2022
Thứ năm sau Chúa Nhật IV Phục Sinh
Thứ năm sau Chúa Nhật IV Phục Sinh
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, khi Chúa đứng đầu dân tộc tiến ra, Chúa lên đường với họ, và ở trong họ, thì đất rung động và trời vỡ lở – Alleluia.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã tỏ lòng từ bi nhân hậu mà cứu chuộc con người và nâng lên địa vị cao sang hơn tình trạng nguyên thủy; xin nhớ lại công trình kỳ diệu này và giúp chúng con trung thành luôn mãi với ơn tái sinh Chúa đã ban. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Cv 13, 13-25
“Bởi dòng dõi Ðavít, Thiên Chúa đã ban Ðức Giêsu làm Ðấng Cứu Ðộ”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Rời Paphô, Phaolô và các bạn vượt biển đến Perghê xứ Pamphy-lia; còn Gioan từ biệt các ngài, và trở về Giêrusalem. Hai ngài sang qua Perghê và đến Antiôkia xứ Pisiđia; ngày Sabbat, các ngài vào ngồi trong hội đường. Sau khi đọc sách luật và các tiên tri, những thủ lãnh nhà hội đường sai người đến nói với các ngài rằng: “Hỡi anh em, nếu ai trong anh em có lời khuyên bảo dân chúng, xin hãy nói”.
Phaolô đứng lên, giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng và nói: “Hỡi người Israel và những kẻ kính sợ Thiên Chúa, hãy nghe đây. Thiên Chúa dân Israel đã chọn Tổ phụ chúng ta, Người đã thăng tiến dân Người khi họ còn cư ngụ trong nước Ai-cập và Người ra tay mạnh mẽ đưa cha ông chúng ta ra khỏi nước ấy. Trong thời gian bốn mươi năm, Người chịu đựng thói xấu họ trong hoang địa; và sau khi đã tiêu diệt bảy dân tộc trong đất Canaan, Người đã cho họ chiếm đất của các dân tộc ấy gần bốn trăm năm mươi năm; và sau đó, Người ban cho họ các thẩm phán cho đến tiên tri Samuel. Kế đó, họ xin một nhà vua và Thiên Chúa cho Saolê, con ông Cis, thuộc chi họ Bengiamin, cai trị họ bốn mươi năm. Sau khi loại bỏ Saolê, Chúa đã đặt Ðavít lên làm vua dân Người, để chứng nhận điều đó, chính Người đã phán: “Ta đã gặp được Ðavít con của Giêsê, người vừa ý Ta, người sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta”.
“Bởi dòng dõi Ðavít, theo lời hứa, Thiên Chúa ban cho Israel Ðức Giêsu làm Ðấng Cứu Ðộ, Ðấng mà Gioan đã báo trước khi người đến rao giảng phép rửa thống hối cho toàn dân Israel. Khi Gioan hoàn tất hành trình, ngài tuyên bố: “Tôi không phải là người mà anh em lầm tưởng; nhưng đây, Người sẽ đến sau tôi mà tôi không đáng cởi dây giày dưới chân Người”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 88, 2-3. 21- 22. 25 và 27
Ðáp: Lạy Chúa, con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời; qua mọi thế hệ, miệng con loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: “Tình thương của Ta đứng vững muôn đời”, trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín.
Xướng: Ta đã gặp Ðavít là tôi tớ của Ta. Ta đã xức dầu thánh của Ta cho người, để tay Ta bang trợ người luôn mãi, và cánh tay Ta củng cố thân danh người. .
Xướng: Thành tín và ân sủng của Ta hằng ở với người, và nhân danh Ta, sức mạnh người tăng thêm mãi. Chính người sẽ thưa cùng Ta: “Chúa là Cha con, là Thiên Chúa và Tảng Ðá cứu độ của con”.
Alleluia: Mt 28, 19 và 20
Alleluia, alleluia! – Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 13, 16-20
“Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Sau khi đã rửa chân các môn đệ, Chúa Giêsu phán với các ông: “Thật, Thầy bảo thật các con: Tôi tớ không trọng hơn chủ, kẻ được sai không trọng hơn đấng đã sai mình. Nếu các con biết điều đó mà thực hành thì có phúc. Thầy không nói về tất cả các con, vì Thầy biết những kẻ Thầy đã chọn, nhưng lời Thánh Kinh sau đây phải được ứng nghiệm: Chính kẻ ăn bánh của Ta sẽ giơ gót lên đạp Ta. Thầy nói điều đó với các con ngay từ bây giờ, trước khi sự việc xảy đến, để một khi xảy đến, các con tin rằng: Thầy là ai. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Ðấng đã sai Thầy”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui nhận bao ý nguyện cầu, cùng với những lễ vật chúng con dâng làm hy lễ. Chúa đã thương thanh tẩy chúng con, xin cũng ban ơn phù trợ giúp chúng con ăn ở thế nào cho xứng với mầu nhiệm tình yêu của Chúa. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng Phục Sinh
Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong mùa cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Người không ngừng hiến thân vì chúng con, và luôn làm trạng sư bênh vực chúng con trước toà Chúa. Người đã bị sát tế mà không còn chết nữa, dù đã bị giết mà vẫn sống luôn mãi.
Vì thế với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Này đây Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế – Alleluia.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, nhờ mầu nhiệm Ðức Kitô sống lại, Chúa đã thương đổi mới chúng con cho đáng hưởng sự sống đời đời. Xin làm cho mầu nhiệm ấy sinh hoa kết quả tốt đẹp trong tâm hồn chúng con, và làm cho thần lương chúng con vừa lãnh nhận trở nên nguồn sinh lực dồi dào. Chúng con cầu xin…
2022
Tin Con Là Tin Cha
11/5 Thứ Tư trong tuần thứ Tư Mùa Phục Sinh
Cv 12:2413; Tv 67:2-3,5,6,8; Ga 12:44-50
Tin Con Là Tin Cha
Tin mừng theo thánh Gio-an được viết ra sau một thời gian dài cầu nguyện đến lúc chín mùi. Trước khi cho chúng ta những lời chứng, thánh nhân đã dầy kinh nghiệm sống với sức sống của Thiên Chúa, Cha, Con và Thánh Thần. Tin mừng này bày tỏ về Thiên Chúa Ba ngôi, qua con tim của một người, một người xác tín, một người tông đồ yêu dấu.
Chúa Giêsu tự định nghĩa mình là người được sai đi của Cha. Thánh Gio-an không giới thiệu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng là Con Cha. Hầu như bất cứ điều quan trọng nào đều chỉ về Cha và không chỉ về Con. Tất cả đều tương quan với Cha. Chúa Giêsu thực hiện sứ mệnh do Cha ban, Người làm cho họ nhận biết sứ điệp của Cha. Chúa Giêsu chính là sứ điệp của Cha.
Thái độ của Đức Kitô luôn luôn bày tỏ sự hoàn toàn tùy thuộc, hoàn toàn vâng lời lúc nào cũng sẵn sàng đối với Cha. Nếu Người cho lời Người là quan trọng vì đó là lời của Cha: “Chính lời Tôi nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết, thật vậy, không phải Tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai Tôi, truyền lệnh cho Tôi phải nói gì và tuyên bố gì”.
Tin Mừng hôm nay có thể tóm lược cách tổng quát về những lời rao giảng công khai của Chúa. Chúa Giêsu đã nhắc đến hai điểm chính yếu là: “Tin Ngài là tin Chúa Cha và thấy Ngài là thấy Chúa Cha”.
Tin Mừng trình bày cho chúng ta phần cuối của Sách các Dấu Lạ (từ chướng đến chương 12), trong đó Thánh Sử Phúc Âm đưa ra một sự quân bằng. Nhiều người tin vào Chúa Giêsu và đã có can đảm bày tỏ đức tin của họ cách công khai. Họ lo sợ bị trục xuất khỏi Hội Đường. Và nhiều kẻ không tin: “Dù Người đã làm ngần ấy dấu lạ trước mặt họ, thế mà họ vẫn không tin vào Người. Như vậy là ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia: “Lạy Đức Chúa, ai đã tin lời chúng tôi rao giảng? Và quyền lực của Đức Chúa đã được tỏ cho ai?” (Ga 12-37-38).
Tin Chúa thì sẽ mang lại ánh sáng cho cuộc đời, vì đức tin là ánh sáng, không tin thì sống trong tối tăm. Từ chối không tin Con Người thì tự kết án mình, mặc dù Chúa Giêsu không đến để kết án mà để cứu rỗi. Không ai có thể thoát ra khỏi sự xét xử cuối cùng này, và sự xét xử ấy là bởi thái độ do con người tin nhận hay từ chối từ Thiên Chúa: “Ai nghe lời Ta mà không tin giữ thì không phải Ta kết án kẻ đó, nhưng chính Lời Ta sẽ xét xử nó” (Ga 12,47-48), không ai có thể thoát khỏi sự xét xử này, nhưng sự xét xử đó sẽ đến trong ngày sau hết.
Tin vào Chúa Giêsu là tin vào Đấng đã sai Người. Câu này là bản tóm tắt sách Tin Mừng của ông Gioan. Đó là chủ đề xuất hiện và tái xuất hiện theo nhiều cách. Chúa Giêsu hiệp nhất với Chúa Cha đến nỗi mà Người không nhân danh mình mà nói, mà luôn nhân danh Chúa Cha. Ai thấy Chúa Giêsu là thấy Chúa Cha. Nếu bạn muốn biết về Thiên Chúa, hãy nhìn vào Chúa Giêsu. Thiên Chúa là Chúa Giêsu!
Chúa Giêsu là sự sáng đã đến thế gian. Tại đây, ông Gioan trở lại với những gì ông đã nói trong Lời Tựa: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian, và chiếu soi mọi người” (Ga 1:9). “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5). Tại đây, ông lặp lại: “Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không còn ở trong sự tối tăm nữa.” Chúa Giêsu là câu trả lời sống động cho những khúc mắc lớn tác động và truyền cảm hứng cho việc tìm kiếm của nhân loại. Đó là ánh sáng chiếu rọi ở chân trời. Nó khiến cho người ta khám phá ra mặt chiếu sáng của bóng tối đức tin.
Ta đã đến không phải để xét xử thế gian. Về ngày sau hết, một câu hỏi được đặt ra: Việc luận phạt sẽ như thế nào? Trong hai câu này, Thánh Sử làm sáng tỏ chủ đề ngày phán xét. Việc luận phạt không được thực hiện theo như lời đe dọa, với sự nguyền rủa. Chúa Giêsu nói rằng: “Nếu ai nghe lời Ta nói mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: Lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết.” Việc luận phạt bao gồm cách mà người đó tự xác định mình trước lương tâm của chính mình.
Chúa Cha ra lệnh cho Ta phải nói gì. Những lời cuối cùng của Sách các Dấu Lạ là một bản tóm tắt tất cả những điều Chúa Giêsu đã nói và làm cho đến bây giờ. Người tái khẳng định những điều mà Người đã khẳng định ngay từ đầu: “Bởi vì Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Đấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì.
Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy.” Chúa Giêsu là sự phản chiếu trung thực của Chúa Cha. Vì lý do này, Người đã không trưng ra bằng chứng hay luận cứ cho những kẻ khiêu khích Người để hợp thức hóa sự khả tín của Người. Chính Chúa Cha là Đấng hợp thức hóa Người qua các công việc Người làm.
Và nói về việc làm, Người không nói đến những phép lạ to tát, mà tất cả những điều Người nói và làm, ngay cả những điều nhỏ nhặt nhất. Chính Chúa Giêsu là Dấu Lạ của Chúa Cha. Người là phép lạ biết đi, sự minh bạch hoàn toàn. Người không thuộc về mình, mà hoàn toàn thuộc về Chúa Cha. Sự khả tín của một Sứ Giả không đến từ người ấy, mà đến từ Đấng mà người ấy đại diện. Sự khả tín đến từ Chúa Cha.
Bước theo Đức Kitô, người kitô hữu chúng ta không những được mời gọi tiến vào miền ánh sáng, mà còn có bổn phận trở thành ánh sáng. Ngài không cần chúng ta phải chiếu ánh sáng quyền năng của Ngài bằng những việc phi thường, nhưng là sẵn sàng tiêu hao chính mình để ánh sáng Đức Kitô được chiếu tỏa, và nhờ đó chính chúng ta cũng được đổi mới và nhận được vinh quang Phục Sinh của Ngài.
Trong cuộc sống, Thiên Chúa luôn kêu mời con người trở về với Ngài sau những lần sa ngã hay lúc họ chối từ Ngài, thời giờ chúng ta đang sống là thời giờ của lòng nhân từ thương xót Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta đừng lạm dụng lòng nhân từ Chúa, đừng khinh dể bỏ qua ơn soi sáng của Ngài. Qua đoạn Phúc Âm trên, thánh sử cho thấy rõ ý Chúa muốn nói với mỗi người, đó là Ngài muốn chúng ta lắng nghe lời Ngài và sống kết hợp với Ngài “biết giới răn Cha Ta là sống đời đời” (Ga 12,50).
2022
Thứ tư sau Chúa Nhật IV Phục Sinh
Thứ tư sau Chúa Nhật IV Phục Sinh
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi sẽ ca tụng Chúa giữa muôn dân, và tôi sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em – Allêluia.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là nguồn sống của các tín hữu, là vinh dự của kẻ thấp hèn, là hạnh phúc của người công chính; này chúng con đang khao khát trông chờ những hồng ân Chúa hứa, xin nghe lời chúng con tha thiết nài van và ban cho được thoả lòng ước nguyện. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Cv 12, 24 – 13, 5a
“Hãy dành Saolô và Barnaba riêng cho Ta”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, lời Chúa được lan rộng và tiến triển. Nhưng Barnaba và Saolô, sau khi hoàn tất sứ mạng, đã rời Giêrusa-lem, đem theo Gioan cũng gọi là Marcô.
Bấy giờ trong Hội Thánh Antiôkia có những tiên tri và tiến sĩ, trong số đó có Barnaba, Simon cũng gọi là Nigê, Luxiô người thành Xyrênê, Manahê bạn của vua Hêrôđê lúc còn thơ ấu, và Saolô. Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông rằng: “Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định”. Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường.
Ðược Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8
Ðáp: Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Xin Thiên Chúa xót thương và chúc phúc lành cho chúng con, xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ.
Xướng: Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu.
Xướng: Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài. Xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài.
Alleluia
Alleluia, alleluia! – Chúa Kitô đã sống lại và chiếu soi chúng ta, là những kẻ Người đã cứu chuộc bằng máu của Người. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 12, 44-50
“Ta là sự sáng đã đến thế gian”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Ðấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Ðấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Bởi vì Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì. Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con tin Chúa sẽ thực hiện trong thánh lễ này một cuộc trao đổi thật kỳ diệu, là làm cho bánh và rượu chúng con dâng tiến trở nên Mình và Máu thánh Ðức Kitô, để chúng con được thông phần vào thiên tính của Chúa. Xin cho chúng con biết ăn ở thế nào cho phù hợp với chân lý chúng con tin nhận. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng Phục Sinh
Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong mùa cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Người không ngừng hiến thân vì chúng con, và luôn làm trạng sư bênh vực chúng con trước toà Chúa. Người đã bị sát tế mà không còn chết nữa, dù đã bị giết mà vẫn sống luôn mãi.
Vì thế với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Chúa phán:”Chính Thầy đã chọn các con từ trong thế gian, và đã cắt đặt để các con đi, và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại” – Alleluia.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin phù trợ chúng con là đoàn dân của Chúa. Chúa đã lấy bánh bởi trời mà nuôi dưỡng chúng con, xin cũng giúp chúng con từ bỏ nếp sống cũ và hân hoan bước vào đời sống mới nhờ kết hợp với Ðức Kitô phục sinh. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
2022
Mục tử
10/5 Thứ Ba trong tuần thứ Tư Mùa Phục Sinh
Cv 11:19-26; Tv 87:1-3,4-5,6-7; Ga 10:22-30
Mục tử
Nhân kỷ niệm cuộc tẩy uế Đền thờ Giêrusalem và khánh thành bàn thờ mới thời Giuđa Maccabê. Chúa Giêsu cũng có mặt. Trong khi Chúa Giêsu đi bách bộ tại hành lang Salômôn, người Do thái vây quanh và chất vấn Ngài về nguồn gốc của Ngài. Nhân đây, Ngài tuyên bố một chân lý quan trọng: “Tôi với Chúa Cha là một”, nghĩa là Ngài đồng bản tính với Chúa Cha.
Năm 165 TCN, một trong những nhà ái quốc nổi tiếng của Do thái là Giuđa Maccabê đã lãnh đạo cuộc nổi dậy của người Do thái chống lại ách thống trị của vua Syria là Antiôkô Epiphane. Chiến công vẻ vang nhất trong cuộc nổi dậy là tái lập và thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem vốn đã bị tục hóa bởi bàn tay thô bạo của ngoại xâm. Từ đó, hàng năm vào khoảng mùa đông, người Do thái tưởng niệm biến cố này trong vòng 8 ngày liền, tuần lễ này được gọi là Cung hiến Đền thờ.
Chúa Giêsu đã có mặt tại Giêrusalem nhân tuần lễ tưởng niệm này. Lễ Cung hiến Đền thờ vốn khơi dậy lòng ái quốc của dân chúng. Chính vì thế nhiều người đã vây quanh Chúa Giêsu và yêu cầu ngài tuyên bố dứt khoát Ngài có phải là Đấng Kitô, nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu và sai đến như vị cứu tinh của dân tộc không?
Đối với họ, Chúa Giêsu có thể là vị anh hùng dân tộc hay một nhà cách mạng nào đó. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã không trả lời dứt khoát cho câu hỏi của họ. Mối tương quan giữa Chúa Cha và Ngài mà Chúa Giêsu vén mở trong câu trả lời mời gọi người Do thái đi vào mầu nhiệm của Ngài.
Câu hỏi mà họ đặt ra trong lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy tại đền thờ làm ta nhớ đến câu hỏi của thượng tế Caipha trong phiên họp thượng hội đồng: “Nếu ông là Ðấng Kitô thì xin hãy nói thẳng ra đi. Ông có phải là Ðấng Mêsia không?”. Trong câu chất vấn này, Chúa Giêsu đã không phủ nhận. Chỉ có điều Chúa Giêsu trả lời một cách hơi gián tiếp như sau: “Tôi đã trả lời câu hỏi này mà các ông không tin”. Nhưng dù vậy, Chúa Giêsu không bỏ rơi họ để giúp họ tìm thấy sự thật, tìm ra câu trả lời. Chúa Giêsu đã khéo léo làm cho họ chú ý đến quan hệ mật thiết giữa Ngài với Thiên Chúa Cha, mật thiết đến độ Ngài gọi Thiên Chúa là Cha Ngài và làm chứng cho mối quan hệ mật thiết đó bằng việc làm nhân danh Cha Ngài, và việc cao trọng nhất là ban cho kẻ tin Ngài được sự sống đời đời: “Ta sẽ cho họ sống đời đời. Họ sẽ không chết bao giờ và không ai có thể cướp họ khỏi tay Ta”.
Tôi và Cha Tôi là một. Hai câu này đề cập đến mầu nhiệm hiệp nhất giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha: “Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Tôi. Tôi và Cha Tôi là một”. Những câu này và các câu khác khiến cho chúng ta suy tưởng hoặc có một cái nhìn thoáng qua về mầu nhiệm lớn lao nhất: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9). “Chúa Cha ở trong Ta và Ta ở trong Chúa Cha” (Ga 10:38). Sự hiệp nhất này giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha không phải là một điều gì đó tự nhiên, mà đúng hơn đó là thành quả của sự vâng lời: “Ta hằng làm những điều đẹp ý Chúa Cha” (Ga 8:29; 6:38; 17:4). “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Chúa Cha” (Ga 4:34; 5:30).
Trong thư gửi tín hữu Do Thái của thánh Phaolô viết rằng Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục (Dt 5:8). “Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết trên cây Thập giá” (Pl 2:8). Sự vâng phục của Chúa Giêsu không phải mang tính chất kỷ luật, mà đúng hơn đó là điều tiên tri. Người vâng lời để được hoàn toàn minh bạch, và do đó, là sự mặc khải về Chúa Cha. Vì điều này, Người có thể nói rằng: “Chúa Cha và Ta là một!” Đó là một quá trình dài của sự vâng phục và nhập thể kéo dài 33 năm. Nó bắt đầu với lời XIN VÂNG của Mẹ Maria (Lc 1:38) và kết thúc với câu: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:30).
Nếu đã nhìn nhận mối quan hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa, thì hẳn những người Do Thái sẽ biết trả lời cho câu hỏi “Ông là ai?” như thế nào rồi. “Ta và Cha Ta, chúng ta là một”. Ðây là mạc khải quan trọng nhất nhắc ta nhớ lại những suy tư mở đầu Phúc Âm thánh Gioan: “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngôi Lời sống với Thiên Chúa ngay từ đầu. Vạn vật do bởi Ngài mà có và nếu không có Ngài thì sẽ không có gì cả”. Tác giả Phúc Âm thánh Gioan đã có những suy tư cao siêu như vậy khi nhìn về mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô trong viễn tượng Chúa Phục Sinh.
Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi. Chúa Giêsu nhắc lại dụ ngôn Mục Tử Nhân Lành biết chiên của mình và chúng biết Người. Sự hiểu biết lẫn nhau này – giữa Chúa Giêsu, Đấng nhân danh Chúa Cha mà đến, và những người mở lòng mình ra với sự thật – là nguồn mạch của sự sống đời đời. Sự kết hợp này giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật qua Chúa Giêsu vượt quá mọi đe dọa của tử thần: “Chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta!” Họ được an toàn và gìn giữ, và vì điều này, họ được bình an và tận hưởng sự tự do hoàn toàn.
Chúng ta thấy Chúa Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi họ đặt ra, nhưng một lần nữa, Chúa cho họ biết Đấng Kitô không phải như quan niệm trần tục của họ, Đấng Kitô không đến để làm thỏa mãn những tham vọng chính trị của họ là giải phóng dân tộc của họ và đem lại thịnh vượng vật chất cho họ. Cho nên, Chúa vượt lên trên quan niệm thiên sai trần thế, và tuyên bố cho họ biết Ngài đồng bản tính với Chúa Cha: “Tôi và Cha tôi là một”.
Chúa Giêsu đã khẳng định rõ Ngài là ai. Ngài không những là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa, mà còn là chính Thiên Chúa nữa. Trong vấn đề này, chỉ trong đức tin, con người mới có thể biết Chúa Giêsu, nhận diện được khuôn mặt đích thực của Ngài và loan truyền một cách đúng đắn về Ngài. Nhiều khi qua cuộc sống và cung cách tuyên xưng niềm tin của mình, người Kitô hữu chỉ trình bày một khuôn mặt, nếu không méo mó về Đức Giêsu, thì cũng giới hạn Ngài trong những quan niệm hoàn toàn trần tục. Biết Chúa Giêsu và đi vào mầu nhiệm thẳm sâu của Ngài thiết yếu là đi vào cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài. Liền sau khi Phêrô tuyên xưng Ngài là Đức Kitô, Chúa Giêsu đã loan báo cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài.
Chúa Giêsu là vị Mục tử nhân hậu và tốt lành. Ngài không những biết rõ và biết từng con chiên mà còn yêu thương chăm sóc và hiến mạng sống vì đoàn chiên. Ngài sống lại và trở nên nguồn sống của đoàn chiên. Phần tôi, một con chiên trong đàn, tôi cũng được Ngài yêu thương chăm sóc vỗ về, nhưng tôi còn biết quá ít về Ngài và chưa theo Ngài trọn vẹn.
Cuộc sống của người Kitô hữu là lời tuyên xưng và rao giảng về một dung mạo của Chúa Giêsu khi nào họ kết hiệp với Ngài trong mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Người Kitô hữu phải cố gắng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, để có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi mà Chúa Kitô sống trong tôi”. Chúng ta nghe lời văn sĩ John Bayer đã khen vợ mình vào giây phút cuối đời ông: “Mình thân yêu, trong gương mặt của mình, tôi đã nhìn thấy dung mạo của Thiên Chúa. Xin cảm ơn mình vô cùng”.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thêm một lần nữa nhìn lại tương quan của chúng ta đối với Chúa. Tương quan của ta với Chúa có thực sự sâu sắc đến độ cho dù ở khoảng cách “xa” và rất “khẽ” ra vẫn nhận ra đó là Chúa không? Độ nhậy bén về sự hiện diện của Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời ta thế nào?
