2020
Người trẻ trưởng thành toàn diện
Các Kitô hữu trẻ luôn là mối quan tâm đặc biệt của toàn thể Giáo Hội. Vì thế, Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XV họp tại Rôma vào tháng 10 năm 2018 đã bàn về chủ đề: “Giới trẻ, đức tin và việc phân định ơn gọi”. Ngay sau khi kết thúc Thượng Hội đồng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông huấn Chúa Kitô đang sống – Christus vivit (Cv), gửi người trẻ và cộng đoàn dân Chúa. Trong đó ngài mời gọi các bạn trẻ chiêm ngắm tuổi trẻ của Đức Giêsu để lớn lên và trưởng thành cách toàn diện theo gương của Người: Trong thời gian sống tại Nadarét, Đức Giêsu vâng lời cha mẹ, ‘lớn lên, thêm khôn ngoan và đầy ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta’ (Lc 2,52) (x. Cv, số 26-27).
Cùng chung những thao thức ấy, Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định chọn chủ đề Mục vụ Giới trẻ cho Giáo Hội Việt Nam trong ba năm tới (2020-2022): Năm 2020: Đồng hành với người trẻ hướng tới sự trưởng thành toàn diện; năm 2021: Đồng hành với người trẻ trong đời sống gia đình; năm 2022: Đồng hành với người trẻ trong đời sống Giáo Hội và xã hội[1]. Như vậy, chủ đề năm 2020 là đồng hành với người trẻ trong tiến trình hướng tới sự trưởng thành toàn diện. Vậy một câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Như thế nào được gọi là trưởng thành toàn diện?
Tiến sĩ tâm lý học Đinh Đoàn cho rằng dưới góc nhìn khoa học, toàn diện, biện chứng ngày nay, có thể nói về ba loại, hay ba khía cạnh trưởng thành của con người: Trưởng thành sinh lý, trưởng thành tâm lý và trưởng thành văn hoá – xã hội.[2]
Trong ba loại trưởng thành nói trên, trưởng thành sinh lý là điều dễ nhận thấy nhất và cũng là điều dễ đạt được nhất nơi mỗi người, bởi nó được đo bằng chiều cao, cân nặng… Người trưởng thành về sinh lý là người có khả năng xây dựng gia đình, lấy vợ hoặc gả chồng và nếu không có bệnh tật gì đặc biệt, thì có thể sinh con. Trên thế giới, tại nhiều quốc gia, người đủ mười tám tuổi được coi là trưởng thành xét theo pháp luật, nghĩa là người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình gây ra[3].
Trưởng thành tâm lý thì ở cấp độ cao hơn, là thứ khó đạt hơn, bởi nó không có sẵn, mà mỗi người tự phấn đấu rèn luyện, thì mới có thể đạt được. Vì thế, không thể đánh giá chính xác tiêu chuẩn trên tuổi tác của con người. Trưởng thành tâm lý được đánh giá bởi sự tự lập, suy nghĩ chín chắn, nhìn trước ngó sau, ứng xử phải đạo, không hấp tấp, vội vàng. Trưởng thành về tâm lý đồng nghĩa với khả năng giải quyết những khủng hoảng, những khó khăn, lấn cấn về mặt tình cảm. Người trưởng thành không để những xô lấn của tình cảm, của những xung đột bên trong và bên ngoài cuộc sống ảnh hưởng đến lề lối suy nghĩ, cung cách và thái độ sống của mình. Ngoài ra, trưởng thành tâm lý cũng giúp phát triển và trưởng thành tâm linh, vì trong tâm lý cũng có sự phát triển về đạo đức và luân lý. Trưởng thành tâm lý cũng gắn với những thứ “có”: Có vợ hoặc chồng, có con cái, có nghề nghiệp, có địa vị xã hội nhất định (là ai đó trong xã hội, chứ không nhất thiết phải là ông nọ, bà kia), có nhà để ở, có tiền để tiêu cho những nhu cầu của bản thân và gia đình.
Loại trưởng thành cuối cùng là trưởng thành về mặt văn hoá – xã hội, cũng là đòi hỏi ở mức cao nhất, không phải ai cũng đạt được. Người trưởng thành về văn hoá – xã hội không chỉ thấu hiểu quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, mà còn dành nhiều thời gian nghĩ đến người khác, nghĩ đến “đạo lý”, đến “lương tâm”, nghĩ đến phận người, kiếp người. Người trưởng thành về văn hóa – xã hội luôn có xu hướng vị tha hơn vị kỉ, sống hướng đến những người xung quanh nhiều hơn là sống cho bản thân mình. Trong gia đình, họ sống có trách nhiệm và chu toàn bổn phận của mình, là một người con hiếu thảo với cha mẹ, một người chồng trung tín, yêu thương chia sẻ cuộc sống cùng vợ, đồng thời một người cha luôn hết lòng yêu thương chăm sóc và giáo dục con cái. Ngoài xã hội, họ chú trọng và quan tâm đến những thiếu thốn của người khác, và tìm cách giúp đỡ, đồng thời họ sống theo đạo lý, theo tiếng nói của lương tâm, tôn trọng quyền lợi của người khác và không vì danh vọng mà bán rẻ lương tâm.
Đối với các Kitô hữu, những người có niềm tin vào Thiên Chúa, ngoài ba khía cạnh trưởng thành theo các nhà tâm lý học nói đến như sinh lý, tâm lý và văn hoá – xã hội chúng ta vừa đề cập ở trên. Đối với các Kitô hữu hay những người có niềm tin, trưởng thành về đời sống tâm linh cũng là một đòi hỏi cần thiết. Đức Thánh Cha Phanxicô viết trong Tông huấn Chúa Kitô đang sống rằng: “Nhiều người trẻ quan tâm đến thân thể mình, tìm cách phát triển thể lý hoặc ngoại hình. Những người trẻ khác thì cố gắng phát huy tài năng và kiến thức của mình… Một số người trẻ khác nhắm cao hơn, cố gắng dấn thân hơn và tìm kiếm một sự phát triển tâm linh…” (Cv, số 158).
Quả thật, việc gặp gỡ và củng cố tình bạn với Chúa Kitô, Đấng đang sống, là điều thật quan trọng và cần thiết cho mỗi người Kitô hữu, nhất là những Kitô hữu trẻ. “Bởi lẽ, dù chúng ta có sống và trải nghiệm đến đâu chăng nữa, cũng sẽ không bao giờ chạm đến ý nghĩa sâu xa nhất của tuổi trẻ và không nhận biết được tuổi trẻ đầy đủ nhất, nếu chúng ta không gặp gỡ Người Bạn lớn mỗi ngày, nếu chúng ta không sống trong tình bạn với Đức Giêsu” (x. Cv, số 150). Vì “Đức Giêsu là ‘người trẻ giữa những người trẻ để nên mẫu gương cho người trẻ và thánh hiến họ cho Chúa.” (Cv, số 22). Qua việc gặp gỡ Chúa, người trẻ sẽ được Người hướng dẫn, đồng hành giúp đỡ trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Người trẻ gặp gỡ “Người Bạn lớn” nhờ cầu nguyện với Lời Chúa, tôn thờ Thánh Thể, tham dự phụng vụ cách tích cực và sốt sắng.
Bên cạnh đó, theo Đức Thánh Cha: Dấu hiệu của người trẻ trưởng thành là khi họ đưa ra lựa chọn và đi đến quyết định trong những vấn đề nghề nghiệp, xã hội, chính trị. Ngoài ra, họ còn phải đưa ra những quyết định khác, triệt để hơn, những quyết định mà sẽ định đoạt đến hướng đi dứt khoát cho cuộc đời họ, quyết định liên quan đến tình yêu, việc chọn lựa người bạn đời và việc có những đứa con đầu tiên (x. Cv, số 140). Ngài nói tiếp: Dấu hiệu của người trưởng thành là khi người ta bắt đầu đi làm… Việc làm xác định và ảnh hưởng đến căn tính và ý thức về chính mình của một người trẻ, đồng thời là nơi chủ yếu để phát sinh tình bằng hữu và các mối tương quan khác (x. Cv, số 268). Đối với người trẻ, việc làm cũng là điều cần thiết cho cuộc sống, là con đường để trưởng thành, để phát triển nhân bản và hoàn thiện con người mình hơn (x. Cv, số 269). Hơn nữa, với người trẻ chúng ta, việc làm không đơn thuần chỉ là để kiếm tiền, mà còn là thể hiện phẩm giá con người, một con đường để trưởng thành và hòa nhập xã hội (x. Cv, số 271).
Ngoài ra, người trẻ sống trưởng thành là người biết khôn ngoan phân định điều gì tốt, cần phát huy và điều gì xấu, cần xa tránh. Điều này đòi hỏi người trẻ phải luôn luôn huấn luyện lương tâm ngay thẳng, “việc huấn luyện này bao hàm để cho Chúa Kitô biến đổi mình, đồng thời, đó là một thói quen làm điều thiện, kiểm điểm lại việc thực hành này khi xét mình” (Cv, số 282).
Đức Thánh Cha mong người trẻ biết quý trọng bản thân mình, thật nghiêm túc với chính mình và cố gắng phát triển bản thân về đời sống thiêng liêng. Nhiệt huyết đặc trưng của những người trẻ trưởng thành là việc tìm kiếm “sự công chính, đức tin, đức ái, bình an” (2 Tm 2,22) (x. Cv, số 159). Đồng thời, người trẻ trưởng thành cũng là những người “sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi hoạt động thiện nguyện, trở nên công dân tích cực và sống tình liên đới trong xã hội” (Cv, số 170).
Dựa vào hướng dẫn từ chính Tông huấn, Hội đồng Giám mục Việt Nam trong Thư chung gửi cộng đoàn dân Chúa và đặc biệt người trẻ năm 2019, mời gọi các mục tử, những người làm công tác mục vụ giới trẻ, đặc biệt là cha mẹ, hãy đồng hành để giúp các thanh thiếu niên lớn lên và trưởng thành. Cũng như chính mỗi người trẻ chúng ta được mời gọi tự đào luyện về thể lý, tâm lý, tâm linh, để có thể sống hoàn thiện hơn trong mọi phương diện hầu trở nên người có ích cho xã hội và Giáo Hội.
Trước hết về thể lý, người trẻ được mời gọi rèn luyện thân thể khỏe mạnh, giữ kỷ luật đối với chính bản thân, phòng ngừa các đam mê nguy hại như rượu, bia, ma túy, cờ bạc, nghiện game.
Thứ đến về phương diện tâm lý, người trẻ tập luyện các đức tính nhân bản, đặc biệt tính trung thực, ý thức công bằng, lương tâm ngay thẳng, tinh thần trách nhiệm. Người trẻ tập sinh hoạt cộng đồng, nhờ đó hướng mở tới tha nhân, tập sống chung và làm việc chung với tinh thần liên đới, quảng đại, vị tha. Những người đồng hành mở các lớp kỹ năng sống giúp người trẻ nhận diện giá trị bản thân, trưởng thành tâm lý và tính dục, phát triển tương quan hài hòa với mọi người.
Ngoài ra, đời sống tâm linh, các bạn trẻ được mời gọi gặp gỡ và củng cố tình bạn với Chúa Kitô, Đấng đang sống, nhờ cầu nguyện với Lời Chúa, tôn thờ Thánh Thể, tham dự phụng vụ cách tích cực. Để thực hiện mục tiêu này, các mục tử và giáo lý viên cần canh tân việc dạy giáo lý cho giới trẻ bằng cách tổ chức các buổi tọa đàm, thảo luận theo chuyên đề, nhất là những vấn đề thiết thân với giới trẻ.
Về văn hóa, “không thể tách rời việc đào tạo tâm linh ra khỏi đào tạo về văn hóa” (Cv, số 223). Đào tạo văn hóa đích thực là phát triển sự khôn ngoan, tức là tri thức nhân văn và phát triển nhân bản, chứ không chỉ tìm lợi ích vật chất và hiệu quả cụ thể tức thời.
Cuối cùng là việc phân định ơn gọi, người trẻ cũng cần được đồng hành và hướng dẫn trong việc phân định tiếng gọi của Thiên Chúa, kêu mời họ bước vào đời sống tu trì hoặc đời sống hôn nhân, để họ có thể đáp lại tiếng gọi của Chúa với tất cả tự do, ý thức đức tin và quảng đại dấn thân.
Như vậy, để là một người trưởng thành, ngoài sự nở nang và sự phát triển về thể xác, mỗi người còn phải được phát triển về tâm lý. Điều này được kiểm chứng bằng sự quân bình trong giao thiệp, nói năng, cư xử và giải quyết những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống hằng ngày. Ngoài ra, theo tôn giáo, sự trưởng thành thể lý và tâm lý cần thiết để giúp con người phát triển và đi tới sự trưởng thành tâm linh. Thay cho lời kết, xin được nhắc lại lời của một học giả gửi đến cho chúng ta: Trưởng thành không phải là lúc ta làm được những chuyện lớn lao mà là lúc ta hiểu được những điều bé nhỏ. “Hiểu những điều bé nhỏ”, để quan tâm đến người khác và muốn cho họ sống vui. Đó là bí quyết của hạnh phúc.
[1] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung gửi cộng đoàn dân Chúa, đặc biệt là các bạn trẻ năm 2019.
[2] Đinh Đoàn, Tâm lý học: Thế nào là người trưởng thành? http://dinhdoan.net/tam-ly-hoc-the-nao-la-nguoi-truong-thanh/, truy cập ngày 09/3/2020.
[3] x. Trần Mỹ Duyệt, Người Kitô hữu trưởng thành, http://tinmung.net/GIADINH/GiaDinhKitoHuu/KitoHuuTruongThanh/NguoiKitoHuuTruongThanh.htm, truy cập ngày 08/3/2020.
Vinc. Thiên Phúc
2020
Giáo dục nhân bản trong gia đình
- Gia đình Việt Nam hiện nay
Gia đình Việt Nam trong những thập kỷ qua có nhiều sự biến đổi dưới tác động của sự thay đổi nhanh chóng của xã hội theo nhiều chiều hướng, cả tích cực lẫn tiêu cực.
Một số dữ liệu thống kê cung cấp bức tranh tạm phác hoạ của gia đình Việt Nam:
– Tuổi kết hôn trung bình là 25 tuổi. Tuổi kết hôn có chiều hướng tăng qua các năm có thể cho thấy người trẻ có sự chín chắn, cẩn trọng hơn trong quyết định hôn nhân.
– Tỷ lệ lao động nữ đã qua đào tạo tăng từ 12,3% (2007) lên 20,9% (sơ bộ 2017). Các số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nữ giới được học tập và tham gia lao động ngoài xã hội ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ, và cả việc giáo dục con cái không tăng đáng kể và chưa tương xứng với sự gia tăng của phụ nữ tham gia thị trường lao động (Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96)).
– Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong gia đình Việt liên tục từ năm 2006 đến nay: 109,8 bé trai/100 bé gái (năm 2006) lên 113,8 bé trai/100 bé gái (năm 2013), mất cân bằng cả ở nông thôn và thành thị; người có điều kiện kinh tế, học vấn cao hơn lại lựa chọn giới tính khi sinh nhiều hơn. Theo dự báo đến năm 2050, VN thừa 3-4 triệu đàn ông không lấy được vợ.
– 27,5% gia đình Việt có xung đột: Theo khảo sát trên 1.500 người của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và Môi trường (iSEE) tiến hành trong tháng 5 và tháng 6/2015, gia đình Việt Nam đang đối mặt với một số vấn đề như xung đột, bất hòa giữa các thành viên trong gia đình (27,5%), ngoại tình (16%), nợ quá khả năng chi trả (9,9%) và các vấn đề khác.
– Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2016 có 24.308 vụ ly hôn đã xét xử; năm 2017 là 27.948. Một số liệu khác lại cho thấy con số lớn hơn nhiều: năm 2000 là 51.361; năm 2005 là 65.929 (điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng Cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF, trích theo Family).
- Giáo dục gia đình qua một số nghiên cứu
2.1 Giáo dục gia đình và tác động đến con cái
– Nguyễn Thị Anh Thư (2006) phân tích 2 trường hợp trẻ được chẩn đoán tăng động giảm chú ý để chỉ ra tác động của giáo dục gia đình, đặc biệt vai trò của cha và mẹ trong việc kìm hãm, điều chỉnh những rối nhiễu ở trẻ hay làm tăng thêm rối nhiễu nếu cha mẹ không có cách giáo dục phù hợp. Đoàn Việt (2005) nghiên cứu các biện pháp giáo dục con của cha mẹ vùng nông thôn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ vẫn quan niệm đánh, mắng con là những biện pháp, công cụ để giáo dục con; một số cha mẹ đã có thay đổi trong nhận thức về việc sử dụng các biện pháp bạo lực trong giáo dục con nhưng trong thực tế họ vẫn thỉnh thoảng sử dụng biện pháp bạo lực như giải pháp tức thời trong tình huống con phạm lỗi, điều này cho thấy sự lúng túng của cha mẹ trong việc đổi mới nhận thức và phương pháp giáo dục con.
– Tác giả Lưu Song Hà (2008) tìm hiểu đánh giá của chính cha mẹ về bản thân và so sánh với cảm nhận của con cái về cha mẹ ở học sinh trung học cơ sở. Kết quả cho thấy có những khác biệt về mức độ hiểu con giữa đánh giá của người cha về bản thân và cảm nhận của con về cha mình. Đối với người mẹ, sự khác biệt thể hiện ở tiêu chí tin tưởng và bình đẳng.
– Nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ cho thấy cha mẹ có xu hướng giữ gìn các mối dây liên hệ cho sự hoà hợp gia đình mà vẫn ủng hộ độc lập của cá nhân (Hoàng M.K., 2005). Các cha mẹ Việt đều có chỉ số khuyến khích tự chủ-tự lập và chỉ số tình cảm cao hơn chỉ số kiểm soát độc đoán.
– Các nghiên cứu khác cũng cho thấy cha mẹ tỏ ra quan tâm nhiều đến con cái của mình ở những độ tuổi khác nhau (Lưu Song Hà, 2007; Lã Thị Thanh Thủy, 2009; Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức, 2012). Đặc biệt, tác giả Lưu Song Hà trong nghiên cứu của mình đã nhận thấy rằng, các em học sinh ở độ tuổi trung học cơ sở dù biết rằng cha mẹ quan tâm nhiều đến mình, nhưng các em vẫn mong muốn được cha mẹ quan tâm hơn nữa, và đối xử với mình bớt nghiêm khắc hơn. Đây cũng chính là hai điều mà các em học sinh muốn cha mẹ mình thay đổi nhất. Theo lập luận của tác giả Lưu Song Hà thì nguyên nhân của mong muốn này xuất phát từ việc cha mẹ của các em rất bận rộn với công việc và không nhiều thời gian dành cho con – một thực tế chung cho phần lớn các gia đình hiện nay. Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ cha mẹ không dành chút thời gian nào để chăm sóc con cái dưới 15 tuổi: 6,8% người mẹ và 21,5% người cha.
– Sự thiếu hụt kiến thức của các bậc cha mẹ về đặc điểm phát triển nhận thức, sự thay đổi tâm sinh lý của con cái trong giai đoạn vị thành niên và không nắm được các phương pháp giáo dục con một cách hiệu quả là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ xung đột giữa cha mẹ và con cái (Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96)).
2.2 Tương quan giữa cha mẹ và con tuổi vị thành niên
Trẻ vị thành niên được nuôi dưỡng tốt nhất khi những mối quan hệ trong gia đình của trẻ tìm được sự cân bằng giữa sự tự chủ – tự lập và gắn bó với cha mẹ. Nghiên cứu của Allen và cộng sự (1994) về sự cần thiết của cha mẹ trong việc tạo ra cân bằng giữa phát triển tự chủ-tự lập và gắn bó với cha mẹ. Theo đó, có 2 loại hành vi đặc thù liên quan đến sự tự chủ-tự lập của trẻ vị thành niên: hành vi cho phép và hành vi kìm hãm. Những phụ huynh có hành vi cho phép được đánh giá cao thì thường chấp nhận con cái của họ, đồng thời giúp trẻ phát triển và đưa ra ý kiến riêng của mình thông qua những câu hỏi, sự giải thích, và sự bao dung về sự khác biệt quan điểm. Ngược lại, cha mẹ nào sử dụng nhiều hành vi kìm hãm thì sẽ khó chấp nhận cá tính của con em mình, đồng thời phản ứng lại với sự thể hiện suy nghĩ của trẻ bằng những lời nhận xét là thiếu tập trung, phán xét hoặc ít có giá trị. Trẻ vị thành niên có cha mẹ sử dụng nhiều hành vi cho phép lẫn một chút sự kìm hãm thì có khả năng thể hiện cá tính nhiều hơn và có nhiều tiến triển trong sự phát triển bản ngã cũng như năng lực tâm lý xã hội.
Thanh thiếu niên dần dần có được quyền tự chủ – tự lập từ cha mẹ. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, khái niệm tự chủ tự lập được định nghĩa theo các khuynh hướng khác nhau. Tự chủ cảm xúc đề cập đến sự độc lập, tách rời, liên quan đến sự thay đổi trong tương quan giữa cha mẹ và trẻ. Tự chủ cảm xúc dường như đem lại những ảnh hưởng rất khác biệt đến trẻ vị thành niên, phụ thuộc vào mức độ của sự hòa hợp trong mối quan hệ giữa cha mẹ – trẻ. Những trẻ trở nên tự chủ về cảm xúc nhưng đồng thời có cảm giác xa cách, tách biệt với cha mẹ thì sẽ có biểu hiện kém trong mức độ đo lường về điều chỉnh tâm lý cá nhân, còn những trẻ khác, thể hiện cùng mức độ tự chủ cảm xúc nhưng vẫn đi kèm cảm giác gần gũi, gắn bó với cha mẹ thì có đời sống tinh thần khỏe mạnh hơn bạn bè cùng lứa.
Tự chủ về hành vi đề cập đến khả năng quyết định và thực hiện độc lập. Nỗ lực ban đầu của thanh thiếu niên để thiết lập hành vi tự chủ trong gia đình thường là nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa cha mẹ và thanh thiếu niên. Giữa thời kỳ niên thiếu, trẻ vị thành niên hành động và được đối xử giống người lớn hơn. Trẻ có nhiều ảnh hưởng đến các quyết định gia đình, và do vậy, không cần khẳng định ý kiến của mình bằng các hành vi chưa trưởng thành (Grotevant, 1998). Trẻ cũng được phép dành nhiều thời gian riêng tư mà không phải chịu sự giám sát trực tiếp của cha mẹ.
Nhìn chung, thanh thiếu niên tự chủ- tự lập cho thấy họ khá thân với cha mẹ, thích có các hoạt động chung với gia đình, tuy có một ít xung đột với cha mẹ nhưng thanh thiếu niên vẫn cảm thấy thoải mái khi cha mẹ tư vấn, chia sẻ, và nói rằng họ muốn được như cha mẹ (Kandel và Lesser, 1972). Các mối quan hệ gia đình căng thẳng xuất hiện có liên quan đến thiếu tự chủ trong tuổi niên thiếu, chứ không phải với sự hiện diện tất yếu của thời kỳ vị thành niên.
Có những thay đổi trong sự hài hoà trong gia đình khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên. Mặc dù có ít nghiên cứu tìm hiểu về tình cảm giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ, nhưng một số ít minh chứng từ kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ giữa cha mẹ và con ít gần gũi hơn khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên, được nhận thấy qua việc trẻ ít tham gia vào các hoạt động chung trong gia đình và cha mẹ và trẻ ít thể hiện tình cảm. Thực ra, mối quan hệ ít gần gũi giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên chỉ là thể hiện mong muốn gia tăng sự độc lập và riêng tư của trẻ và vì trẻ đã lớn, cha mẹ ít thể hiện tình cảm qua cử chỉ, lời nói, đó không phải là không còn tình yêu và tôn trọng giữa cha mẹ và con cái (Montemayor, 1983, 1986). Nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ có thể trở nên ít mâu thuẫn và thân mật hơn trong giai đoạn cuối tuổi vị thành niên (Thornton, Orbuch, và Axinn, 1995; Larson et al., 1996).Trong các gia đình có sự gắn bó tốt giữa cha mẹ và con ở tuổi đầu vị thành niên vẫn giữ được tương quan gần gũi trong giai đoạn vị thành niên mặc dù tần suất trao đổi, tương tác và các hoạt động chung giữa cha mẹ và con có thể giảm. Mặc dù một số trẻ vị thành niên và cha mẹ có những vấn đề mâu thuẫn, nhưng nhìn chung trong các gia đình, trẻ vị thành niên vẫn có mối quan hệ tốt với cha mẹ, tôn trọng cha mẹ và cảm nhận được tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc cha mẹ dành cho mình (Steinberg, 2001).
Mặc dù xung đột là yếu tố đặc trưng trong mối quan hệ giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ, nhưng nghiên cứu cho thấy rõ ràng những xung đột gay gắt, thường xuyên và dẫn đến bạo lực là không bình thường. Những ảnh hưởng tiêu cực của xung đột giữa trẻ vị thành niên và cha mẹ không nằm ở vấn đề của xung đột mà ở cách thức giải quyết xung đột. Xung đột thường được giải quyết bằng sự phục tùng của trẻ hoặc bằng việc rút lui (bỏ đi chỗ khác), hoặc bằng việc bỏ ngoài tai những lời của cha mẹ (Đỗ Hạnh Nga, 2014). Các cách thức này đều không đem lại hiệu quả cải thiện mối quan hệ cũng như giúp trẻ phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy các gia đình rất khác nhau trong vấn đề mâu thuẫn và xung đột giữa cha mẹ và con tuổi vị thành niên. Smetana (1996) đưa ra ba nhóm mâu thuẫn gia đình: i) nhóm đông nhất thường xuyên có xung đột, nhưng không mâu thuẫn không gay gắt, lặt vặt và không có bạo lực; ii) một nhóm nhỏ các gia đình được thấy là không hề có xung đột giữa cha mẹ và con vị thành niên; iii) nhóm gia đình thứ ba cũng thường xuyên có xung đột, mâu thuẫn gay gắt và có thể dẫn đến bạo lực. Theo Smetana (1996), nhóm gia đình 1 thuộc loại gia đình với những xáo trộn điển hình trong thời kỳ này, nhóm 2 là một số ít các gia đình đã khéo léo vượt qua được các khó khăn và thành công trong việc điều chỉnh lại các mối quan hệ để phù hợp với đặc điểm phát triển của tuổi vị thành niên, nhóm 3 đại diện cho các gia đình với nguy cơ rối loạn tâm thần và các vấn đề về điều chỉnh hành vi nơi trẻ vị thành niên. Tóm lại, mâu thuẫn và xung đột thường xuyên, gay gắt, bạo lực là điều không bình thường trong thời kỳ vị thành niên; trong khi những tranh cãi về công việc nhà, quần áo, thời gian vào internet, hoặc các quy tắc, quy định là điều bình thường trong các gia đình có con tuổi vị thành niên. Hầu hết những mâu thuẫn này thể hiện sự thay đổi trong quá trình trưởng thành về nhận thức của trẻ, đặc biệt sự nhìn nhận và thể hiện quan điểm cá nhân về quy ước xã hội.
2.3 Phong cách giáo dục của cha mẹ
Nghiên cứu của Hoàng Mai Khanh (2014) về bốn yếu tố thể hiện phong cách giáo dục của cha mẹ tại một trường THCS quận 1, TP. HCM cho thấy cha mẹ tự đánh giá mình thể hiện sự yêu thương, quan tâm đến con cái tương đối khá, đồng thời không đề cao cách giáo dục áp đặt, con cái phải hoàn toàn tuân theo yêu cầu của cha mẹ. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn sử dụng hình phạt với con cái. Cha mẹ vẫn sử dụng hình phạt như một cách thức kỷ luật đối với con: 83,8% cha và mẹ đồng ý và hoàn toàn đồng ý dùng hình phạt khi con hư, nhưng cha mẹ cũng nhận thức rằng hình thức chỉ trích và la mắng không phải là cách giáo dục tốt để con tiến bộ (71% cha mẹ ít đồng ý và không đồng ý với hình thức này).
Khuyến khích tự chủ – tự lập là yếu tố được cha mẹ quan tâm thực hiện trong giáo dục con cái ở độ tuổi THCS. 75% cha mẹ khuyến khích con tự tìm cách giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn. Cha mẹ chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tư vấn, trẻ được tự do suy nghĩ và chọn lựa. Một kết quả thú vị là cha mẹ rất chú trọng việc phát triển nhận thức, suy nghĩ độc lập cho con qua việc khuyến khích con đặt câu hỏi và suy nghĩ về cuộc sống (91% đồng ý và hoàn toàn đồng ý).
Một kết quả tích cực từ nghiên cứu là các chỉ số thể hiện sự xung khắc giữa cha mẹ và con được đánh giá thấp nhất. Chính trẻ vị thành niên cũng nhận xét ít có mâu thuẫn với cha mẹ. Kết quả này cho thấy xung đột giữa cha mẹ và trẻ vị thành niên thường là những xung đột nhỏ, lặt vặt, không gay gắt và không có bạo lực. Đây là những xung đột điển hình trong thời kỳ này, cả cha mẹ và trẻ đều đang trải qua một thời kỳ thích nghi với một giai đoạn/chu kỳ mới trong cuộc sống gia đình. Trẻ khám phá chính bản thân mình, khám phá khả năng tiềm ẩn của chính mình, học hỏi và rèn luyện những khả năng đó để định vị mình trong xã hội. Cha mẹ cũng học hỏi và thích nghi với sự trưởng thành của con cái.
Cũng giống như cha mẹ, cảm nhận của con về tình yêu thương quan tâm của cha mẹ có chỉ số cao nhất, tiếp đến là yếu tố khuyến khích tự chủ – tự lập. Trẻ vị thành niên cũng có nhận định cha mẹ mình không kiểm soát độc đoán cao trong giáo dục và ít có xung khắc giữa cha mẹ và con.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cha mẹ và trẻ vị thành niên đều đánh giá cao yếu tố khuyến khích sự tự chủ – tự lập, và có sự tương đồng trong quan điểm, nhìn nhận sự tự chủ – tự lập trên 3 khía cạnh: trách nhiệm, thể hiện bản thân và khả năng chọn lựa. Cha mẹ và thiếu niên định nghĩa tự chủ – tự lập là có tinh thần trách nhiệm, chủ động, tự giác, thể hiện bản thân và khả năng quyết định. Quan điểm này phù hợp với khái niệm cái Tôi tự chủ trong liên đới (autonomous-related Self (Kagitcibasi, 1996)) không trở nên tách biệt, độc lập hoàn toàn với người khác, mà là hài hòa và phù hợp với người khác. Trong quá trình phát triển bản sắc cá nhân và xã hội, gắn bó an toàn và khích lệ của cha mẹ là một trong những điều kiện cần thiết. Trong quá trình đạt đến tự chủ – tự lập, trẻ phát triển bản sắc cá nhân và xã hội trong các mối quan hệ xã hội bình đẳng và hỗ trợ tích cực. Sự gắn bó an toàn và khích lệ của cha mẹ rõ ràng cần thiết và thúc đẩy quá trình phát triển tự chủ – tự lập của thanh thiếu niên. Có thể kết luận trong các gia đình lành mạnh, các thiếu niên thân thiết với cha mẹ, đáp ứng thẩm quyền của cha mẹ và tiếp tục tin tưởng vào sự tư vấn của cha mẹ, trong khi vẫn thể hiện tính tự chủ – tự lập ngày càng cao trong các hoạt động của cuộc sống.
2.4 Bàn luận về giáo dục nhân bản qua các kết quả nghiên cứu về giáo dục gia đình và những thách thức của gia đình
Giáo dục Nhân bản (bản chất của con người) là giáo dục nhằm giúp nhận biết con người thật của mình là hình ảnh của Thiên Chúa, duy nhất, độc đáo, độc lập, trọn vẹn giá trị. Theo định nghĩa này, bức tranh giáo dục của cha mẹ được trình bày từ các kết quả nghiên cứu có thể đưa đến kết luận như thế nào về giáo dục nhân bản trong gia đình?
Với phong cách giáo dục dân chủ – nghiêm minh, thể hiện tình yêu thương, quan tâm đối với con và khuyến khích sự tự chủ – tự lập, khám phá và phát triển “cái Tôi” duy nhất, độc đáo trong sự liên đới, trách nhiệm với con người, môi trường và xã hội, cha mẹ đã đáp ứng mục tiêu của giáo dục nhân bản.
Tuy nhiên, cũng cần nêu rõ là nghiên cứu thực hiện trên địa bàn quận trung tâm, các gia đình lành mạnh và cha mẹ có trình độ và hiểu biết tốt. Vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ các cha mẹ bận rộn suốt ngày, trẻ con bị giảm thiểu các mối quan hệ giao tiếp và cũng là giảm thiểu những bài tập đầu tiên và cơ bản của giao tiếp xã hội. Ở nông thôn, cha mẹ bỏ ra thành phố kiếm việc dài ngày, con cái phó mặc cho ông bà già. Ở thành thị, trẻ được giao phó cho người giúp việc, trẻ chỉ nhận được tình yêu của cha mẹ qua vài dòng dặn dò ghi trên tấm bảng. Có trẻ tự nhận mình mồ côi ngay khi vẫn còn bố mẹ. Các cha mẹ giáo dục con cái không đúng cách, làm ngơ cho lỗi lầm của con trẻ, đánh đòn con bất kể lý do gì, hay có thái độ bất lực đối với các hành vi mắc lỗi của con cái. Số liệu điều tra Thanh niên và vị thành niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2009) cho thấy, có đến 4,1% trẻ vị thành niên tuổi 14 – 17 cho biết đã bị người trong gia đình đánh thương tích, có thể hiểu chủ yếu là cha mẹ đánh. Số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có 1,4% người làm cha mẹ đã đánh trẻ khi con cái mắc lỗi trong 12 tháng trước khảo sát. Sự thiếu hụt kiến thức của các bậc cha mẹ về đặc điểm phát triển nhận thức, sự thay đổi tâm sinh lý của con cái trong giai đoạn vị thành niên và không nắm được các phương pháp giáo dục con một cách hiệu quả là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ xung đột giữa cha mẹ và con cái.
Bên cạnh những thách thức như công việc bận rộn, thời gian eo hẹp, cả cha và mẹ đều đi làm. Xung đột giá trị là một trong những thách thức lớn của gia đình. Trong bối cảnh của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhất là dưới sự tác động của toàn cầu hóa, hệ giá trị gia đình ở Việt Nam đang có sự biến đổi rất lớn. Bên cạnh những giá trị cổ truyền như “kính trên, nhường dưới”, “trọng xỉ” (tôn trọng người cao tuổi), thì những giá trị mới như coi trọng “quyền tự do cá nhân”, “bình đẳng giới”, “quyền trẻ em”, “sự tự chủ – tự lập” cũng ngày càng được khẳng định. Các nghiên cứu xã hội học cũng ghi nhận xu hướng tiếp nhận giá trị mới, tiêu biểu nhất là sự bình đẳng giới, bình đẳng giữa các thế hệ trong đời sống gia đình. Tỷ lệ ưu tiên lựa chọn giá trị này ở mức trung bình (51,6%), phản ánh tính chất quá độ trong sự chuyển đổi của gia đình từ truyền thống sang hiện đại. Bình đẳng là một giá trị của xã hội hiện đại, hơn nữa, là một giá trị thuộc về chất lượng cuộc sống. Trong thời kỳ hiện đại, nhất là ở các xã hội đang chuyển đổi, người ta không thể không có sự lựa chọn giữa giá trị sinh tồn và giá trị tự biểu hiện, giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống.
Sự biến đổi này, trong một chừng mực nhất định, đã làm cho mối quan hệ ông bà – cha mẹ – con cháu không thuận chiều như trước đây và làm tăng những mâu thuẫn và xung đột thế hệ. Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có khoảng 1/10 số ý kiến từ các hộ gia đình có 3 thế hệ chung sống thừa nhận có sự không thống nhất về các vấn đề về lề lối sinh hoạt, cách quản lý tiền và tiêu tiền, cách thức làm ăn và phát triển kinh tế gia đình, cũng như về phương pháp giáo dục con cháu.
Tuy nhiên, từ các lý thuyết và kết quả nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ, có thể thấy các giá trị truyền thống hay các giá trị mới đều không hề xung đột với phong cách giáo dục yêu thương, quan tâm, xây dựng tương quan gắn bó, tin tưởng, chia sẻ, lắng nghe và tôn trọng giữa cha mẹ và con và khuyến khích sự tự chủ – tự lập.
Bên cạnh đó, giáo dục nhân bản và giáo dục đức tin còn thông qua chính cuộc sống, công việc, các tương quan, ứng xử, các quyết định, chọn lựa hằng ngày của cha mẹ. Đó chính là cuốn sách sống động về giáo dục nhân bản và đức tin cho con cái.
Tóm lại, giáo dục là một ơn gọi, sứ mạng cao cả nhất của cha mẹ được thực hiện qua cuộc sống hằng ngày, qua từng ứng xử, từng lời nói với con cái. Giáo dục của cha mẹ mang tính cách độc đáo – cha mẹ là “người mẫu” (dù muốn hay không muốn). Trẻ thẩm thấu từ cha mẹ cách yêu thương chính mình và yêu thương người khác, các quan niệm và giá trị, các hành động, ứng xử, giải quyết vấn đề và các chọn lựa trong cuộc sống. Tương quan giữa cha mẹ và con cái là một tình yêu đặc biệt, không thể thay thế, cùng với những hiểu biết khoa học về giáo dục, tâm lý sẽ giúp cha mẹ trở thành Người thầy tuyệt vời nhất của con.
Biển Đức Hoàng Mai Khanh
Tài liệu tham khảo
- Allen, J., Hauser, S., Bell, K., and O’Connor, T. (1994). Longitudinal assessment of autonomy and relatedness in adolescent-family interactions as predictors of adolescent ego development and self- esteem. Child Development 64, pp. 179-194.
- Đỗ Hạnh Nga (2014), Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở về nhu cầu độc lập. TP. HCM: NXB ĐHQG-HCM.
- Grotevant, H. (1998). Adolescent development in family contexts. In W. Damon (Series Ed.) and N. Eisenberg (Vol. Ed.), Handbook of child psychology: Vol. 3. Social, emotional, and personality development. (5th ed., pp. 1097-1150). New York: Wiley.
- Hoàng Mai Khanh. (2005). Pratiques éducatives parentales et l’autonomie de l’enfant. Comparaison France-Viet Nam. Thèse de doctorat en Sciences de l’Éducation. Université de Paris X – Nanterre, France.
- Hoàng Mai Khanh. (2014). Phong cách giáo dục của cha mẹ: tự đánh giá của cha mẹ và nhận định từ con cái lứa tuổi học sinh THCS. Đề tài NCKH trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM.
- Kagitcibasi, C. (1996). Family and human development across cultures: A view from the other side. Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum.
- Kandel, D., and Lesser, G. (1972). Youth in two worlds. San Francisco: Jossey-Bass.
- Lã Thị Thanh Thủy. 2009 Mức độ kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái lứa tuổi tiểu học. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”, Hà Nội, 08/2009, 232-237.
- Lưu Song Hà (2007), Tự đánh giá của cha mẹ và những khác biệt giữa nó với cảm nhận của con về cha mẹ trong quan hệ cha mẹ – con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, Tạp chí Tâm lý học, số 2-2007, tr.24-29.
- Lưu Song Hà. (2008). Tác động của giáo dục gia đình đến động cơ thành đạt của thanh niên. Tạp chí Tâm lý học, 8, 16-21.
- Montemayor, R. (1983). Parents and adolescents in conflict: All families some of the time and some families most of the time. Journal of Early Adolescence, 3, 83-103
- Montemayor, R. (1986). Family variation in parent-adolescent storm and stress. Journal of Adolescent Research, 1, 15-31.
- Montemayor, R., and Brownlee, J. (1987). Fathers, mothers, and adolescents: Gender-based differences in parental roles during adolescence. Journal of Youth and Adolescence, 16, 281-292.
- Nguyễn Hữu Minh. (2015). Gia đình Việt Nam sau 30 năm Đổi mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. 11 (96).
- Nguyễn Thị Anh Thư, (2006), Ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến tăng động giảm chú ý ở trẻ em, Tạp chí Tâm lý học, số 11 (92), tr.34-39.
- Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức. (2012). Mối quan hệ giữa ứng xử trong gia đình và kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở. Tạp chí Tâm lý học, 8, 68-79.
- Smetana, J. G. (1996). Adolescent-parent conflict: Implications for adaptive and maladaptive development. Rochester, NY: University of Rochester Press.
- Steinberg, L., & Morris, A. S. (2001). Adolescent development. Annual Review Psychology, 52, 83-110.
- Thornton, A., Orbuch, T. L., and Axinn, W.G. (1995). Parent-child relationships during the transition to adulthood. Journal of Family Issues, 16, 538-564.
2020
Lãnh đạo như Giêsu – dẫn nhập
LÃNH ĐẠO NHƯ GIÊ-SU
Dẫn nhập
Nếu bạn quan sát những gì đang diễn ra khắp nơi trên thế giới và ngay chính nơi mình sống và làm việc, thì bạn nhận ra rằng thế giới đang đối diện với sự khủng hoảng về lãnh đạo và thế giới đang rất cần một mẫu gương lãnh đạo khác, một mẫu gương chuẩn mực đúng đắn về vai trò lãnh đạo toàn diện và chính trực.
Có một người đã thi hành và dạy bảo hoàn hảo về nghệ thuật lãnh đạo hiệu quả. Con người đó là Đức Giê-su Nazareth, Ngài đại diện cho một tấm lòng và những phương pháp của một nhà lãnh đạo phục vụ vô cùng tận tụy và tài năng.
Trong vòng ba năm đi rao giảng Tin Mừng, Ngài đã chỉ ra một hình thức lãnh đạo phục vụ mới mẻ, tạo nên những kết quả phi thường cho những người vốn rất tầm thường, qua đó làm thay đổi cả dòng lịch sử. Việc học lãnh đạo như Chúa Giêsu sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề cốt lõi trong lãnh đạo là Cái Tôi khởi đi từ Con Tim, đến Tư Duy và Hành Động. Làm thế nào để có được Con Tim như Chúa Giêsu, có được lối suy nghĩ và hành động của Chúa để có thể lãnh đạo như Ngài? Trong ý hướng này, Lãnh Đạo Như Giêsu không đơn thuần là một khóa huấn luyện nhưng là một hành trình biến đổi bắt đầu bằng lãnh đạo bản thân rồi mới đến lãnh đạo người khác.
Mong rằng chúng ta hãy giúp nhau phát huy vai trò lãnh đạo phục vụ như một đáp trả tự nhiên, tự phát của mình đối với bất cứ vai trò nào mà bạn được giao – để cho dù bạn là ngườI đang tự đưa ra quyết định cho mình hoặc đang thực hiện quyết định của người khác, dù bạn đang đề ra các chỉ thị hoặc đang tuân thủ các chỉ thị của người khác, dù bạn là người đầu tiên đề ra một cách nhìn mới hoặc ủng hộ cách nhìn của người khác, bạn đều làm như thế để mà phục vụ…và trong khi làm như thế, bạn sẽ tạo nên những thành quả tốt đẹp qua việc bộc lộ những gì tốt đẹp nhất nơi chính bạn và nơi người khác. Cầu chúc bạn thành công trong nỗ lực này.
***
Tôi có phải là một nhà lãnh đạo?
Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng. Bất cứ khi nào bạn mưu cầu ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi hay sự phát triển của người khác thì bạn đang đảm nhận vai trò lãnh đạo.
Lãnh đạo có thể được hiểu một cách thân mật là sự dìu dắt, khích lệ đối với người mình yêu mến, hoặc có thể được hiểu một cách hình thức là sự chỉ đạo được truyền đạt rộng khắp trong một tổ chức.
Khi bạn nghĩ đến hình ảnh mà bạn ảnh hưởng đến hành vi của người khác bằng cách này hay cách khác, bạn có thể thấy rằng dù bạn đi đâu thì bạn vẫn là nhà lãnh đạo, chứ không chỉ nói đến vai trò lãnh đạo nơi công sở. Dù bạn là phụ huynh, vợ chồng, thành viên gia đình, bạn bè hay công dân – hoặc bạn có một chức danh và vị trí lãnh đạo như chủ tịch, linh mục, huấn luyện viên, nhà giáo, nhà quản lý – bạn là một nhà lãnh đạo.
Hầu hết những gương lãnh đạo định vị cuộc sống của chúng ta không phải là những nhà lãnh đạo có chức vị trong một tổ chức, mà là những nhà lãnh đạo trong tương quan cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Hãy đọc Thư thứ nhất gởi ông Ti-mô-thê (3:1-7):
Ðây là lời đáng tin cậy: ai mong được làm giám quản, người ấy ước muốn một nhiệm vụ cao đẹp. Vậy giám quản phải là người không ai chê trách được, chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện rượu, không được hiếu chiến, nhưng phải hiền hòa, không hay gây sự, không ham tiền, biết điều khiển tốt gia đình mình, biết dạy con cái phục tùng cách rất nghiêm chỉnh, vì ai không biết điều khiển gia đình mình, thì làm sao có thể lo cho Hội Thánh của Thiên Chúa được? Người ấy không được là tân tòng, kẻo lên mặt kiêu căng mà bị kết án như ma quỷ. Người ấy còn phải được người ngoài chứng nhận là tốt, kẻo bị sỉ nhục và sa vào cạm bẫy ma quỷ.
Một người đã minh họa tấm gương lãnh đạo trong cuộc đời Chúa Giê-su là mẹ Người, Đức Maria. Trong vai trò người mẹ của mình, Mẹ Maria được mời gọi để có sự ảnh hưởng trên cuộc sống và tinh thần của người con của mình. Tình mẫu tử – giữa một tâm hồn đã được kiểm chứng và tinh thần xin vâng với một con người cần được nuôi dưỡng, giữa một giáo viên tinh thần với một học viên – là một phần trong kế hoạch của Chúa để chuẩn bị cho thời kỳ lãnh đạo của Chúa Giê-su.
Suy ngẫm:
Hãy dành ít thời gian thinh lặng, nghĩ về những người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ, hành vi và đời sống của bạn. Khi bạn nhớ đến tên, gương mặt của những người đó, bạn sẽ nhận ra rằng sự lãnh đạo, chức danh, vị trí, thẩm quyền chỉ là một phần trong phạm trù lãnh đạo.
Bây giờ hãy nghĩ đến những mối tương quan mà nơi đó bạn có cơ hội ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi của những người khác, và nhớ lại những tình huống mà bạn thường phải đối diện với sự lựa chọn: “Tôi đến để phục vụ hay để được phục vụ?”
***
2020
Phân định ơn gọi để theo Chúa
Đầu tiên, có hai khái niệm mà chúng ta cần phải làm rõ ở đây là “ơn gọi và phân định”:
Ơn gọi là lời mời gọi của Thiên Chúa dành cho người được mời gọi, đồng thời cũng là sự đáp trả của con người trước lời mời gọi đó. Theo định nghĩa này, để có một ơn gọi, phải có hai yếu tố: Yếu tố ân sủng của Thiên Chúa và yếu tố đáp trả của con người. Nếu thiếu một trong hai yếu tố thì không thể có một ơn gọi. Hôm nay chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của ơn gọi.
Khái niệm thứ hai là “phân định”:
Một cách khái quát, phân định (discernement) là “phán đoán” về phẩm chất của sự vật, “phân biệt và tách rời” điều tốt và điều xấu, điều lợi và điều hại, điều chính và điều phụ. Đỉnh cao của phân định là biết nhận ra điều gì đẹp lòng Chúa và thực thi (x. Ep 5,10).
Phân định ơn gọi là giúp nhận biết thánh ý Thiên Chúa muốn cho mình sống bậc sống nào và nhận ra những dấu chỉ mà mình có để có thể đi theo Chúa và thi hành tốt sứ vụ của mình.
Để làm môn đệ đích thực Chúa Kitô, chúng ta cần học phân định để quyết định cho đúng.
Tôi có biết một bạn trẻ trong giáo xứ tôi. Sau khi học xong Đại học, không ai nghĩ bạn ấy đi tu, bỗng một ngày, bạn ấy vào Dòng trong sự ngạc nhiên của cả nhà. Sau hơn một năm, bỗng nhiên bạn ấy điện thoại về cho gia đình báo con không tu được. Về nhà hai tháng sau, nó điện thoại mời tôi về dự đám cưới nó! Mọi sự trong sự vội vàng! Hậu quả, không có quyết định nào chắc chắn cả!
II. Ý NGHĨA ƠN GỌI THEO THÁNH KINH
Thiên Chúa kêu gọi và con người đáp trả
Kinh Thánh là một nguồn phong phú các thông tin về ơn gọi. Nó có thể được gọi là một cuốn sách nói về lịch sử ơn gọi. Nghĩa là những câu chuyện về nhiều người được Thiên Chúa kêu gọi cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta học được gì từ Kinh Thánh về ơn gọi?
1) Ơn gọi như là một hồng ân của Thiên Chúa
Ơn gọi bắt đầu không phải từ chúng ta, nhưng từ Thiên Chúa. Thiên Chúa đi bước trước, thổi vào trong lòng chúng ta, ban cho chúng ta khát khao và ước muốn theo Chúa trong Giáo Hội.
Ví dụ trong Cựu Ước:
Ơn gọi của Abraham: Chúa gọi ông lên đường, nhưng ông không biết đi đâu, ông đã phó thác cho Chúa, nhờ đức tin. Ông được gọi là tổ phụ của những người tin Chúa (x. Xh 12,1-5 tt).
Ơn gọi của Môsê: Chúa gọi ông khi ông đi chăn cừu, để làm người lãnh đạo Dân Do Thái thoát ách nô lệ Ai Cập tiến về Đất Hứa (x. Xh 3,1-12).
Ơn gọi của Giêrêmia: Chúa gọi từ trong lòng mẹ. Chúa gọi làm tiên tri khi còn là con nít, không biết ăn nói, nhưng Chúa bảo vệ ông (x. Gr 1,4-10).
Ví dụ trong Tân Ước:
Ơn gọi các môn đệ đầu tiên: Simon, Anrê, Gioan… là những người quê mùa, chất phác, nhưng Chúa biến đổi thành những ngư phủ lưới người (x. Mc 1,16-20).
Ơn gọi của Mátthêu và Giakêu là người thu thuế, Chúa đến gọi và hoán cải. Mátthêu trở thành Tông đồ Chúa (x. Mt 9,9tt; Lc 19,1-10)…
Ơn gọi Phaolô: một người bách hại đạo, trở thành Tông đồ dân ngoại (x. Cv 9,3-7)…
Như thế, ơn gọi trước hết là hồng ân đến từ trên, như Chúa Giêsu nói: “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con để các con đi và mang lại hoa trái và để hoa trái các con tồn tại” (Ga 15,16).
Trình thuật về ơn gọi của 12 Tông đồ: Chúa Giêsu cầu nguyện suốt đêm với Chúa Cha trước khi chọn 12 Tông đồ. Sự kiện này mang một ý nghĩa thần học sâu xa: ơn gọi của họ và của chúng ta phát xuất và cắm rễ sâu trong cuộc đối thoại của Chúa Con với Chúa Cha. Tiên vàn, ơn gọi là ơn huệ nhưng không đến từ Chúa Cha (x. Mt 9,38). Người ta không thể tự mình trở thành môn đệ Chúa Kitô được, nhưng phải được Chúa chọn. Cũng thế, ơn gọi linh mục hay tu sĩ trước hết là ân huệ nhưng không đến từ Thiên Chúa, chứ không phải là do tài cán và cố gắng của con người. Chúng ta được kêu gọi vì được yêu mến. Nên chúng ta phải cầu nguyện để xin Chúa ban ơn cho chúng ta: ơn đi theo Chúa, xin ơn làm linh mục.
2) Con người đáp trả tự do và quảng đại
Thứ đến, yếu tố thứ hai là sự đáp trả tự do và quảng đại của con người: ơn gọi được xây dựng dựa trên một mối tương quan giữa Thiên Chúa (Người gọi) và một con người (người đáp trả). Theo đó, ơn gọi không phải là “một cái gì”, không phải là ân sủng cứng nhắc và tĩnh lặng, nhưng là đi vào “tương quan” rất sống động với Thiên Chúa. Lịch sử của mỗi ơn gọi là lịch sử về một cuộc đối thoại và đi vào tương quan giữa tình yêu Thiên Chúa và sự đáp trả tự do của con người đó.
Trường hợp ơn gọi của Mátthêu cũng gây nhiều ngạc nhiên: ông là một người thu thuế, nhưng khi nghe tiếng Chúa gọi: “Hãy theo ta!” Ông trả lời tức thì và quảng đại, bỏ tất cả, ông đứng dậy, đi theo Người (x. Lc 5,28).
Trong nhóm mười hai, tính tình, cách sống, ước vọng, trình độ, gốc gác của mỗi người rất khác nhau. Một Phêrô chất phác đến bồng bột yếu đuối, một Gioan trẻ trung, thông minh và tế nhị, một Giacôbê nhiệt thành, tham vọng đến bốc đồng, một Giuđa tham lam đến mù lòa mê muội… Nhưng Chúa Giêsu vẫn chọn họ và vẫn tôn trọng sự khác biệt đó. Chúa chỉ đòi buộc hai điều: “Để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi”. Họ phải ở với Chúa, để hiểu biết Người, để được Người huấn luyện nên môn đệ đích thực, mới có khả năng làm chứng cho Người. Như thế, môn đệ tính và tông đồ tính là năng động kép của một ơn gọi. Điều này nói với chúng ta hôm nay rằng: mỗi người chúng ta rất khác nhau về tính tình, nguồn gốc và khả năng, nhưng Chúa vẫn chọn để huấn luyện chúng ta trở thành người môn đệ truyền giáo. Thời gian huấn luyện là thời gian ở lại với Người, có kinh nghiệm về Người trước khi là người loan báo và được sai đi.
Như thế, ơn gọi vừa rất huyền nhiệm vì Thiên Chúa gọi ai Người muốn, gọi vào thời điểm nào và ở nơi nào đều tùy ý Người (x. Mc 3,13). Nhưng ơn gọi cũng là một chọn lựa và đáp trả tự do và quảng đại của những ai mà Thiên Chúa muốn gọi.
III. NHỮNG HÌNH THỨC ƠN GỌI
1) Ơn gọi là người tốt (ơn gọi tự nhiên)
Với tư cách là con người, chúng ta đều được mời gọi trở thành một người tốt. Bởi vì mọi người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,27). Lời mời gọi tới sự tốt lành được viết trong trái tim mỗi người. Lời mời gọi này tiềm ẩn trong ơn gọi làm người. Thế nên, bất cứ ai là người, dù ở đâu, quốc tịch nào, chủng tộc nào… đều được mời gọi trở thành một người đích thực, một người tốt.
Nhưng làm sao để trở thành một người tốt? Chúng ta trở thành một người tốt nhờ việc cố gắng sống các nhân đức luân lý và nhân bản: đó là những nhân đức mà chúng ta học được và rèn luyện nhờ những cố gắng của mình như: Khôn ngoan, công bình, can đảm, tiết độ, tính vị tha, quảng đại, ngay thẳng, thật thà, trung thành và thương người… Nhất là mỗi người sống theo tiếng nói lương tâm ngay thẳng: Làm lành, lánh dữ. Đó là luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong lòng mỗi người. Muốn trở nên một người tốt, chúng ta phải sống theo luật tự nhiên.
2) Ơn gọi làm Kitô hữu thánh thiện (ơn gọi siêu nhiên)
Ơn gọi thứ hai cao hơn là lời mời gọi tới đức tin. Đây là ơn gọi đức tin, ơn gọi nên thánh. Khi lãnh nhận phép Rửa, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi trở thành những người Kitô hữu tốt, trở thành một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô. Trở thành một người Kitô hữu tốt là trở nên một vị thánh. Bởi thế, Công Đồng Vaticanô II quả quyết: Mọi Kitô hữu được mời gọi nên thánh (x. LG 39-42). Mục đích của đời sống Kitô hữu là trở thành những vị thánh, và chúng ta trở thành những vị thánh nhờ việc càng ngày càng sống tốt các nhân đức đối thần: TIN, CẬY, MẾN.
Một cách cụ thể trong Giáo Hội, ơn gọi này dành cho bậc sống thông thường, đó là những người Kitô hữu sống đời sống gia đình và độc thân giữa đời. Họ được mời gọi nên thánh qua đời sống và bậc sống này trong Giáo Hội xét như là một người Kitô hữu. Hôn nhân cũng là ơn gọi cao quý.
Với tư cách Kitô hữu, ơn gọi của tất cả chúng ta là nên thánh và giúp người khác cũng trở nên thánh.
3) Ơn gọi vào bậc sống dâng hiến (ơn gọi riêng biệt)
Ơn gọi thứ ba đó là lời mời gọi sống đức tin theo những cách thế riêng biệt và triệt để trong Giáo Hội. Ơn gọi riêng biệt này chỉ dành cho những ai được Thiên Chúa mời gọi để cộng tác với Thiên Chúa, nhằm xây dựng Nước Trời nhờ đặc sủng riêng biệt hay cách thế riêng: như linh mục, tu sĩ nam nữ.
Câu chuyện: Cha Timothy Dolan là một linh mục ở Mỹ, được Tòa Thánh chọn làm Tổng Giám mục một giáo phận lớn và quan trọng ở Mỹ. Sau khi nhậm chức, một nhà báo hỏi ngài rằng: “Thưa ngài, khi trở thành một Tổng Giám mục như thế, ngài đã tìm được mục đích trong Giáo Hội rồi phải không?” Nhưng ngài trả lời “Không!” và ngài giải thích: “Mục đích của đời tôi là trở thành một vị thánh và để trở thành vị thánh là một hành trình dài phải theo đuổi. Bây giờ, nhiệm vụ của tôi như là một Tổng Giám mục, là mời gọi các linh mục, các tu sĩ nam nữ và giáo dân của giáo phận này trở thành những vị thánh.”
Như thế, trong Giáo Hội, có nhiều cách thế, nhiều con đường để nên thánh và việc khám phá ơn gọi là rất quan trọng. Chúng ta cần tìm hiểu, suy nghĩ, cầu nguyện và bàn hỏi với người khôn ngoan, với các linh mục, để xem Chúa muốn mình sống ơn gọi nào phù hợp với mình. Dĩ nhiên, khi chọn lựa đi tu, các bạn đã có một khát khao và nghe được cách nào đó lời mời gọi của Thiên Chúa cho đời sống dâng hiến.
IV. NHỮNG DẤU CHỈ ƠN GỌI TU TRÌ
Rất khó trả lời một cách chắc chắn rằng bạn có ơn gọi tu trì hay không. Nhưng dựa trên những dấu chỉ mà mỗi người có để phân định ơn gọi và để vững tin mà tiến bước.
Nếu Thiên Chúa đang kêu mời bạn đi tu, chắc chắn Ngài sẽ ban cho bạn những phẩm chất cần thiết để trở thành linh mục hoặc tu sĩ.
Có hai dấu hiệu cho thấy một người có ơn gọi tiến tới đời sống tu trì: Đó là có ý hướng ngay lành và những phẩm chất phù hợp.
* Ý hướng ngay lành
Ý hướng ngay lành liên quan tới ơn gọi thánh hiến bao gồm những nội dung sau đây: Khát khao phụng sự Chúa Kitô vì tình yêu mến chính Ngài và có lòng yêu mến Giáo Hội, yêu mến giáo huấn Giáo Hội, yêu mến đời sống đạo đức, có tinh thần hy sinh chịu khó; khát khao đi tu để phục vụ người khác và muốn dẫn đưa các linh hồn về cho Chúa. Đó là dấu hiệu cho thấy ý hướng ngay lành. Trái với ý hướng ngay là ý hướng lệch lạc: đi tu vì những động cơ nhân loại như để mưu cầu danh dự, tìm đặc ân đặc quyền, thích được trọng vọng và để thoát đời… Chúng ta phải luôn thanh lọc động lực ơn gọi, vì ở dưới đáy động cơ, luôn có “con quỷ” ở đó.
* Những phẩm chất phù hợp
Dấu hiệu thứ hai của ơn gọi tu trì là có những phẩm chất phù hợp, đó là phẩm chất đạo đức, trí thức, thể lý, tâm sinh lý, hoàn cảnh gia đình và khả năng sống đời sống cộng đoàn.
Trước hết là khả năng về đạo đức: ai muốn đi tu trước hết phải là người có khả năng sống đời sống nội tâm hay tâm linh. Phẩm chất này bao hàm không chỉ khả năng sống khiết tịnh suốt đời mà còn bao hàm các nhân đức khác nữa như khiêm tốn, vâng phục, tự chủ, nhân hậu, quảng đại, vị tha, cẩn trọng, yêu mến sự thật, thẳng thắn, có lòng đạo hạnh, có đời sống luân lý tốt… Tóm lại: Là người có lòng yêu mến Chúa và tha nhân.
Khả năng tri thức: đi tu phải có những phẩm chất trí năng cần thiết để có thể thi hành sứ vụ tông đồ.
Phẩm chất về thể lý và tâm lý: đi tu phải là người khỏe mạnh và bình thường về thể lý cũng như tâm lý. Đây là phẩm chất cần thiết để hoàn thành các bổn phận của người theo Chúa. Ứng sinh phải không bị vướng mắc những bệnh nan y, rối loạn thần kinh và rối loạn chức năng vốn là biểu hiện của một tình trạng “lệch lạc” hoặc bệnh hoạn về tâm lý trong đời sống.
Sự phù hợp về gia đình: ứng sinh phải xuất phát từ một gia đình có cha mẹ đạo đức, có đời sống gương mẫu. Khi xem xét để trao tác vụ linh mục, yếu tố danh thơm tiếng tốt của ứng sinh trong cộng đồng cần phải được cân nhắc như Giáo Luật đòi hỏi. Tôi tin là đối với các ứng sinh cũng vậy. Một ứng sinh xuất thân từ một hoàn cảnh gia đình phù hợp thì sẽ là sự thuận lợi cho đời sống và sứ vụ tông đồ sau này.
Khả năng sống cộng đoàn: nhiều ứng sinh vào Dòng và phải xuất tu vì gặp khó khăn khi sống trong cộng đoàn. Nguyên nhân sâu xa là trước khi đi tu, họ quá ảo tưởng về đời tu, về cộng đoàn, nhưng khi sống chung, họ vỡ mộng vì đời sống chung. Phần lớn họ không có khả năng, hoặc không chấp nhận để được rèn luyện khả năng sống chung: đi tu phải có tính cộng đoàn, nghĩa là dễ dàng đón nhận người khác, không tranh giành, ghen tương, nhưng trân trọng nhau, biết làm việc nhóm, biết cộng tác với nhau, biết bỏ cái tôi đề hòa mình vào đời sống chung. Có nhiều ứng sinh tìm hiểu từ nhà Dòng này đến nhà Dòng khác, đổi Dòng liên tục chỉ vì hay xích mích với nhau. Cần phải rèn luyện có khả năng này để theo Chúa.
Vì thế, trong quá trình tìm hiểu ơn gọi, ứng sinh cần phân định kỹ lưỡng về sự phù hợp và rèn luyện bản thân để có những khả năng trên để theo đuổi ơn gọi tu trì. Cùng với cầu nguyện, biện phân ơn gọi là một công việc quan trọng trong quá trình tìm hiểu ơn gọi và đào tạo.
CÂU HỎI SUY GẪM
1. Tôi được Chúa mời gọi vào ơn gọi nào?
2. Tôi đáp trả lời mời gọi của Chúa như thế nào?
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
