2022
KHIÊM TỐN
9.8. Thứ Ba trong tuần thứ Mười Chín Mùa Quanh Năm
Ed 2:8; Ed 3:4; Tv 119:14,24,72,103,111,131; Mt 18:1-5,10,12-14
KHIÊM TỐN
Suốt ba năm đi theo Chúa Giêsu, các môn đệ cũng có cao vọng muốn được trở thành người lớn nhất trong Nước Trời nên đã đặt câu hỏi với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”.Hiểu được tâm tư ấy, Chúa Giêsu liền dạy các ông một bài học thật ý nghĩa đó là “Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”.
Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh rất cụ thể đó là trở nên khiêm tốn đơn sơ như trẻ thơ. Khiêm tốn là một đức tính cao quý của con người. Người người có tâm hồn trẻ thơ thì tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa,khiêm tốn không cậy dựa sức riêng nhưng biết nhìn nhận những giới hạn của mình.
Có câu chuyện kể rằng: Trong công viên nọ, một đám trẻ con đang xếp hàng chờ được một họa sĩ trang trí lên mặt thành những “người da đỏ” hay “người ngoài hành tinh” để tham dự lễ hội Halloween.
Một cậu bé trên mặt có rất nhiều đốm tàn nhang nhưng đôi mắt thì sáng lên vì háo hức. Thấy vậy, cô bé đứng ở hàng bên cạnh nói to:
– Mặt cậu lắm tàn nhang thế, làm gì còn chỗ nào mà vẽ! Cậu bé ngượng ngùng cúi gầm mặt xuống. Nghe thế, người họa sĩ liền quay xuống động viên cậu bé:
– Sao cháu buồn thế? Chú rất thích những đốm tàn nhang trên mặt của cháu.Chắc chắn cháu sẽ là người có khuôn mặt ấn tượng nhất trong lễ hội đêm nay.
Thiên Chúa dựng nên mỗi người một vẻ khác nhau, chính sự khác biệt đó càng diễn tả quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa.Hình dáng bên ngoài của một người dù đẹp hay xấu, cao hay thấp, trắng hay đen…đối với Chúa không có gì là xấu.Điều quan trọng nằm ở tâm hồn và thái độ sống của mỗi người. Dù nhỏ bé xấu xí nghèo hèn đến đâu, con người đều có phẩm giá và nhân vị vì họ được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa.
Nhận biết được điều này, chúng ta được mời gọi phải tôn trọng người khác với tất cả sự khác biệt của họ. Ông Gerandy, nhà tư tưởng người Mỹ đã từng nói: “Chúng ta cần giống nhau một chút để hiểu nhau, nhưng cần phải khác nhau một chút để yêu thương nhau”. Chính sự khác biệt nơi mỗi người mà chúng ta được chia sẻ đắp đổi cho nhau, cùng cộng hưởng làm cho cuộc sống thêm phong phú và ý nghĩa.
Giá trị của cuộc sống không căn cứ trên số đo chiều cao của một người, chất lượng của cuộc sống không tính bằng sự hơn thua về nhan sắc hay hình thức bên ngoài nhưng dựa vào thái độ chúng ta đối xử với mọi người. Chúng ta không sống như một ốc đảo nhưng là sống cùng và sống với người khác. Chúng ta không thể tự thỏa mãn với chính mình nhưng luôn cần sự chia sẻ, nâng đỡ và an ủi của người khác. Người kiêu căng tự cho mình là đầy đủ nên Thiên Chúa không thể ban thêm điều gì, trái lại người khiêm tốn như một chiếc ly còn trống rỗng sẽ dễ dàng đón nhận được nhiều ân sủng của Thiên Chúa.
Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đặc biệt yêu thích người có tâm hồn khiêm tốn. Chúa sẽ không mạc khải cho những bậc khôn ngoan thông thái biết về mầu nhiệm Nước Trời nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải đón nhận người khác như đón nhận chính Chúa, vì “Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Ga 13, 20).
Vì thế mỗi người chúng ta cũng đừng tự mãn cho mình là người có đầy đủ mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Trái lại chúng ta là một thụ tạo với đầy khuyết điểm và tính hư nết xấu. Mang trong mình di chứng của tội nguyên tổ, chúng ta luôn bị cám dỗ chiều theo sự xấu. Nhận ra điều này để chúng ta biết cậy nhờ vào ơn Chúa giúp mà hoàn thiện chính mình.
Và để minh chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa Giêsu còn đưa ra một ví dụ về người chủ chăn đã bỏ 99 con chiên mà đi tìm một con chiên lạc. Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian không phải để kêu gọi người công chính nhưng là kêu gọi người tội lỗi. Ai khiêm tốn nhận mình là yếu hèn tội lỗi thì Thiên Chúa càng ban ơn giúp sức. Thánh Phaolô tông đồ có nhiều kinh nghiệm về điều này, thánh nhân đã khiêm tốn nhận mình là tôi tớ yếu đuối chẳng có gì để vênh vang.Chúng ta có là gì thì cũng nhờ bởi ơn Chúa. Còn thánh Augustinô thì xác quyết: “Chúa là Đấng cao cả, nếu con hạ mình xuống, Người cũng hạ mình xuống kết hợp với con; nhưng nếu con nâng mình lên, Người sẽ tránh xa con”.
Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh của một đứa trẻ con để làm căn nguyên cho cách sống của người môn đệ Chúa, bởi vì: Trẻ con thì luôn ngây thơ, chúng vô tội, chúng tuyệt đối tin tưởng, cậy dựa vào sự chở che, bảo bọc cha mẹ mình. Đời sống thiêng liêng cũng thế, những ai đi theo Chúa, làm môn đệ Chúa cũng phải biết sống kết hiệp, sống gắn bó vào Chúa; tức là phải biết từ bỏ bản thân mỉnh, từ bỏ ý riêng mình để đi theo Chúa.
Và Chúa Giê-su khẳng định: Hễ ai tự hạ, coi mình như trẻ em bé nhỏ, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời” (Mt 18,4).
Những ai muốn vào Nước Trời phải trở nên như trẻ nhỏ. Đây là một tiến trình khó khăn và lâu dài, vì người lớn phải quay lại, hoán cải để đơn sơ như trẻ nhỏ, phải tự hạ mình xuống, bỏ đi những tự hào, tự mãn về mình, mở lòng đón nhận Nước Trời như quà tặng nhưng không. Như thế, trẻ thơ lại là mẫu mực cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Nước Trời dành cho trẻ thơ và những ai trở nên giống chúng, hoàn toàn lệ thuộc đời mình vào Thiên Chúa.
2022
Con đường cứu độ của Chúa
8.8 Thánh Đa Minh, Lm
Ed 1:2-5,24-28; Tv 148:1-2,11-12,12-14,14; Mt 17:22-27
Con đường cứu độ của Chúa
Ngay từ lúc còn nhỏ, thánh nhân đã mến mộ sự học hành, cầu nguyện, hãm mình, sống khắc khổ và yêu thương người nghèo. Mỗi ngày đều có giờ nhất định để cầu nguyện và ngài ăn chay hãm mình luôn. Ngày kia có người đến xin Ngài giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã bố thí hết, nên nói:
– Tôi không còn tiền, nhưng này chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về.
Người này không thể chấp nhận được đề nghị đó, nhưng lòng hết sức cảm phục sự hy sinh cao độ của Ngài.
Vì muốn dâng mình giúp việc Chúa, nên thánh nhân được gọi đến thụ giáo với một Linh Mục ở Gumiel d‘Izan. Năm 14 tuổi, Ngài gia nhập Đại chủng viện tại Palencia. Sau khi hoàn tất việc học, Ngài được Đức cha Diégo de Azsvedo truyền chức Linh mục. Và vì thấy ngài thông minh nhân đức, nên Đức Giám mục Martin de Bazan đặt ngài làm Kinh sĩ ở Osma.
Lúc Đức cha sang Pháp lo việc mục vụ, thánh nhân được đi theo. Trong thời gian ở đây, ngài thấy tận mắt những khó khăn do bè rối Albigeois gây ra cho Hội Thánh. Họ chủ trương tất cả những gì thuộc về vật chất đều xấu xa: muốn hoàn thiện phải tận diệt vật chất, sống hoàn toàn khắc khổ. Ngài quyết định đem hết khả năng chống lại chủ trương sai lạc của họ. Nhưng nhận thấy một mình không thể đương đầu với sức bành trướng quá mạnh của họ nên ngài kêu gọi nhiều nhà truyền giáo nhiệt thành cộng tác. Đó là những người sau này sẽ trở nên tu sĩ hội dòng Ngài sáng lập, gọi là “Dòng Anh Em Thuyết Giáo”.
Một cộng tác viên của ngài kể lại:
“Đaminh có một đời sống luân lý, một lòng sốt sắng kính mến Chúa mãnh liệt, đến nỗi hiển nhiên ai cũng thấy ngài là tác phẩm của sự cao trọng và ơn thánh. Ngài có một tâm hồn bình thản đến nỗi chỉ rộn lên khi phải trắc ẩn và thương xót. Và vì tâm hồn hân hoan thì làm cho bộ mặt rạng rỡ, nên ngài cũng để lộ sự bình thản của tâm hồn ngài ra trên nét mặt hiền từ và vui tươi của Ngài.”
“Đâu đâu ngài cũng tỏ ra một con người của Tin mừng, cả trong lời nói lẫn hành động.”
“Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt này là cho ngài được lòng bác ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta. Ngài nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nên tiên vàn mình đem hết sức lực mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc mọi người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy mà theo ý Chúa an bài sâu xa, Ngài đã lập ra “Dòng Anh Em Thuyết Giáo.”
Suốt sáu năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời rao giảng kêu gọi moị người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả không được bao nhiêu. Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Maria và được Mẹ dạy bảo hãy rao giảng và cổ động mọi người lần chuỗi Môi Côi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội Thánh. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Môi Côi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức này. Kết quả thật là lùng! Không bao lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở về với Chúa. Thánh nhân hết sức vui mừng, tạ ơn Chúa và tri ân Đức Mẹ.
Năm 1215, thánh nhân đến Rôma, xin Đức Thánh Cha Honoriô III châu phê luật dòng vào ngày 22/10/1216. Từ đó, dòng phát triển mạnh mẽ và có mặt trên khắp thế giới .
Thánh nhân qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221. Năm 1231 Đức Thánh Cha Gregoriô thứ IX đã tuyên hiển thánh cho ngài.
Tường thuật phúc âm trong ngày lễ kính Cha Thánh hôm nay, gồm tóm tất cả những điều nhắn nhủ của Chúa Giêsu dành cho những ai muốn làm môn đệ của Ngài, muốn bước đi theo Ngài trên con đường rao truyền Tin Mừng cứu độ đặc biệt bằng linh đạo Đa Minh.
Trước hết, theo cái nhìn của thánh Luca con số 72 muốn nói lên rằng, tất cả mọi Kitô hữu chúng ta là những môn đệ của Chúa Giêsu, là những người được Chúa chọn, được Chúa chỉ định và sai đi. Chúng ta được nhắc nhở phải ý thức về nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ ấy phải được thi hành chung với những môn đệ khác (c.1). Và khi thi hành nhiệm vụ người môn đệ cũng ý thức mình thuộc về nhóm môn đệ của Chúa Giêsu và dưới quyền chỉ đạo của Ngài. Qủa vậy, ý thức rằng mình được Chúa mời gọi, ý thức rằng phải hiệp thông với Hội Thánh, ý thức rằng mình thuộc về Chúa Giêsu và ra đi làm môn đệ cho Ngài đó là điều quan trọng nhất của một người môn đệ.
Hơn nữa, người môn đệ cũng ý thức về lời mời gọi đi đến mọi nơi, đến “tất cả các thành”, loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Người môn đệ cũng được nhắc nhở ý thức rằng : loan Tin Mừng là sứ vụ cần thiết như “lúa chín đầy đồng” không thể bỏ bê, cũng không thể chậm trễ. Tuy nhiên, người môn đệ cũng được khuyến cáo lưu tâm về những hiểm nguy và khó khăn mà mình sẽ gặp phải “như chiên con đi vào giữa bầy sói”.
Sau khi Chúa Giêsu nhắc nhở về toàn bộ những điều mà người môn đệ phải ý thức khi thực thi sứ vụ. Chúa Giêsu tiếp tục nhắn nhủ người môn đệ về hành trang mà họ cần phải mang theo. Hành trang ấy phải gọn nhẹ, chỉ để phục vụ sứ mạng, không cồng kềnh để rồi bị chi phối làm chậm hoặc làm chùn bước chân sứ vụ. Người môn đệ cũng không bận tâm về nơi ăn chốn ở, về những phương tiện vật chất cá nhân, những nhu cầu phục vụ đời sống thường ngày.
Về các tương quan Chúa Giêsu cũng nhắc thêm cho người môn đệ rằng : người môn đệ phải thanh thoát không dính bén và níu kéo những tình cảm nảy sinh dọc đường theo kiểu “chào hỏi” Đông phương. Một lòng một ý chu toàn sứ mạng cách khẩn thiết, không la cà, không chậm trễ, không phân tán. Chỉ liên đới và cộng tác trong sứ vụ mà thôi.
Về tác phong, Chúa Giêsu muốn người môn đệ không tìm thỏa mãn vật chất cá nhân, không tìm tư lợi cho riêng mình, không mong thù lao, không yêu cầu lương bổng, không quan tâm đến những đòi hỏi mang nặng tính trần thế. Người môn đệ phải biết bằng lòng với những sự đón tiếp, những gì sẽ gặp phải trong khi thi hành sứ vụ cách vui tươi.
Cách riêng,về lời nói và hành động của người môn đệ phải có dấu hiệu mang bình an và chữa lành. Đối với mọi người thì người môn đệ đem “bình an”, nhưng đối với những tâm hồn đau thương tan nát thì người môn đệ phải “xoa dịu và chữa lành”. Không chỉ đem bình an hoặc chữa lành, nhưng Chúa Giêsu còn đòi hỏi cao hơn là đem niềm vui, bằng cách loan báo rằng “triều đại Thiên Chúa đã đến gần”.
Nghe lại tường thuật của Thánh Luca hôm nay trước những đòi hỏi của Chúa Giêsu về người môn đệ, chúng ta như thấy mình được nhắc nhở rằng : Đôi khi chúng ta muốn làm môn đệ cho Chúa, nhưng chúng ta lại quên đi mình đang thuộc về Chúa, được Chúa hướng dẫn ; đôi khi chúng ta lại quên rằng mình cần phải hiệp thông trong Hội Thánh, chúng ta mải mê nhiệt tình đi con đường của riêng chúng ta, mà rời xa dần Hội Thánh cũng như rời xa dần thầy Giêsu.
Đôi khi làm môn đệ cho Chúa, nhưng chúng ta lại ưa thích ngồi những chỗ an toàn, chọn những tiện nghi dễ chịu, níu kéo và bám víu vào những tình cảm chóng qua… Tất cả những thứ ấy đã làm bước chân sứ vụ của chúng ta như chậm lại, những thứ ấy đã làm cho nhiệt tâm tông đồ của chúng ta như cạn kiệt, những thứ ấy làm cho chúng ta bị chi phối vỡ vụn, phân mảnh.
Ước chi khi nghe Lời Chúa hôm nay, mỗi người trong chúng ta cũng hãy mau mắn lên đường vì “lúa đã chín đầy đồng”, ước gì mỗi chúng ta cũng thực thi được những đòi hỏi mà Chúa muốn khi làm tông đồ cho Ngài. Điều này lại càng được thôi thúc hơn, bởi chúng ta là con cái của Cha Thánh Đa Minh, người Cha hết lòng cho sứ vụ Loan Báo Tin Mừng. Chúng ta hãnh diện về điều đó. Chúng ta hăng say lên đường với niềm tin tưởng cùng đi với Cha Đa Minh.
2022
Thứ hai tuần XIX thường niên
Thứ hai tuần XIX thường niên
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, xin Chúa nhìn lại lời minh ước, và xin đừng nỡ lãng quên đời sống con người cơ khổ. Lạy Chúa, xin Chúa đứng lên xét xử, và xin đừng quên lãng những ai tìm kiếm Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con đã được phúc gọi Chúa là Cha; xin cho chúng con ngày càng thêm lòng hiếu thảo, hầu đáng được hưởng gia nghiệp Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Ed 1, 2-5. 24 – 2, 1a (Hebr 1, 2-5. 24-28c)
“Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ngày mồng năm trong tháng, năm thứ năm vua Gioakim bị lưu đày, có lời Chúa phán cùng tư tế Êdêkiel, con của Buzi, ở xứ Calđêa, trên bờ sông Côbar. Chính tại đây, bàn tay Thiên Chúa đã đặt trên tôi.
Tôi nhìn thấy có một cơn gió mạnh từ phương bắc thổi đến. Có một đám mây to lớn và lửa bao bọc chung quanh và bốn bề có ánh sáng phát ra, và ở giữa bầu lửa như vàng pha sáng chói. Chính giữa, có giống gì như bốn con vật hình dáng giống như hình người.
Và tôi nghe tiếng cánh của chúng như tiếng nước lũ, như tiếng của Chúa vạn năng; khi chúng đi thì khác nào như đám đông người, như tiếng đạo quân: khi chúng dừng lại thì chúng xếp cánh xuống. Vì khi chúng nghe có tiếng trên không trung, trên đầu chúng, thì chúng dừng lại và xếp cánh xuống.
Và trên không trung, trên đỉnh đầu chúng, có cái gì như một viên ngọc thạch, hình như chiếc ngai, và trên ngai đó, phía trên hẳn, có hình giống như hình người. Và tôi thấy người như vàng pha sáng chói, bên trong, tứ bề khác nào như lửa, từ lưng người trở lên, và từ lưng trở xuống, tôi thấy có gì như lửa chiếu sáng chung quanh, giống như cái mống hiện ra trên mây trong ngày mưa: đó là hình thể chiếu sáng chung quanh. Ðây là hình lạ trông giống vinh quang của Chúa. Tôi nhìn thấy thì sấp mặt xuống đất.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 148, 1-2. 11-12ab. 12c-14a. 14bcd
Ðáp: Trời đất đầy vinh quang của Người.
Hoặc đáp: Alleluia.
Xướng: Hãy ca tụng Chúa từ muôn cõi trời, hãy ca tụng Người trên nơi cao thẳm. Các thiên thần Chúa, hãy ca tụng Người đi; ca tụng Người đi, hỡi các đạo thiên binh.
Xướng: Quân vương địa cầu và tất cả chư dân, quan chức và các vị chính quyền nơi cõi đất, các thanh nhiên và cả những cô trinh nữ, những ông cụ già với đoàn con trẻ.
Xướng: Họ hãy ca tụng danh Chúa, vì danh Người siêu phàm, độc nhất, oai nghiêm Người tràn lan trên trời dưới đất, và Người nâng cao quyền thế dân Người.
Alleluia: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! – Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 17, 21-26
“Họ sẽ giết Người, nhưng Người sẽ sống lại. Con cái thì được miễn thuế”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu còn đang ở Galilêa, thì Chúa Giêsu bảo các ông rằng: “Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết người, nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”. Các môn đệ rất đỗi buồn phiền.
Khi các ngài đến Capharnaum, thì những người thu thế đền thờ đến gặp Phêrô và hỏi rằng: “Thầy các ông không nộp thuế “đền thờ’ sao?” Ông nói: “Có chớ”.
Khi ông về đến nhà, Chúa Giêsu hỏi đón trước rằng: “Simon, con nghĩ sao? Vua chúa trần gian thu thuế má hạng người nào? Ðòi con cái mình hay người ngoài?” Ông thưa rằng: “Ðòi người ngoài”. Chúa Giêsu bảo ông rằng: “Vậy thì con cái được miễn. Nhưng để chúng ta không làm cho họ vấp phạm, con hãy ra biển thả câu: con cá nào câu lên trước hết thì bắt lấy, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng tiền, con hãy lấy tiền đó mà nộp cho họ, trả phần Thầy và phần con”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Giáo Hội bánh và rượu này, để Giáo Hội dùng làm của lễ dâng lên Chúa; cúi xin Chúa nhân từ chấp nhận, và dùng quyền năng biến đổi thành bí tích cứu độ chúng con. Chúng con cầu xin…
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Chúa đã tác thành mọi sự trong vũ trụ, đã sắp đặt cho thời gian thay đổi tuần hoàn.
Còn loài người, Chúa đã dựng nên giống hình ảnh Chúa và bắt mọi sự kỳ diệu quy phục loài người để họ thay quyền Chúa thống trị mọi loài Chúa đã sáng tạo và luôn ca tụng Chúa vì muôn việc kỳ diệu Chúa đã làm, nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.
Bởi vậy, trong khi cử hành lễ hân hoan này, cùng với toàn thể các Thiên thần, chúng con ca ngợi tung hô Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ca tụng Chúa, Đấng đã cho ngươi ăn no tinh hoa lúa mì.
Hoặc đọc:
Chúa phán: Bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa lãnh nhận bí tích nhiệm mầu là Mình và Máu Ðức Kitô; xin cho bí tích này giải thoát chúng con khỏi tội lỗi, và giúp chúng con luôn vững vàng sống theo chân lý của Chúa. Chúng con cầu xin…
2022
Một cái nhìn về chiêm niệm Kitô Giáo
Một cái nhìn về chiêm niệm Kitô Giáo
CẦU NGUYỆN LÀ GÌ?
Cầu nguyện, theo một truyền thống rất cổ xưa, là “sự nâng cao của tinh thần – theo nghĩa tâm trí – và của trái tim hướng về Thiên Chúa ”.
Tâm trí là gì? Trái tim là gì?
Tâm trí suy nghĩ, đặt câu hỏi, lên kế hoạch, lo lắng, tưởng tượng.
Trái tim hiểu biết và yêu thương.
Tâm trí là cơ quan của tri thức, trái tim là cơ quan của tình yêu.
Hầu hết sự học hỏi của chúng ta về cầu nguyện chỉ giới hạn ở mức độ tâm trí. Khi còn là trẻ thơ, chúng ta được dạy cầu nguyện, cầu xin Chúa những gì chúng ta cần cho chính chúng ta và cho những người khác. Đây chỉ là một phần của mầu nhiệm cầu nguyện.
Phần khác là lời cầu nguyện của trái tim. Trong lời cầu nguyện của trái tim này, chúng ta không cố gắng nghĩ về Thiên Chúa, không nói với Ngài, và thậm chí không xin Ngài bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ ở đây với Thiên Chúa, Đấng ngự trong chúng ta, trong Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta. Chúa Thánh Thần là tình yêu, mối tương quan của tình yêu hiệp nhất Cha và Con. Chính Thánh Thần này mà Chúa Giêsu đã thổi vào trái tim mỗi con người. Chiêm niệm là lời cầu nguyện của trái tim gắn kết chúng ta với ý thức con người của Chúa Giêsu trong Thánh Thần. “Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” (Rôma 8:26).
Ngày nay, trong Giáo hội, đặc biệt kể từ Công đồng Vatican II vào những năm 1960, Thánh Thần đã dạy chúng ta khám phá lại chiều kích cầu nguyện này. Các tài liệu của Công đồng về Giáo hội và Phụng vụ nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa ra “định hướng chiêm niệm” vào đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu ngày nay. Tất cả mọi người đều được kêu gọi để cảm nghiệm trọn vẹn Chúa Kitô.
Điều này có nghĩa là chúng ta không được chỉ dừng lại ở mức độ cầu nguyện tâm trí: nghĩ về Chúa, nói chuyện với Ngài hoặc xin Ngài đáp ứng các nhu cầu của chúng ta. Chúng ta lặn ngụp trong sâu thẳm, nơi mà chính Thánh Thần của Chúa Giêsu cầu nguyện trong tâm hồn chúng ta, trong sự im lặng kết hợp của Ngài với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.
Cầu nguyện chiêm niệm không dành riêng cho các nam nữ tu sĩ, hoặc các nhà thần bí. Đó là một chiều kích cầu nguyện mà tất cả chúng ta đều được kêu gọi tới. Mục đích của chiêm niệm không phải là làm cho chúng ta sống những trải nghiệm phi thường hoặc những trạng thái ý thức bị thay đổi. Theo cách nói của thánh Tôma Aquinô, chiêm niệm là “sự vui hưởng chân lý một cách giản dị”. Đối vớiWilliam Blake, ông nói về nhu cầu phải “làm sạch cánh cửa nhận thức” để nhìn xem mọi thứ như nó thực sự là: vô hạn.
Do đó, ý thức chiêm niệm được sống trong cuộc sống bình thường. Suy niệm đưa chúng ta đến chiêm niệm và nó là một phần của mầu nhiệm lớn lao của việc cầu nguyện trong cuộc sống của bất cứ ai tìm kiếm sự sung mãn của con người mình. [1]
Chiêm niệm Kitô giáo có nguồn gốc rất xa xưa. Chiêm niệm có từ thời Các Giáo phụ Sa mạc của thế kỷ IV và V. Tu sĩ Biển Đức John Main (1926-1982) [2] đã giúp làm cho chiêm niệm trở nên thích hợp với con người thời nay nam cũng như nữ.
Chiêm niệm là một phương pháp thực hành tâm linh. Trong im lặng, vượt ra khỏi lời nói, ý tưởng hay hình ảnh, chiêm niệm muốn dẫn đến sự hiện diện đơn giản với Thiên Chúa. Đấng đang ở trong phần thân thiết nhất của chính mình.
Đối với điều này, một từ, chỉ một từ cần thiết. Từ này được đưa vào trong tâm hồn, trung thành và nhẹ nhàng, trong một thái độ tin yêu. Theo lời dạy của tu sĩ Biển Đức John Main, đó là từ MARANATHA, có nghĩa là: Lạy Chúa, xin hãy đến.
Chiêm niệm Kitô giáo không chỉ là một kỹ thuật thư giãn hay làm cho tâm trí được an yên. Chiêm niệm Kitô giáo muốn thúc đẩy sự biến đổi của toàn bộ con người trong Thiên Chúa.
Chiêm niệm Kitô giáo là chìa khóa cho buổi sáng và ổ khóa cho buổi tối. Người ta thực hành chiêm niệm Kitô giáo một mình theo từng ngày, nhưng thỉnh thoảng cũng theo nhóm để giúp nhau vững vàng trong luyện tập hàng ngày. Cốt lõi của mỗi cuộc gặp gỡ là sự hiệp thông với nhau trong im lặng, trong một khoảng thời gian 20 đến 30 phút.
Bàn đạp đến tự do
Thoạt nhìn, cam kết mà cuộc hành trình này mời gọi chúng ta không phải là chuyện bình thường. Cần có niềm tin và có thể cần một sự liều lĩnh nhất định để bắt đầu. Nhưng một khi chúng ta bước đi, chính Thiên Chúa, bản chất là tình yêu, sẽ huấn luyện chúng ta, bằng kinh nghiệm sẽ dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta sẽ hiểu biết thực tại, cách sống kỷ luật của chúng ta sẽ là bàn đạp dẫn đến tự do.
Cuộc hành trình hướng tới cõi lòng của chúng ta là cuộc hành trình diễn ra trong tất cả mọi tâm hồn. Và trong ánh sáng đầu tiên của thực tại, chúng ta thấy rằng đó là vương quốc mà Chúa Giêsu sinh xuống trần để thiết lập và Ngài tiếp nhận mỗi người bằng cách tái sinh họ trong cõi lòng Ngái. Những gì chúng ta có chỉ là sự cô đơn, hoang mang, cô độc. Những gì chúng ta sẽ tìm thấy là sự hiệp thông, sự chắc chắn, tình yêu. Cung cách của chúng ta là sự đơn giản và trung thành, sự đơn giản trong lời cầu nguyện, trung thành với việc suy niệm hàng ngày của chúng ta. Khi chúng ta đi trên con đường này, chính sức mạnh của tình yêu sẽ gắn kết chúng ta lại gần nhau hơn.
Con đường đơn giản
Tất cả những bậc thầy này đều đồng ý với nhau khi nói rằng trong cầu nguyện, chúng ta không phải là người chủ động. Chúng ta không nói với Chúa; chúng ta lắng nghe lời của Ngài trong chúng ta. Chúng ta không tìm kiếm Ngài; Ngài mới là Đấng đã tìm ra chúng ta. Walter Hilton vào thế kỷ thứ mười bốn, đã rất nói rất đơn giản: “Chính anh em không làm gì cả; anh em chỉ để cho Ngài hoạt động trong tâm hồn anh em.” Lời khuyên của Thánh Têrêsa vẫn còn vang vọng, Chị thánh nhắc nhở chúng ta rằng tất cả những gì chúng ta có thể làm khi cầu nguyện là để bản thân mình sẵn sàng. Phần còn lại là do bởi quyền năng của Thánh Thần dẫn dắt chúng ta.
Con đường rất đơn giản, nhưng nó đòi hỏi một cách nhìn nhất định về tầm quan trọng của nó, một sự khiêm tốn nhất định để có thể bắt đầu, một lòng trung thành nhất định và một lòng dũng cảm nhất định để kiên trì, và trên hết, phải sẵn sàng để được dẫn đến chỗ thành toàn. Đây là tất cả những phẩm chất cần thiết của con người trong bất cứ cuộc tiếp xúc hữu ích nào với cuộc sống. Bước đi trên con đường là việc bình thường. Chúng ta không theo Chúa vì tính cách giật gân của Ngài, nhưng là để xem xét cuộc sống – tất cả các khía cạnh của cuộc sống đó, sự hài hòa bên trong và hướng đi của nó – như một mầu nhiệm của cuộc sống đó. Mối nguy hiểm lớn nhất, sự cám dỗ lớn nhất, là làm phức tạp vấn đề. Qua những gì ta có thể thấy, nếu chúng ta thực sự đang bước đi trên con đường của mình, nếu lời cầu nguyện của chúng ta có sự nghèo khó, là tấm lòng trân quý cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ đạt được sự đơn giản.
Ngôn ngữ rất yếu ớt.
Ngôn ngữ không đủ sức mạnh để giải thích toàn bộ mầu nhiệm! Đây là lý do tại sao sự im lặng tuyệt đối trong chiêm niệm lại rất quan trọng. Chúng ta không cần phải cố gắng suy nghĩ về Chúa, nói với Ngài, hoặc tưởng tượng về Ngài; chúng ta hãy cứ ở trong sự im lặng tuyệt vời này, mở ra cho sự im lặng vĩnh cửu của Thiên Chúa. Chúng ta khám phá ra trong chiêm niệm, từ kinh nghiệm, thông qua thực hành và lắng nghe lời giảng dạy hàng ngày, rằng đây là môi trường tự nhiên của chúng ta. Chúng ta được dựng nên cho Thiên Chúa và bản chất của chúng ta phát triển và mở rộng trong sự im lặng vĩnh cửu này.
Tuy nhiên, thuật ngữ “im lặng” là một sự giả mạo có lẽ khiến nhiều người không thích, bởi vì nó gợi ra một thứ cảm nhận tiêu cực, như kiểu làm cho âm thanh hoặc ngôn ngữ bị mất đi. Mọi người sợ rằng sự im lặng trong chiêm niệm sẽ khiến họ bị thụt lùi. Tuy nhiên, kinh nghiệm và truyền thống dạy chúng ta rằng sự im lặng khi cầu nguyện không phải là trạng thái chuẩn bị cho ngôn ngữ mà là trạng thái có sau ngôn ngữ, nơi ngôn ngữ đã hoàn thành vai trò của nó, hướng dẫn chúng ta đi qua và vượt ra ngoài chính ngôn ngữ và vượt qua toàn bộ lĩnh vực ý thức tinh thần.
Sự im lặng vĩnh cửu không tước đoạt bất cứ điều gì của ai và dĩ nhiên không tước đoạt bất cứ điều gì của chúng ta; đó là sự im lặng của tình yêu, của sự chấp nhận vô điều kiện. Chúng ta ở đó với Cha của chúng ta, là Đấng mời gọi chúng ta ở đó, là Đấng yêu thương chúng ta ở đó và là Đấng đã dựng nên chúng ta vì tình yêu lặng lẽ đó.
Trạng thái hiện hữu đơn thuần
Suy niệm là bước đưa bạn từ một thứ chủ nghĩa vị kỷ chuyển sang cách nghĩ tập trung. Bằng cách thực hiện bước này, chúng ta tìm thấy vị trí của mình trên trần thế, nơi chúng ta thực sự nên ở và nơi chúng ta thực sự đang ở. Sau đó, tất cả các mối tương quan của chúng ta sẽ có vị trí xứng đáng: mối tương quan của chúng ta với nhau, với môi trường và với tất cả tạo vật, với Thiên Chúa. Sau đó, chúng ta phát hiện ra – và đây điều quan trọng đối với sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần của chúng ta mà mọi người đều phát hiện ra – rằng chúng ta có một vị trí thiết yếu trong kế hoạch thánh thiêng. Điều quan trọng nhất đối với con người ngày nay có lẽ là khám phá ra phẩm giá họ sẽ có được khi đáp lại ân huệ vô song của Đấng tạo nên chúng ta.
Nhưng làm thế nào để thực hiện điều đó ? Chiêm niệm là kỷ luật cho phép điều đó diễn ra. Kỷ luật của chúng ta bao gồm việc học cách lùi lại một bước và chỉnh đốn sự chú ý của chúng ta, toàn bộ con người chúng ta, vào Thiên Chúa. Chúng ta phải bắt đầu từ đó. Chúng ta cần bắt đầu với con người của chúng ta và học cách im lặng trong chính bản thân mình. Điều đó đơn giản có nghĩa là học để trở thành chính mình, thay vì khẳng định bản thân bằng những gì mình làm hoặc nghĩ. Là một nghệ thuật và một thực hành, chiêm niệm đưa chúng ta đến trạng thái đơn giản này thông qua việc lặp đi lặp lại sự tĩnh lặng và cố gắng giữ im lặng khi cầu nguyện.
Hiện diện trọn vẹn
Chiêm niệm là cách để chúng ta tháp nhập trọn vẹn vào giây phút hiện tại. Tất cả chúng ta đều có xu hướng sống trong quá khứ hoặc tương lai. Đừng sống trong quá khứ hoặc trong tương lai! Hãy học cách hiện diện hoàn toàn trong thời khắc hiện tại, trong hiện tại, mà chúng ta có thể diễn tả nó như là sự hiện diện thường hằng của Thiên Chúa. Phần lớn sự bất hạnh đến từ việc chúng ta không chịu ở trong hiện tại. Ngay cả đau khổ cũng có ý nghĩa, và nếu chúng ta không chấp nhận đau khổ đó hoàn toàn vào lúc hiện tại này, chúng ta vẫn cảm nghiệm đau khổ đó nhưng lại bỏ lỡ ý nghĩa của nó. Vì vậy, những gì chúng ta phải học để làm trong chiêm niệm của mình là lắng nghe lời cầu nguyện một cách chú ý hoàn toàn. Ý thức của chúng ta tập trung vào một điểm, đó là âm thanh duy nhất của lời cầu nguyện. Đây là những gì chúng ta phải học để làm, thực hành lời cầu nguyện maranatha – xin hãy đến – lắng nghe lời cầu nguyện đó với sự chú ý đầy đủ và càng lúc càng sâu sắc hơn, maranatha – xin hãy đến – và thực hiện điều đó một cách đơn giản, khiêm hạ nhưng lại lớn lao hơn bao giờ hết.
Hãy lắng nghe lời Ngài trong chúng ta
Khi nói chuyện với mọi người về chiêm niệm, tôi thường thấy rằng những người đầu tiên hiểu nó là gì lại là những người ngoại đạo, hoặc thậm chí là những người không có tôn giáo. Trong con mắt của nhiều Kitô hữu đang giữ và sống đạo, của nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ, từ ngữ cầu nguyện đối với họ thoạt nhìn có vẻ như một kỹ thuật (cầu nguyện) có tính chất xa lạ đáng ngờ, hoặc một số mánh khóe kỳ lạ, hoặc thậm chí là một loại liệu pháp có thể giúp thư giãn, nhưng không thể mang danh nghĩa Kitô giáo! Đó là một tình trạng thái rất đáng buồn. Vì vậy, nhiều Kitô hữu đã mất mối tương quan với truyền thống cầu nguyện của riêng họ. Chúng ta không còn tận dụng được hết sự khôn ngoan và lời khuyên khôn ngoan của những bậc thầy vĩ đại về cầu nguyện.
Khám phá cội nguồn của tình yêu
Một trong những điểm yếu của chúng ta là luôn cố gắng ổn định cuộc sống. Một trong những thách thức của đời sống Kitô hữu chúng ta là học cách trở thành những người hành hương, luôn luôn di chuyển. Chúng ta luôn luôn ra sức tích lũy cả vật chất hoặc kiến thức, và tìm cách đếm các con số trên đường đời. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng con đường dẫn đến sự cứu rỗi rất hẹp; rất ít người khám phá ra nó. Lý do rất ít người tìm ra, đối với những người khác, nó là một con đường ít người đi.
Hai điều quan trọng được yêu cầu đối với người hành hương. Người ấy không được khuất phục trước sự cám dỗ nhằm ổn định cuộc sống: “Tôi đã đi đủ xa. Tôi đang bắt đâu mệt đây. Việc bước đi trở nên khó khăn quá.” Người hành hương phải gạt bỏ những cảm giác này.
Nhưng sự cám dỗ ngấm ngầm nhất là tự nói với chính mình: “Tôi đây, một vùng đất tốt, một nơi thật dễ chịu. Tôi chỉ cần nghỉ ngơi một chút ở đây.” Khi tiến về phía trước, chúng ta biết rằng cam kết của chúng ta sẽ trở thành một điều gì đó tuyệt đối. Lý do rất đơn giản: cuộc hành trình của chúng ta, cuộc hành hương của chúng ta đến từ sự cam kết của chúng ta với một con người vĩ đại hơn chúng ta vô hạn. Chúng ta thấy rằng chúng ta được yêu cầu đi trên con đường này không phải để chúng ta chỉ đến một nơi nào đó, không phải chỉ vì một số kinh nghiệm. Chúng ta được mời gọi hiệp nhất với Thiên Chúa, hiệp nhất trong Thiên Chúa.
Tập trung toàn bộ vào Thiên Chúa
Qua lời kêu gọi này, viễn cảnh mà Chúa Giêsu đã chuẩn bị, Ngài định hướng chúng ta đến sự hiệp thông tuyệt đối, vì là những người hành hương, chúng ta không được đánh mất mục tiêu cuối cùng, định mệnh cuối cùng này được ghi khắc rõ ràng trong trái tim chúng ta. Không ai biết người hành hương sẽ phải gánh chịu những gì, hay những nguy hiểm mà người đó sẽ phải trải qua. Nhưng chúng ta biết, và ngày càng hiểu rõ hơn rằng sức mạnh để vượt qua những thử thách, những khó khăn đó, được ban cho chúng ta, sẽ được trao cho chúng ta bởi nguồn năng lượng mà mỗi chúng ta được mời gọi khám phá trong cõi lòng mình, mà nguồn cội của nó là Thiên Chúa, là tình yêu (1Gioan 4: 16).
Phêrô Phạm Văn Trung biên tập
theo meditationchretienne.ca
[1] Laurence Freeman (2013-04-23) Trích từ Chiêm niệm Kitô giáo, lời cầu nguyện hàng ngày của bạn.
[2] John Main, tu sĩ dòng Benedictine, là người sáng lập phong trào chiêm niệm Kitô giáo quốc tế. Sau khi học thiền từ một bậc thầy Ấn Độ giáo, ông phát hiện ra rằng trong thời cổ đại các tu sĩ Kitô giáo như Gioan Cassianô đã thực hành cầu nguyện theo cách tương tự.
