2023
Tại sao chúng ta kính nhớ người quá cố trong Thánh lễ?

Kính nhớ những người quá cố trong thánh lễ là một phong tục rất cổ xưa. Cha Nicola Ban, Đại diện Giám mục về Phúc âm hóa và các Bí tích của giáo phận Gorizia, giải thích với cổng thông tin Isontina rằng “lòng tôn kính đã xác định các thời điểm có thể xem là hữu ích để cầu nguyện cho người quá cố thân yêu trong cử hành Thánh Thể. Nói chung, những người đã qua đời được nhớ đến sau 8 ngày hoặc 30 ngày tính từ lúc qua đời hoặc từ lễ an táng”.
Ngày giỗ
“Và rồi có người quá cố được nhớ đến hàng tháng – Cha Nicôla tiếp tục – Chắc chắn rằng khi làm điều đó mỗi năm một lần vào ngày giỗ, ngày chúng ta được sinh nơi cõi trời, giúp duy trì lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân”.
Giáo lý Công giáo nói gì về điều này?
Cầu nguyện cho những người quá cố là một truyền thống cổ xưa, được đề cập trong Thánh Kinh. Chúng ta tìm thấy nguồn gốc của những thực hành này được mô tả trong Giáo lý Hội thánh Công giáo: “Ngay những thời đầu, Hội Thánh vẫn kính nhớ người quá cố và dâng lời cầu nguyện cho họ, nhất là dâng Hy lễ Thánh Thể, để một khi đã được thanh luyện họ có thể được vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa” (GLCG 1032).
Cyprianô thành Carthage
Cha Lamberto Crociani, giáo sư Phụng vụ tại phân Khoa Thần học miền Trung Ý, nhấn mạnh trên tạp chí điện tử Toscana Oggi rằng, vấn đề “kính nhớ người quá cố” đã được chứng thực từ giữa thế kỷ thứ 2. “Chắc hẳn chúng ta biết đến phong tục nêu tên người quá cố hay các linh hồn trong Kinh nguyện Thánh thể có từ thời Giám mục Ciprianô (thế kỷ 3), (thư 1 và 41). Trên lý thuyết, người quá cố được kính nhớ lần đầu tiên trong buổi cử hành Thánh Thể dành cho lần yên nghỉ của người đó”.
Tên của những người quá cố được ghi trên “bảng ghi danh – Dittici[1]”
Không lâu sau đó, tên của người quá cố được viết trên các bảng ghi danh trong đó liệt kê ra những điều mà Giáo hội muốn và phải nhớ đến trong thánh lễ. “Những bảng liệt kê này do một phó tế đọc, lúc bắt đầu phần Thánh Thể, có lẽ trước phần chuẩn bị lễ vật, sau khi đọc tên những người sống, những người này cũng được cộng đoàn nhớ đến vì nhiều lý do khác nhau. Từ đó, rõ ràng là từ xa xưa, việc cử hành Thánh Thể là một sự kiện mà nhờ đó những anh chị em được nhớ đến như thể đang hiện diện thực sự. Nêu tên của họ lên khiến họ hiện diện và sống động trong hành động của cộng đoàn”.
Hướng tới sự phục sinh
Nhà phụng vụ nhấn mạnh, việc này “chắc chắn đã được kéo dài cho đến thế kỷ X và thậm chí có thể lâu hơn thế: điều này diễn ra thường xuyên trong các buổi cử hành ngày thường, nhưng vào ngày Chúa nhật và các lễ trọng bảng ghi danh này không được đọc ra. Việc cử hành Mầu nhiệm Phục sinh của Chúa tự nó bao gồm tất cả những kính nhớ khác, hướng toàn thể cộng đoàn về sự Phục sinh sau cùng”.
Kinh nguyện Thánh Thể (Canone Romano)
Sau thế kỷ X, số người chết gia tăng, vì vậy một vài người được nêu tên và các công thức liền được thêm vào, nó ám chỉ đến hết mọi người.
Đây là bằng chứng về việc tưởng nhớ người quá cố trong Kinh nguyện Thánh Thể: “Lạy Chúa xin cũng nhớ đến các tôi tớ Chúa (lúc này phó tế đọc một số tên trong danh sách) được ghi dấu đức tin, đã ra đi trước chúng con và đang nghỉ giấc bình an”.
Và thêm ngay sau đó: “Lạy Chúa, chúng con nài xin Chúa thương ban cho các tín hữu ấy, và tất cả mọi người, đã an nghỉ trong Ðức Kitô, được vào nơi hạnh phúc, sáng láng và bình an”.
Người qua đời… và bỗng lễ
Chắc chắn mỗi ngày trong cử hành Thánh Thể, mọi người đều có thể và phải tưởng nhớ đến người thân của mình đã qua đời, cha Crociani kết luận: “Bởi vì Thánh Thể mãi là mối liên kết vĩnh viễn với họ. Nhưng tôi tin rằng, theo truyền thống của Giáo hội, việc “nêu tên” ngay cả cho những anh chị em đã qua đời là việc làm đúng đắn. Tưởng nhớ đến người quá cố của vị chủ tế trong thánh lễ là một sự tưởng nhớ đầy đủ xét về mặt giáo hội đối với các anh chị em đã đi trước chúng ta trong đức tin, theo truyền thống của bảng ghi danh rất cổ xưa”.
“Tôi cho rằng cần phải thêm vào đây một lời nhận xét khác để hoàn thiện hơn nữa – nhà phụng vụ giải thích bằng cách nói về việc kính nhớ người quá cố trong thánh lễ – chúng ta vẫn thường nghe nhiều người nói: “hôm nay là thánh lễ của tôi” và đây là “bỗng lễ”. Việc cử hành Thánh Thể, cho dù có nêu tên người sống hay đã qua đời theo truyền thống, nó còn bao trùm toàn thể cộng đoàn Giáo hội, với những ý chỉ cho tất cả mọi người và cùng một trật nhớ đến tất cả mọi người và mọi linh hồn, bởi vì thánh lễ là Mầu nhiệm cứu độ, trong đó Chúa Kitô vẫn luôn hiện tại hóa cho tất cả mọi người”.
——————-
[1] Dittici: Bảng liệt kê tên các giám mục, linh mục, giáo dân được nhớ tới trong thánh lễ, còn sống hay đã qua đời.
2023
Tại sao chúng ta cầu nguyện cho người đang hấp hối?
Cái chết có thể là một sự kiện đáng sợ trong cuộc đời của mỗi người, nhất là khi biết mình sắp chết, biết mình sắp rời bỏ cuộc sống này bất cứ lúc nào. Và điều này cho thấy tại sao việc cầu nguyện cho người đang hấp hối cực kỳ quan trọng, bằng cách cầu xin Chúa tuôn đổ ân sủng của Ngài trên linh hồn đang đau khổ.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo giải thích lý do tại sao người hấp hối cần lời cầu nguyện của chúng ta trong phần nói về Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân:
“Ơn căn bản của bí tích này là ơn sức mạnh, bình an và can đảm để lướt thắng những khó khăn do bệnh tật hay tuổi già. Đây là hồng ân của Chúa Thánh Thần giúp người đau yếu tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, cho họ sức mạnh chống lại cám dỗ của ma quỷ, cám dỗ ngã lòng và sợ chết” (GLCG 1520).
Cảm giác xấu hổ và bất xứng có thể kìm chặt một người trước ngưỡng cửa của sự chết, khiến người đó tin rằng vì gánh nặng tội lỗi của họ nên không thể vào được Thiên đàng.
Thánh Gioan Phaolô II trong Thư gửi Người Cao Tuổi đã lưu ý rằng cái chết có thể gây ra nỗi sợ phải chịu đựng về những điều chưa biết:
“Về vấn đề này, Công đồng đã nói: ‘Trước cái chết, bí ẩn về thân phận con người lên cao tới tột độ. Con người không những bị hành hạ bởi đau khổ và sự tiến dần đến tan rã của thân xác, mà hơn thế nữa, còn bị dày vò bởi nỗi lo sợ mọi thứ bị tiêu diệt đời đời’ (GLCG 1006, GS 18). Chắc chắn, nỗi đau sẽ không thể nguôi ngoai nếu cái chết là sự hủy diệt hoàn toàn, sự kết thúc của mọi thứ. Do đó, cái chết buộc con người tự đặt ra cho mình những câu hỏi căn bản về chính ý nghĩa của cuộc sống: có gì bên ngoài bức tường tăm tối của cái chết? Liệu nó có tạo ra sự kết thúc vĩnh viễn của cuộc đời hay có điều gì đó vượt ra ngoài nó?”.
Những người đang hấp hối cần lời cầu nguyện của chúng ta để đối diện với những câu hỏi này trong bình an và thanh thản. Họ cần ơn Chúa để hoàn tất cuộc đời này mà không hề lo sợ về điều chưa biết.
Họ có thể ra đi trong bình an khi biết rằng Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết và sẽ đón nhận họ vào chốn vĩnh cửu của Ngài.
2023
Có thể Rước Lễ mà trước đó chưa xưng tội không?
Thời xưa người ta dạy rằng bạn không thể Rước Lễ nếu chưa xưng tội trước. Tôi tin rằng thời nay các quy tắc trên không còn khắt khe nữa, ngay cả Đức Thánh cha Phanxicô cũng thường nói rằng Rước Lễ không phải là phần thưởng cho những người hoàn hảo. Vậy thì có lời khuyên nào cho việc đến gần Bí tích Thánh thể đúng cách không?
Cha Gianni Cioli, giáo sư thần học luân lý trả lời.
Một lời khuyên giá trị về việc rước Thánh Thể cách đúng đắn được Giáo lý của Công đồng Trentô đề nghị trong sắc lệnh về Bí tích Thánh Thể (khóa XIII: 11 tháng 10 năm 1551): một mặt, khuyến khích người tín hữu lãnh nhận bí tích này “như của ăn và thuốc giải độc, nhờ đó họ được giải thoát khỏi tội lỗi hằng ngày và được gìn giữ khỏi tội trọng” (DS 1638). Thực vậy, đó không phải là phần thưởng cho người hoàn hảo mà là liều thuốc giải độc cho tội nhân; mặt khác, Công đồng nhắc lại rằng “không một ai khi biết mình mắc tội trọng, dù người đó có thể nghĩ rằng mình đã ăn năn, lại được phép rước Thánh Thể mà không xưng tội trước đó” (DS 1647).
Do đó, Giáo hội dựa vào truyền thống có thẩm quyền nhất của mình, được trình bày trong sắc lệnh của Công đồng Tridentinô, khuyến khích chúng ta rước lễ bất cứ khi nào có thể vì nó nhắc nhở chúng ta rằng “lương thực thiêng liêng” này, là Bí tích Thánh Thể, giải thoát chúng ta khỏi “tỗi lỗi hằng ngày”, tức là khỏi các tội nhẹ (vốn không tước đoạt ơn thánh hóa của chúng ta) và gìn giữ chúng ta khỏi các tội trọng (là thứ tước đoạt ơn thánh hóa của chúng ta). Rõ ràng là Giáo hội không bắt buộc chúng ta phải rước lễ vào mỗi Chúa nhật (có bổn phận nhưng chỉ giới hạn mỗi năm một lần!), nhưng chắc chắn điều đó khiến chúng ta hiểu rằng bỏ Rước Lễ có nghĩa là đánh mất sự trợ giúp thiêng liêng to lớn mà Chúa đã ban cho chúng ta theo lòng nhân hậu của Ngài, Đấng nhận biết được các nhu cầu của chúng ta.
Tất nhiên, với ý thức về sự cao cả và vẻ đẹp của ân sủng thôi thúc chúng ta không nên đến với Bí tích trong tình trạng bất xứng, và do đó, như Công đồng Trentô đã chỉ ra, mỗi người phải xét mình một cách chân thành và khao khát hoán cải, xưng thú các tội trọng mà mình ý thức được, nhất là nhắm đến sự hoán cải của chính mình và đời sống vĩnh cửu. Tuy nhiên những ai không biết mình đã phạm tội trọng thì đừng sợ đến gần Thánh Thể.
Đương nhiên, điều này không làm giảm đi giá trị của việc xưng tội thường xuyên kể cả xưng những tội nhẹ như Giáo hội khuyến cáo, nhưng nó không nên được liên kết một cách máy móc với việc rước lễ.
Để trả lời câu hỏi của độc giả về việc lên rước Thánh Thể đúng cách, tôi muốn nói rằng về cơ bản có hai thái độ cần quan tâm: thứ nhất là giáo dục bản thân để luôn ý thức về Đấng mà mình sẽ lãnh nhận mỗi khi Rước lễ, biết chuẩn bị bằng việc cầu nguyện (nhằm đáp lại tình yêu của Thiên Chúa) và cả bằng việc giữ chay Thánh Thể (được rút ngắn trong vòng một giờ, có vẻ như là một việc không quan trọng mấy, nhưng trái lại, theo tôi, nó duy trì chức năng tượng trưng của nó); tiếp theo là nuôi dưỡng tâm tình xét mình với lòng chân thành, không đắn đo suy nghĩ, không ngần ngại sớm chạy đến với bí tích sám hối nếu ý thức được mình đã xa cách Thiên Chúa thực sự.
Vấn đề là Giáo hội thiếu khả năng giáo dục các Kitô hữu biết xét mình một cách nghiêm túc và thanh thản. Trên thực tế, trong quá khứ, nỗi sợ mắc tội trọng đã khiến các Kitô hữu tin rằng cần phải xưng tội trước khi rước lễ, kết quả là tại các thánh lễ Chúa nhật, mặc cho khuyến khích của Công đồng Trentô, có rất ít người đi rước lễ. Có lẽ, theo quan điểm nhân học mà giáo lý định hướng, một thái độ bi quan nào đó về khả năng thực thụ của người kitô hữu bình thường trong việc tự xét mình cách chân thành thực sự chiếm ưu thế. Trái lại, ngày nay người ta có cảm tưởng rằng nhiều người tham dự Thánh lễ, thậm chí được cho là rất ít xưng tội, lên rước Thánh Thể mà không đặt nặng vấn đề về tội của mình, và hơn nữa, không cần thực hiện bất cứ hành vi xét mình nào.
Trong cả hai trường hợp đều thiếu khả năng phân định, hay đúng hơn là khả năng giáo dục để phân định, dựa trên quan điểm nhân học hiện thực và cân bằng, không bi quan cũng không ngây thơ cách lạc quan. Trong cả hai trường hợp đều có rủi ro và rủi ro đánh mất niềm vui hoán cải.
Một cách khả thi để vượt qua tình trạng nghi ngờ về thân phận tội lỗi thực sự của mình, chắc ăn là có thể thực hiện một tiến trình linh hướng nghiêm túc, nó không thay thế lương tâm nhưng giúp ta điều chỉnh lương tâm và lắng nghe nó, an bình hơn so với những chỉ dẫn của học thuyết luân lý công giáo, và nhất là trong chiều hướng lớn lên trong tình yêu của Thiên Chúa và tha nhân; một lộ trình có khả năng cung cấp những tiêu chuẩn sáng sủa cho sự phân định và để bước đi trong đức ái, cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương thực sự. Được nâng đỡ nhờ kinh nghiệm của vị linh hướng (về bản chất người đó không thể là đầu tàu hay thống trị lương tâm, nhưng là nâng đỡ cho sự hình thành lương tâm chín chắn), chúng ta nên học nghệ thuật xét mình cách chân thành và trung thực (x. 1Cor 11:28), tránh khuynh hướng đắn đo, nhìn thấy tội trọng ở khắp mọi nơi, và khuynh hướng hời hợt với bản ngã, dẫn đến việc tự xá mình khỏi mọi tội lỗi, cuối cùng là hủy bỏ chính ý niệm về tội lỗi và hủy bỏ chính kinh nghiệm về ơn cứu rỗi, niềm vui của Tin Mừng.
2023
Tính Cộng đoàn và Linh động trong cử hành phụng vụ thánh lễ
Xem trước(mở trong cửa sổ mới) 1- NHẬP ĐỀ
Phụng vụ, mà đỉnh cao là Thánh lễ, là hành vi của cộng đoàn những người nhờ Đức Tin Thiên Chúa ban cho mà có thể nhận biết, cảm tạ, ca ngợi và thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, từ thời Trung cổ, giáo dân hầu như đã bị loại ra khỏi việc tham dự sống động vào Thánh lễ, trong khi đó, giáo sĩ lại thâu tóm hầu hết các lời nguyện và bài hát của cộng đoàn trong Thánh lễ. Kể từ thời Công đồng Trento, để ngăn chận nguy cơ phủ nhận chức linh mục thừa tác, Hội Thánh đã nêu bật tầm quan trọng của chức vụ này, nhưng việc làm đó đã vô tình tạo thêm khoảng cách giữa giáo sĩ và giáo dân, cũng như làm trầm trọng thêm tính thụ động của giáo dân trong việc tham dự Thánh lễ.
Thế nhưng, Hiến chế Phụng vụ thánh của Công đồng Vatican II ra đời vào năm 1963 đã mở đường cho cuộc canh tân Phụng vụ của Hội Thánh. Cuộc canh tân Phụng vụ này đã phục hồi chiều kích cộng đoàn của các thành phần Dân Chúa trong Thánh lễ (x. PV 27), cũng như đã đề ra nhiều phương thế hữu hiệu giúp các giáo dân tham dự Thánh lễ cách ý thức, trọn vẹn và sống động hơn (x. PV 14).
2. TÍNH CỘNG ĐOÀN TRONG CỬ HÀNH THÁNH LỄ
Có thể nói rằng, tự bản chất, Phụng vụ luôn đòi hỏi phải mang tính cộng đoàn. Cộng đoàn này không chỉ dành riêng cho một hạng người thánh thiện nào, nhưng bao gồm mọi hạng người. Hiến chế Phụng vụ thánh của Công đồng Vatican II dạy rằng mỗi khi cử hành các nghi lễ, đặc biệt trong việc cử hành Thánh lễ, nên quý chuộng việc cử hành cộng đồng hơn việc cử hành đơn độc và riêng rẽ (x. PV 27). Thực thế, chính trong khi cử hành Thánh lễ mang tính cộng đoàn, các tín hữu tạ ơn Thiên Chúa và dâng lên Ngài lễ phẩm tinh tuyền, không những nhờ tay vị tư tế, nhưng còn cùng với ngài, cũng như để học cho biết dâng chính mình nữa (x.QC 95).
Theo sự hướng dẫn của Hội Thánh, kể từ sau Công đồng Vatican II, tính cộng đoàn trong Thánh lễ đã được thể hiện bằng nhiều phương cách phong phú. Trước hết, Công đồng cho phép đưa ngôn ngữ địa phương vào trong cử hành Thánh lễ (x. PV 36). Việc làm này đã mở đường để giáo dân có thể tham gia vào những lời tung hô, những câu đối đáp, những bài thánh ca trong Thánh lễ. Thứ đến, việc Công đồng yêu cầu các linh mục năng giảng Kinh Thánh (x. PV 52) đã khiến cho Lời Chúa trở thành yếu tố liên kết cộng đoàn các tín hữu với nhau trong cùng một Đức Tin. Thêm vào đó, việc Công đồng tái lập Lời nguyện tín hữu sau bài giảng các ngày lễ Chúa Nhật và lễ buộc (x. PV 53) cũng đã góp phần thăng tiến tinh thần liên đới của các tín hữu với toàn thể Hội Thánh và thế giới. Một điểm rất quan trọng nữa là việc Công đồng khuyến khích giáo dân rước lễ cũng như cho phép hiệp lễ dưới hai hình thức trong một vài trường hợp nhất định (x. PV 55). Việc làm này đã làm hiển lộ sự hiệp thông sâu xa giữa các thành phần Dân Chúa khi cùng lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa trong một Thánh lễ.
Như vậy, bằng những điều chỉnh thích đáng, Công đồng Vatican II đã làm cho tính cộng đoàn trong cử hành Thánh lễ được phục hồi và trở nên ngày một thăng tiến. Nhưng không dừng lại ở đó, Công đồng còn khuyến nghị các chủ chăn phải chú trọng và kiên tâm theo đuổi việc huấn luyện Phụng vụ cho các tín hữu (x. PV 19) để tạo điều kiện giúp họ có thể tham dự Thánh lễ ngày một tích cực hơn.
3. MỘT VÀI PHƯƠNG THẾ KHẢ DĨ GIÚP CÁC TÍN HỮU THAM DỰ THÁNH LỄ CÁCH Ý THỨC, TRỌN VẸN VÀ SỐNG ĐỘNG HƠN
Thực thế, một trong những ưu tư của Công đồng là làm sao để các chủ chăn không những chỉ chú tâm cử hành Phụng vụ thành sự và hợp pháp mà thôi, nhưng còn lo sao cho các tín hữu có thể tham dự Thánh lễ một cách ý thức, trọn vẹn và sống động, vì do chính bản tính, Thánh lễ đòi hỏi cách thức tham dự như thế (x. PV 11 và 14).
3.1. Tham dự Thánh lễ cách ý thức
Quả vậy, Hội Thánh hằng bận tâm lo lắng để các giáo dân đừng tham dự vào mầu nhiệm đức tin trong Thánh lễ như những du khách bàng quang, câm lặng, nhưng nhờ hiểu thấu đáo mầu nhiệm đó, họ tham dự các kinh nguyện và nghi lễ thánh cách ý thức hơn (x. PV 48). Do đó, Hội Thánh muốn việc chuẩn bị các bản văn bài đọc, lời nguyện và bài ca trong Thánh lễ phải thích ứng thoả đáng với nhu cầu cũng như não trạng của những giáo dân hiện diện (x. QC 352)
3.2. Tham dự Thánh lễ cách trọn vẹn
Về phía người giáo dân, Hội Thánh khuyên nhủ họ phải tham dự đầy đủ và trọn vẹn, cả hai phần Thánh lễ gồm phụng vụ Lời Chúa và Thánh Thể, nhất là trong ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc. Bởi lẽ hai phần trên được liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi làm thành một hành vi thờ phượng duy nhất (x. PV 56). Để giúp người giáo dân tham dự thánh lễ cách trọn vẹn hơn, các vị hữu trách được yêu cầu tìm cách xếp đặt cho người tín hữu có được vị trí thích hợp trong thánh đường, để họ có thể dự phần xứng đáng vào những nghi thức thánh. Ngoài ra, cũng phải liệu làm sao cho giáo dân không những nhìn thấy vị chủ tế hay các người đọc sách, mà nhờ những phương tiện kỹ thuật hiện đại, còn nghe rõ được các bài đọc, lời nguyện… (x. QC 311).
3.1. Tham dự Thánh lễ cách sống động
Bên cạnh việc mong muốn người giáo dân tham dự Phụng vụ cách ý thức và trọn vẹn, Hội Thánh còn muốn khuyến khích sự chủ động của họ trong cử hành Thánh lễ như việc tích cực đối đáp trong các nghi thức và kinh nguyện (x. QC 35 và 36). Đặc biệt, ca hát là một trong những cách thế hàng đầu giúp người giáo dân tham gia cách sống động vào Phụng vụ, thế nên, các chủ chăn cũng được mời gọi năng khích lệ giáo dân tham gia vào những lời tung hô, những bài thánh vịnh, tiền xướng và thánh ca (x. TN 27).
Như vậy, việc người tín hữu tham gia Thánh lễ một cách ý thức, trọn vẹn và sống động không chỉ khiến họ không còn cảm thấy nhàm chán hay buồn tẻ trong mỗi giờ lễ cũng như không còn cảm thấy cô đơn hay lạc lõng giữa cộng đoàn, mà lại còn có thể dẫn đưa tâm hồn họ hướng về Thiên Chúa và tạo nên sự biến đổi trong chính con người họ. Và một khi nội tâm người tín hữu đã được biến đổi cách thâm sâu, thì đời sống đạo đức và hoạt động tông đồ của họ mới có thể trở nên một niềm vui đích thực.
4. KẾT LUẬN
Quả thực, việc phục hồi và thăng tiến tính cộng đoàn trong cử hành Phụng vụ Thánh lễ kể từ sau Công đồng Vatican II đã giúp tái khẳng định bản tính Công giáo của Hội Thánh, đồng thời cũng giúp các tín hữu chủ động hiệp thông chính mình vào Nhiệm Thể Chúa Kitô. Qua từng ngày, việc Hội Thánh hằng mời gọi các tín hữu tham dự vào Phụng vụ Thánh lễ cách ý thức, trọn vẹn và sống động hơn đã góp phần thúc đẩy các thành phần Dân Chúa không ngừng vươn tới mức sung mãn của Chúa Kitô (x. PV 2).
Chính nhờ mang trong mình những tâm tình của Chúa Kitô đó (x. Pl 2, 5), mà trong mọi nơi mọi lúc, người Kitô hữu luôn biết đón nhận tha nhân trong niềm cảm thông tha thứ thực sự, để xứng đáng cùng với những người anh chị em chung một Đức Tin ấy chia sẻ Một Lương Thực Thần Linh. Và trong niềm hy vọng về Ơn Cứu Độ mai hậu, họ tin tưởng rằng vào ngày tận thế sẽ được Thiên Chúa cho vào dự bàn tiệc nơi Thiên Quốc cùng với tất cả những người anh chị em mà mình đã từng cùng nhau hiệp thông tham dự Thánh lễ khi còn ở trần thế này.
Lạc Vũ Thái Bình
Huế, 2-2023
Các chữ viết tắt trong bài viết:
– Hiến chế Phụng vụ thánh của Công đồng Vatican II: PV
– Quy chế tổng quát sách lễ Roma: QC
– Hướng dẫn mục vụ Thánh nhạc của Hội đồng Giám mục Việt Nam: TN


