2021
Những điều bạn không nên nói khi đi làm
Những điều bạn không nên nói khi đi làm
Có một quy tắc ứng xử nhất định mà mọi người xung quanh nơi làm việc phải tuân theo và điều trớ trêu là mọi người hầu như không hiểu rõ ý định thực sự của những người xung quanh họ. Mọi người ở nơi làm việc có thể thể hiện thành kiến đối với suy nghĩ của bạn và điều này dẫn đến sự sai lệch hoặc hiểu sai. Điều này cũng xảy ra với những người tại nơi làm việc mà một phần thuộc trong nhóm của bạn.
Điều này không chỉ giới hạn ở nơi làm việc. Bạn có thể không biết anh bạn hoặc cha hay mẹ bạn thực sự muốn nói gì hoặc làm gì, hay bạn của bạn ở trường đại học có ý gì với bất cứ những điều anh ấy hoặc cô ấy nói hoặc làm khi bạn gặp họ.
Có những lý do mà bộ phận nhân sự thông báo cho bạn về quy tắc ứng xử nơi làm việc và văn hóa mà họ tuân theo. Một trong những điều quan trọng là bạn nên cẩn thận với những chủ đề nóng hổi có thể khiến bạn gặp rắc rối hoặc khiến bạn rơi vào trạng thái tranh cãi, đặc biệt là khi bạn đang làm việc.
Bạn có thể tìm hiểu một điều về đạo đức nơi làm việc của mình trên YouTube bằng các dịch vụ Internet Spectrum. Các dịch vụ Spectrum cũng mang đến cho bạn các kênh Spectrum Silver cho người dùng truyền hình cáp, có thể đưa bạn đến gần với các xu hướng kinh doanh mới nhất cũng như các chương trình thực tế khác nhau.
Hãy xem xét những điều khác nhau mà bạn không nên nói khi ở nơi làm việc:
Đảng chính trị và tôn giáo
Đây là một trong những điều quan trọng nhất không nên bàn cãi khi bạn đi chơi với đồng nghiệp, bạn bè và thậm chí tại nơi làm việc. Nói về tôn giáo hoặc đảng phái chính trị và hoạt động của họ sẽ không thể ảnh hưởng đến việc bạn đồng ý hay không đồng ý trong một cuộc thảo luận vì lý do bạn có quan điểm khác nhau về những hiện tượng này.
Ngay cả khi bạn là người có nghiên cứu và phân tích dựa trên bằng chứng và có bằng chứng gì đó về cả hai điều này, bạn sẽ cần phải nỗ lực hơn nữa để lập luận của mình được xác thực. Điều này có thể tạo ra căng thẳng và thậm chí là xung đột tại nơi làm việc hoặc trong nhóm mà bạn là thành viên.
Dân tộc và Chủng tộc
Nói về sắc tộc và chủng tộc trong và ngoài nơi làm việc là một chủ đề tồi. Các chủ đề và cuộc thảo luận về chủng tộc và dân tộc xoay quanh những thành kiến về cảm xúc và có thể trở thành chủ đề phi lý vì khi bạn nói ngày càng nhiều về chủng tộc của ai đó, điều đó tạo ra sự phi lý.
Một số nơi làm việc rất coi trọng việc thảo luận về chủng tộc, sắc tộc và can thiệp nếu có bất kỳ sự cố nào được báo cáo cho họ. Ngoài ra, nếu bạn chuyển lời bình luận hoặc trò đùa về một chủng tộc hoặc dân tộc nhất định thì điều này sẽ tạo ra sự căm ghét nhất định giữa tất cả những người thuộc các đặc điểm cụ thể và điều này dẫn đến việc tạo ra các nhóm khác nhau có thể không hoạt động cùng với những người thuộc chủng tộc hoặc sắc tộc khác. Bộ phận nhân sự có thể can thiệp và khiến bạn bị phạt vì hành vi phân biệt chủng tộc tại nơi làm việc hoặc cổ vũ phân biệt chủng tộc tại nơi làm việc.
Sự thay đổi nhân sự hay Chính sách thay đổi nhân sự
Sự thay đổi nhân sự và bảo mật công việc có thể là điều mà sếp của bạn hoặc những người khác xung quanh bạn có thể coi trọng và điều này có thể tạo ra căng thẳng trong công việc. Khi điều này xảy ra, có rất nhiều tranh luận và những người cảm thấy bị đe dọa về công việc này tạo ra rất nhiều vấn đề khác như mọi người chuyển đổi công việc, cách chức, hiệu suất suy giảm, vắng mặt và nhiều hơn nữa. Điều này cũng có thể tạo ra sự không chắc chắn giữa các nhân viên cũng như rất không lành mạnh và dẫn đến năng suất thấp hơn hoặc không có.
Tình dục
Bạn chỉ được phép nói về tình dục nếu bạn đang làm việc tại một phòng khám chuyên điều trị chứng rối loạn tình dục, một công ty chuyên kinh doanh đồ chơi tình dục và các sản phẩm và dịch vụ liên quan. Ngoài ra, nó là một trong những chủ đề nóng nhất mà bạn nên tránh. Có một thực tế là đàn ông và phụ nữ biết về ý định tình dục của nhau và đôi khi đàn ông là người hiểu sai mối quan hệ khi phụ nữ coi đó là tình bạn hay sự thân thiện. Trong sự hiểu lầm này, họ bắt đầu nói về tình dục một cách cởi mở khiến phụ nữ cảm thấy khó chịu. Nếu điều đó xảy ra, bạn có thể bị sa thải khỏi nơi làm việc của mình.
Nói về Cấp trên hoặc Quản lý cấp cao
Nói chuyện hoặc tán gẫu về cấp trên, người quản lý hoặc đồng nghiệp của bạn có thể là điều gì đó có thể khiến bạn chìm trong nước sôi lửa bỏng. Điều tồi tệ nhất xảy ra tại nơi làm việc là luôn có một người có thói quen tung tin đồn thất thiệt về những người xung quanh họ. Nếu bất kỳ ai hoặc cấp trên của bạn biết về điều này bằng mọi cách, thì cuối cùng bạn sẽ gặp rắc rối và có khả năng bị sa thải khỏi công việc của mình.
Lời kết
Cuối cùng, người ta có thể nói rằng nơi làm việc của bạn có bộ quy tắc riêng và sếp của bạn cũng như những người khác trong các bộ phận liên quan đều rất nghiêm túc với chúng. Bạn nên luôn cư xử tích cực và giữ thái độ chuyên nghiệp khi ở bàn làm việc. Một khi bạn rời khỏi nơi làm việc hoặc tham gia một cuộc tụ tập xã hội, thì bạn có thể có những hành vi thông thường của mình với họ.
Caroline Eastman
2021
Tại sao Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện chiêm niệm
Tại sao Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện chiêm niệm
Kinh Mân Côi là một lời cầu nguyện tuyệt vời có thể được dùng để chiêm ngắm các mầu nhiệm của Thiên Chúa.
Trong khi một số người có thể coi Kinh Mân Côi là lỗi thời, thì Giáo hội Công giáo vẫn tiếp tục xem đó như một phương pháp cầu nguyện tuyệt mỹ.
Đặc biệt, Thánh Gioan Phaolô II xác tín rằng đó là một cách hoàn hảo để thực hành việc chiêm niệm.
Ngài đã viết về điều đó trong Tông thư về Kinh Mân Côi.
Lý do quan trọng nhất để khích lệ mạnh mẽ việc thực hành Kinh Mân Côi là vì nó được xem như phương tiện hữu hiệu nhất nhằm thúc đẩy các tín hữu dấn thân vào việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm Kitô giáo mà tôi đã đề ra trong Tông thư Novo Millennio Ineunte, như một “sự huấn luyện nên thánh” chính cống: “Điều cần có là một đời sống Kitô hữu nổi bật hơn cả trong nghệ thuật cầu nguyện”.
Đức Gioan Phaolô II thậm chí còn đi xa hơn khi so sánh Kinh Mân Côi với các phương pháp cầu nguyện chiêm niệm khác đã được phát triển ở Đông phương.
Kinh Mân Côi thuộc về một trong những truyền thống tốt đẹp nhất và đáng ca ngợi nhất của việc chiêm niệm Kitô giáo. Được phát triển ở phương Tây, như là một lời cầu nguyện chiêm niệm tiêu biểu, cách nào đó tương ứng với “lời cầu nguyện của con tim” hoặc “lời cầu nguyện của Chúa Giêsu”, vốn đã bén rễ trong vùng đất của Kitô giáo Đông phương.
Thực vậy, Thánh Gioan Phaolô II còn nói rằng Kinh Mân Côi nếu không suy ngắm thì giống như một “cái xác vô hồn”.
Kinh Mân Côi là một kinh nguyện chiêm niệm mạnh mẽ, vì nó bắt đầu từ kinh nghiệm của chính Đức Maria. Nếu không có chiều kích chiêm niệm này, Kinh Mân Côi sẽ mất đi ý nghĩa, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chỉ rõ:
“Không có yếu tố chiêm niệm này thì Kinh Mân Côi là một cái xác vô hồn, và việc lần hạt của nó có cơ nguy trở thành một thứ lập đi lập lại một cách máy móc những công thức và đi tới chỗ đối diện với lời cảnh giác của Chúa Kitô: “Trong khi cầu nguyện đừng có lải nhải nhiều lời trống rỗng như Dân Ngoại vốn làm; vì họ nghĩ rằng họ có nhiều lời mới được đáp ứng” (Mt 6,7). Tự bản chất, việc lần hạt Mân Côi cần một nhịp điệu bình lặng và một tốc độ khoan thai, để giúp cho cá nhân suy niệm các mầu nhiệm về cuộc đời của Chúa bằng cặp mắt của Mẹ là vị gần Chúa nhất. Có thế những phong phú khôn lường của những mầu nhiệm này mới được tuôn trào ra” (MC 47).
Chìa khóa để mở ra chiều kích chiêm niệm của Kinh Mân Côi nằm trong việc suy niệm về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu chứ không chỉ đơn giản là hàng đống những “lời nói suông”.
Nếu chỉ lần chuỗi Mân Côi cách đơn giản và không tham gia vào việc suy niệm thì quá dễ. Tuy nhiên, nếu chúng ta làm vậy, chúng ta có nguy cơ “lải nhải”, những lời cầu nguyện đó không tác động gì đến tâm hồn chúng ta.
Đức Gioan Phaolô II cũng giải thích rằng khi lần chuỗi Mân Côi chúng ta nên chiêm ngắm khuôn mặt của Chúa Giêsu.
Kinh Mân Côi là một trong những đường lối cầu nguyện truyền thống của Kitô giáo hướng đến việc chiêm ngắm gương mặt Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã mô tả điều đó bằng những lời sau:
“Là một kinh nguyện Phúc Âm, tập trung vào mầu nhiệm Nhập Thể cứu chuộc, Kinh Mân Côi bởi thế là một kinh nguyện có chiều hướng Kitô học rõ ràng. Thật vậy, yếu tố nổi nhất của nó là tính cách liên tục như là kinh cầu của Kinh Kính Mừng tự nó trở thành một lời chúc tụng Chúa Kitô không ngừng” (MC 46).
Lần tới, khi lần chuỗi Mân Côi, bạn hãy cố gắng thực hiện theo cách chiêm niệm, là suy gẫm về những mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa Giêsu và ngắm nhìn khuôn mặt của ngài.
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
2021
Tìm hiểu về các Công đồng của Giáo Hội
Tìm hiểu về các Công đồng của Giáo Hội
Xin gửi đến quý độc giả một vài khái niệm về Công đồng và liệt kê 21 Công đồng Chung.
I/ Một vài khái niệm về Công đồng
Định Nghĩa
Công đồng là một hội nghị gồm các Giám mục, cùng một số bề trên của các tổ chức tu trì trong Giáo Hội, chính thức nhóm họp bàn luận và quyết định những vấn đề thuộc giáo lý đức tin hay sinh hoạt của Giáo Hội
Phân Loại
Công đồng có nhiều cấp bậc khác nhau, bao gồm trong hai loại tổng quát: Công đồng chung và Công đồng riêng
Công đồng Chung: còn gọi là Công đồng phổ quát. Từ khi có phong trào hợp nhất các Kitô hữu, người ta còn gọi là Công đồng đại kết. Đây là hội nghị các giám mục toàn cầu, với sự có mặt của các bề trên cao cấp trong các tổ chức tu trì, dưới sự chủ tọa đích thân của giám mục Rôma hay qua đặc sứ của ngài(x.GH22). Trước Công đồng chung Vatican II, chỉ có giám mục chính tòa mới có quyền tham dự Công đồng chung. Từ nay mọi giám mục có quyền tham dự Công đồng vì là thành phần của giám mục đoàn(x. GM 4)
Công đồng riêng: là một hội nghị gồm các giám mục của một miền dất nào đó trong Giáo Hội. Người ta phân biệt: Công đồng giáo tỉnh gồm các giám mục trong một miền, một giáo tỉnh dưới quyền chủ tọa của một tổng giám mục hay giám mục trưởng giáo tỉnh. Công đồng liên giáo tỉnh hay đại Công đồng nếu hội nghị, gôm các giám mục của nhiều giáo tỉnh khác nhau dưới quyền chủ tọa sứ thần Tòa Thánh. Ta cũng có thể kể thêm Công đồng toàn quốc, Công đồng toàn miền. Ngoài ra, còn có hội nghị khác của các giám mục gọi la thượng hội đồng, hội nghị hay công nghị giám mục. Công nghị giáo phận (x. GL. Đ. 460) dùng để chỉ phiên họp của vị giám mục giáo phận với hàng giáo sĩ của mình. Còn Thượng Hội đồng giám mục (Synod) là một quy chế được thể hiện sau Công đồng Vatican II. Đây là hội nghị do chính Giáo hoàng Roma triệu tập các giám mục đại diện hay những người được ngài chỉ định để cùng tìm hiểu và giúp ngài về một số vấn đề liên quan đến hoạt động của Giáo Hội trong thế giới
Thẩm quyền của Công đồng chung: là cơ quan lập pháp và giáo huấn tối cao của Giáo Hội. Đó chính là giám mục đoàn được quy tụ lại vì Chúa Kitô đã ban quyền cho các tông đồ và những người kế vị các ngài để dạy dỗ và điều khiển Giao Hội
Những nghị quyết của Công đồng chung có một giá trị tối cao đối với toàn thể Giáo Hội. Theo một số điều kiện đã được ấn định trong Giáo Hội, chúng có tính bất khả ngộ, nghĩa là không thể sai lầm. Nghị quyết chia thành hai loại: Nghị quyết về quy luật ấn định những luật lệ, tập quán, nghi lễ…..nghị quyết về giáo lý bàn về những điểm giáo lý gây tranh cải, làm sáng tỏ những điểm giáo lý còn nghi ngờ, xác định những chân lý mặc khải bị lạc giáo chối từ hoặc lên án những điểm sai lạc bằng các phán quyết “tuyệt thông”
Các Công đồng chung trong lịch sử:
Các Công đồng chung đóng vai trò đặc biệt trong lịch sử Giáo Hội vì đã làm chứng và xác định những chân lý mạc khải, ấn định những hình thức thờ phượng và kỷ luật, tạo nên những cuộc biến chuyển và canh tân đời sống Kitô giáo. Nhìn chung các Công đồng biểu lộ những nổ lực của Giáo Hội muốn luôn luôn chuyển biến chính mình để vừa bảo vệ khỏi những khủng hoảng của thời đại, vừa thanh tẩy mình khỏi những khiếm khuyết, vừa phát triển mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần
Trong dòng lịch sử suốt 20 thế kỷ qua, có tất cả 21 công đồng chung: 8 Công đồng chung đầu tiên nhóm họp ở phương Đông, 13 Công đồng sau ở phương Tây. Hầu hết, các giáo hội ly khai Đông Phương chỉ công nhận 7 Công đồng chung đầu tiên. Các Công đồng này, có thể nói, đã xác định phần lớn giáo lý cơ bản của Giáo Hội. Các hoàng đế Đông Phương đã có công tích cực trong việc triệu tập và giúp đỡ Công đồng trong thời gian nhóm họp, dù giá trị của Công đồng hệ tại ở việc chuẩn nhận của vị Giáo hoàng ở Roma
II/ Liệt kê 21 Công đồng Chung
Chúng tôi đã trình bày một số điểm cơ bản của từng Công đồng trong phần Niên biểu Lịch sử Giáo Hội. Sau đây chỉ là bảng liệt kê danh sách ngày tháng và một số chi tiết khác của các Công đồng chung
- Nieaea I:Năm 325, thành phần tham dự gồm khoảng 300 giám mục Đông Phương, 4 giám mục Tây Phương, 2 linh mục Roma làm đặc sứ của Thánh Giáo hoàng Sylvester I. Hoàng đế Constantinus I triệu tập. Công đồng họp từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 8. Công đồng định tínhCon Thiên Chúa đồng bản tính với Chúa Cha
- Contastantinople I:Năm 381. Hoàng đế Theodosius I triệu tập dưới triều Thánh Giáo hoàng Damanus I. Có khoảng 186 giám mục Đông Phương dự. Khóa họp từ tháng 5 đến tháng 7. Công đồng lên án các lạc thuyết Arius và Macedonius,xác nhận và triển khai Kinh Tin Kính Nicaea
- Ephesus:Năm 431. Hoàng đế Theodosius II triệu tập, dưới triều Thánh Giáo hoàng Celestinus I. Có khoảng 150 – 200 giám mục Đông Phương, 1 giám mục Tây Phương, 3 đặc sứ tham dự với 5 khóa họp từ 22-6 đến 17-7. Công đồng lên án 2 lạc thuyết Nestorius và Pelagius,Công bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và xác định sự ngôi hiệp nơi Đức Kitô
- Chaleedon:Năm 451 Hoàng đế Mareianus triệu tập. Khoảng 600 giám mục Đông Phương, 2 giám mục Phi Châu, 3 đặc sứ của của Thánh Giáo hoàng Leo I tham dự 17 khóa họp từ 8-10 đến 1-11. Công đồng lên án thủ lãnh lạc giáo Eutyches, tuyên bốĐức Ki tô có một ngôi vị với hai bản tính riêng biệt
- Constantinople II:Năm 553 Hoàng đế Justinianus I triệu tập dưới triều Giáo hoàng Vigilius. Khoảng 150 giám mục Đông Phương, 8 giám mục Phi Châu tham dự 8 khóa họp từ 5-5 đến 2-6. Công đồng lên án”Ba chương” trích từ tác phẩm của các giáo phụ bị cho là theo thuyết Nestorius: T. de Mopsuestus Theodoretus và Ibas
- Constantinople III:Năm 680-681. Hoàng đế Constantinus IV triệu tập, dưới triều các Thánh Giáo hoàng Agatho và Leo II. Khoảng 165 giám mục Đông Phương, 6 giám mục Tây Phương và 3 sứ thần tham dự. Công đồng họp 16 khóa từ 7-11-680 đến 61-9-681. Công đồng lên án thuyếtNhất ý và dạy rằng Đức Kitô có hai ý chí: ý chí con người và ý chí Thiên Chúa
- Nicaea II:Năm 787 Nữ hoàng Irene triệu tập dưới triều Giáo hoàng Adrianus I. Có khoảng 300 giám mục Đông Phương, 2 sứ thần tham dự 8 khóa họp từ 24-9 đến 23-10. Công đồng lên án Phá Hủy Ảnh Thánh, xác định có thể tôn kính ảnh thánh mà không bị coi là ngẫu tượng
- Constantinople IV:Theo Công giáo. Công đồng nhóm họp năm 870, do Hoàng đế Basilius I triệu tập, dưới triều Giáo hoàng Adrianus II. Có khoảng 120 giám mục Đông Phương và 3 đặc sứ tham dự 6 khóa họp từ 5-10-869 đến 8-2-870. Công đồng lên án phái Phá Hủy Ảnh Thánh và truất quyền Thượng phụ Giáo chủ Photius, Nhưng Giáo hội ly khai Đông Phương chỉ công nhận Công đồng năm 880 đồng thời hủy bỏ hết Công đồng năm 870
- Lateran I:(Lateranus), năm 1123 do Giáo hoàng Callixtus II triệu tập. Khoảng 300 giám mục và 700 đại biểu khác tham dự các khóa họp từ 8-3 đến 6-4. Công đồng phê chuẩn thỏa ước Worms và một số điều canh tan Giáo hội
- Lateran II:Năm 1139 Giáo hoàng Innocens II triệu tập. Có khoảng 1000 tham dự viên họp trong tháng 4 để lên án việc ly giáo của Anacletus
- Lateran III:Năm 1179 Giáo hoàng Alexander III triệu tập. Khoảng 300 giám mục và 400 giáo sĩ tham dự 3 khóa họp diễn ra từ ngày 5 đến 19-3 để lên án bè rối Albigenses.Công đồng quy định cách chọn giáo hoàng
- Lateran IV:Năm 1215. Giáo hoang Innocens III triệu tập. Có 412 giám mục và 388 giáo sĩ tham dự, các khóa họp từ 11 đến 30-11. Công đồng quy định việc xưng tội mỗi năm và rước lễ mùa Phục Sinh. Lần đầu tiên. Công đồng nói đến từ“chuyển bản thể” trong Bí tích Thánh Thể
- Lyon I:Năm 1245. Giao hoàng Innocens IV triệu tập. Khoảng 150 giám mục và nhiều giáo sĩ tham dự 3 khóa họp từ 28-6 đến 17-7 để lên án hoàng đế Frederick. II
- Lyon II:Năm 1247. Giáo hoàng Gregorius X triệu tập. Khoảng 500 giám mục và 570 giáo sĩ (có Thánh Thomas và Bonaventura), hoàng đế Đông Phương M. Paleologus cũng tham dự. Gồm 6 khóa họp từ 7-5 đến 17-7. Công đồng bàn vềsự hợp nhất giữa Giáo hội Đông Phương và Tây Phương
- Vienne:Năm 1311-1312. Giáo hoàng Clemens V triệu tập. Khoảng 132 giám mục với nhiều giáo sĩ tham dự 3 khóa họp từ 16-10-1311 đến 6-5-1312. Công đồng giải tán dòng Hiệp Sĩ Đền Thờ, lên án quan niệm sai lạc của tu sĩ. Beguard và Beguin
- Constance(Konstanz): Năm 1414-1418. Hoàng đế Segismundo triệu tập dưới triều Giáo hoàng Gregoritus XII và Matinus V. Khoảng 200 giam mục, nhiều giáo sĩ và chuyên viên tham dự 45 khóa họp, từ 5-11-1414 đến 22-4-1418.Công đồng bãi nhiệm ba giáo hoàng đang tranh chấp nhau, chấm dứt tình trạng ly khai ở Tây Phương, lên án J. Wycliff, JanHus và chọn Giáo hoàng Matinus V
- Florence(Firenze): Năm 1438-1455. Giáo hoàng Eugenius IV triệu tập. Lần đầu họp ở Basel, sau dời về Ferrara, rồi về Florence. Khoảng 30 giám mục Đông Phương tham dự.Công đồng đã đưa ra nhiều phương thức hợp nhất Giáo Hội
- Lateran V:Năm 1512-1517. Giáo hoàng Julius II và Leo X triệu tập. Có 115 giám mục Tây Phương tham dự 12 khóa họp, từ 3-5-1512 đến 6-3-1517.Công đồng xác định quyền bính giáo hoàng và quyền bính Công đồng, lên án những người theo thuyết Tân Aristole
- Trent(Trento): Năm 1545-1563. Giáo hoàng Paulus III. Julius III, Pius IV triệu tập. Lúc khai mạc có 70 giám mục, lúc kết thúc có 252 giám mục và nhiều giáo sĩ tham dự trong 25 khóa họp từ 13-12-1545 đến 4-12-1563.Công đồng xác định một số điểm đức tin và giáo lý liên quan đến Phong trào Cải Cách, canh tân Giáo Hội về nhiều điều thực tế.
- Vatican( Vaticano I): Năm 1869-1870. Giáo hoàng Pius IX triệu tập. Có 747 giám mục tham dự và nhiều giao sĩ trong 4 khóa từ 8-12-1869 đến 1-7-1870.Công đồng lên án thuyết duy lý và tuyên bố tính bất khả ngộ của giáo hoàng
- Vatican II:Năm 1962-1965. Giáo hoàng Joannes XXIII và Paulus VI triệu tập. Có tất cả 2.860 nghị phụ tham dự. Số nghị phụ ở mỗi khóa thay đổi từ 2.150-2.500. Có 10 khóa trong 4 kỳ họp.Công đồng đã soạn thảo và công bố 4 hiến chế, 9 sắc lệnh, và 3 tuyên ngôn nhằm đổi mới toàn diện đời sống Giáo hội Công giáo và hướng tới sự hợp nhất Kitô giáo.
*Bài này trong quyển “ Giáo hội Công Giáo Việt Nam niên giám 2004 của Văn phòng Tổng thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Nhà xuất bản Tôn giáo Hà Nội xuất bản năm 2004 từ trang 90 đến trang 93”
2021
Thánh Giuse – Mẫu gương cho những người sống đời thánh hiến
THÁNH GIUSE – MẪU GƯƠNG CHO NHỮNG NGƯỜI SỐNG ĐỜI THÁNH HIẾN
Tác giả: Sr. Mary Joseph Calore, SSCJ
Chuyển ngữ: Ngọc Quí
Nguồn: catholicexchange.com (18.8.2021)
– Đối với các Kitô hữu, Thánh Giuse là mẫu gương trổi vượt về đời sống nội tâm – đời sống không ngừng nhớ đến Tình Yêu Thiên Chúa và sự hiện diện luôn mãi của Ngài trong mọi khoảnh khắc của cuộc đời. Đặc biệt, Thánh Giuse còn là thước đo sống động cho những người sống đời thánh hiến để thẩm định mức độ trung tín và chân thành đối với lý tưởng hoàn thiện mà họ được kêu gọi.
Sau đây là một vài suy tư về Thánh Giuse như một mẫu gương cho những người sống đời thánh hiến, dựa trên bài suy niệm về Thánh Giuse của Thánh Joseph Sebastian Pelczar (1842-1924), một giám mục người Ba Lan và là Đấng sáng lập Dòng Chị Em Tôi Tớ Trái Tim Rất Thánh Chúa Giêsu.
- Thánh Giuse và Đời sống nội tâm
“Ngắm nhìn toàn bộ cuộc đời thánh Giuse, chúng ta sẽ thấy được một con người sống nội tâm và luôn biết nương ẩn trong bàn tay của Thiên Chúa; việc ít được các thánh ký nhắc đến đã khiến cho toàn thế giới chẳng biết thêm gì về ngài, ngay cả thông tin về sự qua đời của ngài cũng không hề xuất hiện. Dầu vậy, cuộc đời thánh Giuse vẫn được nhìn nhận là một cuộc đời cầu nguyện, lao động và liên lỉ hy sinh trong thầm lặng, cũng như chiếu tỏa chói lọi ánh huy hoàng các nhân đức.” – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Nội tâm con người – chiều sâu của sự hiệp thông với Thiên Chúa – được biểu lộ và thể hiện ra ngoài, trước tiên bằng suy nghĩ, rồi đến lời nói và sau đó là hành động. Là những người sống đời thánh hiến, chúng ta được mời gọi biểu lộ ra ngoài thực tại sống động đang diễn ra bên trong chúng ta, bằng chính chứng tá đời sống của mình. Đó là sự trao đổi tình yêu ẩn giấu giữa chúng ta và Đấng yêu thương chúng ta.
Toàn bộ con người của chúng ta trở thành một dấu chỉ sống động cho thế giới về những gì chúng ta đang trải nghiệm trong sự kết hợp mật thiết giữa chúng ta và Chúa Giêsu, Đức Lang quân của linh hồn chúng ta. Bằng cách này, chính cuộc sống của chúng ta vang lên vinh quang của Thiên Chúa trong một bài thánh ca sống động của tình yêu, niềm vui, bình an và sự viên mãn.
Trong sự trao đổi tình yêu, ước muốn thánh thiện và sự hiệp thông thiêng liêng này, trái tim chúng ta nói với Trái tim Thiên Chúa, tình yêu của chúng ta hòa nhịp với Tình Yêu của Thiên Chúa, đó là hoa trái của ân sủng thanh khiết từ phía Thiên Chúa và sự cộng tác từ phía chúng ta qua sự thành tín, nguyện cầu, hiệp nhất trong bác ái và sự trong sạch của trái tim. Thánh Giuse có thể là mẫu gương về điều đó cho chúng ta bằng đời sống nội tâm chứa đựng sự dấn thân, tính chủ động, sự sẵn sàng, tinh thần phó thác, và trên hết là sự tự hiến.
Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra nếu đời sống nội tâm của chúng ta bị suy kiệt bởi sự làm việc quá sức để cố gắng thoát khỏi sự trống rỗng giày vò? Hoặc có lẽ, những thất vọng về đời sống cộng đoàn hay trong hoạt động tông đồ có thể đã khiến chúng ta khó lòng ở lại trong cuộc đối thoại nội tâm với Chúa.
Những thử thách của cuộc sống có thể làm cho chúng ta trở nên khô khan và có thể át đi lòng yêu mến của chúng ta, làm cho tinh thần chúng ta chán nản từ bên trong, và do đó đánh mất tình yêu thuở ban đầu của chúng ta (x. Kh 2,4). Nếu chúng ta thấy mình trong tình trạng như vậy, thì trên hết là đừng ngã lòng; Thiên Chúa là Đấng thành tín (x. 1Cr 1,9) sẽ không bỏ rơi chúng ta. Chúng ta chỉ có thể kêu cầu Ngài trong sự khốn cùng của chúng ta, và Ngài sẽ giải thoát chúng ta từ trong chính bản thân mình. Khi nhìn thấy nơi chúng ta thiện chí và ước muốn thực hiện những thay đổi thực sự để đặt Thiên Chúa lên trên tất cả, thì Ngài sẽ khôi phục niềm vui thời trẻ của chúng ta (x. Tv 43,4).
Với sự phù giúp của Thánh Cả Giuse, Đấng bảo trợ cho đời sống nội tâm, thì ân sủng sẽ thúc đẩy chúng ta ngày càng khát khao Chúa hơn, và đời sống nội tâm của chúng ta một lần nữa có thể thăng hoa, đem đến niềm vui cho chúng ta và vinh quang cho Thiên Chúa.
- Khiết tịnh
“Do bởi việc kết hôn với Đức Trinh Nữ Maria, thánh Giuse đã từ bỏ phẩm giá của một người cha ruột thịt, một phẩm giá đáng quý trọng theo truyền thống Israel; đồng thời ngài tự nguyện sống trinh khiết trọn đời để có thể thuộc trọn về Thiên Chúa. Gẫm suy những điều này, chúng ta sẽ thấy đó là cả một đời khổ hạnh và khiết tịnh nơi con người Thánh Giuse.” – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Sự khiết tịnh được thánh hiến cho Nước Chúa là một sự tuân phục liên lỉ. Nó thiêu đốt chúng ta hoàn toàn bởi vì nó là một hành động tự dâng hiến có liên quan đến ước muốn sâu thẳm nhất của con người chúng ta, đó là muốn được yêu thương và trân trọng. Chỉ khi chúng ta thực sự biết mình được Thiên Chúa yêu thương và trân trọng sâu xa, thì chúng ta mới có thể thật sự tự do đặt tất cả các món quà tự nhiên và siêu nhiên của mình trên bàn thờ của lễ, cùng với Đức lang quân của chúng ta, trong một của lễ kết hợp với sự dâng hiến của chính Người.
- Sự thanh khiết trong Tâm trí, Cơ thể và Linh hồn
Để luôn trong sạch và hết lòng dâng hiến thể xác, tâm trí và linh hồn của chúng ta thì không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng đó là một cuộc chiến đấu cao đẹp, trong đó Thánh Giuse có thể trợ giúp chúng ta bằng sự cầu bầu và bảo vệ đầy quyền năng của ngài.
“Dù là con cháu của hoàng tộc, ngài làm việc hàng ngày để kiếm sống trong xưởng thủ công – Chúa Giêsu là tất cả tài sản của ngài. Hãy chiêm ngắm cuộc sống từ bỏ bản thân và nghèo khó của ngài”. (Thánh Joseph Sebastian Pelczar)
Thánh Giuse có thể dạy chúng ta giá trị của công việc và giúp chúng ta giữ nó ở mức độ phù hợp với đời sống tu trì của chúng ta. Giá trị của chúng ta không nằm ở năng suất hay sự công nhận của người khác. Những tước hiệu của chúng ta chẳng có nghĩa lý gì nếu chúng không giúp chúng ta trở thành đầy tớ của mọi người. Thánh Giuse – với tước hiệu “người thợ mộc” – là một mẫu gương cho chúng ta về sự kết hợp giữa cầu nguyện và làm việc nặng nhọc, ngài luôn làm những công việc nặng nhọc này với ý ngay lành và trong sự hiệp thông với Chúa.
Thánh Giuse biết những thiếu thốn và cơ cực của một người lao động; còn chúng ta là những tu sĩ, thành thật mà nói, chúng ta thực sự sống một cuộc sống đặc quyền – mọi nhu cầu của chúng ta đều được đáp ứng. Sự nghèo khó và lao động của Thánh Giuse kêu gọi chúng ta nhìn sâu hơn vào tình trạng thực sự của tinh thần từ bỏ của chúng ta. Có biết bao đòi hỏi và quyến luyến làm phức tạp cuộc sống và làm ảnh hưởng đến lý tưởng của chúng ta! Chúng ta thường bất mãn với những điều như nhược điểm bản thân, sự bổ nhiệm, bạn đồng hành, sự xuống cấp và những đau khổ vốn là những điều Chúa ban cho chúng ta. Tinh thần nghèo khó theo tinh thần của Thánh Giuse có thể giải thoát chúng ta khỏi chính mình, khỏi thói ích kỷ, sự bận tâm cho bản thân và tính lười biếng.
- Tính khiêm tốn
“Với tư cách là nghĩa phụ của Chúa Cứu Thế và là chứng nhân cho các huyền nhiệm cao vời của Thiên Chúa, thánh Giuse hoàn toàn có thể biến đổi cả thế giới, thế nhưng ngài đã chọn sống khép mình nơi một xóm nhỏ và tận tâm tận lực chăm lo cho Chúa Giêsu. Đó là một tấm gương mẫu mực cho đời sống khiêm hạ và cầu nguyện.” – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Là những người sống đời thánh hiến, sự vĩ đại của chúng ta chủ yếu nằm ở khả năng để chúng ta luôn được ẩn giấu, vì mọi lời ngợi khen chỉ đáng thuộc về riêng Thiên Chúa. Thứ thuộc về chúng ta là lời kêu gọi rõ ràng “làm điều tốt và biến mất” (tính cách của chị Genevieve Hennet De Goutel). Khiêm tốn là trạng thái mãn nguyện ở lại đằng sau, để công lao thuộc về Thiên Chúa và những người khác; người khiêm tốn biết giá trị cao quý của sự khiêm tốn, và điều này khiến họ có thể buông bỏ những thành công; không nắm giữ, thèm thuồng, hay muốn tỏa sáng.
Tránh tìm kiếm danh lợi cho bản thân để sống khiêm nhường có nghĩa là chúng ta đặt “tất cả những gì chúng ta có” và “tất cả những gì chúng ta là” dưới chân Chúa Giêsu, để tôn trọng quyền thống trị của Ngài. Hoa trái của sự khiêm tốn đó là tự do.
- Nghịch cảnh và Đau khổ
“Thánh Giuse còn là một người yêu mến Thiên Chúa hết tình. Dù chịu biết bao đau khổ thử thách, thế nhưng thánh nhân vẫn đón nhận với một nghị lực can trường. Quả thật, trọn cuộc đời ngài đã dành hết cho tình yêu khổ giá và lòng vâng phục Thánh ý Thiên Chúa. Bạn có nhận thấy nơi mình những nhân đức tương tự?” – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Nghịch cảnh là một phần không thể thiếu của đời sống người Kitô hữu, vì ai không vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa Kitô thì không xứng đáng với Người (x. Mt 10,38). Thập giá có thể làm cho chúng ta tốt hơn hoặc nó có thể làm cho chúng ta cay đắng. Tình yêu đối với thập giá không phải xuất phát từ sự căm ghét bản thân khiến mình chìm trong đau khổ, mà là sự tin tưởng đầy yêu thương nói rằng, “vâng, điều này được cho phép bởi một Thiên Chúa yêu thương, Đấng không để tôi chịu đau khổ một mình.” Nó có nghĩa là nhìn thấy những thập giá do người khác gây ra dưới ánh sáng siêu nhiên, biết rằng Thiên Chúa đã cho phép đau khổ xảy ra bởi tay người khác, để từ đau khổ đó điều tốt lành hơn có thể xảy đến.
Những gian nan thử thách được phép xảy ra để lấp đầy nơi thân xác chúng ta những gì còn thiếu trong những đau khổ của Chúa Kitô (x. Cl 1,24) và những gì còn thiếu về cơ bản là phần đóng góp của chúng ta trong những đau khổ vì Giáo hội.
- Sống trong Đức tin
“Nếu bạn muốn hiểu biết về đức tin của Thánh Giuse, hãy nhìn vào máng cỏ Bêlem mà chiêm ngắm thánh nhân thờ phượng và tôn kính Ngôi Lời Nhập Thể – Đấng là Vua và là Thiên Chúa của ngài.” – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Thánh Giuse là người công chính sống bằng đức tin (x. Rm 1,17). Ngài vẫn kiên định với niềm tin vững chắc trong những thử thách cho đến khi Thiên Chúa báo mộng rõ ràng cho ngài để kết hôn với Đức Trinh Nữ Maria. Thánh Giuse tràn đầy niềm tin vào thực tại của Ngôi Lời nhập thể, Đấng mà ngài đã hết lòng tôn thờ và phục vụ. Với sự tin tưởng, ngài đã vượt qua sự bắt bớ của Hêrôđê gian ác, ngài biết rằng Thiên Chúa sẽ đi trước và dẫn ngài đi dù ngài không biết mình đi đâu.
Hơn nữa, Thánh Giuse đã đặt tất cả niềm hy vọng vào Thiên Chúa khi Chúa Giêsu bị lạc mất trong ba ngày. Trong đời sống thánh hiến, đức tin của chúng ta, giống như Thánh Giuse, phải thực tế và hoạt động. Chúng ta phải được thấm nhuần với một đức tin sống động, nếu không chúng ta sẽ không thể chịu đựng được sự cám dỗ nuông chiều bản thân. Khi nhìn mọi việc theo con mắt tự nhiên, chúng ta sẽ bắt đầu mưu cầu lợi ích cho riêng mình, và đây thực sự là một tai họa cho linh hồn được thánh hiến.
- Làm mọi việc cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria
“Nếu bạn muốn biết thánh Giuse đã yêu Chúa Giêsu và Đức Maria như thế nào, hãy nhìn xem cách thánh nhân đã dành trọn từng giây phút trong đời để chăm lo cho các ngài”. – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Đối với Thánh Giuse, mọi việc làm đều là vì Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Thánh Giuse đã dành trọn bản thân mình vì yêu các ngài và vì lợi ích của các ngài, không giữ gì cho riêng mình. Như một người sống đời thánh hiến, Thánh Giuse là mẫu gương của tôi về tình yêu thương rộng lớn và sự phục vụ vì lợi ích của Tin Mừng. Thánh Giuse có thể nói cùng với Thánh Inhaxiô thành Loyola:
“Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa dạy con biết sống quảng đại. Biết phụng sự Chúa như Chúa đáng được phụng sự. Biết cho đi mà không tính toán. Biết chiến đấu không ngại thương tích. Biết làm việc không tìm nghỉ ngơi. Biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào hơn là được biết con đang thi hành ý Chúa.”
- Sự vâng phục
Thánh Joseph Sebastian Pelczar chỉ ra sự vâng phục mau mắn này của Thánh Giuse khi ngài viết:
“Nếu bạn muốn học hỏi lòng vâng phục của thánh Giuse, hãy chiêm ngắm việc thánh nhân trỗi dậy giữa đêm trường khi nghe tiếng gọi của sứ thần, đồng thời chẳng màng đến đói rét, cơ cực mà đưa Hài Nhi và Đức Maria sang Ai Cập, nơi mà thánh nhân tiếp tục sống những ngày gian khổ cho đến khi có mệnh lệnh tiếp theo từ Thiên Chúa. Liệu rằng bạn có đang mang trong mình những nhân đức giống như thế?”
Tác giả Thánh vịnh nói: Niềm vui của con là làm theo ý muốn của Ngài, Lạy Chúa (x. Tv 40,9), và đối với người sống đời thánh hiến, ý muốn này được bày tỏ qua các bề trên, các nguyên tắc sống, lịch trình ngày sống và sự mở ra cho những kinh nghiệm hàng ngày. Người sống đời thánh hiến không ở trong lòng thương xót của người khác, nhưng ở trong bàn tay của Thiên Chúa, và thánh ý đầy yêu thương của Ngài. Là một người sống đời thánh hiến, chúng ta có thể cố gắng tìm ra con đường riêng của mình thông qua vô số phương tiện, nhưng sẽ không bao giờ biết được chúng ta có thực sự làm theo thánh ý của Thiên Chúa hay không, trừ khi chúng ta có thái độ chấp nhận cách thánh thiện và sự cởi mở để vâng theo thánh ý đó, thậm chí là mau mắn như Thánh Giuse đã làm.
- Thánh Giuse, Mẫu gương trong cuộc đời của chúng ta
Thánh Joseph Sebastian Pelczar đã đưa ra một kết luận tuyệt vời cho những ý tưởng này mà theo đó, Thánh Cả Giuse trở thành hình mẫu của chúng ta trong cuộc sống:
“Dù rằng Thiên Chúa yêu cầu nhiều điều nơi thánh Giuse, nhưng Người cũng rất rộng tay ban thưởng và hết mực tán dương thánh nhân.
Thiên Chúa đã đặt để thánh Giuse làm bạn trăm năm, người đồng hành và bảo hộ cho Mẹ Thiên Chúa do bởi lòng trong sạch của thánh nhân.
Cũng thế, dẫu cho phải một đời hy sinh, từ bỏ nhiều thứ, thế nhưng thánh Giuse đã được Thiên Chúa thương ban một niềm an ủi dịu dàng. Nghĩa là ngài có thể chiêm ngắm Chúa Cứu Thế bằng đôi mắt và bồng ẵm Người trên đôi cánh tay của mình.
Đồng thời, bởi lòng vâng phục, thánh Giuse được nâng lên làm người giám hộ và nghĩa phụ của Thánh Tử Giêsu, một phẩm giá cao vời khôn tả.
Cuối cùng, vào những thời khắc cuối cùng, sau một đời sống lành thánh và hết lòng thương yêu chăm sóc cho gia đình, thánh Giuse đã được phú ban cho một đặc ân cao vời là được yên nghỉ trong vòng tay của Chúa Giêsu và Đức Maria.
Chúng ta có thể thấy Thiên Chúa yêu cầu nhiều điều từ bạn, thế nhưng người sẽ luôn quảng đại ra tay bệnh vực và giúp đỡ bạn trên đường đời. Ngài sẽ tôn vinh bạn, nếu như bạn noi theo các đức tính của Thánh Giuse. Bạn có thật sự mong muốn điều này không?”
- Hãy để Đức Kitô sống trong bạn
Thánh Joseph Sebastian Pelczar cũng cho biết thêm,
“Hãy nhớ lại lời của Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Galát: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2:20) và gẫm suy về bổn phận của bạn là phải sống trong, sống theo và sống cho Chúa Giêsu. Đó là điều duy nhất Thiên Chúa mong muốn nơi chúng ta và để chúng ta đạt được điều đó, Ngài thông ban muôn ơn lành cho chúng ta”. – Thánh Joseph Sebastian Pelczar
Mọi linh hồn, đặc biệt là linh hồn thánh hiến, được mời gọi trở thành một Chúa Giêsu khác trong thế giới này, qua việc chiêm niệm và cầu nguyện, hiến thân và đền tội, sống theo các lời khuyên Phúc âm và phục vụ tha nhân. Đó là lời kêu gọi bỏ mình để chỉ sống cho Thiên Chúa, một lý tưởng không thể sống mà không có ơn thánh và lời cầu nguyện.
Vì vậy, là những người sống đời thánh hiến, chúng ta phải học nơi Thánh Giuse những nẻo đường của sự thánh thiện, thinh lặng và hồi tâm, ẩn mình và cầu nguyện, làm việc chăm chỉ và quảng đại hy sinh. Ngài là người đầu tiên sống trong sự kết hợp với Chúa Giêsu và Mẹ Maria, chắc chắn sẽ không từ chối trợ giúp chúng ta qua việc hướng dẫn thiêng liêng và sự chuyển cầu đầy quyền năng của Ngài cho mọi ân sủng mà chúng ta cần. Do đó, chúng ta hãy mau mắn và “Hãy đến cùng Giuse!” (x. St 41,55).

