Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
27Tháng Tám
2021

Những nguy hiểm ta đối diện khi cô đơn

27/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Tác giả: Maestro di San Bartolo
Sách: Abbi a cuore il Signore (*)
Chuyển ngữ từ tiếng Ý: Tứ Quyết SJ

Khi cô đơn, đòi hỏi cần tỉnh thức cao độ. Trong thực tế, kẻ thù (thần dữ) của chúng ta có thể dễ dàng len lỏi vào sự cô đơn để phá hoại tâm hồn.

Trong cô đơn cô độc và thinh lặng, trái tim dễ dàng đi sâu hơn vào đáy ký ức. Khi đó, ta có thể nhận ra sự tốt lành của Thiên Chúa, đồng thời khám phá sự khôn ngoan trong sâu thẳm tâm hồn mình. Khi điều này được thôi thúc bởi thần lành, sẽ giúp ta tăng thêm lòng yêu mến Thiên Chúa và giúp ta khiêm nhường hơn và càng thêm sâu sắc.

Tuy nhiên, nếu không đủ tỉnh thức, thần dữ sẽ lẻn vào một cách tinh vi, bằng cách tiếp tục đi trên con đường của thần lành, nhưng lại kích thích trí khôn đi xem xét để nhìn về quá khứ, đặc biệt là những gì đau đớn khổ cực tổn thương. Và khi ấy, thần dữ ma mãnh thúc ép chúng ta nghĩ rằng, chỉ có những điều tiêu cực ấy mà thôi. Và trong lúc ấy, tâm hồn có thể bị thần dữ khuất phục, đến độ quên đi những dấu chỉ của tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa. Nếu bị rơi vào hoàn cảnh ấy, tâm hồn vừa cảm thấy không thể chịu nổi chính mình, vừa muốn trốn tránh ánh nhìn của Thiên Chúa.

Khi dẫn dắt tâm hồn như thế, thần dữ đã khéo léo dẫn đưa chúng ta, từ khởi đầu là ơn an ủi vui mừng, nhưng sau cùng lại dẫn đến nỗi buồn khôn nguôi.

Do đó, khi đối diện với cô đơn, cần phải có đời sống huynh đệ, để lấy lại thế cân bằng. Cũng thế, nếu không có một lý do quan trọng cần thiết, thì chúng ta không được quên việc giải trí lành mạnh. Vì tầm quan trọng của việc giải trí lành mạnh, không hề thua kém đời sống cầu nguyện. Lý do, cả hai đều cần thiết cho việc cân bằng nội tâm.

Tương tự thế, việc đối thoại với bậc khôn ngoan, và với sự hướng dẫn của vị ấy, là điều được cần được duy trì một cách sống động. Việc bạn thăm vị ấy dường như không vô ích, ngay cả khi đời sống của bạn không gặp vấn đề, hoặc khi tâm hồn bạn vẫn bình yên. Thật vậy, chỉ riêng việc bạn vun trồng đời sống huynh đệ, thì đã là cách tuyệt vời để bạn đuổi bay thần dữ. Vì Chúa đã nói: “Ở đâu có hai, ba người họp nhau nhân danh Ta, thì Ta ở giữa họ”(Mt 18:20).

Chúng ta cũng có thể nghĩ về gương sáng của các vị ẩn tu trong sa mạc, với mục đích tìm kiếm Thiên Chúa trong cô độc. Dù sống cô độc như thế, nhưng các vị ấy cũng thường xuyên thăm viếng nhau, trao đổi với nhau trong việc kiếm tìm Thiên Chúa, và có nhận sự hướng dẫn từ những người mà các vị ấy tin tưởng. Làm như thế, để tránh bị rơi vào tình trạng nghĩ quá nhiều về bản thân, ngay cả khi bạn cho rằng, bạn đang lớn lên trong sự khiêm tốn và trưởng thành.

Đọc thêm những bài trước:

Bài 7: Nhận định là ơn cần xin và là khả năng cần tập luyện

Bài 6: Những nguy hiểm ta đối diện khi cô đơn

Bài 5: Khi nỗi đau cần được chữa lành

Bài 4: Cách chiến thắng đam mê tật xấu

Bài 3: Cuộc sống là người thầy đích thực của khôn ngoan

Bài 2: Chúa đến gặp bạn ngay trong tâm hồn giữa những yếu đuối

Bài 1: Hãy có Chúa ở trong lòng

Nguồn: dongten.net (25.8.2021)

_______

(*): Trong tuần tĩnh tâm mùa chay (từ chiều chúa nhật 21/2/2021 đến trưa thứ sáu 26/2/2021), Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi Giáo triều Roma và các tín hữu tìm về cùng Thiên Chúa, kín múc nghị lực để đương đầu với những thách đố mới. Vì đại dịch Covid, các vị không tĩnh tâm chung như mọi năm, nhưng mỗi vị tĩnh tâm riêng tại nơi thích hợp. Đức Thánh Cha gửi tặng mỗi vị cuốn sách thiêng liêng giúp suy niệm với tựa đề “Abbi a cuore il Signore” (Hãy có Chúa trong lòng). Sách dày 320 trang gồm các thủ bản cũ do một đan sĩ thuộc Đan viện thánh Bartolo biên soạn hồi thế kỷ 17, trên từng tờ rời, dường như để hướng dẫn các môn đệ.

Read More
25Tháng Tám
2021

Linh mục – Đức Kitô Thứ Hai (Alter Christus) – phải là người như thế nào?

25/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Linh mục – Đức Kitô Thứ Hai (Alter Christus) – phải là người như thế nào?

 

Trong phạm vi bài viết này, tôi không muốn đề cập nhiều đến những lý thuyết hay nền tảng thần học cũng như giáo lý của Giáo Hôi về vai trò và sứ mạng của linh mục trong Giáo Hội, vì thiết nghĩ các linh mục và rất nhiều giáo dân ngày nay đều biết rõ.

Điều tôi muốn nói ở đây là trong thực tế, linh mục phải hành xử thế nào để xứng đáng là hiện thân của Chúa Kitô xuyên qua chính đời sống, lời nói và hành động của mình trước mặt người khác trong đó quan trọng là các tín hữu được trao phó cho mình săn sóc và  phục vụ  về mặt thiêng liêng.

Với tư cách là cộng sự viên đắc lực, thân cận và trung tín của Giám mục, linh mục  thi hành sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và cai trị trong giáo hội địa phương (tức giáo Phận)  với tất cả  thành tâm , thiện chí và xác tín về chức năng và vai trò của mình được nhận lãnh từ bí tích Truyền Chức Thánh cho phép linh mục được  chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa KItô, “Thầy Cả Thượng Phẩm.. theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5: 10)

Trong hoàn cảnh thế giới hiện nay, đặc biệt là ở các nước Âu Mỹ, người ta không những bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa vật chất vô luân ( immoral materialism) mà đặc biệt còn bị ảnh hưởng ngày một nghiêm trọng bởi trào lưu tục hóa (secularization) đưa đến thực hành vô thần (practical  atheism) , chối bỏ Thiên Chúa , “hạ bệ Kitô hóa” (de-christionization) và dửng dưng với mọi tôn giáo nói chung ( Indifference to religions).

Thực trạng này đang là một thách đố to lớn cho những ai muốn sống niềm tin có Thiên Chúa tốt lành, đã yêu thương và tha thứ cho con người nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.

Để đối phó với  trào lưu  nguy hại nói trên, ngày 12 tháng 10 vừa qua, Tòa Thánh đã công bố quyết định mới của Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô 16 cho thiết lập một Văn Phòng hay Hội Đồng mới của Tòa Thánh (New Pontifical Council)  với chức năng Tân Phúc Âm hóa (New Evangelization) như một nỗ lực nhằm chống lại khuynh hướng tục hóa ở các quốc gia Âu Châu và Tây phương nói chung. Hội Đồng này do Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella làm Chủ Tịch.

Sự kiện trên cho thấy là Đức Thánh Cha đã tỏ ra rất quan tâm về nguy cơ  tục hóa đang đe dọa những giá trị và chân lý của Phúc Âm  cũng như đời sống luân lý, đạo đức của con người nói chung, và cách riêng, của người tín hữu Chúa Kitô đang sống trong hoàn cảnh suy đồi đạo đức của thế giới  ngày nay.

Là Đức  Kitô thứ hai, tức là hiện thân của Chúa trong sứ vụ, linh mục  trước hết  phải là người nêu gương sáng trước tiên về thái độ cương quyết “ thoát tục”  hay  “đạp đổ trào lưu tục hóa”  (de- secularization) để tân phúc âm hóa chính mình  trước khi rao giảng Phúc Âm  Sự Sống của Chúa Kitô cho người khác nhằm chống  lại “ văn hóa sự chết” và  trào lưu tục hóa đang bành trướng ở khắp nơi hiện nay.

Do đó, Linh mục  cần thiết phải :

I- Tách mình ra khỏi dính díu với mọi quyền lực và tham vọng trần thế để không vô tình hay cố ý làm tay sai cho một chế độ chính trị nào để cầu lợi cá nhân và nhiên hậu gây  thương tổn nặng nề cho chức năng (competence) và vai trò của mình là linh mục của Chúa Kitô.

Trong điễn từ đọc tại Nhà Thờ Chánh Tòa Đức Mẹ Lên Trời ở Parlemo ( Italia) trước hàng trăm Giám mục, Linh mục, và Tu sĩ nam nữ ngày 3 tháng 10 vừa qua, Đức Thánh Cha Bê-nê-đich-tô 16 đã nói riêng với các linh mục hiện diện như sau “chính Chúa Kitô, chứ không phải thế gian – đã thiết lập cương vị cho linh mục”… Và với cương vị đó,  linh mục phải luôn chú tâm đến ơn cứu độ và Vương Quốc của Thiên Chúa.”  (Christ establishes the priest’s status, not the world…  as a priest, he must be always with a view to salvation and the Kingdom of God.( cf.L’ Osservatore  Romano. Oct 6, 2010). Hơn nữa, linh mục “không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác với đời sống thế tục” ( cf. Presbyterium Ordinis.no.3)

Nói khác đi, linh mục chỉ có một  vai trò và chức năng quan trọng nhất  là rao giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô và làm chứng cho Chúa  trong mọi hoàn cảnh để phục vụ hữu hiệu cho các linh hồn đang cần đến Chúa và mong  lãnh nhận  ơn cứu độ của Người. Do đó, linh mục tuyệt đối không có chức năng chính trị  hay xã hội nào để tự nguyện làm tay sai phục vụ, tâng bấc,  ca tụng  hay chống đối một chế độ nào vì lý do thuần chính trị.

Nhưng, nếu chế độ nào,  không tôn trọng nhân quyền (human rights), – nhưng không phải nhân quyền của  thần học giải phóng, là thứ nhân quyền cổ võ  đấu tranh giai cấp, tạo ra những “đàn két” chỉ biết ca tụng bợ đợ chế độ để an thân trục lợi –  mà là những quyền căn bản của con người,  như quyền tự do phát biểu, quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyền hành Đạo trong đó bao gồm việc  tổ chức,  đào tạo, và  bổ nhiệm các chức sắc  lãnh đạo trong giáo hội địa phương. Nếu chế độ không tôn trọng những quyền căn bản  này cũng như  dung dưỡng cho những sa đọa, suy thoái về luân lý, đạo đức trong xã hội cai trị,  thì linh mục – và  nhất là Giám mục – phải có can đảm lên tiếng đòi hỏi chế độ phải tôn trọng những tư do căn bản và thiêng liêng của con người, cũng như mạnh mẽ   lên án thực trạng suy thoái đạo đức và luân lý  để  đòi nhà cầm quyền dân sự phải có biện pháp thích đáng để lành mạnh xã hội hầu tạo môi trưởng thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh đời sống tinh thần và  đạo lý của người dân.

Xã hội vô luân, vô đạo và đầy bất công  sẽ xô nhanh người dân xuống hố diệt vong vì thiếu nền tảng  tinh thần cần thiết để giúp phân biệt con người với mọi loài cầm thú chỉ có bản năng và vô lương tri.

Như thế, làm ngơ hay nhắm mắt bịt tai trước những vi phạm về quyền thiêng liêng của con người  và tụt hậu về luân lý, đạo đức,  sẽ trở thành đồng lõa với chế độ, với xã hội  làm phát sinh mọi tội ác vì thiếu căn bản đạo làm người.

II- Trong lãnh vực giảng dạy chân lý và cử hành các Bí tích,

Không linh mục nào được phép  dạy và thực hành giáo lý , bí tích riêng của mình mà phải dạy cũng như thực hành đúng giáo lý (doctrines), tín lý (dogmas) và kỷ luật bí tích của Giáo Hội,

Cụ thể, Giáo Lý và Kinh Thánh của Giáo Hội  nhìn nhận  sự kiện có tội Tổ Tông (Original sin) do Nguyên Tổ loài người là Adam và Eva vấp phạm khiến con người mất ơn nghĩa với Thiên Chúa. Nhưng chính tội bất trung này của Nguyên Tổ loài người lại được  Giáo Hội sau này ca ngợi là “Tội sinh ơn phúc”  ( Felix culpa) vì  bởi tội này mà Thiên Chúa  đã sai Con Một của Người là Chúa Kitô đến trần gian để  cứu chuộc cho nhân loại  khỏi chết vì tội. Ơn cứu chuộc và tha thứ này của Thiên Chúa còn lớn lao hơn tội bất trung của Nguyên Tổ rất nhiều như Thánh Phaolô đã nói: “Nhưng sự sa ngã của Adam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa… Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã mà muôn người phải chết thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô  còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người.” (Rm 5: 15).

Như thế ai phủ nhận hay đặt vắn đề “tội Tổ Tông” dưới ánh sáng tâm lý học là đã đi ngược lại với giáo lý hiện hành của Giáo Hội về vấn đề rất hệ trọng này. ( x.SGLGHCG, số 402-407)

Mặt khác, cũng vì tội Nguyên Tổ đã gây ra “sự chết của linh hồn” như Công Đồng Trentô đã dạy ( DS 1512), mà  Giáo Hội cử hành bí tích Rửa Tội để tha không những tội nguyên tổ mà còn tha một  lần tất cả mọi tội cá nhân con người đã phạm cho đến lúc lãnh nhận Phép Rửa..

Cũng liên quan đến vấn đề tội và Phép Rửa, Giáo Hội chỉ ban bí tích này cho người còn sống ( trẻ con và người lớn ) chứ không hề dạy phải rửa tội cho người chết qua trung gian người sống như một linh mục kia đã “có sáng kiến phăng ra” để gây hoang mang cho giáo dân.

Liên quan đến bí tích Thánh Thể, không có giáo lý, giáo luật nào dạy mọi người tham dự Thánh Lễ đều được rước Minh, Máu Thánh Chúa, vì đây là bữa tiệc Chúa mời mọi người tham dự ăn và uống không phân biệt Công Giáo hay Tin lành, trẻ em đã rước lễ lần đầu hay chưa. Ngược lại, giáo lý và  giáo luật nói rõ : ai mắc tội trọng ,chưa kịp đi xưng tội thì không được làm lễ và rước Minh Thánh Chúa. ( x, giáo luật số 916; SGLGHCG số 1415). Như vậy, không thể mời hết mọi người tham dự Thánh Lễ ở tư gia hay ở nhà thờ lên rước Mình Máu Thánh Chúa lấy lý do là Chúa đã tha hết mọi tội cho con người, như một số linh mục Việt Nam , Mỹ,  và Cadada đã làm. ( có nhân chứng kể lại). Chúa tha thứ tội lỗi cho con người. Đúng, nhưng người ta vẫn còn phạm tội trở lại vì bản tính yếu đuối và vì được tự do chọn lựa sự lành sự dữ để hoặc sống cho Chúa, sống theo đường lối của Người hay muốn sống ttheo thế tục , theo “văn hóa của sự chết” đang tràn lan khắp nơi trên thế giới ngày nay..

Lại nữa, linh mục cũng không được phép biến lễ tang (Funeral mass) thành lễ Phong Thánh (Canonization Mass) cho ai khi giảng rằng linh hồn này chắc chắn đã lên Thiên Đàng rồi, vì đã được xức dầu và lãnh Phép lành Tòa Thánh trước khi chết.!

Giáo lý và bí tích của Giáo Hội chỉ qui định việc xức dầu thánh, ban của ăn đàng ( Viaticum) cũng như nghi thức phó linh hồn cho ai sắp ly trần, nhưng không hề dạy là nếu ai được xức dầu và lãnh Phép lành Tòa Thánh trước khi chết thì chắc chắn đã lên Thiên Đàng. Nếu đã chắc chắn như vậy thi cử hành lễ an táng làm gì nữa, vì có giáo lý, tín lý nào dạy phải cầu nguyện cho các thánh ở trên Thiên Đàng đâu ?

Giáo Hội có phong thánh cho ai thì cũng phải đòi hỏi thời gian và những điều kiện cần thiết, chứ chưa hề tức khắc phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết, dù là các Đức Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám mục…

Sau hết, với tư cách và cương vị là thừa tác viên và là hiện thân của Chúa Kitô trong trần thế, linh mục không thể coi nhẹ cương vị của mình để dẽ dãi tham gia  giúp vui trong những bữa tiệc cưới, đứng lên ca hát hoặc kể truyện tếu. Nói rõ hơn, linh mục không nên ôm cây đàn, ca hát  và  nhảy nhót với  ai vì mục đích ca tụng quê hương, đất nước hoặc gây quỹ cho cá nhân hay cơ quan, đoàn thể nào. Làm như vậy, linh mục đã quên cương vị của mình khi tự cho phép hòa mình vào những sinh hoạt có tinh chất thế tục.

Sân khấu và nơi tổ chức ca hát, nhảy nhót  chắc chắn không phải là nơi tụ họp, giúp vui  của linh mục. Chỗ đứng và nơi trình diễn của linh mục là bàn thánh, là giảng đài (pulpit) và Tòa giải tội,  tức là những nơi linh mục thi hành tác vụ thánh đã được lãnh nhận từ Bí Tích Truyền Chức Thánh và năng quyền thi hành từ giám mục mình trực thuộc để phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của giáo dân.

Tóm lại, là Linh mục của Chúa Kitô giữa trần gian, đặc biệt  trong hoàn cảnh xã hội khắp nơi ngày một  thêm “tục hóa” và vô luân hiện nay, mọi linh mục đều được mong đợi sống sao cho người đời, cách riêng cho người tín hữu dễ nhận ra Chúa Kitô, Đấng đến và trở nên Con Người không phải để đồng hóa với  người phàm trong mọi chiều kích thế tục  mà trở nên Con Người để thần linh hóa (divinize) loài người  hầu  cho phép con người được sống hạnh phúc  và “thông phần bản tính Thiên Chúa sau khi đã  thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian” này như Thánh Phêrô đã dạy. ( 2 Pr 1:4).

LM . Phanxiô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Read More
24Tháng Tám
2021

Là một Tín Hữu nhưng tôi chưa bao giờ đọc Kinh Thánh, tôi phải bắt đầu từ đâu?

24/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Là một Tín Hữu nhưng tôi chưa bao giờ đọc Kinh Thánh, tôi phải bắt đầu từ đâu?

 

Kinh thánh là câu chuyện về Giao Ước giữa Thiên Chúa và loài người. Câu chuyện về một Thiên Chúa yêu thương con người vô bờ bến và câu chuyện về con người, là những người không bao giờ được phép quên Giao ước mà Thiên Chúa muốn ký kết với họ mãi mãi.

Thiên Chúa không mệt mỏi hồi sinh dân tộc của mình và đổi mới kế hoạch liên kết của Ngài với họ. Những bản trình thuật trong Cựu Ước làm chứng cho điều này. Với sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô, trong Tân Ước, Thiên Chúa đích thân đến gặp gỡ nhân loại để ký kết với họ một Giao ước mà lần này là dứt khoát và vĩnh cửu.

 

Kinh thánh, nơi gặp gỡ Thiên Chúa

 

Tin vào Thiên Chúa là chuyện khá đơn giản, chỉ cần nói “đồng ý” với sự Liên kết này: tìm kiếm Thiên Chúa và chuẩn bị sẵn sàng để đón chào Ngài. Kinh thánh là nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Đó là sự nuôi dưỡng cần thiết cho đức tin. Nhưng bắt đầu từ đâu?

 

Chúa Giêsu nói: “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Gioan 14: 9). Như vậy, mỗi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, mỗi lời nói, mỗi hành động của Ngài đều nói lên điều gì đó về Thiên Chúa. Do đó, những câu chuyện của các thánh sử trong các sách Tin Mừng là cửa ngõ để khám phá Thiên Chúa qua Chúa Kitô.

 

Lấy ví dụ câu chuyện của người phụ nữ Samaria (Gioan 4). Chúa Giêsu xin chị ấy cho uống nước “Chị cho tôi xin chút nước uống!” (Gioan 4: 7). Chúa Giêsu khao khát được gặp cô ấy! Đổi lại, cô ấy xin Ngài ban cho nguồn nước tạo nên sự sống vĩnh cửu mà Chúa Kitô đã nói “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước” (Gioan 4: 15). Chúa Kitô soi sáng mọi ngõ ngách của cuộc đời chị, chị đã có 5 đời chồng “Chị nói: “Tôi không có chồng” là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng” (Gioan 4: 17)…Chị không cảm thấy bị phán xét mà ngược lại nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Mêsia “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự. Đức Giêsu nói: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây ” (Gioan 4: 19, 25), là Đấng làm cho chị đứng dậy, chuyển hướng cuộc đời đi theo sự sống mạnh mẽ hơn, khiến con người lớn lên, hướng tới sự thật hơn, được biến đổi “Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Gioan 4: 28), và vui mừng làm chứng loan báo Tin Vui cho những người khác “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. Vậy, khi đến gặp Ngài, dân Samari xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày. Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng cứu độ trần gian.” (Gioan 4: 39-42).

 

Và Giakêu, một người thu thuế bất lương, đã leo lên cây của mình để gặp Chúa Giêsu “Sau khi vào Giêrikhô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy. Ở đó có một người tên là Dakêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó” (Luca 19:1-4). Khi Chúa Giêsu gọi ông ta và ghé về nhà của ông “Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Ngài nhìn lên và nói với ông: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Luca 19:5), ông đã lấy lại được phẩm giá của mình “Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Luca 19: 9-10). Tất nhiên, ông có giá trị nhiều hơn tội lỗi của mình “…mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ! ” (Luca 19: 7).

 

Phêrô, người đầu tiên trong số các tông đồ, cũng cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa qua Chúa Kitô. Ông đã chối Chúa Giêsu ba lần “Họ bắt Đức Giêsu, điệu Ngài đến nhà vị thượng tế. Còn ông Phêrô thì theo xa xa. Họ đốt lửa giữa sân và đang ngồi quây quần với nhau, thì ông Phêrô đến ngồi giữa họ. Thấy ông ngồi bên ánh lửa, một người tớ gái nhìn ông chòng chọc và nói: “Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy! ” Ông liền chối: “Tôi có biết ông ấy đâu, chị ” Một lát sau, có người khác thấy ông, liền nói: “Cả bác nữa, bác cũng thuộc bọn chúng! ” Nhưng ông Phêrô đáp lại: “Này anh, không phải đâu! ” Chừng một giờ sau, có người khác lại quả quyết: “Đúng là bác này cũng đã ở với ông ấy, vì bác ta cũng là người Galilê .” Nhưng ông Phêrô trả lời: “Này anh, tôi không biết anh nói gì! ” Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.” Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Luca 22:54-62),  nhưng Chúa Kitô sau khi phục sinh cũng đã ba lần mời gọi ông làm người chăn bầy chiên của Ngài “Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? ” Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy .” Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy .” Người lại hỏi: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không? ” Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy .” Người nói: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy .” Người hỏi lần thứ ba: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không? ” Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không? ” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy .” Đức Giêsu bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Gioan 21:15-17), nghĩa là lãnh đạo Giáo hội của Ngài.

 

Như vậy, mỗi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đều cho thấy một phần nào đó tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

 

Cuộc hẹn của Thiên Chúa với mỗi chúng ta

 

Madeleine Delbrêl (1904 – 1964), đã từng là một người vô thần, trở thành giáo hữu, và truyền giáo cho các giới theo chủ thuyết Marxist, đã viết: “Tin Mừng không phải là một cuốn sách giống như bất kỳ cuốn sách nào khác. Tin Mừng giống như một cuộc hẹn với Chúa Kitô mà Ngài dành cho mỗi người chúng ta, cho đến tận cùng thời gian; một cuộc gặp gỡ giữa người với người, giữa một trái tim với trái tim, thân tình, cụ thể… Tin Mừng được viết ra trước hết không phải để chúng ta đọc mà thôi mà còn để chúng ta đón nhận”.

 

Trong bốn thánh sử, thánh Luca là người tường thuật nhiều nhất và có lẽ là dễ hiểu nhất. Thánh Máccô, tường thuật ngắn nhất. Thánh Gioan, biểu tượng nhất và Thánh Mátthêu là người mượn nhiều tài liệu tham khảo nhất từ các sách ​​Cựu ước.

 

Nhưng một cách tổng quát, Tân Ước là sự ứng nghiệm những gì đã được nói trong Cựu Ước. Tân Ước ẩn mình trong Cựu Ước. Như vậy, hai Giao Ước này đối đáp qua lại với nhau. Nếu Tin Mừng là cánh cửa đi vào nhà dành cho các Kitô hữu, thì Cựu Ước là con đường dẫn đến cánh cửa đó.

 

Lạy Chúa Kitô, xin Chúa đổ đầy vào lòng con Lời tuyệt vời của Chúa, Lời dẫn đến Chân lý và Tự do đích thực có quyền năng biến đổi con sâu lắng khi con đọc, suy ngẫm và cầu nguyện với Lời Chúa. Xin Lời Chúa thấm đượm lòng con trong giờ tĩnh nguyện và trong đời sống mỗi ngày của con, để con trở thành chứng nhân cho những người chung quanh để họ cũng được Lời Chúa biến đổi. Amen.

 

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ,
theo blog.jeunes-cathos.fr

 

*Người dịch có bổ sung một số câu trích dẫn tử Kinh Thánh.

Read More
23Tháng Tám
2021

Cái nghèo theo tâm thức của Đức Thánh Cha Phanxicô

23/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Lm. Gioan Phan Văn Định

Mục lục

I. DẪN NHẬP

II. TƯƠNG QUAN GIỮA ĐTC VỚI NGƯỜI NGHÈO

III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG

       1. Ai là người nghèo?

       2. Nền tảng suy tư

IV. CHỌN LỰA VÀ THĂNG TIẾN NGƯỜI NGHÈO

       1. Thăng tiến xã hội

       2. Công bằng xã hội và nhân quyền

       3. Bảo vệ môi trường sống cho người nghèo

V. KẾT LUẬN

I. DẪN NHẬP

“Nghèo” là chủ đề quen thuộc đã được nhiều vị Giáo hoàng nhắc đến, nhưng cách riêng, với Đức Thánh Cha (ĐTC) Phanxicô, nghèo không chỉ là chủ đề thần học nhưng còn là lối sống của cá nhân ngài. Lối sống nghèo khó của ĐTC Phanxicô đã được giới truyền thông, người Công giáo, và cả những người ngoài Công giáo, cảm phục và khen ngợi. Trong chuyến tông du đến Philippines năm 2012, ĐTC đã khiến giới trí thức Công giáo ngỡ ngàng khi ngài xác tín vai trò bất khả phân ly giữa người nghèo với sứ điệp của Đức Kitô: “Nếu chúng ta loại người nghèo ra khỏi Tin Mừng, chúng ta không thể hiểu được toàn bộ sứ điệp của Đức Kitô.” Ngoài ra, nơi Tông huấn Evangelii Gaudium, dựa trên nền tảng Kitô học, ĐTC còn mời gọi các tín hữu tham gia vào đời sống xã hội, kinh tế và chính trị để phục hồi cho người nghèo những gì vốn thuộc về họ.[1] Đây quả là nét độc đáo của ĐTC, nhưng điều này cũng mở ra một vài thắc mắc cần được xác định rõ: Người nghèo có liên hệ thế nào với Đức Kitô và sứ điệp Tin Mừng? ĐTC có hướng Giáo hội đến hoạt động từ thiện xã hội như một tổ chức NGO,[2] hoặc khuyến khích Giáo hội tham gia vào hoạt động kinh tế và chính trị không?

Dựa trên lối sống của ĐTC, Tông huấn Evangelii Gaudium (EG) và Thông điệp Fratelli Tutti (FT), bài viết này sẽ trình bày quan niệm của ĐTC về cái nghèo và góp phần làm sáng tỏ những thắc mắc trên đây với ba nội dung chính: (1) Tương quan giữa ĐTC với người nghèo; (2) Nền tảng suy tư của ĐTC; (3) Ưu tiên chọn lựa và thăng tiến người nghèo. Mong rằng những khảo luận về lối sống và suy tư của ĐTC sẽ hữu ích cho người Kitô hữu trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cho người nghèo.

II. TƯƠNG QUAN GIỮA ĐTC VỚI NGƯỜI NGHÈO

Với ĐTC Phanxicô, lối sống gần gũi người nghèo đã cắm rễ sâu nơi cuộc sống hằng ngày và tâm thức mục vụ từ khi ngài còn là giám mục và hồng y thuộc Tổng giáo phận Buenos Aires, nước Argentina. Ngài thường sử dụng phương tiện giao thông công cộng (xe buýt, xe điện…) thay vì xe ôtô, taxi hoặc xe sang vì ngài muốn có cơ hội gặp gỡ tha nhân, biết và chia sẻ với những khó khăn của họ. Suốt thời gian khủng hoảng kinh tế tại Argentina vào những năm 1990, ngài chọn sống trong một nhà trọ đơn sơ thay vì sống tại tòa tổng giám mục.

Vào tháng 3 năm 2013, nhiều người trên thế giới đã khen ngợi và cảm phục về hình ảnh đẹp từ lối sống nghèo khó của vị Tân Giáo hoàng. Gương sống của ngài như một thông điệp về dung mạo mới mẻ của Giáo hội dành cho người nghèo. Từ khi lên ngôi Giáo hoàng, ĐTC chọn sống tại nhà trọ Santa Marta, nơi ở dành cho khách vãng lai, thay vì sống tại dinh thự dành cho Giáo hoàng.[3] Xuất phát từ lời nhắc nhở của một vị hồng y đã nghỉ hưu, Đức hồng y Claudio Hummes: “Đừng quên người nghèo”, Đức Thánh Cha đã chọn tên gọi Phanxicô làm tước hiệu cho triều đại giáo hoàng của mình. Tước hiệu Phanxicô là dấu chỉ cho thấy ĐTC muốn noi gương sống khó nghèo của thánh Phanxicô Assisi, hướng lòng về người nghèo trong triều đại giáo hoàng của ngài. Xét về nguyên nhân chọn tước hiệu, tác giả Olga Caro cho rằng có lẽ sự thôi thúc của Chúa Thánh Thần trong mật viện về mục vụ cho người nghèo đã trở nên mạnh mẽ nơi ĐTC, và có lẽ đường hướng mục vụ này vốn đã là mối bận tâm then chốt từ lâu trong đời sống của ngài.[4]

Cũng trong tháng 3/2013, người Công giáo hết sức ngạc nhiên khi nghe tin lần đầu tiên ĐTC phá vỡ truyền thống rửa chân vào ngày lễ thứ Năm Tuần Thánh. Thay vì rửa chân cho 12 giáo sĩ như những vị tiền nhiệm thường làm, ĐTC đã rửa chân cho 12 tù nhân trẻ trong chuyến viếng thăm nhà tù Casal Del Marmo, nước Ý. Trong số 12 người được rửa chân có 2 người phụ nữ trẻ, một trong hai người này là người Hồi giáo.[5] Việc làm này cho thấy ĐTC thể hiện sự gần gũi người nghèo, không phân biệt nam nữ hoặc tôn giáo.

Như thế, kể cả khi sống ở Argentina, nơi có nhiều người nghèo, trong vai trò giám mục và hồng y, hay ở Rôma trong cương vị giáo hoàng, ĐTC vẫn thường gần gũi với người nghèo. Nơi ngài, cái nghèo không còn là những nguyên tắc thần học trừu tượng hay viễn tượng mục vụ trên bàn giấy, nhưng là lối sống thực tế của một vị Giáo hoàng. Lối sống này đã tác động lên cách triển khai suy tư của ĐTC về chủ đề người nghèo nơi các giáo huấn chính thức của Giáo hội, cách riêng là Tông huấn Evangelii Gaudium và Thông điệp Fratelli Tutti.

III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG

1. Ai là người nghèo?

Dù đã nhiều lần nhắc đến người nghèo trong bài giảng và văn kiện chính thức nhưng ĐTC vẫn chưa trực tiếp đưa ra định nghĩa về người nghèo.[6] Tuy nhiên, qua nghiên cứu, Đức Hồng y Pedrioli nhận xét: Trong tâm thức của ĐTC, người nghèo là những người nghèo về điều kiện vật chất. Nghèo vật chất không chỉ gồm những người đói khát và bị bóc lột, nhưng còn là những người thiếu điều kiện bình thường về chăm sóc sức khỏe, y tế, nhà ở, giáo dục, thu nhập và những quyền căn bản. [7] Đức Hồng y Pedrioli lưu ý đến khía cạnh thể lý và xã hội khi đưa ra định nghĩa về người nghèo theo tâm thức của ĐTC Phanxicô.

Thế nhưng, nơi Tông huấn EG, khi thảo luận về chủ đề người nghèo trong xã hội, ĐTC còn đề cập đến những hình thức nghèo và bị tổn thương mới. Phụ nữ nghèo và thai thi là những người không có được quyền tự vệ chính đáng, bị loại trừ, bị đối xử tệ bạc và bạo lực.[8] Đối tượng người nghèo nơi ĐTC không chỉ là nghèo điều kiện vật chất nhưng còn là những người nghiện ngập, tị nạn, bị loại trừ và cô lập.[9] Nơi Thông điệp FT, ĐTC còn đề cập đến tình trạng những người già và người tàn tật không được chăm sóc, bị bỏ rơi và bị xem như virus corona.[10] Nơi Tông huấn Querida Amazonia, ĐTC nhận thấy người dân bản địa (người dân tộc thiểu số) của vùng Amazon bị đẩy ra khỏi thành phố là hình thức nô lệ mới từ chính sách bài ngoại, nạn khai thác tình dục và buôn người.[11]Nói chung, người nghèo là nạn nhân của những bất công và tệ nạn xã hội,[12] của sự ích kỷ cá nhân và ý thức hệ chính trị.[13] Từ những hiểu biết về người nghèo tại Argentina, linh mục Luciani lưu ý thêm: Người nghèo là những người không có khả năng phát triển thực sự vì điều kiện sống của họ xuất thân từ nghèo đói và bị loại trừ khốc liệt. Thậm chí họ còn bị loại ra khỏi những kế hoạch và chương trình phát triển toàn cầu trong xã hội hiện đại.[14]

Vì thế, việc tìm hiểu chủ đề nghèo theo quan niệm của ĐTC Phanxicô không chỉ dừng lại nơi đối tượng nghèo đói, nhưng còn nơi những người bị loại trừ, bị bỏ rơi và cô lập bởi những người xung quanh, bởi kế hoạch phát triển xã hội và thể chế chính trị. ĐTC không chỉ quan tâm đến người nghèo về điều kiện vật chất mà còn về điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị. Đây vốn là những điều kiện căn bản và cần thiết cho việc phát triển con người toàn diện.

2. Nền tảng suy tư

  1. Ưu tiên chọn lựa người nghèo

Theo tác giả Stan Chu Llo, nơi Tông huấn EG, một trong những khẩu hiệu đáng nhớ nhất diễn tả khao khát của ĐTC cho Giáo hội đương thời là “Giáo hội nghèo và cho người nghèo”.[15] Tư tưởng này không trực tiếp bắt nguồn từ ĐTC Phanxicô mà được thôi thúc từ những vị Giáo hoàng tiền nhiệm. Theo cha Rafael Luciani,[16] ĐTC Gioan XXIII là vị Giáo hoàng đầu tiên khởi xướng ý tưởng Giáo hội hiện diện cho người nghèo vào năm 1962: “Theo căn tính và ước muốn, Giáo hội hiện diện cho tất cả mọi người, cách riêng là cho người nghèo”[17] ( Tiếp sau đó, lời mời gọi ‘“Giáo hội nghèo và cho người nghèo” được đưa vào Công đồng Vaticanô II, được phát triển bởi các thần học gia Gustavo Gutiérrez, Ignacio Ellacuría và Jon Sobrino,[18] và được Liên Hội đồng Giám mục Châu Mỹ La Tinh tiếp nhận năm 1968.[19]

Gần đây, Đức Bênêđictô XVI còn nói thêm Thiên Chúa đã trở nên nghèo cho người nghèo và làm cho cái nghèo của chúng ta trở nên giàu có.[20] Từ đường hướng mục vụ của Giáo hội và nền tảng thần học của vị tiền nhiệm này, ĐTC Phanxicô đã từng bước suy tư thêm về chọn lựa ưu tiên cho người nghèo và thăng tiến người nghèo toàn diện. Có thể nói, dù ĐTC Phanxicô được sinh ra và lớn lên tại Argentina, châu Mỹ La Tinh, nơi có nhiều người nghèo, nhưng lời mời gọi Giáo hội “chọn lựa người nghèo” của Ngài không nằm ngoài hướng đi chung của Giáo hội toàn cầu đã được những vị tiền nhiệm khởi xướng.

Theo cách giải thích của tác giả George Sauch, thật nguy hiểm khi hiểu chọn lựa người nghèo (the option for the poor) như một điều ưu tiên nhưng có thể chọn lựa hay từ chối (an optional preference for the poor), mà cần phải hiểu đây là lời mời gọi hãy ưu tiên chọn lựa người nghèo (preferential option for the poor).[21] Tuy nhiên, dù phục vụ người nghèo và những người bị bỏ rơi, giúp đỡ vật chất và bảo vệ quyền lợi xã hội cho họ là điều cần thiết nhưng giúp họ sống mật thiết với Chúa – Đấng thăng tiến và ban phẩm giá cho họ – lại là điều cần thiết hơn.[22] Sứ mạng cốt yếu của Giáo hội không phải là phát triển xã hội nhưng hướng con người đến ơn cứu độ của Thiên Chúa qua trung gian của Giáo hội lữ hành. Vì thế, ĐTC xác định “chọn lựa người nghèo” phải được đặt nền tảng trên chiều kích thần học,[23] cách riêng chiều kích Kitô học và Giáo hội học.

  1. Chiều kích Kitô học

“Chọn lựa người nghèo” được đặt nền tảng trên sự liên kết giữa Mầu nhiệm Nhập thể và giáo huấn của Đức Kitô. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đã mặc lấy hình ảnh một người nghèo thực sự. Người đã sống trọn cuộc đời trong điều kiện sống của một người nghèo. Nơi người nghèo, chúng ta nhận ra dung mạo và thân thể của Đức Kitô, Đấng đã mặc lấy cái nghèo mà làm cho chúng ta trở nên giàu có (2Cr 8,9).[24] Từ đó, ĐTC nhận thấy sự hiện diện của Đức Kitô nơi người nghèo vì ngài tin rằng “người nghèo là thân thể Đức Kitô”.[25] Đức Kitô đã trở nên nghèo khó để luôn gần gũi người nghèo và những ai bị lãng quên.[26] Không chỉ người nghèo, Lời Chúa cũng thôi thúc người Kitô hữu nhận ra Đức Kitô nơi mỗi anh em bị bỏ rơi và bị loại trừ.[27]

Nơi Thông điệp FT, từ hành vi phớt lờ người bị hại của hai thầy tư tế trong dụ ngôn người Samaria nhân hậu, ĐTC nhận thấy niềm tin và tôn thờ Thiên Chúa là điều kiện cần nhưng chưa đủ để chắc chắn rằng chúng ta đang làm hài lòng Thiên Chúa. Trong việc thực hành việc đức tin, chúng ta chỉ thực sự mở lòng ra với Chúa khi chúng ta mở lòng ra với anh em.[28] Qua hình ảnh người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu ngụ ý diễn tả sự quan tâm của Chúa đến những người nghèo và bị loại trừ. Người nghèo có chỗ đứng đặc biệt nơi trái tim của Chúa. [29]

Người nghèo có vai trò đặc biệt trong đời sống Giáo hội. Ơn cứu chuộc của Thiên Chúa đã đi vào thế gian và được mạc khải qua sự hiện diện của người nghèo: “Toàn thể lịch sử cứu chuộc được đánh dấu bởi sự hiện diện của người nghèo.”[30] Tin Mừng cứu độ đã bắt đầu và gắn chặt với đời sống của người nghèo. Thật vậy, qua lời thưa “xin vâng” của Đức Maria, một phụ nữ nghèo, Đức Kitô đã nhập thể và được sinh ra trong một gia đình nghèo.[31] Và cũng chính nơi đó, quà tặng cứu độ của Thiên Chúa đã trở nên hữu hình trong lịch sử nhân loại. Suốt dòng lịch sử, người nghèo chia sẻ cảm thức đức tin của dân Chúa. Qua sự khó nghèo của mình, họ nhận biết đau khổ của Đức Kitô.[32] ĐTC khẳng định “người nghèo dạy chúng ta nhiều điều; chúng ta cần để chính mình được loan báo Tin Mừng nhờ người nghèo.”[33] Quả thật, đời sống đức tin của người Kitô hữu được tăng trưởng nhờ vai trò của người nghèo.

Vì Đức Kitô đứng về phía người nghèo và Tin Mừng cứu độ gắn chặt với đời sống người nghèo nên những hiểu biết về sứ điệp của Đức Kitô cũng gắn liền với đời sống của người nghèo. Dựa trên nền tảng Kitô học này, ĐTC đã mạnh dạn tuyên bố xác tín của ngài tại Philippines: “Nếu tách người nghèo ra khỏi Tin Mừng, chúng ta không thể hiểu được toàn thể sứ điệp của Đức Kitô.” Do đó, tất cả những ai được đong đầy niềm vui của Tin Mừng cũng phải gần gũi với người nghèo trong cùng một cách thức như Thiên Chúa đã thực hiện.

  1. Chiều kích Giáo hội học

Nơi Thông điệp FT, ĐTC triển khai sự liên đới của mọi người trong xã hội qua dụ ngôn của Chúa Giêsu về người Samaria nhân hậu. Sự quan tâm chăm sóc của người Samaria với người bị hại cho thấy mỗi cá nhân đều bị ràng buộc thâm sâu với các cá nhân khác.

Cuộc sống không đơn thuần là những khoảng thời gian đang trôi qua, nhưng là những khoảnh khắc con người tương tác với nhau.[34]

Dụ ngôn này đề xuất việc tái xây dựng một thế giới đã bị tổn thương. Tình thương trong cộng đoàn có thể được tái xây dựng bởi những người tự đồng hóa bản thân với những người bị tổn thương và bị loại trừ.[35] ĐTC nói chúng ta không thể dửng dưng trước đau khổ, không thể để bất cứ ai lâm vào hoàn cảnh bị loại trừ. Trái lại, chúng ta nên cảm thấy phẫn nộ, bị thách thức để thoát khỏi khuynh hướng tìm sự thoải mái cho mình mà tiếp xúc với đau khổ của con người.[36] Quyết định tiếp nhận hay loại trừ những người bị thương đang nằm bên vệ đường không chỉ được đặt ra trong tương quan cá nhân, nhưng còn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo.[37]

ĐTC nhận thấy tình thương là sợi chỉ đỏ nối kết con người lại với nhau. Tình thương chân thành không phân biệt xuất thân của nhau. Tình thương sẽ phá vỡ xiềng xích đang chia cắt và loại trừ con người. Tình thương xây dựng những chiếc cầu nối con người lại với nhau trong cùng một đại gia đình nhân loại, nơi mọi người đều cảm thấy như ở nhà.[38] Sự hiệp nhất được mở rộng từ phạm vi gia đình đến cộng đoàn, quốc gia và thế giới vì “chúng ta được mời gọi hiệp nhất trong cùng một gia đình” hơn là tổng cộng những thành viên riêng lẻ.”[39]

Thế nên, Giáo hội không loại trừ người nghèo nhưng đối xử bằng sự quan tâm xuất phát từ tình thương.[40] Với tình thương chân thành, Giáo hội có trách nhiệm phục vụ người nghèo vượt lên trên dáng vẻ bên ngoài của họ. Chọn lựa người nghèo không chỉ là giúp đỡ hay cổ võ chung chung, nhưng còn là gặp gỡ cá nhân người nghèo trong những nhu cầu thiết thực, nơi văn hóa và đời sống đức tin của họ.[41] Giáo hội muốn bảo đảm chắc chắn rằng nơi mỗi cộng đoàn, người nghèo đều cảm thấy như ở nhà.

Trong Tông huấn EG, ĐTC xem chọn lựa người nghèo như hình thức ưu tiên của hoạt động bác ái Kitô giáo mà toàn thể truyền thống Giáo hội đang làm chứng.[42] Với sự liên đới của mọi người trong cùng một đại gia đình nhân loại, Giáo hội cần mang văn hóa gặp gỡ đến với người nghèo và những người đau khổ trên thế giới. Văn hóa gặp gỡ phải là điểm khởi đầu cho sứ mạng của Giáo hội. Được thúc đẩy bởi ân sủng, chứng nhân Tin Mừng phải phát triển khả năng mang ánh sáng của Thiên Chúa đến cho anh chị em, cách riêng là cho người nghèo, những người thiếu sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát xuất từ tương quan huynh đệ với Đức Kitô.[43] Thái độ này nên lan tỏa đến tất cả các khía cạnh trong Giáo hội như cơ cấu, thể chế, sứ vụ, đời sống bí tích, niềm tin và thực hành Kitô giáo.[44]

Cùng với văn hóa gặp gỡ, gần gũi cũng là thái độ Giáo hội nên biểu lộ với dân Chúa.[45] Khi khuyến khích gần gũi người nghèo và tha nhân, ĐTC mong muốn Giáo hội ra đi, phá tan các bức tường ngăn cách giữa Giáo hội với người nghèo.[46] Mỗi cộng đoàn loan báo Tin Mừng cần hội nhập vào lời nói và việc làm của người dân trong cuộc sống thường ngày. Điều đó góp phần nối liền ngăn cách, gắn chặt với đời sống và đụng chạm đến nỗi đau thể xác của Đức Kitô nơi tha nhân. Nhờ đó, chứng nhân Tin Mừng có thể cảm nhận được “mùi chiên”.[47]

Giáo hội không chỉ quan tâm đến người nghèo nhưng còn nhận ra sự nghèo khó, lắng nghe tiếng kêu khóc, cảm nếm và xúc động trước đau khổ của họ.[48] Giáo hội và các nhà lãnh đạo Giáo hội phải đặt nền tảng đời sống trên thực tại đau đớn của những người yếu đuối. Vượt trên cả tương quan xã hội trần thế, người Kitô hữu cần phục vụ người nghèo với sự thúc bách của Tin Mừng như tình thương huynh đệ, phục vụ trong khiêm tốn và quảng đại, công lý và lòng thương xót.[49]

Trách nhiệm này chỉ có thể thực hiện được khi Giáo hội Công giáo là một Giáo hội nghèo. Giáo hội sẽ không bao giờ có thể nhận thấy được sự nghèo đói trên thế giới nếu Giáo hội không sống căn tính của một Giáo hội nghèo.[50] Theo nhận định của Rafael Luciani về tư duy của ĐTC, thực thi căn tính Giáo hội nghèo là điều kiện cần thiết đầu tiên để Giáo hội nghèo và cho người nghèo. Thiếu điều kiện này, Giáo hội sẽ không thể là dấu chỉ và bí tích mang lại khả năng biến đổi tâm hồn.[51] Khi trở nên nghèo và cho người nghèo, Giáo hội không còn quan sát những cảnh đời bất công từ xa, nhưng từ sự gặp gỡ thân tình và gần gũi người nghèo.

IV. CHỌN LỰA VÀ THĂNG TIẾN NGƯỜI NGHÈO

1. Thăng tiến xã hội

Với ĐTC Phanxicô, ơn cứu chuộc có chiều kích xã hội. Đức Kitô không cứu chuộc từng cá nhân riêng lẻ nhưng cứu những con người có tương quan xã hội.[52] Nơi Thánh Ý Thiên Chúa, chúng ta không nên nghĩ về khái niệm như “họ” hay “chúng nó”, nhưng là khái niệm “chúng ta”.[53] Thiên Chúa ngự trị trong thế giới, trong và qua chúng ta, nên đời sống xã hội sẽ là môi trường huynh đệ, công bằng, bình an và nhân phẩm cộng đồng. Đời sống Kitô hữu cần có sự ảnh hưởng nào đó lên đời sống xã hội.[54] Nơi công tác phục vụ người nghèo và loan báo Tin Mừng, chọn lựa người nghèo không có nghĩa là chọn phục vụ một vài cá nhân riêng lẻ nhưng phục vụ cho những tương quan xã hội giữa con người với nhau. Việc cổ võ chân lý Kitô giáo không đóng khung trong lĩnh vực giáo lý và đời sống Giáo hội nhưng luôn bao hàm khát vọng biến đổi thế giới, xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn về xã hội và chính trị.[55] Như khí cụ của Chúa, mỗi cá nhân và cộng đoàn cần nỗ lực giải phóng và thăng tiến đời sống xã hội của người nghèo.[56]

Hoạt động cần thiết đầu tiên thể hiện Giáo hội ưu tiên cho người nghèo là thực thi lòng bác ái Kitô giáo. Thiếu lòng bác ái, người Kitô hữu chỉ thực hành nhân đức cách hời hợt bên ngoài bề ngoài và chưa chu toàn những điều răn Chúa muốn.[57] Nhưng bác ái thôi vẫn chưa đủ. ĐTC kêu gọi các tín hữu sống tình liên đới, không đơn thuần chỉ là thực thi một vài hoạt động bác ái nhưng là giúp phát triển người nghèo toàn diện. Tình liên đới nảy sinh từ lương tâm chân thật sẽ nhận ra rằng sự sống của mọi người ưu tiên hơn nhu cầu cá nhân của một ít người.[58] Thể hiện tình liên đới không có nghĩa là bố thí nhưng là tôn trọng người nghèo như những chủ thể có vai trò dẫn dắt xã hội[59] và phục hồi nơi người nghèo những gì vốn thuộc về họ.[60] Để thực hiện đúng tinh thần bác ái Kitô giáo, ĐTC mời gọi các tín hữu đổi mới tư duy, ưu tiên cho sự sống con người và đời sống cộng đồng.[61]

Các dự án an sinh xã hội là cần thiết nhưng đó chẳng qua chỉ là giải pháp tạm thời. ĐTC nhận thấy nền kinh tế thị trường và phân phối thu nhập mới là nguyên nhân chính yếu đang kìm hãm cái nghèo. Nếu muốn giải phóng và thăng tiến người nghèo, cùng đưa họ hội nhập hoàn toàn vào đời sống xã hội thì phải thay đổi những cơ cấu tạo nên cái nghèo trong xã hội. Nỗ lực thay đổi cần tác động lên cả chiều kích cấu trúc (thay đổi về kinh tế xã hội) và tái cấu trúc (thay đổi tư duy trong toàn bộ đời sống Kitô hữu).[62] Sự biến đổi này cần tác động lên mối tương quan giữa các vùng trung tâm và ngoại biên, giữa Giáo hội Rôma với Giáo hội địa phương, giữa Giáo hội và toàn xã hội.[63]

Hệ lụy tác động lâu dài lên nguyên nhân nhân sâu xa của cái nghèo là nền thương mại hoàn toàn tự trị và hành vi đầu cơ tích trữ tài chính. Trước đây, người ta vẫn nghĩ rằng tự do thương mại là đã đủ cho sự an toàn xã hội. Thế nhưng, bài học kinh nghiệm từ đại dịch Covid-19 khiến họ tái khám phá mối quan tâm đến cộng đồng nhân loại, đến mọi người chứ không chỉ lợi ích của một ít người.[64] ĐTC khuyến khích tác động vào những cơ cấu tạo nên bất công, được cắm rễ nơi các tệ nạn xã hội.[65] Không chỉ lắng nghe tiếng khóc than của người nghèo, Giáo hội cần phải lắng nghe tiếng khóc than của những bất công và tìm cách đáp ứng, xóa bỏ những cơ cấu gây ra tình trạng nghèo đói, cùng giúp thăng tiến sự phát triển toàn diện cho người nghèo.[66]

Thế nhưng, khi đặt người nghèo nơi vị trí trung tâm của những suy tư về xã hội và sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội, như khí cụ của Chúa, tình liên đới và thăng tiến cho người nghèo còn phải giúp họ triển nở mối tương quan với Chúa. [67] Theo ĐTC, vì người nghèo là thân thể trần thế của Đức Kitô, nên thể hiện tình liên đới với người nghèo sẽ đưa người Kitô hữu đến gần Chúa hơn. Sống thiếu tình liên đới với người nghèo sẽ tác động xấu đến mối tương quan giữa người Kitô hữu với Thiên Chúa.[68] Từ đó, Luciani nhận xét: Những người đi vào tương quan hiệp thông với Chúa thì cũng đi vào tương quan hiệp thông với con người.[69] Mặt khác, tham gia vào đời sống xã hội với người nghèo là cách thức nền tảng để nhận thấy, đào sâu đức tin và phân định ơn gọi.[70] Bằng cách liên kết đức tin với hành động cho một thế giới tốt đẹp hơn, ĐTC đã khai triển chọn lựa người nghèo trên nền tảng thần học và sự hiệp thông với Chúa. Thiếu loan báo Tin Mừng, mọi cơ cấu của Giáo hội sẽ biến thành tổ chức phi chính phủ.[71] Theo tác giả Joseph Kuppens, lối suy tư này giúp ĐTC tránh được mối nguy hiểm đồng nhất Giáo hội với các tổ chức NGO.[72]

2. Công bằng xã hội và nhân quyền

Trong Tông huấn EG, ĐTC trích dẫn lại câu chuyện giải phóng dân Israel ra khỏi Ai Cập. Khi nghe thấy tiếng kêu than của đoàn dân đang chịu thống khổ bên Ai Cập, Thiên Chúa đã tác động lên lịch sử nhân loại, giải phóng và đưa dân thoát khỏi tình trạng nô lệ. Bằng cách thuyết phục ông Môsê dấn thân vào hành trình giải phóng lâu dài, Thiên Chúa đã mạc khải đường hướng của Ngài và quyết định đem dân từ cảnh nô lệ khốn cùng đến cuộc sống mới.[73] Tiếng kêu than của người nghèo và những người bị đối xử bất công ngày nay cũng tương tự như tiếng kêu khóc của dân Chúa trên đất Ai Cập.[74] Do hậu quả của nền kinh tế loại trừ và bất công xã hội, thế giới đang phải đương đầu với thực trạng nô lệ mới, khiến con người lâm vào tình trạng không lối thoát.

Nền kinh tế loại trừ và bất công xã hội là hậu quả của cơ chế cạnh tranh thương mại, đấu tranh sinh tồn và khao khát tiền của.[75] Người nghèo cảm thấy mình bị đẩy ra bên lề xã hội khi họ đang đói mà thực phẩm bị quăng bỏ. Người ta quan tâm đến điểm dao động của thị trường chứng khoán hơn là số người đói nghèo trong xã hội.[76] Khi con người đặt sự thống trị của đồng tiền lên trên nhân phẩm và xã hội, họ hướng đến nền kinh tế vô cảm, thương mại tự trị và đầu cơ tài chính. Khao khát kiếm tiền đã tạo nên một ý thức hệ mới (ý thức hệ của đồng tiền). Khủng hoảng tài chính khiến người ta chối bỏ ưu tiên dành cho nhân quyền.[77] Đặt mình vào cuộc chiến này, ĐTC kêu gọi người giàu hãy giúp đỡ người nghèo: “Nhân danh Đức Kitô, tôi xin nhắc lại rằng người giàu phải trợ giúp, tôn trọng và thăng tiến người nghèo.”[78] Ưu tư về những thách thức phát sinh từ đồng tiền, ĐTC cảnh báo: “Đồng tiền phải phục vụ, không được thống trị.”[79]

Nơi một góc nhìn khác, ĐTC đề cao vai trò của việc kinh doanh: “Kinh doanh là một ơn gọi và là một ơn gọi cao quý.”[80] Kinh doanh tạo nên sự phồn thịnh và cải thiện thế giới chúng ta đang sống.[81] Trong kế hoạch của Chúa, mỗi cá nhân được mời gọi thúc đẩy phát triển chính mình. Thế nhưng, như quà tặng của Chúa, khả năng kinh doanh nên được vận dụng để phát triển tha nhân và xóa bỏ nghèo đói.[82] Theo nhận định của ĐTC, quyền tích trữ cá nhân chỉ được xem là quyền tự nhiên thứ yếu, được rút ra từ mục đích phổ quát của hàng hóa. Nguyên lý sử dụng hàng hóa cho lợi ích của dân chúng mới là quyền tự nhiên chính yếu của con người. [83] Thế nên, các doanh nhân nên để mình bị chất vấn bởi ý nghĩa lớn lao về sự sống, phục vụ công ích và gia tăng hàng hóa cho thế giới hơn là chỉ lo cho lợi ích cá nhân. Sẽ không có giải pháp nào được tìm thấy nếu chưa loại trừ nền kinh tế hoàn toàn tự trị, nạn đầu cơ tài chính và tấn công vào cơ cấu gây ra bất bình đẳng xã hội.[84]

ĐTC triển khai hành vi bác ái cả trong tương quan vi mô (bạn bè, các thành viên trong gia đình hay nhóm nhỏ) lẫn tương quan vĩ mô (tương quan xã hội, kinh tế và chính trị).[85] Nền kinh tế cần phải mang lại lợi ích cho từng cá nhân, cho quốc gia và toàn thế giới như là căn nhà chung của nhân loại. Nhiệm vụ này được thực hiện không chỉ nhờ những nhà lãnh đạo, cơ quan tài chính, nhưng còn nhờ các chính trị gia, những người được mong đợi cải thiện điều kiện sống xã hội như: lương thực, việc làm, giáo dục và chăm sóc sức khỏe phù hợp với nhân phẩm con người. Tuy nhiên, đây không phải là những điều tự con người có thể làm được. ĐTC khẩn xin Thiên Chúa mang lại tâm thức chính trị và kinh tế mới, giúp đập tan các bức tường chia cắt giữa nền kinh tế và công ích xã hội.[86]

3. Bảo vệ môi trường sống cho người nghèo

ĐTC còn mở rộng chủ đề nghèo đến tương quan mật thiết giữa người nghèo với sự mỏng giòn của hành tinh chúng ta đang sống. Đây là tương quan bất khả phân chia giữa mối bận tâm về tự nhiên, công bằng cho người nghèo, trách nhiệm xã hội và bình an nội tâm.[87] Theo nhận thức của ĐTC, thế giới hiện hữu cho mọi người và tất cả mọi người được sinh ra đều có quyền bình đẳng như nhau. Thiên Chúa ban thế giới cho toàn thể nhân loại, không dành riêng cho bất kỳ ai. Ngài lưu ý “chúng ta đừng bao giờ quên rằng hành tinh này thuộc về mọi người và dành cho con người.”[88]

Lặp lại lời nhắc nhở của ĐTC Bênêđictô XVI: “Môi trường Amazon bị hủy diệt và phẩm giá con người của các dân tộc sống ở đó bị đe dọa”,[89] ĐTC cho rằng một người nghèo thiếu những điều kiện cần thiết để sống cho nhân phẩm là do người khác đang ngăn trở họ. Không san sẻ nguồn sống tự nhiên cho người nghèo đồng nghĩa với việc cướp đi sự sống và quăng họ ra bên lề.[90] Vì phần đông dân số thế giới là người nghèo, nên hậu quả để lại từ hành vi quăng họ ra bên lề xã hội là vô cùng lớn.[91] Chúng ta phải có trách nhiệm theo đuổi công lý cho người nghèo và người yếu đuối.[92]

Vì những khó khăn do biến đổi khí hậu, nhiều người nghèo đã mất khả năng tự tìm kế sinh nhai và buộc phải di cư sang vùng đất khác.[93] Tại châu Phi, nhiều người nghèo đang thiếu nước sạch. ĐTC nhận thấy nhu cầu có nước sạch là quyền cơ bản của con người: “Có được nguồn nước sạch là quyền căn bản và phổ quát của con người vì đó là điều kiện sinh tồn thiết yếu.”[94] Những khủng hoảng môi trường đang diễn ra do chất thải công nghiệp gây nguy hại cho trái đất và sự sống của người nghèo: “Chính trái đất, đang oằn mình và bị tàn phá, lại ở trong số những người nghèo bị bỏ rơi và lạm dụng nhất của chúng ta.”[95] Là một cộng đoàn trong thế giới – ngôi nhà chung của chúng ta – Giáo hội có trách nhiệm bảo đảm mỗi người nghèo đều sống đúng với nhân phẩm và có đầy đủ cơ hội phát triển toàn diện.[96] Đáng buồn thay, thế giới nợ người nghèo sự trợ giúp kiện toàn nhân quyền và nhân phẩm, nhưng người ta lại không chú tâm đến trọng trách này.[97] Với các thành viên trong Giáo hội, ĐTC mời gọi các Kitô hữu tôn trọng mối liên hệ mật thiết giữa Thiên Chúa, người thân cận và công trình sáng tạo, cùng vun đắp cho mối tương quan này. Khi tương quan này bị phá vỡ thì hậu quả để lại sẽ là tội lỗi và những nguy hại cho sự sống con người.[98]

V. KẾT LUẬN

Dựa trên nền tảng Kitô học – Đức Kitô trở nên người nghèo và gần gũi với người nghèo – ĐTC mong muốn Giáo hội hiện tại là Giáo hội nghèo và cho người nghèo. Về sứ vụ của Giáo hội, ĐTC không đóng khung Giáo hội vào những không gian riêng tư nhưng mở ra với cuộc sống xã hội trong việc phục vụ người nghèo, những người bị loại trừ và bị ngược đãi. Các Kitô hữu nên ra khỏi nơi thờ tự, đến vùng ngoại biên, mang niềm vui Tin Mừng đến với người nghèo và toàn thể thế giới.[99] Chứng nhân loan báo Tin Mừng không nên đóng khung hoạt động mục vụ trong việc từ thiện, bác ái, nhưng sống tình liên đới, mở ra với các hoạt động xã hội, kinh tế và chính trị nhằm xây dựng một xã hội, một hành tinh tốt đẹp hơn cho sự phát triển toàn diện của người nghèo. Về chiến lược kinh tế và xã hội, ĐTC mời gọi chúng ta xóa bỏ nền thương mại tự trị, nạn đầu cơ tài chính, những cơ cấu gây ra nghèo đói và bất công, cùng nối lại sự chia cắt giữa lợi ích kinh tế cá nhân và công ích xã hội.[100]

Mặc dù mời gọi Giáo hội dấn thân vào tương quan xã hội, kinh tế và chính trị nhưng ĐTC không tham gia và cũng không mời gọi các thừa tác viên có chức thánh tham gia vào các đảng phái chính trị: “Thừa tác viên có chức thánh không được tham gia vào các đảng phái chính trị”[101] Những điều ĐTC mời gọi không chỉ là những suy tư mang tính lý thuyết, nhưng là lối sống của chính ngài, thể hiện qua sự yêu thương, gần gũi và chăm lo cho người nghèo nơi đời sống hàng ngày, trong vai trò giám mục và hồng y tại tổng Giáo phận Buenos Aires và cả trong cương vị Giám mục thành Rôma./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn chính yếu:

– Francis. Evangelii Gaudium: On the Proclamation of the Gospel in the Today’s World. www.vatican.va/evangelii-gaudium.html.

– Francis, Fratelli Tutti: On Fraternity and Social Friendship. www.vatican.va/fratelli-tutti.html.

– Francis. Gaudete et Exultate: On the Call to Holiness in Today’s World. www.vatican.va/gaudete-et-exsultate.html.

– Francis. Laudato Si’: On Care for Our Common Home. www.vatican.va/laudato-si.html

– Francis, Querida Amazonia. www.vatican.va/querida-amazonia.html .

Nguồn thứ yếu:

– Caro, Olga C.V. “The Social Dimension of Evangelization: An Incontrovertible Commitment.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 189-198. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Gispert-Sauch, George. “The Social Dimension of Evangelization: A Reflection from India.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 163-174. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Ilo, Stan. Poverty and Economic Justice in Pope Francis. Accessed January, 2019. www.researchgate.net/Poverty_and_Economic_Justice_in_Pope_Francis

– Johnson, Siluvaipillai. “Encountering the Word-Event: The Realization of God’s Nearness and Newness in the Fragile World.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 137-148. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Krẳmer, Klaus. “The Social Dimension of Evangelization: The Kingdom of God as the Horizon of Social and Communal Activity.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 199-210. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Kuppens, Jos. “On the Social Dimension of Evangelization.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 175-188. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Luciani, Rafael. Pope Francis and the Theology of the People. Trans. Phillip Berryman. Maryknoll, New York: Orbis Books, 2017.

– Pedrioli, Carlo A. Pope Francis, Poverty, and the Third Persona. Accessed May 31, 2019. https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3385076

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 124 (Tháng 5 & 6 năm 2021)

WHĐ (22.8.2021)

[1] Francis, Evangelii Gaudium: On the Proclamation of the Gospel in the Today’s World, 189. Trích dẫn về Tông huấn Evangelii Gaudium được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en.

[2] ‘NGO’ là từ viết tắt của cụm từ ‘non-governmential organization, tên gọi chung cho các tổ chức phi chính phủ.

[3] Carlo A. Pedrioli, Pope Francis, Poverty and the Third Persona, 372, accessed May 31, 2019, https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3385076.

[4] Olga Consuelo Vélez Caro, “The Social Dimension of Evangelization: An Incontrovertible Commitment,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krămer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 194.

[5] Carlo A. Pedrioli, Pope Francis, Poverty and the Third Persona, 372.

[6] Ibid., 383.

[7] Ibid., 383.

[8] Francis, Evangelii Gaudium , 212.

[9] Ibid., 210.

[10] Francis, Fratelli Tutti: On Fraternity and Social Friendship, 19. Trích dẫn về Thông điệp Fratelli Tutti được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en.

[11] Francis, Querida Amazonia, 10. Trích dẫn về Tông huấn Querida Amazonia được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en

[12] Francis, Evangelii Gaudium, 202.

[13] Ibid., 208.

[14] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 40.

[15] Stan Chu Llo, Poverty and Economic Justice in Pope Francis, 44, accessed December 19, 2018, https://doi.org/10.1177/2396939318810698.

[16] Cha Rafael Luciani là một trong ba linh mục khởi xướng phong trào Thần học về con người (Theology of the People) tại Argentina.

[17] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 65.

[18] Ibid., 65.

[19] Ibid., 65.

[20] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[21] George Gispert-Sauch, “The Social Dimension of Evangelization: A Reflection from India,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Kramer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 169.

[22] Francis, Querida Amazonia, 63.

[23] Francis, Evangelii Gaudium, 186;198.

[24] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 69.

[25] Francis, Address to representatives of Civil Society, Asuncion, Paraguay, in July 11, 2015. See Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 65.

[26] Francis, Evangelii Gaudium, 186.

[27] Francis, Fratelli Tutti, 85.

[28] Ibid., 74.

[29] Francis, Evangelii Gaudium, 197.

[30] Ibid., 197.

[31] Ibid., 197.

[32] Ibid., 198.

[33] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[34] Francis, Fratelli Tutti, 66.

[35] Ibid., 67.

[36] Ibid., 68.

[37] Ibid., 69.

[38] Ibid., 62.

[39] Ibid., 78.

[40] Ibid., 199.

[41] Francis, Evangelii Gaudium, 24.

[42] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[43] Francis, Evangelii Gaudium, 49.

[44] Stan Chu Llo, Poverty and Economic Justice in Pope Francis, 43.

[45] Francis, Fratelli Tutti, 30.

[46] Francis, Evangelii Gaudium, 24. Also see Francis, Fratelli Tutti, 276.

[47] Francis, Evangelii Gaudium, 24.

[48] Ibid., 191.

[49] Ibid., 194.

[50] Stan Chu Llo, Poverty and Economic Justice in Pope Francis, 43.

[51] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 67.

[52] Francis, Evangelii Gaudium, 178.

[53] Francis, Fratelli Tutti, 35.

[54] Francis, Evangelii Gaudium, 180.

[55] Francis, Evangelii Gaudium, 180.

[56] Trong Tông huấn Evangelii Gaudium số 187, ĐTC viết: “Mỗi Kitô hữu và cộng đoàn đều được mời gọi để trở thành khí cụ của Thiên Chúa trong việc giải phóng và thăng tiến người nghèo, ngõ hầu họ có thể gia nhập cách trọn vẹn vào xã hội”.

[57] Francis, Fratelli Tutti, 91.

[58] Ibid., 116.

[59] Francis, Querida Amazonia, 27.

[60] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[61] Ibid., 188.

[62] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 70.

[63] Ibid., 70-71.

[64] Francis, Fratelli Tutti, 33.

[65] Jos Kuppens, “On the Social Dimension of Evangelization,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Kramer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 181. And see Francis, Evangelii Gaudium 202.

[66] Francis, Evangelii Gaudium, 188.

[67] Francis, Evangelii Gaudium, 187.

[68] Ibid., 187.

[69] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 76.

[70] Francis, Christus Vivit – to Young People and the Entire People of God, 170.

[71] Francis, Querida Amazonia, 64.

[72] Jos Kuppens, “On the Social Dimension of Evangelization,” 179.

[73] Siluvaipillai Johnson, “Encountering the Word-Event: The Realization of God’s Nearness and Newness in the Fragile World,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Kramer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 144.

[74] Francis, Querida Amazonia, 52.

[75] Francis, Evangelii Gaudium, 53.

[76] Ibid., 53.

[77] Francis, Evangelii Gaudium, 53.

[78] Ibid., 58.

[79] Ibid., 58.

[80] Francis, Evangelii Gaudium, 203.

[81] Francis, Fratelli Tutti, 123.

[82] Ibid., 123.

[83] Ibid., 123.

[84] Francis, Evangelii Gaudium, 202.

[85] Ibid., 205.

[86] Ibid., 205.

[87] Francis, Laudato Si’, 16.

[88] Francis, Evangelii Gaudium, 189.

[89] Francis, Querida Amazonia, 12.

[90] Francis, Fratelli Tutti, 120.

[91] Francis, Laudato Si’, 49.

[92] Francis, Gaudete et Exsultate : On the Call to Holiness in Today’s World, 79. Trích dẫn về Tông huấn Gaudete et Exsultate được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en.

[93] Carlo Pedrioli, Pope Francis, Poverty, and the Third Persona, 387.

[94] Francis, Laudato Sí, 30.

[95] Ibid., 30.

[96] Francis, Fratelli Tutti, 118.

[97] Francis, Laudato Si’, 30.

[98] Ibid., 30.

[99] Francis, Fratelli Tutti, 276.

[100] Francis, Fratelli Tutti, 276.

[101] Ibid., 276.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 33
  • Page 34
  • Page 35
  • …
  • Page 67
  • Next page
Bài viết mới nhất
CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
12/06/2026
GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
12/06/2026
ĐỜI SỐNG MỚI TRONG CHÚA KITÔ - SỨ ĐIỆP THIÊNG LIÊNG CỦA THƯ RÔMA
12/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.