2022
Cầu nguyện là khiêm hạ trông cậy vào Thiên Chúa
Cầu nguyện là khiêm hạ trông cậy vào Thiên Chúa
Dụ ngôn tuần trước về bà góa và quan tòa mời gọi chúng ta kiên tâm trong thử thách, cầu nguyện không nản lòng. Trong câu chuyện bà góa, thánh Luca cho thấy cầu nguyện không phải là chuyện xin thì được ngay lập tức, không phải là xin Chúa thỏa mãn một cách nhanh chóng một danh sách các nhu cầu của chúng ta.
Cần phải cầu nguyện kiên tâm bền bỉ với lòng tin tưởng: “Khi Con Người ngự đến, liệu Ngài còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18: 8). Dụ ngôn hôm nay cho thấy một thái độ cơ bản khác khi cầu nguyện.
Từ quan tòa gian ác đến kẻ công chính giả dối
Câu giới thiệu của dụ ngôn hôm nay cho phép thánh Luca chỉ ra một trong những điểm mà dụ ngôn về bà góa và quan tòa có lẽ chưa nói hết. “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế” (Lc 18: 9-10). Khi chúng ta cầu nguyện vớiThiên Chúa, Ngài khác hẳn với ông quan tòa gian ác: “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Ngài đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Ngài sao? Lẽ nào Ngài bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Ngài sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18: 6-8). Nhưng hôm nay: “Chúa Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18: 9).
Hai nhân vật đang ở trong Đền thờ, nơi hiện diện linh thiêng của Thiên Chúa, xa khỏi cái nhìn của người trần thế. Cầu nguyện trong Đền thờ là cơ hội để nhận biết cõi lòng của con người, không theo chuẩn mực người đời, nhưng theo ánh nhìn của Thiên Chúa. Thánh Luca lấy việc cầu nguyện này như cơ sở để suy ngẫm về sự phán xét và sự công chính dưới con mắt của Thiên Chúa. Công chính dưới mắt của Thiên Chúa có nghĩa gì?
Để có sự công chính.
Trong Sách thánh Do thái giáo, công chính liên quan đến cách hành xử công bằng, ngay thẳng, không gian dối: “Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử, cũng như khi đo đạc hay cân đong. Các ngươi phải có cán cân đúng, quả cân đúng, đúng thùng, đúng lít” (Lv 19: 35-36) hoặc: “Kính sợ Thiên Chúa là gớm ghét điều dữ. Thói kiêu căng ngạo mạn, và lối sống bất lương cũng như những lời gian manh, tráo trở, đó là những điều ta chê ghét” (Cn 8,13). Người công chính là người biết kiềm chế bản thân và hành xử theo lẽ phải, lẽ công minh, chính trực: “Người nào ăn ở công chính, thi hành điều công minh chính trực, không dự tiệc trên núi, không ngước mắt nhìn các ngẫu tượng của nhà Israel… không bóc lột ai, trả của cầm cho người cầm của, không cướp của ai, cho kẻ đói bánh ăn, lấy áo che thân kẻ mình trần, không cho vay ăn lời, không lấy lãi quá nặng, không nhúng tay vào chuyện bất công, xét xử công minh giữa người với người, sống theo những quy tắc của Ta và tuân giữ các quyết định của Ta mà thể hiện lòng trung tín của mình, người ấy mới là người công chính” (Ed 18,5-9). Trong nhãn quan Kinh Thánh, công chính vừa là ân huệ của Thiên Chúa vừa là bổn phận của người lãnh nhận. Người nào điều chỉnh bản thân mình để sống luôn trung thành với các điều răn của Ngài thì đó là người công chính. Vì vậy, chúng ta nhớ đến Nôê là một người công chính, hoàn hảo: “Ông Nôê là người công chính, hoàn hảo giữa những người cùng thời với ông, và ông đi trong đường lối của Thiên Chúa” (Kn 6,9) và “Ông Nôê được xem là người công chính vẹn toàn; trong thời thịnh nộ, ông đã trở thành một chồi non: Nhờ có ông, mặt đất còn lại một số sót, khi hồng thuỷ xảy ra” (Hc 44,17) hay ông Ábraham là người đã tin vào Chúa và Chúa coi ông là người công chính: “Ông tin Thiên Chúa, và vì thế, Thiên Chúa kể ông là người công chính” (Kn 15,6). Trở nên công chính là được đảm bảo sự cứu rỗi, giống như được cứu thoát khỏi cơn đại hồng thủy, và nhận được phúc lành thiêng liêng cho bản thân và gia đình mình.
Không giống những người khác.
Người Pharisêu là người tỉ mỉ tuân giữ các lề luật và điều răn của Thiên Chúa. Ông có thể hài lòng với những việc làm của mình. Ông ta đứng giơ hai tay lên trời mà cầu nguyện: “Người biệt phái đứng sững mà cầu nguyện” (Lc 18: 11), theo lời Thánh vịnh: “Hãy giơ tay hướng về cung thánh mà dâng lên lời chúc tụng Ngài” (Tv 134: 2). Ông ta cảm tạ Chúa vì đã trung thành thực thi Lề luật, và ông nêu ra một danh sách những việc tốt được làm: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18: 12). Theo lý mà nói, thì người Pharisêu đã cố gắng sống trung thành với các điều răn dạy của luật Môsê. Hẳn ông nghĩ rằng điều đó cho phép ông thấy bản thân mình đã sống phù hợp với Thiên Chúa, và tránh xa được tội lỗi. Ông ta đã làm tốt và đáng được sự ưu ái và phúc lành của Thiên Chúa chứ không phải hứng chịu điều ác và tội lỗi. và ông ta cho rằng mình đáng được gọi là công chính. Nhưng thực tế ông ta chỉ nghĩ đến mình, không nghĩ gì đến Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ còn là cái cớ để ông ta kể lể khoe khoang “công đức” của riêng mình. Thậm chí ông ta còn nâng mình lên trên người khác: “Con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia” (Lc 18: 11).
Lời cầu nguyện của người thu thuế.
Ngược lại với người Pharisêu, người thu thuế, dù cũng là người Do Thái, nhưng lại phục vụ quyền lực của đế quốc Rôma đang cai trị dân tộc mình. Anh ta không chỉ lấy tiền của những người đồng đạo nộp cho Rôma, mà còn lấy cho riêng mình nhiều hơn những gì suất thuế quy định, tùy theo nhu cầu hoặc mong muốn riêng của anh ta. Những người thu thuế không được người Do thái giáo của cả hai miền Giuđê và Galilê coi là đồng bào, thậm chí họ bị coi là người ngoại giáo, kẻ phản quốc, quân tội lỗi: “Những kinh sư thuộc nhóm Pharisêu thấy Chúa Giêsu ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Ngài: “Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!” (Mc 2: 16) Sự gần gũi của họ với thế giới ngoại giáo khiến họ trở thành những người phải tránh xa đối với người công chính.
Người thu thuế tội lỗi này ý thức thân phận xã hội của mình, và vì thế anh ấy chọn một chỗ đứng xa xa: “Còn người thu thuế thì đứng đằng xa” (Lc 18: 13). Làm sao anh ấy dám đứng giơ hai tay lên trời như bất cứ người cầu nguyện tốt lành nào; anh chỉ cúi mặt xuống với thái độ ăn năn: “thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời” (Lc 18: 13). Nhưng điều căn bản còn thiếu trong lời cầu nguyện của người Pharisêu, người thu thuế đã làm trọn vẹn: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18: 13). Một lời cầu nguyện ngắn gọn, cô đọng. đầy chân thật. Một lời thú nhận, một cái nhìn đúng thật về bản thân, về những gì nặng nề nhất và khó thú nhận nhất. Thú nhận mình là tội nhân, anh ấy biết rằng mình chỉ có thể trông cậy vào Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể cứu được anh ấy. Trong khi người Pharisêu xác định sự cứu rỗi của mình bằng những việc làm tốt lành của mình thì người thu thuế khiêm tốn nhìn nhận ơn cứu độ của mình là ở nơi hành động nhân từ của Thiên Chúa. Ở đây, người thu thuế, có lẽ giàu có tiền của vật chất, bộc lộ sự nghèo nàn về con người và tâm hồn của mình. Đối diện với Thiên Chúa, anh biết mình là một tội nhân, nhưng hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ có cái nhìn nhân từ đối với anh. Đó là tất cả niềm tin của anh.
Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống.
Theo quan niệm phổ biến của những người Do thái giáo thời Chúa Giêsu, người công chính đối nghịch với tội nhân, vì người công chính là người đi theo đường lối Chúa và sống theo ý muốn và lề luật của Ngài: “Người nào ăn ở công chính, thi hành điều công minh chính trực” (Êdêkiel 18,5). Dụ ngôn của Chúa Giêsu, cụ thể đối với Luca, một lần nữa đảo ngược quan điểm. Bởi vì, theo những người Pharisêu, lòng trung thành với Lề luật bảo đảm họ là người công chính, không giống như người thu thuế tội lỗi này. Giờ đây, một trong những người thu thuế tội lỗi này lại được tuyên bố là công chính chỉ vì lời cầu nguyện khiêm hạ của anh ta. Ngược lại, ở đây người Pharisêu đã cố gắng hết sức để vâng theo ý Chúa, kể cả trong việc bố thí và bác ái, lại không nhận được danh hiệu công chính này.
Đây là điều không thể hiểu được và thậm chí quá quắt. Làm nhiều việc “đạo đức tốt lành” đến thế để được gì, nếu một tên thu thuế tội lỗi, chẳng làm gì ngoài một lời cầu nguyện lại có thể làm cho hắn nên công chính?
Những việc làm của người Pharisêu thúc đẩy sự kiêu ngạo của ông ta nhiều hơn là thúc đẩy ông ta đến với đức tin vào Thiên Chúa và lòng thương xót đối với người tội lỗi đang bên cạnh. Sự tự hãnh của ông ta thậm chí đã trở thành một thứ khinh miệt, như một bức tường ngăn chặn không để bất cứ điều gì hướng về người khác lọt qua được. Một tâm thế xem mình là trung tâm, ngoài cái tôi của ông ta ra không còn ai khác là quan trọng, kể cả Thiên Chúa! Trong khi đó, người thu thuế trong dụ ngôn chỉ biết trông cậy vào một mình Thiên Chúa, Đấng thấu hiểu tình trạng nghèo hèn của mình và mong muốn có được ân huệ của Ngài. Vậy, việc đạt tới sự công chính không còn được đo lường bằng những công trình được coi là tốt lành, nhưng chỉ bằng sự chân thành khiêm tốn trong một việc duy nhất: tin vào ân sủng nơi Thiên Chúa và kêu cầu lòng thương xót của Ngài.
Trong dụ ngôn bà góa, thánh Luca cho thấy cầu nguyện không phải là đòi hỏi Thiên Chúa thỏa mãn nhanh chóng những yêu cầu của mình, nhưng cầu nguyện là một tiếng kêu bền bỉ của đức tin lên Thiên Chúa. Cầu nguyện thực chất là một thái độ sống tin tưởng, phó thác và yêu mến liên lỉ đối với Thiên Chúa trong từng giây phút của cuộc sống. Còn dụ ngôn hôm nay cho thấy tầm quan trọng của lời cầu nguyện như là một cách thế để nhận ra sự thật về bản thân “đáng tội” của mình theo cái nhìn của Thiên Chúa và nhờ đó biết khiêm hạ cậy nhờ vào lòng thương xót của Ngài và đi vào tương quan gặp gỡ cảm thương với người khác. Chỉ khi đó người ta mới có thể làm theo lời khuyên của thánh Phaolô: “Hãy cầu nguyện ở bất cứ nơi nào, tay giơ lên trời, tâm hồn thánh thiện, không giận hờn, không xung khắc” (1 Tm 2: 8).
Phêrô Phạm Văn Trung
2022
Năm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi
Năm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi
Hai mươi năm trước, Thánh Gioan Phaolô II đã công bố tông thư Rosarium Virginis Mariae, bổ sung năm Mầu nhiệm Ánh Sáng vào 15 Mầu nhiệm truyền thống được suy niệm trong chuỗi Mân Côi.
Các Mầu Nhiệm Ánh Sáng nói đến cuộc đời công khai của Chúa Kitô: là Phép Rửa của Ngài tại sông Giođan; việc Ngài biểu lộ mình trong tiệc cưới Cana; việc Ngài công bố Nước Thiên Chúa và kêu gọi hoán cải; sự hiển dung của Ngài; và việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể, theo tông thư “như một cách diễn tả bí tích của Mầu nhiệm Vượt qua.”
Trong tông thư của mình, Đức Thánh Cha giải thích rằng “Kinh Mân Côi, mặc dù có đặc điểm rõ ràng là Đức Mẹ, nhưng cốt lõi là một lời cầu nguyện quy về Chúa Kitô” và Kinh Mân Côi có “một vị trí quan trọng” trong đời sống thiêng liêng của ngài trong thời niên thiếu.
Thực vậy, hai tuần sau khi được nâng lên Ngai tòa thánh Phêrô, thánh Gioan Phaolô II đã công khai thú nhận: “Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện yêu thích của tôi”.
Đức Giáo Hoàng đã đề xuất các Mầu nhiệm Ánh Sáng để “làm nổi bật đặc tính Kitô học của chuỗi hạt Mân Côi.” Đức Thánh Cha giải thích những mầu nhiệm này đề cập đến “sứ vụ công khai của Chúa Kitô giữa Phép Rửa và Cuộc Khổ Nạn của Ngài.”
Đức Thánh Cha nói, do đó, trong những mầu nhiệm này “chúng ta chiêm ngắm những khía cạnh quan trọng của con người Chúa Kitô như là sự mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa,” vì chính Thiên Chúa đã “tuyên bố Người Con yêu dấu của Cha trong Phép Rửa ở sông Giođan, Chúa Kitô là Đấng Đấng loan báo Nước Trời sắp đến, làm chứng cho Nước Trời trong các công việc của Ngài và công bố những yên cầu của Nước Trời ”.
Thánh Gioan Phaolô II cũng ghi nhận trong tông thư của ngài rằng “chính trong những năm thi hành sứ vụ công khai của Chúa Kitô, mầu nhiệm của Ngài là mầu nhiệm ánh sáng một cách rõ ràng nhất: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9: 5).”
Do đó, để Kinh Mân Côi “trở thành một bản tóm tắt của Tin mừng”, Đức Thánh Cha cho rằng cần phải có “sự suy niệm về những khoảnh khắc đặc biệt quan trọng nhất định trong sứ vụ công khai của Chúa Kitô, sau khi suy niệm về Sự Nhập Thể và cuộc đời ẩn dật của Chúa Kitô (những mầu nhiệm vui tươi) và trước khi tập trung vào những đau khổ trong cuộc Khổ nạn của Ngài (những mầu nhiệm đau thương) và sự khải hoàn trong việc Ngài Phục sinh (những mầu nhiệm vinh quang).”
Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng việc thêm các Mầu nhiệm Ánh Sáng được thực hiện “không ảnh hưởng đến bất cứ khía cạnh thiết yếu nào trong hình thức truyền thống của Kinh Mân Côi, có nghĩa là mang lại cho Kinh Mân Côi sức sống tươi mới và khơi dậy sự quan tâm mới đến vị trí của Kinh Mân Côi trong linh đạo Kitô giáo như một cánh cửa thực sự dẫn đến những chiều sâu thẳm của Trái tim Chúa Kitô, đại dương của niềm vui và ánh sáng, đau khổ và vinh quang.”
Những mầu nhiệm hé lộ ánh sáng của vương quốc
Thánh Gioan Phaolô II giải thích rằng mỗi mầu nhiệm ánh sáng “là một mạc khải về Nước Trời hiện đang hiện diện trong chính con người Chúa Giêsu.”
Sự hiện diện này được thể hiện một cách cụ thể trong mỗi Mầu nhiệm Ánh sáng.
Trong Bí tích Rửa tội, Chúa Kitô “đã trở thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta (2Cr 5,21),” Chúa Cha công bố Ngài là Con Yêu dấu và Chúa Thánh Thần “ngự xuống trên Ngài để dành tất cả mọi sự cho Ngài trong sứ mệnh mà Ngài sẽ thực hiện.”
Tại tiệc cưới Cana, bằng cách biến nước thành rượu, Đức Kitô đã “mở lòng các môn đệ đến với đức tin, nhờ sự can thiệp của Mẹ Maria, là người đầu tiên trong số những người tin”.
Với việc rao giảng về Nước Trời và kêu gọi hoán cải, Chúa Kitô khởi xướng “sứ vụ của lòng thương xót,” tiếp tục qua “Bí tích Hòa giải mà Ngài đã ủy thác cho Giáo hội của Ngài”.
Đối với Thánh Gioan Phaolô II, cuộc Biến hình là “mầu nhiệm của ánh sáng tiêu biểu nhất” vì “vinh quang của Thần tính tỏa ra từ khuôn mặt của Chúa Kitô khi Chúa Cha ra lệnh cho các Tông đồ đang kinh ngạc “hãy lắng nghe Ngài”.
Việc thiết lập Bí tích Thánh Thể cũng là một mầu nhiệm ánh sáng vì “Đức Kitô đã hiến dâng mình và máu Ngài làm lương thực dưới dấu chỉ bánh và rượu, và làm chứng “cho đến cùng” tình yêu của Ngài dành cho nhân loại (Ga 13,1), vì ơn cứu độ của họ, Ngài sẽ hiến dâng mình làm của lễ hy sinh”.
Mẹ Maria trong những mầu nhiệm ánh sáng
Đức Thánh Cha chỉ ra rằng “ngoài phép lạ ở Cana, sự hiện diện của Mẹ Maria vẫn còn đó cách kín đáo.” Tuy nhiên, “một cách nào đó, vai trò mà Mẹ đảm nhận tại Cana vẫn đi cùng Chúa Kitô trong suốt sứ vụ của Ngài,” với lời dặn bảo từ mẫu của Mẹ: “Ngài bảo gì, các anh cứ việc làm theo (Ga 2: 5)”.
Thánh Gioan Phaolô II coi lời căn dặn này là “lời dẫn nhập thích hợp cho những lời nói và những dấu chỉ của sứ vụ công khai của Chúa Kitô và lời căn dặn đó tạo nên nền tảng mang đặc tính Maria cho tất cả các ‘mầu nhiệm ánh sáng’.”
Sau đó, Đức Giáo Hoàng đề nghị nên chiêm ngắm những mầu nhiệm ánh sáng này vào các ngày thứ Năm.
Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ
từ catholicnewsagency
2022
Thập giá che khăn
Thập giá che khăn
Trong nếp sống phụng vụ Công Giáo có tập tục từ Chúa Nhật thứ năm mùa chay thập giá Chúa Giêsu, ít là trong các thánh đường, được che phủ kín bằng một tấm màn.
Đâu là ý nghĩa của tập tục này?
Tập tục che phủ thập giá Chúa Giesu có nguồn gốc trong Giáo Hội từ thế kỷ thứ 12.
Vào cuối thế kỷ 13. Đức Giám Mục Wilhelm Durandus , giáo phận Mende ở miền nam nước Pháp đã có suy tư về ý nghĩa tập tục này: Chúa Giêsu Kitô trong thời gian chịu thương khó đau khổ đã che dấu bản tính Thiên Chúa của mình.
Đặc biệt trong phúc âm theo Thánh Gioan có đoạn tường thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các nhà thông luật thời lúc đó, Chúa Giêsu đã nói với họ: Trước khi có tổ phụ Abraham đã có tôi. Nghe thế họ lấy đá ném người. Nhưng Chúa Giêsu tránh đi , và rời khỏi đền thờ.( Ga 8,58).
Bài phúc âm này trước thời cải tổ phụng vụ năm 1969 được đọc trong thánh lễ ngày Chúa Nhật thứ năm mùa chay. Và từ khi có cải tổ phụng vụ đoạn phúc âm này không còn được đọc trong ngày này nữa. Nhưng thập giá vẫn còn được che phủ kín từ ngày này. Chiều ngày thứ Sáu tuần thánh có nghi thức phụng vụ mở khăn để mọi người tôn kính thập giá Chúa Giêsu.
Tấm Khăn che phủ thập gía thường mầu tím, nhưng cũng có nơi dùng tấm khăn mầu trắng.
Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập gía, và ngài đã chết trên đó. Đây là hình ảnh đau thương. Nhưng sự hy sinh đau thương của Chúa Giêsu chết trên thập gía lại là nguồn ơn cứu độ cho tội lỗi nhân loại. Vì thế thập gía chúa Giêsu được che phủ kín muốn nói lên khía cạnh hình ảnh chết hy sinh đau khổ của Chúa Giêsu cần được khắc ghi sâu vào trong trái tim tâm hồn người tín hữu Chúa Kitô.
Khi thập giá chúa Giêsu không còn được nhìn với tầm con mắt về khía cạnh lịch sử, thì ý nghĩa sự dấn thân hy sinh chịu chết của Chúa Giêsu trên thập giá được khám phá sâu xa hơn cho chính bản thân đời sống con người.
Thập gía trong đời sống ai cũng có, cũng phải mang vác chịu đựng. Đó là những đau khổ trong đời sống dưới nhiều dạng thức khác nhau trong các chặng đường lịch sử đời sống .
Không ai có thể bỏ đẩy thập giá ra khỏi đời sống mình được. Với người tín hữu Chúa Kitô nhìn lên thập giá Chúa Giêsu nhắc nhớ đến lời Chúa Guêsu trong cơn khốn cùng đã kêu than thở : Lạy Thiên Chúa, sao Chúa bỏ con. Xin Chúa đến giúp con!
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
2022
Bác Ái Vô Vị Lợi
31/10 Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
Pl 2:1-4; Tv 131:1,2,3; Lc 14:12-14
Bác Ái Vô Vị Lợi
Thánh sử Luca là một con người đặc biệt. Ngài được ban tặng danh hiệu là “ Văn sĩ ca tụng lòng nhân hậu của Đức Giêsu”. Đức Kitô dưới cây bút của ngài là một vị Tình Yêu giàu lòng thương xót, nhất là đối với những người tội lỗi, yếu đuối, bệnh tật và nghèo khổ. Trong giáo huấn của Đức Giêsu thánh sử cố ý làm nổi bật luật sống hằng ngày của người môn đệ và một trong luật sống đó là : biểu lộ đức ái đối với người đồng loại, kẻ bấc cùng trong xã hội là nội dung chính của bài Tin Mừng hôm nay.
Mở đầu câu 12, thánh sử giới thiệu đối tượng mà Đức Giêsu muốn nhắc họ về luật bác ái: “ Người nói với kẻ đã mời Người”. Có lẽ ông chủ làm tiệc đãi khách này rất lo sợ, khi thấy Chúa Giêsu dùng trường hợp của mình như một đề tài cho bài giảng của Ngài. Nhưng có lẽ Chúa cũng thầm cảm ơn ông đã cho Ngài cơ hội dạy dỗ dân chúng về luật bác ái : “ khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, đừng kêu bà con hoặc láng giềng giàu có…”. Vì sao Chúa Giêsu lại ngăn cản ông chủ việc này ? Đây là những người bạn thân thiết cùng sống, cùng khổ với ông. Đây là những bà con thân thuộc, anh em ruột thịt sát cánh với ông trong buồn vui. Đây là những người láng giềng giàu có đã cho ông vay mượn tiền bạc, lúa thóc, bánh rượu…
Vậy, bây giờ khó khăn lắm hay họa hiếm lắm ông mới tổ chức một bữa tiệc, mà lại không mời họ, coi sao được? Chúng ta nghe lý do mà Chúa Giêsu nêu ra “ kẻo họ mời lại ông và như thế ông đã được đáp lễ”. À, té ra là vậy. Có vay ,có trả. Một cuộc ngã giá song phương. Nay tôi, mai anh. Như thế, nếu ông mời họ. Họ sẽ mời lại ông. Ông không bị thiệt. Ông được đền bù xứng đáng, có khi còn có lợi hơn. Đó là một phần thưởng đã được trả lại ngay ở đời này, vậy đâu còn chỗ cho Thiên Chúa trả lại cho ông trong ngày sau hết nữa?
Và Chúa Giêsu dạy ông phải mời hạng người nào? Thánh sử dùng từ thật chính xác “trái lại” nghĩa là ngược lại điều thiên hạ vẫn thường làm Chúa muốn ông đừng theo họ. “ Hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”. Chúa Giêsu yêu cầu ông mời những người mà có lẽ không có mặt trong buổi dự tiệc hôm ấy. Có lẽ những người này nằm ngoài danh sách ông tuyển chọn và có khi chẳng bao giờ ông nghĩ tới.
Vì sao Chúa Giêsu lại dạy là phải mời họ? Thưa “ vì họ không có gì đáp lễ”. Họ nghèo nàn, túng thiếu, ăn không no, mặc không ấm thì làm sao có tiền để trả lễ lại cho ông chủ. Bữa ăn hôm nay họ còn chưa có, thì làm sao họ có được những bữa tiệc thịnh soạn để thết đãi lại ông chủ đã mời họ ? Nhưng nếu ông làm như vậy “ mới thật có phúc vì ông được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại”. Câu nói này như khẳng định những người lành sẽ được sống lại trong ngày sau hết, ngày mà Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người cũng là ngày chung cuộc của thế giới.
Qua bài Tin Mừng chúng ta thấy nghịch lý của họ. Một nghịch lý mà bao người đời có lẽ không áp dụng hoặc chỉ áp dụng trong một vài trường hợp đặc biệt vì danh dự, vì muốn đền bù tội lỗi… Như chúng ta thấy nhiều “ đại gia” ngày nay dến thăm các trung tâm cô nhi, khuyết tật, dưỡng lão… Chúng ta không nghi ngờ hay xét đoán hành vi của người nào, nhưng thử hỏi mỗi người chúng ta có dám hi sinh, dấn thân mà trong lòng không vướng một tư lợi nào không ? Làm để được khen, được thưởng, để gây chú ý, để kiếm tình cảm của ai đó…
Tâm lý thường tình của con người vẫn là: “Có qua có lại, mới toại lòng nhau” hoặc “Ông đưa miếng giò, bà thò chai rượu”. Chúng ta kết bạn thân thiết với ai, chúng ta cũng muốn họ có một tâm tình như thế đối với chúng ta.
Nhưng Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay lại đưa ra một cái nhìn khác, đó là lòng bác ái vô vị lợi: “Khi ông đãi tiệc, thì đừng mời bạn bè, anh em, bà con, hoặc láng giềng giầu có… Nhưng hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù; họ không có gì trả lễ, và như thế ông mới thật có phúc, vì ông sẽ được trả công trong ngày các kẻ lành sống lại”.
Ở đây, Chúa Giêsu hướng lòng con người về đời sau. Ðang lúc dự tiệc cưới trên trần gian, Ngài đã liên tưởng đến bữa tiệc sẽ được hoàn tất trong vinh quang Nước Chúa, ở đó những người hèn kém được nâng lên và kẻ quyền thế bị hạ xuống; ở đó những người tàn tật, đui mù thực sự là những khách được mời dự tiệc của Chúa.
Gương bác ái vô vị lợi có thể tìm thấy trong chính đời sống của Chúa Giêsu. Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu này được biểu lộ trong việc nhập thể. Ðây là tình yêu vô biên đến gặp con người ở tầm mức nhân loại, bởi vì khiêm nhường là một trong những bộ mặt của tình yêu. Chúa Giêsu đã xuống ngang tầm mức những kẻ nhỏ bé, yếu đuối; Ngài không tìm địa vị cao sang nổi bật, nhưng quan tâm đến những kẻ nghèo khó, bệnh tật, những kẻ bị xã hội ruồng bỏ.
Tình thương của Chúa Giêsu không đòi hỏi phải có đi có lại. Ngài đi tìm kẻ nghèo khổ để ban ơn, mà không làm cho họ mặc cảm hay nghĩ ngợi là mình chẳng có gì đền đáp. Ngài mời gọi tất cả, nhất là những người nghèo khó, vì chỉ có họ mới dễ dàng chấp nhận lời mời dự tiệc Thiên Chúa. Về mặt thiêng liêng, những người nghèo là những người không khoe khoang về kiến thức, đức hạnh, hay bất cứ ưu điểm nào của mình; họ ý thức thân phận của mình: nhận ơn huệ của Thiên Chúa mà không có gì để dâng lại; họ chỉ biết một điều là sẵn sàng đón nhận vì ý thức rằng Thiên Chúa là Ðấng tốt lành và đầy lòng thương xót. Và đó là điều Thiên Chúa chờ mong nơi họ.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta noi gương sống bác ái của Chúa. Ngài đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu bao la và nhưng không; do đó, chúng ta cũng có bổn phận phải cho đi một cách rộng rãi và vô vị lợi những ân huệ mà Ngài đã ban cho chúng ta. Ðược như thế chắc chắn chúng ta sẽ sống đẹp lòng Chúa và xứng đáng thông dự bàn tiệc vĩnh cửu trong Nước Chúa.
