩnh cửu của Thiên Chúa, đều có thể được áp dụng theo nghĩa rộng đối với Giáo hội, theo nghĩa hẹp hơn đối với Đức Maria, và theo một cách cụ thể đối với mọi tâm hồn tín hữu.”
Có nhiều ý nghĩa thần học từ việc thiết lập lễ nhớ này. Những ý nghĩa đó bắt nguồn từ việc nhận biết Giáo hội là Thân thể của Chúa Kitô và vai trò của Đức Maria trong đời sống các tín hữu.
Vai trò của Đức Maria
Đức Thánh Cha Phaolô VI đã chính thức dành cho Đức Maria danh hiệu “Mẹ Giáo hội” khi bế mạc kỳ họp thứ III của Công Đồng Vatican II, vào năm 1964. Truy nguyên về nguồn gốc từ thế kỷ thứ IV với Thánh Ambrôsiô, thì tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” gợi lên mẫu tính thiêng liêng của Đức Mẹ, một đặc tính gắn liền với bản tính của Giáo hội.
Phần lớn quan điểm Giáo hội học của Công Đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến chế về Giáo hội (Lumen Gentium), được phát triển nhờ sự nhận biết cách phong phú về quan điểm thần học của Thánh Phaolô. Trong đó, các tín hữu nhận biết sự liên kết giữa họ với Đức Kitô như là chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Ngài. Thánh Phaolô đã nói rõ ràng và hùng hồn về chân lý này, và đây cũng là chân lý mà Thánh Phaolô nhận biết trước tiên sau khi trở lại. Khi bị ngã xuống đất và bị mù lòa, Phaolô – Kẻ bắt bớ Kitô giáo lúc đó – nghe thấy một giọng nói hỏi mình: “Saul, Saul, tại sao ngươi lại bắt bớ Ta? (Cv 9: 4). Qua câu nói này, rõ ràng Đức Kitô đã xác định mối hiệp nhất nên một giữa Ngài với những người theo Ngài. Cả hai cùng tạo thành một khối, một thể thống nhất – đó là những gì mà Thánh Augustinô sau này mô tả là “Chúa Kitô toàn thể” (totus Christus) – vì Đức Kitô và người được rửa tội là một thân thể.
Thánh Augustinô đã áp dụng chân lý này vào bối cảnh Thánh Mẫu học một cách rất thích hợp: Đức Maria là “mẹ của những chi thể thuộc về Đức Kitô… những ai tin vào Ðức Kitô, vì được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, thì cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Giáo hội, có Đức Kitô là đầu… Đức Maria đã sinh ra Người Con Một, và Giáo hội sinh ra những người mà nhờ Người Con Một mà nên một”.
Vì Đức Maria là mẹ của Đức Kitô, và chúng ta là chi thể của thân thể Đức Kitô – tức Giáo hội – nên chúng ta cũng là con của Đức Maria. Lễ nhớ mừng mẫu tính của Đức Maria đối với Giáo hội được cử hành hàng năm là dịp để suy ngẫm về chân lý rất ý nghĩa này và những hệ lụy từ đó. Và cũng vì tầm quan trọng của mối liên hệ mẫu tính của Đức Maria đối với Giáo hội mà những nghị phụ của Công Đồng Vatican II đã quyết định để phần suy tư dài về Đức Maria ở trong Hiến chế về Giáo hội (Lumen Gentium), chớ không tách ra để viết thành một tài liệu riêng về Đức Mẹ.
Mẫu gương và sự trợ giúp cho Giáo hội
Sự liên kết của Đức Maria với Con mình là không thể tách rời. Lễ nhớ mới này cũng thúc đẩy lòng sùng kính Đức Mẹ, bởi vì lễ này giúp chúng ta hướng về Đức Mẹ là mẫu gương cho cả nhân loại, đặc biệt là các tín hữu. Mẹ là chi thể “ưu tú nhất… và nguyên tuyền nhất của Giáo hội” (LG, số 53).
Thiên chức làm mẹ của Đức Maria được tìm thấy trong sự vâng lời, đức tin, đức cậy và đức ái của Mẹ. Những đặc điểm này là mảnh đất màu mỡ, ở đó Lời Chúa được gieo vào và trổ sinh sự sống dồi dào. Sự sống siêu nhiên đã đến với thế giới qua tiếng thưa “xin vâng” của Mẹ. Đó là tiếng thưa đem lại sự sống mới cho thế giới. Do đó, Đức Maria là Evà mới. Như sự chết đã đến thế giới qua Evà củ thế nào, thì sự sống đã đến thế giới qua Evà mới như vậy.
Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng, “với mẫu tính trong Chúa Thánh Thần, Đức Maria ôm lấy từng người trong Giáo hội, và ôm lấy từng người qua Giáo hội. Theo nghĩa này, Đức Maria – Mẹ Giáo hội cũng là gương mẫu của Giáo hội” (Redemptoris Mater, số 47).
“Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn.” (LG, số 61). Vì toàn bộ cuộc đời của Đức Maria là một niềm ước mong của các tín hữu, nên Đức Mẹ lôi cuốn chúng ta đến với ơn cứu rỗi. Đồng thời, qua tấm gương và sự chuyển cầu từ thiên đàng, Đức Mẹ giúp chúng ta vượt qua tội lỗi và biết làm điều tốt. Mẹ không mong muốn gì khác hơn, ngoài ước mong dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ.
Sự mẫu mực trong đức vâng phục, đức tin, đức cậy và đức ái được tỏ bày nơi Đức Maria cũng cần được tỏ bày nơi các Kitô hữu. Hay nói một cách đơn giản như Chúa Giêsu: “Đúng hơn phải nói: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc 11:28).
Nhờ sự vâng lời của Đức Maria, Giáo hội có một gương mẫu để sống theo ý muốn của Chúa Cha. Nhờ đức tin của Mẹ, Giáo hội học được cách đưa Đức Kitô đến với thế giới. Nhờ đức cậy của Mẹ, Giáo hội học được cách trông cậy vào Chúa (xem Tv 130: 5). Và nhờ đức ái của Mẹ, Giáo hội học được con đường cứu rỗi.
Các Kitô hữu đã hướng về Đức Maria vì những ân sủng đặc biệt và sự chuyển cầu từ thiên đàng của Mẹ trong suốt nhiều thế kỷ, “đã được Giáo hội kêu cầu với nhiều danh hiệu như Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Ðấng Phù Hộ và Ðấng Trung Gian” (LG, số 62). Việc thiết lập lễ Đức Maria – Mẹ Giáo hội mang đến một cơ hội nữa cho các chi thể trong thân thể Con của Mẹ, hân hoan kêu cầu trong tình yêu mẹ hiền của Mẹ – Đấng là gương mẫu và sự trợ giúp của chúng ta. Michael R. Heinlein
Văn Việt chuyễn ngữ từ simplycatholic.com
2020
Của Xêda
2.6.2020 Thứ Ba
Mc 12, 13-17
CỦA XÊ DA
Sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu thế tục hóa ngày hôm nay rất dễ dẫn chúng ta đến một lối hiểu chưa đúng về Lời Chúa. “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Người ta có thể nghĩ Chúa Giêsu đang phân ranh giới rạch ròi giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa nhà thờ và xã hội, giữa đời sống tâm linh và cuộc mưu sinh giữa đời; bên này không phạm đến bên kia. Thưa, hoàn toàn không phải thế !
Chúa Giêsu vẫn tỏ ra hết sức chân thật; Ngài còn nhân cơ hội này để đưa ra một bài học: Ngài bảo họ cho xem đồng tiền và sau khi được biết hình và dấu trên đồng tiền là của Xêda, Ngài nói tiếp: “Của Xêda, trả về Xêda, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.” Nói khác đi, một khi đã hưởng nhờ ơn lộc của ai, thì phải đền ơn đúng nghĩa, họ đã nhờ bổng lộc của Xêda, thì có bổn phận đền đáp cho Xêda, nhưng Chúa cũng nhắc thêm bổn phận của con người đối với Thiên Chúa; con người đã nhận lãnh nhiều ơn huệ của Thiên Chúa, nên cũng phải đền đáp ơn Ngài.
Chúa Giêsu nhìn nhận vai trò đúng đắn của quyền bính trần thế không phải là quyền bính duy nhất trên con người, mà còn có quyền bính của Thiên Chúa nữa. Có những điều con người phải trả cho Thiên Chúa, vì con người đã được tạo dựng theo và giống hình ảnh Ngài; con người mắc nợ Thiên Chúa sự sống, nên con người buộc phải dâng hiến mạng sống cho Ngài và để Ngài chiếm chỗ ưu tiên trong cuộc sống của mình.
Trong truyền thống Do Thái, Thiên Chúa là Đấng chủ tể siêu việt trên tất cả: toàn thể vũ trụ càn khôn và con người mọi nơi mọi thời, dù có là Xê-da đại đế chăng nữa, hết thảy đều phục quyền Người. “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” (Mc 12, 29-30). Chính Thiên Chúa, Đấng là nguồn chân-thiện-mỹ, phải hiện diện trong mọi suy nghĩ, mọi tình cảm ước muốn cũng như trong từng hành vi cử chỉ của chúng ta. Nếu đồng tiền in hình Xê-da nhắc ta nhớ đến trách nhiệm và quyền lợi công dân, thì hình ảnh Thiên Chúa ta mang nơi mình vẫn hằng mời gọi ta đến với Chúa bằng trọn vẹn thể xác tâm tư, để Người trao ban cho ta sự sống và hạnh phúc viên mãn.
“Của Xê-da trả cho Xê-da”. Xê-da – Hoàng đế La-mã – vị vua ‘bách chiến bách thắng’ ở đây có thể nói là biểu tượng cho sức mạnh, sự giàu sang, và quyền uy phù phiếm của trần tục. Xê-da đã qua đi cũng đồng nghĩa với việc mọi sức mạnh, vinh quang, giàu sang phú quí vật chất rồi cũng sẽ qua đi, bởi vì ‘phù vân nối tiếp phù vân, trần gian hết thảy chỉ là phù vân’ (x. Gv…).
Tuy nhiên, Chúa cho phép tất cả những phù vân đó được có giá trị và tồn tại khi nó qui về Thiên Chúa trong đức ái. Khi Đức Giê-su nói “của Xê-da trả về cho Xê-da” thì mặc nhiên Ngài đã xác định thế quyền và những cơ cấu tổ chức xã hội có vị trí của nó trong sinh hoạt đời sống con người, và con người sống trong tổ chức xã hội nào thì có quyền lợi và bổn phận đối với xã hội mình đang sống, miễn là nó không đi ngược với đường lối của Thiên Chúa.
Do đó, mọi nghĩa vụ và quyền lợi mà các cơ chế tổ chức, xã hội, con người đặt ra đều tốt đẹp, có ý nghĩa khi nó nhằm phát triển xã hội, xây dựng con người và làm cho thế giới tốt đẹp. Vì vậy mà đối với Giáo hội, mọi hình thức trốn thuế hay thâm lạm của công… đều lỗi đức công bằng và là hành vi tội lỗi. Bởi vì con người đã hưởng quyền lợi từ các cơ chế tổ chức thì cũng có bổn phận và nghĩa vụ phải đóng góp, xây dựng nó là lẽ đương nhiên của cuộc sống.
“Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”. Như đã nói: Có gì dưới gầm trời này mà không thuộc về Thiên Chúa. Vì thế cuộc đời con người là một cuộc hành trình tìm kiếm và đi về với Thiên Chúa. Con người với linh hồn, thể chất, tài năng, sức khỏe, và những điều kiện vật chất như tiền bạc, của cải, những ân huệ thiêng liêng của linh hồn, những ân huệ tự nhiên phong phú của vũ trụ, môi trường sống… tất cả là để phục vụ hạnh phúc con người, và con người có bổn phận phục vụ và tôn vinh Thiên Chúa để đáp lại muôn ngàn hồng ân Chúa đã thương ban bằng cả cuộc sống mình. Vì vậy, con người không nên, không được phép chạy theo, tôn thờ sức mạnh, quyền lực, của cải và coi nó là mục đích cuộc đời mình, hay phục vụ cơ chế chỉ vì cơ chế, nhưng biết dùng nó như phương tiện để thực hiện ý muốn của Thiên Chúa.
“Của Xê-da trả cho Xê-da, của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”, khi nói điều này, Chúa Giêsu còn có ý minh định con người đừng đem chính trị xen vào tôn giáo, cũng đừng hạ tôn giáo xuống thành những tổ chức chính trị trần tục; Nhưng như tâm linh hướng dẫn hành vi con người, tinh thần đạo đức tôn giáo do ánh sáng của Lời Thiên Chúa sẽ giúp con người có những hành động đúng khi thi hành chính trị.
Ngoài ra giáo huấn “của Xê-da trả cho Xê-da; của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa” cũng dạy chúng ta biết thực hiện đức công bằng trong cuộc sống; không xâm phạm quyền lợi cũng như của cải của tha nhân; đồng thời biết sống yêu thương và tôn trọng những giá trị của nhau, biết trau dồi và phát huy khả năng riêng của mình. Vì Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Người – mỗi người có một giá trị riêng biệt; nhưng như Ba Ngôi là một, Thiên Chúa sáng tạo chúng ta khác nhau, là để chúng ta cần đến nhau, bổ túc cho nhau, tạo nên sự hiệp nhất và cùng nhau xây dựng cuộc sống phong phú và hạnh phúc.
Chúa Giêsu đã dùng dòng chữ này cùng với hình của hoàng đế trên đồng tiền để thoát khỏi thế lưỡng nan mà phe Hêrôđê và nhóm Pharisêu đặt ra: Có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?
Nếu trả lời “có”, Người đã đụng chạm đến lòng ái quốc của người Do Thái. Nếu trả lời “không”, Người sẽ gặp khó khăn đối với người Rome. Đức Giêsu đã không trả lời câu hỏi này để khỏi rơi vào cái bẫy của họ. Người còn mở ra một vấn đề khác quan trọng hơn: “Của Xêda, trả về Xêda; Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.
Đồng tiền mang hình ảnh của hoàng đế thì trả về cho hoàng đế. Còn chúng ta mang hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta thuộc về Người, nên chúng ta phải dâng hiến cả con người mình cho Thiên Chúa.
Nhìn lại bản thân, biết bao lần ta thậm chí còn hạ Thiên Chúa xuống hàng tùy phụ trong bậc thang giá trị của đời mình. Ta sẵn sàng làm mọi sự để giành cho được chút ít danh vọng, quyền lực hão huyền mà bất tuân lề luật Thiên Chúa. Ta lao tâm khổ trí tìm kiếm mọi cơ hội để làm giàu nhưng hiếm khi nào lo nghĩ phải sống sao cho thánh thiện đạo đức. Ta có thể vui thâu đêm suốt sáng với bạn bè nhưng lại không sắp xếp nổi thời gian cho giờ kinh tối gia đình. Ngày hôm nay, Lời Chúa mời gọi ta trả lại cho Thiên Chúa những gì xứng đáng thuộc về Người, trả lại cho Người vị trí ưu tiên tuyệt đối trong cuộc đời ta.
2020
Thứ Ba Tuần IX – Mùa Thường Niên
Thứ Ba Tuần IX – Mùa Thường Niên
Ca nhập lễ
Tv 24,16.18
Lạy Chúa, xin đoái nhìn và xót thương con,
vì thân này cô đơn, nghèo khổ.
Xin thấy cho cảnh lầm than khổ cực
và tha thứ hết mọi tội con.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa quan phòng mọi sự và an bài thật khôn ngoan, tất cả đều xảy ra như Chúa muốn; xin đẩy xa những gì nguy hại và rộng ban muôn điều lợi ích cho chúng con. Chúng con cầu xin …
Bài đọc 1
2 Pr 3,12-15a.17-18
Chúng ta mong đợi trời mới, đất mới.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phê-rô tông đồ.
12 Anh em thân mến, anh em mong đợi ngày của Thiên Chúa và làm cho ngày đó mau đến, ngày mà các tầng trời sẽ bị thiêu huỷ và ngũ hành sẽ chảy tan ra trong lửa hồng. 13 Nhưng, theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị.
14 Vì thế, anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an. 15a Anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được cứu độ.
17 Vậy, anh em thân mến, biết trước như thế, anh em hãy coi chừng kẻo bị những kẻ phạm pháp và lầm lạc lôi cuốn, mà không còn đứng vững nữa chăng. 18 Nhưng anh em hãy lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Đức Giê-su Ki-tô là Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta. Xin kính dâng Người vinh quang, bây giờ và cho đến muôn đời. A-men.
Đáp ca
Tv 89,2.3-4.10.14 và 16 (Đ. c.1)
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
2Ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên,
địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành,
Ngài vẫn là Thiên Chúa,
từ muôn thuở cho đến muôn đời.
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
3Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,
Ngài phán bảo : “Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi !”4Ngàn năm Chúa kể là gì,
tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
khác nào một trống canh thôi !
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
10Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,
mạnh giỏi chăng là được tám mươi,
mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
14Từ buổi mai, xin cho đoàn con được no say tình Chúa,
để ngày ngày được hớn hở vui ca.16Ước gì chúng con là tôi tớ Chúa
được thấy công trình Ngài thực hiện,
và con cháu chúng con được thấy vinh hiển Ngài.
Đ.Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ,
Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn.
Tung hô Tin Mừng
- Ep 1,17-18
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Mc 12,13-17
Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
13 Khi ấy, người ta cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Đức Giê-su để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. 14 Những người này đến và nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp ?” 15 Biết họ giả hình, Đức Giê-su nói : “Tại sao các người lại thử tôi ? Đem một đồng bạc cho tôi xem !” 16 Họ liền đưa cho Người. Người hỏi : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” 17 Đức Giê-su bảo họ : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, tin tưởng vào lòng Chúa từ bi nhân hậu, chúng con cùng đến đây thành kính dâng của lễ lên bàn thờ, và tha thiết nguyện cầu Chúa ban ơn cho chúng con được thanh tẩy nhờ thánh lễ chúng con cử hành. Chúng con cầu xin …
Kinh Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì chính Người, khi sinh ra đã đổi mới con người cũ, khi chịu khổ hình, đã tẩy xoá tội lỗi chúng con, khi từ cõi chết sống lại, đã khai lối vào chốn trường sinh, và khi lên cùng Chúa là Cha, Người đã mở cửa Nước Trời.
Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các thánh, chúng con hát bài ca chúc tụng Chúa và không ngừng tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Tv 16,6
Con kêu lên Ngài, lạy Thiên Chúa,
vì Ngài đáp lời con.
Xin lắng tai và nghe tiếng con cầu.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho chúng con dự tiệc Thánh Thể; xin ban Thánh Thần xuống hướng dẫn chúng con, để chúng con biết làm chứng cho Chúa bằng lời nói cũng như việc làm hầu đáng được hưởng vinh quang thiên quốc. Chúng con cầu xin …
2020
Đừng sát nhân nữa
1.6.2020 Thứ Hai
Mc 12, 1-12
ĐỪNG SÁT NHÂN NỮA
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn “những người làm vườn nho sát nhân” để nói lên thực trạng thái độ của con người xưa và nay đối với lời mời gọi nên công chính của Thiên Chúa. Bằng cách dùng hình ảnh những tá điền sát nhân, Chúa Giêsu cho thấy thái độ phản nghịch và ngoan cố của các thượng tế, kinh sư và kỳ mục Do Thái trước lời kêu gọi hoán cải và tin vào Tin Mừng của Thiên Chúa, đã được loan báo qua các ngôn sứ và Người Con. Bằng cách nói: “người con yêu dấu: người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ”, Chúa Giêsu ám chỉ chính Ngài là Con Thiên Chúa, Người được Thiên Chúa sai xuống thế làm người, để công bố Tin Mừng Nước Trời và để cứu độ nhân loại qua cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài.
Những chi tiết trong dụ ngôn vườn nho gợi lên những giai đoạn của lịch sử cứu độ Thiên Chúa thực hiện cho nhân loại. Cái chết của người con của ông chủ vườn nho thoạt xem ra là kết quả của lòng thù ghét của con người đối với Thiên Chúa. Như những tá điền muốn giết người con được sai đến để cướp vườn nho khỏi tay ông chủ, những kẻ thù nghịch Thiên Chúa cũng muốn loại bỏ Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa, để tự do làm chủ vận mệnh nhân loại. Qua hình ảnh tảng đá xây đã trở nên đá tảng góc tường, Chúa Giêsu mở ra chìa khóa để con người có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa liên hệ đến việc cứu chuộc của Ngài.
Chúa Giêsu Phục Sinh sau biến cố Vượt Qua của Ngài đã trở thành nền tảng cho vườn nho mới là Giáo Hội. Giáo Hội và mỗi thành phần Giáo Hội đều thuộc về Chúa Kitô. Mỗi người phải xây dựng và phát triển đời sống mình trên nền tảng duy nhất là Chúa Kitô. “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”, đó là bí quyết của mỗi môn đệ Chúa Kitô ở mọi thời và mọi hoàn cảnh, đó là bí quyết duy nhất để Chúa Kitô trở thành đá tảng nâng đỡ đời sống người Kitô hữu.
Mở đầu chương 12, tác giả cho thấy Chúa Giêsu miêu tả về một người chủ vườn nho. Ông ta có vẻ quí mến và quan tâm khá nhiều đến vườn nho của ông. “Ông rào giậu, đào bồn đạp nho và xây tháp canh…. rồi cho tá điền canh tác….” (c. 1). Trước khi đi xa, ông chủ đã bố trí, sắp dặt mọi công việc đến nỗi ông tin tưởng giao vườn nho cho các tá điền trong thời gian ông vắng mặt. Vì công việc bận rôn nơi phương xa, và không thể về để thu hoạch hoa lợi,nên ông phái đầy tớ của ông đến, thay mặt ông thu góp mùa màng (c. 2).
Ở đây chúng ta thấy rõ 2 thái cực đối lập. Ông chủ đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ và các tá điền chỉ việc chăm sóc, thu hoạch không vất vả. Giậu đã rào. Bồn đã xây và có cả tháp canh để trông chừng kẻ cướp. Các tá điền chỉ việc tưới bón, cắt tỉa… đến mùa hái nho cho vào bồn đạp nho.
Vậy mà các tá điền không thu hoa lợi cho chủ. Họ muốn chiếm đoạt cho họ phần hoa lơị này và cả vườn nho nữa. Họ đánh đập những đầy tớ đến thu hoa lợi, đuổi họ ra về tay không. Ông chủ không nản lòng. Ông vẫn tin tưởng họ nên sai đầy tớ khác đến, vì cho rằng : có lẽ đầy tớ trước không biết cách thu hoa lợi chăng ? Càng ngày ông càng sai nhiều nhóm đầy tớ khác nhau đến, nhưng kết quả “ tay trắng vẫn hoàn trắng tay”.
Hơn nữa họ còn bị đánh đập, bị hạ nhục và bị giết chết (c. 3-5). đến nỗi ông không còn đầy tớ để sai đi nữa ( có lẽ một phần bị giết hại, một phần vì quá sợ… nên không ai dám làm việc cho chủ nữa). Cuối cùng, ông chỉ còn một người nữa oà người con yêu dấu. Ông quyết định cử cậu con trai yêu quí của mình đến gặp họ để giải quyết vấn đề vì nghĩ rằng : Ít ra chúng sẽ tôn trọng con trai ta (c. 6)
Công trình của Thiên Chúa khác hẳn với dự tính của chúng ta. Thiên Chúa đã dùng chính tảng đá mà thợ xây loại bỏ. Tảng đá đó là Đức Giêsu. Ngài là Con Một yêu dấu của Chúa Cha đã bị các thượng tế, kinh sư loại bỏ và giết chết. Tảng đá này Thiên Chúa đã xử dụng làm tảng đá góc, nối kết các dân ngoại tôn thờ Thiên Chúa với dân Do Thái (người tin vào Chúa Giêsu). Nhờ Chúa Giêsu mà hai bức tường này đựơc liên kết dính liền với nhau, do đó bảo đảm sự vững chắc của chúng.
Sau một chuỗi giải thích và phân tích dụ ngôn, các thầy thượng tế, kinh sư chợt hiểu ra một điều là: Chúa Giêsu đang có ý nhằm nói đến họ. Và họ tìm cách bắt Chúa Giêsu vì sự xỉ nhục này, nhưng họ sợ đám đông, vì dân chúng đang say mê lắng nghe giáo thuyết của Ngài : một vị giảng sư có uy quyền trong lời nói và việc làm chứ không như các kinh sư của họ. Họ không bắt được Chúa Giêsu vì có lẽ chưa đến giờ của Ngài. Thế là họ đành bỏ Ngài mà đi. Họ bỏ đi để chờ dịp thuận tiện.
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu lên án nhiều người Do Thái xưa và nhiều người thời nay luôn cứng lòng tin, luôn tìm cách loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, và lôi kéo người khác làm theo, nhưng Thiên Chúa thì vẫn luôn yêu thương và nhẫn nại với họ. Thiên Chúa còn khẳng định rằng họ vẫn luôn cần đến Ngài qua con người và sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Chúa Giêsu xác nhận điều ấy bằng lời: “Các ông chưa đọc câu Kinh Thánh này sao: Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta!”(Mc 12, 10-11). Dù con người có tin hay không, chấp nhận hay chối bỏ, thì sự thật vẫn là Chúa Giêsu đã cứu chuộc nhân loại, và nhờ Ngài mà hết thảy những ai tin vào Kinh Thánh và sống như thế, sẽ được sống lại và sống đời đời.
Từ dụ ngôn ấy, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra khuôn mặt của mình ẩn núp đâu đó trong hình ảnh những tá điền sát nhân. Đó là khi chúng ta nghi ngờ sự hiện hữu hoặc tình yêu của Thiên Chúa. Đó là khi chúng ta chạy theo tiền bạc, của cải, những vui thú trần thế mà bỏ lơ lời mời gọi sống theo giới luật mến Chúa yêu người. Đó là khi chúng ta rơi vào não trạng duy lý, duy khoa học và duy thế tục, mà thực hành lối sống như thể đã chối bỏ đức tin của mình.
Nhưng dù vậy, Thiên Chúa vẫn ở đó, bên cạnh chúng ta, và luôn kiên nhẫn, chờ đợi chúng ta quay về. Ngài mãi yêu thương, tỏ mình cho chúng ta qua Hội Thánh hữu hình của Ngài, và qua chính những người sống quanh ta. Chúng ta được mời gọi để điều chỉnh lại lối sống của mình, cũng là để tái khám phá khuôn mặt nhân từ của Ngài vốn hằng hiện diện trong cuộc đời ta. Ngài muốn ta sống gắn bó với Ngài ngay giữa những thực tại trần thế này.
Qua và với dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn ám chỉ các thủ lãnh tôn giáo Do thái đã khai thác vườn nho, đó là Dân Chúa, nhưng họ đã dùng hoa quả thiêng liêng để trục lợi vật chất. Mỗi lần Chúa gửi các sứ giả tới, để kéo dân chúng quy về với ơn gọi chân chính của mình, thì họ đã giết các sứ giả đó và giết luôn Con Một Thiên Chúa. Họ phải chuốc lấy thảm bại và hình phạt. Con Thiên Chúa sẽ trở nên viên đá góc một ngôi nhà mới là Hội Thánh. Dân Thiên Chúa, vườn nho của Chúa, sẽ được giao cho các thủ lãnh khác trong thời Tân ước. Cũng vậy, Thiên Chúa tôn trọng và tín nhiệm mỗi người chúng ta khi trao cho mỗi người trách nhiệm phù hợp với khả năng của mình: bậc sống, địa vị, tài năng, phương tiện sống…
