Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
16Tháng Mười Một
2023

Giải đáp thắc mắc cho người trẻ: Bài 107 – Ý nghĩa của lao động

16/11/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 

Câu hỏi: Lao động có ý nghĩa gì trong công trình của Thiên Chúa không ạ?

Trả lời:  

Để có thể tồn tại và sinh sống, chúng ta cần những lương thực cần thiết. Những lương thực ấy không tự nhiên xuất hiện trước mắt chúng ta nhưng là kết quả của biết bao mồ hôi nước mắt từ nỗ lực lao động của bao người. Dù là nơi đồng ruộng thôn quê hay nơi công xưởng chốn thị thành, không có bàn tay lao tác của con người, thì cũng sẽ không có những miếng cơm ngon, một ngôi nhà no ấm. Quả vậy, con người – dù có tài năng cỡ nào đi nữa – cũng không phải là các thiên thần.

Con người không phải chỉ hít thở mà sống. Con người cần có cái ăn, không những ăn no mà còn phải là ăn ngon. Mọi thứ trên trái đất này được dựng nên cho con người, nhưng không tự nhiên mà nó trở thành của ăn của uống. Con người phải vất vả làm việc, dãi nắng dầm mưa, chịu thương chịu khó. Ngoài ra, xã hội này rộng lớn, người ta lại cạnh tranh nhau. Nhiều khi, mình cũng muốn làm việc đàng hoàng để kiếm sống nhưng vẫn thấy chẳng dễ chút nào. Hiểu được ý nghĩa của lao động sẽ giúp chúng ta có được nguồn động lực để làm việc, tránh thái độ lười nhác.

Kinh Thánh dạy chúng ta điều gì liên quan đến việc lao động?

Thuật ngữ “lao động” mà chúng ta dùng ở đây không chỉ nói đến việc lao động chân tay, nhưng còn là mọi hoạt động nói chung của con người, nhằm cải tạo thiên nhiên để phục vụ cho các nhu cầu của mình. Chúng ta vẫn nghe nói đến một kiểu “lao động trí óc”, nghĩa là một kiểu lao động không dùng nhiều đến chân tay, nhưng phải vận dụng rất nhiều chất xám, trí tuệ. Kiểu lao động này cũng làm cho người ta rất mệt mỏi, có khi còn hơn cả lao động chân tay. Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý là việc lao động đúng nghĩa thì ngoài việc phục vụ cho lợi ích của con người, cũng phải góp gần xây dựng thế giới. Những kiểu lao động làm tổn hại đến nhân loại, đến môi sinh (như phá rừng bừa bãi…) thì không được xem là lao động chân chính.

Nhiều người cho rằng việc lao động của con người chính là hình phạt mà Thiên Chúa giáng xuống do sự bất tuân của họ, mà câu chuyện Adam là một minh hoạ. Chúng ta đọc thấy trong án phạt Thiên Chúa dành cho Adam là: “…Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,17-19). Thoạt nghe những lời này, chúng ta có liên tưởng đến việc lao động, và cho rằng nó có thể là hệ quả của những tội lỗi chúng ta gây ra. Tuy nhiên, nếu đọc sách Sáng Thế trước đó một chút, chúng ta thấy sứ mạng “lao động” đã được Thiên Chúa giao cho con người trước khi con người phạm tội: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2,15). Như thế, tự bản thân việc lao động không phải là hệ quả của tội, nhưng là một sứ mạng được Thiên Chúa uỷ thác cho con người. Tình trạng tội làm cho chúng ta thoái thác trách nhiệm này và cảm thấy lao động như một cái gì đó nặng nề, mệt mỏi. Nói cách khác, làm việc – lao động là một mệnh lệnh của Thiên Chúa và cũng là cái làm nên phẩm giá của con người. Lao động là thực thi chức năng “làm chủ” của con người trên mọi loài thụ tạo khác.

Đoạn Tin Mừng Mt 6,25-30 có thể làm cho nhiều người thắc mắc khi Chúa Giêsu dạy rằng: “… đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang không? … Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!” Nhiều người đọc sơ qua và kết luận rằng Chúa Giêsu dạy chúng ta không cần phải lao động, cứ phó thác tất cả cho Thiên Chúa quan phòng, giống như con chim sẻ hay như hoa huệ ngoài đồng. Nhưng Chúa Giêsu không có ý cổ võ cho một đời sống lười biếng. Ý của Ngài khi nói những điều này là nhắm đến tính quan trọng và trỗi vượt của việc “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người”, như chúng ta đọc thấy ở đoạn sau (Mt 6,33).

Bằng chứng là ở Ga 6,22-29, chúng ta đọc thấy lời dạy dỗ của Đức Giêsu dành cho đám đông chỉ mong chờ phép lạ hóa bánh để được ăn uống thoả thích mà không phải làm việc: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”. Chúng ta biết là Đức Giêsu sinh trưởng trong một gia đình lao động chân tay. Truyền thống Giáo Hội lâu nay vẫn cho rằng bố nuôi của Ngài là Thánh Giuse được biết đến như một người làm mộc. Tin Mừng Marco tường thuật cho chúng ta biết người dân vùng quê của Đức Giêsu gọi Ngài là “bác thợ” (x.Mc 6,3). Trong quá trình rao giảng Tin Mừng, mặc dù Đức Giêsu không tiếp tục hành nghề này để kiếm sống, nhưng Ngài vẫn làm việc. Ngài không ngừng giảng dạy cho người ta biết về mầu nhiệm Nước Trời, Ngài làm các phép lạ, Ngài đi khắp nơi, thi ân giáng phúc. Đúng như lời Ngài nói: “Cho đến nay Cha tôi vẫn làm việc thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17).

Chắc là bạn cũng không lạ lẫm gì với dụ ngôn nén bạc (x.Mt 25,14-30). Ông chủ đã giao cho các đầy tớ những nén bạc phù hợp với khả năng của họ và muốn họ phải làm lời. Có những đầy tớ đã tuân theo mệnh lệnh của chủ, cố gắng làm cho đồng bạc mình nhận được sinh thêm những đồng khác. Nhưng cũng có đầy tớ lười biếng, đã chôn vùi đồng bạc nhận được và trả lại chủ y nguyên. Ông chủ đã trách đầy tớ này và phạt anh ta. Dụ ngôn này cũng nhắc nhở chúng ta về bổn phận lao động (Xem thêm: 2 Tx 3,10-13). Chúng ta không thể chỉ trả lại cho Thiên Chúa những gì đã lãnh nhận, nhưng còn phải có cái gì đó là thành quả lao nhọc của chúng ta.

Lao động và những vấn đề của nó

Khi hoàn thành xong công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã trao vào tay con người tất cả những thụ tạo để con người lao tác và canh giữ chúng. Lao động dường như trở nên một vinh quang cho con người vì được cộng tác với Thiên Chúa trong việc canh tân thế giới, nhưng đồng thời cũng là một nghĩa vụ mà Đấng Sáng Tạo đã trao ban cho mình. Thế giới tự nhiên sẽ trở nên lụi tàn khi không được con người canh tác. Những thành quả của thế giới tự nhiên cũng sẽ phong phú hơn khi được con người chăm bón, bảo vệ. Có thể nói, lao động là một hình thức con người thu tích những gì Thiên Chúa ban qua tự nhiên để có thể đảm bảo cho cuộc sống của mình. Lao động làm cho phẩm giá của con người được thăng hoa hơn, làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn.

Thế nhưng, có lẽ ai trong chúng ta cũng nghiệm thấy được những khó khăn trong việc lao động. Chẳng có lao động nào lại không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ cái gì đó. Từng nhát cuốc bổ xuống trên ruộng đồng mang theo biết bao giọt mồ hôi nhễ nhãi. Cái nắng ban trưa của mùa hè như thiêu đốt người nông dân. Khi gió lên, khi mưa xuống, người nông dân lo lắng: hạt mầm có nảy sinh được không? Có sâu bệnh gì không? Nước có dâng lên làm ngập úng không? Một hạt gạo là cả một nỗi niềm lắng lo gói ghém trong đó. Nơi công ty, những áp lực của hợp đồng, của chất lượng sản phẩm cứ canh cánh không yên. Lao động làm cho chúng ta tốn sức, làm cho trí óc ta phải vận hành liên lỉ không ngơi. Phải chạy đôn chạy đáo chỗ này, lựa lời ăn nói chỗ kia. Phải vắt óc suy nghĩ ra chiến dịch này, khuyến mãi kia để có khách. Mỗi sáng thứ hai hàng tuần luôn là một khoảng thời gian uể oải, vì phải đi làm việc, phải kiếm đồng lương để cho con cái, cho gia đình, cho tương lai.

Tệ hại hơn, con người ngày nay không còn xem lao động là một hình thức cải tảo thiên nhiên nhưng đã trở thành một kiểu hủy hoại thiên nhiên cách tàn nhẫn. Chỉ vì đồng tiền, con người bất chấp những thủ đoạn, bất chấp cả những hậu họa có thể gây ra vì những hành vi sai trái của mình. Buôn ma túy, buôn người… giờ đây đã trở nên nghề thịnh hành hái ra tiền, bất chấp những nghiêm minh của luật pháp. Những cây gỗ quý, thú quý giúp cân bằng hệ sinh thái đã bị con người khai thác không thương tiếc. Việc sử dụng những hóa chất giúp trái cây được tươi, rẻ đã gây ra không ít những chứng bệnh quái ác cho con người. Những khí độc thải ra từ các ống khói nhà máy đang ngày càng chọc thủng các tầng Ozon, lớp bảo vệ sự sống của con người. Rồi cũng vì đồng tiền, con người sẵn sàng hãm hại nhau, thủ tiêu nhau không thương tiếc. Mạng sống con người, vốn là hình ảnh Thiên Chúa, đã bị chính con người xếp ngang hàng với thứ hàng hóa rẻ tiền. Đấy là hậu quả của một thứ lao động bất chính và phi nhân, đi ngược lại với lệnh truyền của Tạo Hóa.

Cũng có một kiểu thái độ đối nghịch lại với lao động là sự lười nhác, xuất phát từ thái độ tự ti cho rằng mình chẳng có gì để làm việc. Xin chia sẻ đến bạn câu chuyện mà chúng tôi góp nhặt được trên Internet:

Có một chàng thanh niên lúc nào cũng ngồi than thân trách phận không may của mình, nên không thể nào giàu có được. Ngày nọ, một ông lão đi qua thấy vẻ mặt ủ ê của anh ta bèn hỏi :

– Chàng trai kia, sao trông cậu buồn bã thế, cậu có điều gì không vui sao?

– Cháu không hiểu tại sao cháu làm việc vất vả mà vẫn nghèo. Chàng trai buồn bã nói.

– Cháu mà nghèo ư, cháu đang giàu có đấy chứ ?

– Chưa thấy ai nói với cháu như vậy cả, vì thực sự cháu rất nghèo.

– Này nhé: Giả như ta chặt ngón tay cái của cháu, và trả 3 lượng vàng thì cháu có chịu không?

– Không ạ.

– Giả như ta chặt một bàn tay của cháu và trả 30 lượng vàng, cháu có chịu không?

– Không bao giờ.

– Vậy nếu ta lấy đi đôi mắt của cháu và trả cháu 300 lượng vàng, thì cháu thấy thế nào?

– Cũng không được.

– Vậy nếu ta trả cháu 3000 lượng vàng để hai ông cháu chúng ta hoán đổi số phận, để cháu trở thành một lão già như ta có được không?

– Đương nhiên là không.

– Cháu muốn giàu. Vậy nếu ta trao cho cháu 30,000 lượng vàng để lấy đi mạng sống của cháu, thì cháu thấy thế nào?

– Cháu cảm ơn ông! Cháu đã hiểu cháu đang là một người giàu có mà cháu không biết.

Chúng ta luôn được Thiên Chúa ban cho đầy đủ những khả năng để lao động. Nếu chúng ta xem lao động là một sự đày ải mệt mỏi, hệ quả của tội thì ta sẽ thấy nó rất nặng nề. Còn nếu chúng ta xem nó như một cơ hội để được cộng tác với Thiên Chúa thì nó sẽ trở thành một niềm vui lớn lao của chúng ta.

Chúng ta hãy xin Chúa ban ơn cho chúng ta, giúp chúng ta có một ý thức đúng đắn về lao động, rằng lao động là cộng tác với Chúa vào công cuộc sáng tạo của Người, rằng lao động là đặc ân mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người, và đồng thời cũng là một nhiệm vụ mà con người lãnh nhận trực tiếp từ tay Tạo Hóa.

Chúng ta cũng hãy dâng lên Chúa những mệt mỏi của chúng ta khi lao động. Xin cho chúng ta biết chạy đến với Người mỗi khi chúng ta mệt mỏi, nặng gánh vai mang, để được Người nâng đỡ ủi an như lời Người đã hứa. Từng giọt mồ hôi nước mắt vất vả mới làm nên được miếng cơm nuôi sống gia đình. Ước chi chúng trở thành của lễ dâng lên Chúa, để Chúa thánh hóa và tuôn đổ muôn ơn lành hồn xác cho chúng ta. Chúng ta cũng xin Chúa giúp chúng ta luôn tín thác vào Chúa hơn. Dù lao động để trang trải cuộc sống, nhưng bao giờ bám víu vào những của cải ấy, nhưng chỉ một lòng hướng về Chúa mà thôi, với niềm xác tín rằng Chúa sẽ lo lắng cho mình và ban cho mình hằng ngày dùng đủ.

Chúng ta cũng xin Chúa ban ơn cho chúng ta, giúp chúng ta không quá tham lam vào của cải vật chất mà thực hiện những hình thức lao động có hại đến thiên nhiên và con người.

Và cuối cùng, chúng ta xin Chúa tạo điều kiện cho những ai đang thất nghiệp vì lý do khách quan hay chủ quan nào đấy. Xin Chúa cũng cho họ được có cơ hội tham gia vào việc gìn giữ và cải tạo thế giới này của Chúa qua tài năng của họ, để cuộc sống của họ cũng được ấm no hơn, mọi người sống hạnh phúc hơn, trần gian được bình an hơn. Phêrô Lê Hoàng Nam, SJ

Read More
15Tháng Mười Một
2023

Người chuyển giới có thể lãnh nhận Bí tích Rửa tội

15/11/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 Bộ giáo lý Đức Tin công bố một tài liệu được Đức Tổng trưởng Fernandéz ký và được Đức Thánh Cha phê chuẩn trong buổi tiếp kiến ​​vào ngày 31 tháng 10, cho biết không có trở ngại khi người chuyển giới làm chứng hôn phối, và những câu trả lời khác liên quan đến người đồng tính luyến ái, việc họ có thể được rửa tội, làm cha mẹ đỡ đầu, v.v.

Trường hợp người chuyển giới

Trước hết về những người chuyển giới, ngay cả khi họ đã trải qua điều trị nội tiết tố hoặc phẫu thuật xác định lại giới tính, vẫn có thể lãnh nhận bí tích rửa tội “nếu không có tình huống nào có nguy cơ gây ra tai tiếng công khai hoặc khiến các tín hữu mất phương hướng”. Và con của các cặp đồng tính luyến ái được phép lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngay cả khi đứa trẻ được sinh ra từ tử cung thuê, miễn là có hy vọng chính đáng rằng chúng sẽ được giáo dục theo đức tin Công giáo.

Đức cha José Negri, giám mục của Santo Amaro ở Brazil, vào tháng 7 năm ngoái đã yêu cầu làm rõ về khả năng lãnh nhận các Bí tích Rửa tội và Hôn phối của những người chuyển giới và đồng tính luyến ái. Các câu trả lời “về bản chất, đề xuất lại những nội dung nền tảng những gì đã được Bộ xác nhận trong quá khứ về chủ đề này”.

Về Bí tích Rửa tội của người chuyển giới, câu trả lời là được, miễn là nó không gây ra tai tiếng, dù là người lớn, trẻ em hay thanh thiếu niên, “nếu có sự chuẩn bị tốt và sẵn sàng”. Trước những nghi ngờ “về hoàn cảnh luân lý khách quan của một người”, hoặc về “những khuynh hướng chủ quan của họ đối với ân sủng” (và do đó cả khi không tỏ ra đầy đủ ý định chỉnh sửa bản thân), Bộ đã đưa ra một số nhận xét. Giáo hội dạy rằng, khi bí tích Rửa tội “được lãnh nhận mà không sám hối các tội trọng, thì chủ thể không nhận được ân sủng thánh hóa, dù cho họ nhận được đặc tính bí tích”, vốn không thể xóa nhòa, được dạy trong Sách Giáo lý, và “vẫn luôn tồn tại nơi người Kitô hữu như một khuynh hướng tích cực hướng tới ân sủng”. Bằng việc trích dẫn Thánh Tôma và Thánh Augustinô, Bộ nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Kitô tiếp tục tìm kiếm các tội nhân và khi có sự ăn năn, đặc tính bí tích đã nhận được ngay lập tức giúp người đó đón nhận ân sủng. Vì lý do này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần nhắc lại rằng Giáo hội không phải là một cơ quan hải quan và đặc biệt đối với Bí tích Rửa tội, không được đóng cửa đối với bất kỳ ai.

Vấn đề phức tạp hơn đối với việc một người chuyển giới làm cha hoặc mẹ đỡ đầu trong Bí tích Rửa tội.

Tài liệu cho biết: “Trong một số điều kiện nhất định, điều này có thể được cho phép”, nhưng cần nhớ rằng điều này không phải là một quyền, và do đó “sự thận trọng mục vụ đòi hỏi không được phép làm điều đó nếu có nguy cơ gây tai tiếng, hợp pháp hóa thái quá hoặc làm mất phương hướng trong lĩnh vực giáo dục của cộng đoàn Giáo hội”. Không có trở ngại đối với trường hợp người chuyển giới làm chứng hôn phối, vì không có gì cấm điều đó trong “giáo luật phổ quát hiện hành”.

Trường hợp người đồng tính luyến ái chung sống

Phần thứ hai của tài liệu liên quan đến những người đồng tính luyến ái. Với câu hỏi, họ có thể đóng vai trò với tư cách là cha mẹ của một đứa trẻ sắp được rửa tội, ngay cả khi đứa trẻ được nhận làm con nuôi hoặc bởi “các phương pháp khác như thuê tử cung” không?, Bộ trả lời: “Để em bé được rửa tội thì phải có sự hy vọng có cơ sở rằng em bé ấy sẽ được giáo dục theo Công giáo”.

Sau đó là trường hợp một người đồng tính luyến ái và chung sống xin làm cha hoặc mẹ đỡ đầu của một người được rửa tội. Điều này đòi hỏi phải có “một cuộc sống phù hợp với đức tin và vai trò mà họ đảm nhận. Trường hợp này khác khi việc chung sống của hai người đồng tính luyến ái cốt yếu, không chỉ đơn giản là chung sống, mà là một mối quan hệ ổn định và công khai theo phong tục hôn nhân, được cộng đoàn biết đến”. Bộ Giáo lý Đức tin yêu cầu cần sự thận trọng thích đáng để “bảo vệ bí tích Rửa tội và trên hết là việc lãnh nhận bí tích này, vốn là một kho tàng quý giá cần được bảo vệ, vì nó cần thiết cho ơn cứu độ”. Nhưng Bộ nhắc lại rằng chúng ta phải “xem xét giá trị thực sự mà cộng đoàn Giáo hội trao cho nhiệm vụ của các cha mẹ đỡ đầu, vai trò của họ trong cộng đoàn và sự diễn tả của họ đối với giáo huấn của Giáo hội”. Cuối cùng, khả thể được đề xuất là “có một người khác trong gia đình có thể bảo đảm việc truyền tải đức tin Công giáo một cách đúng đắn cho người được rửa tội”.

Cuối cùng, không có gì có thể ngăn cản “người đồng tính chung sống” làm chứng cho hôn phối.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Read More
13Tháng Mười
2023

Giáo lý loan báo Tin Mừng 23 – Cuộc đời Thánh Bakhita cho thấy sức mạnh biến đổi của ơn tha thứ

13/10/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
Đức Thánh Cha nói rằng trải nghiệm về sự tha thứ đã khiến Thánh Bakhita trở thành một người phụ nữ hòa bình và dịu dàng, tự do và giải thoát. Gương sáng của ngài chỉ cho chúng ta cách giải thoát mình khỏi nỗi sợ hãi và nô lệ, vạch trần thói đạo đức giả và tính ích kỷ của chúng ta, để hòa giải với chính mình và gieo mầm hòa bình trong gia đình và cộng đồng của chúng ta. Chứng tá của ngài dạy chúng ta rằng lòng nhiệt thành tông đồ được thể hiện qua cử chỉ thương xót, vui tươi và khiêm nhường.

Tiếp tục loạt bài giáo lý nói về lòng nhiệt thành tông đồ, trong bài giáo lý vào sáng thứ Tư 11/10/2023, Đức Thánh Cha đã trình bày với hơn 25 ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô chứng tá của Thánh Josephine Bakhita, vị thánh nô lệ Châu Phi đầu tiên.

Thánh Bakhita đã bị bắt cóc và bị biến thành nô lệ khi mới 7 tuổi, đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ về thể xác và tinh thần. Tuy vậy, khi gặp Chúa Kitô, ngài đã trải nghiệm một sự giải thoát nội tâm sâu sắc, ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, có khả năng yêu thương và tha thứ, như Chúa Giêsu đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Người.

Buổi tiếp kiến bắt đầu với đoạn Tin Mừng thánh Luca 23,32-34, được công bố bằng một số ngôn ngữ chính.

Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người n chia ra mà bắt thăm.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong hành trình các bài giáo lý của chúng ta về lòng nhiệt thành tông đồ, hôm nay chúng ta hãy để mình được soi sáng bởi chứng tá của Thánh nữ Josephine Bakhita, một vị thánh người Sudan. Thật không may, từ nhiều tháng Sudan đã bị chia cắt bởi một cuộc xung đột vũ trang khủng khiếp mà ngày nay người ta ít nói đến; chúng ta hãy cầu nguyện cho người dân Sudan để họ được sống trong hòa bình! Nhưng danh tiếng của Thánh Bakhita đã vượt qua mọi ranh giới và đến được với tất cả những người mà căn tính và phẩm giá của họ bị chối bỏ.

“Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng.”

Sinh tại Darfur – thành phố Darfur bị giày xéo! – vào năm 1869, thánh nhân bị bắt cóc đưa đi khỏi gia đình khi mới 7 tuổi và bị làm nô lệ. Những kẻ bắt giữ ngài gọi ngài là “Bakhita”, có nghĩa là “may mắn”. Thánh nhân đã bị bán cho 8 người chủ khác nhau, người này bán cho người khác… Những đau khổ về thể xác và tinh thần mà ngài phải chịu khi còn nhỏ đã khiến ngài mất đi danh tính. Ngài phải chịu đựng sự tàn ác và bạo lực: trên cơ thể ngài có hơn một trăm vết sẹo. Nhưng chính ngài đã làm chứng: “Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng, bởi vì tôi cảm nhận được một sức mạnh huyền nhiệm đã hỗ trợ tôi”.

Bí quyết của Thánh Bakhita 

Tôi tự hỏi bí quyết của Thánh Bakhita là gì? Chúng ta biết rằng người bị thương tổn thường trở thành người làm người khác thương tổn; người bị áp bức dễ dàng trở thành kẻ áp bức. Ngược lại, ơn gọi của những người bị áp bức là giải phóng bản thân và những kẻ áp bức họ bằng cách trở thành những người phục hồi lòng nhân đạo. Chỉ nơi sự yếu đuối của những người bị áp bức, sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa vốn giải phóng cả hai (người bị áp bức và người áp bức) được biểu lộ.

Thánh Bakhita diễn đạt sự thật này rất hay. Một ngày nọ, người giám hộ của ngài đưa cho ngài một cây Thánh Giá nhỏ, và là người chưa bao giờ sở hữu bất cứ thứ gì, ngài đã kiên quyết gìn giữ báu vật của mình. Khi nhìn vào Thánh Giá, thánh nhân cảm nghiệm một sự giải phóng nội tâm sâu sắc bởi vì ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, do đó đến lượt ngài, ngài có thể cảm thông và thương yêu. Thực ra, ngài sẽ nói: “Tình yêu của Thiên Chúa luôn đồng hành với tôi một cách huyền nhiệm… Chúa đã yêu thương tôi rất nhiều: chúng ta phải yêu thương mọi người… Chúng ta phải có lòng cảm thương!”.

Thực sự, cảm thương có nghĩa là vừa đau khổ với những nạn nhân của biết bao sự vô nhân đạo đang hiện diện trên thế giới, vừa thương cảm những người phạm sai lầm và bất công, không bằng cách biện minh cho họ nhưng là khiến họ trở nên nhân đạo hơn. Đây là sự dịu dàng mà thánh nhân dạy chúng ta, giúp có tình người hơn. Khi chúng ta đi vào logic đấu tranh, của chia rẽ giữa chúng ta, những tình cảm tồi tệ, người này chống lại người kia, chúng ta đánh mất lòng nhân đạo. Và nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần lòng nhân đạo, cần nhân bản hơn. Và đây là công việc mà Thánh Bakhita dạy chúng ta: nhân bản hóa, nhân bản hóa chính mình và nhân bản hóa người khác.

Tha thứ

Thánh Bakhita, người đã trở thành Kitô hữu, đã được biến đổi bởi những lời của Chúa Kitô mà ngài suy niệm hàng ngày: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là lý do tại sao ngài nói: “Nếu Giuđa xin Chúa Giêsu tha thứ thì ông ấy cũng sẽ được thương xót”. Chúng ta có thể nói rằng cuộc đời của Thánh Bakhita đã trở thành một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Thật là điều tuyệt vời khi nói về một người rằng “họ có khả năng tha thứ”. Thánh nhân luôn có khả năng làm điều này: cuộc sống của ngài là một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Tha thứ bởi vì rồi chúng ta sẽ được tha thứ. Anh chị em đừng quên điều này: tha thứ, đó là sự dịu dàng của Thiên Chúa đối với tất cả chúng ta.

Sự tha thứ đã giải thoát ngài. Sự tha thứ trước tiên nhận được qua tình yêu thương xót của Thiên Chúa, và sau đó sự tha thứ được ban đã khiến ngài trở thành một người phụ nữ tự do, vui vẻ, có khả năng yêu thương.

Phục vụ

Thánh Bakhita có thể sống phục vụ không phải như một sự nô lệ mà như một biểu hiện của sự tự do trao tặng bản thân. Điều này rất quan trọng: biến mình thành đầy tớ – đã bị bán làm nô lệ – sau đó ngài tự do lựa chọn trở thành đầy tớ, mang lấy gánh nặng của người khác trên vai.

Bằng gương sáng của ngài, Thánh Josephine Bakhita, chỉ cho chúng ta con đường để cuối cùng thoát khỏi cảnh nô lệ và sợ hãi. Ngài giúp chúng ta vạch trần những thói đạo đức giả và tính ích kỷ của mình, vượt qua những oán giận và xung đột. Ngài khuyến khích chúng ta luôn luôn.

Tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người

Anh chị em thân mến, sự tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người, nó khiến chúng ta hướng cái nhìn từ chính mình sang người khác, để thấy họ cũng mong manh như chúng ta, nhưng luôn là anh chị em trong Chúa.  Sự tha thứ là nguồn gốc của lòng nhiệt thành trở thành lòng thương xót và kêu gọi chúng ta đến với sự thánh thiện khiêm nhường và vui tươi, giống như thánh Bakhita.


Vatican News
Nguồn: vaticannews.va/vi
Read More
01Tháng Mười
2023

TÌM HIỂU VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ PHẨM TRẬT TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

01/10/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
TÌM HIỂU VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ PHẨM TRẬT TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

          Nói đến một tôn giáo, người ta thường quan tâm ngay đến vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức, phẩm trật cũng như giáo lý, luật lệ, lễ nghi của tôn giáo đó. Đối với đạo Công giáo, Giáo hội Công giáo là một tổ chức có quyền lực chặt chẽ và thống nhất trên toàn thế giới. Giáo hội Công giáo có 04 đặc điểm là: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền.  Theo cách hiểu thì: duy nhất là chỉ có 01 giáo hội Công giáo Rô Ma trong đó các tín hữu sẽ cùng đức tin, cùng chịu các bí tích, cùng phục quyền giáo hoàng; thánh thiện là giáo hội thiêng liêng do chúa Giê Su tạo lập, là cội nguồn của sự thánh thiện; Công giáo là ý nghĩa chung phổ quát; tông truyền là giáo hội được truyền thừa từ thời các tông đồ. Từ các đặc điểm trên, Giáo hội công giáo xây dựng một hệ thống tổ chức và phẩm trật trong giáo hội vô cùng chặt chẽ.

Về cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của Giáo hội Công giáo gồm có ba cấp hành chính chính thức là: Giáo triều Vatican, địa phận (hay còn gọi là giáo hội địa phương) và giáo xứ (hay còn họi là giáo hội cơ sở). Ngoài ra, Giáo hội Công giáo còn có các cấp trung gian mang tính chất liên hiệp như giáo tỉnh, giáo miền, giáo hạt.

Về phẩm trật: Giáo hội Công giáo phân các chức vụ theo chức thánh gồm: Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục, Phó tế. Ngoài các chức vụ này còn có thêm tước vị Hồng Y. Những người được nhận các chức vụ nói trên là nhận các chức Thánh để thực hiện các hoạt động mục vụ và bí tích của Giáo hội.

Và sau đây xin giới thiệu khái quát về một số nét chính liên quan đến cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động cũng như phẩm trật trong giáo hội Công giáo gắn với cơ cấu điều hành giáo hội như sau:

Đối với Giáo hoàng (hay còn gọi là Giáo chủ)

Giáo hoàng là người được tín đồ xưng là Đức thánh cha. Giáo hoàng được coi là vị kế thừa thánh tông đồ Phê-Rô, là đại diện của chúa Giêsu nơi trần gian, là vị chủ chăn tối cao đối với toàn thể tín đồ đạo Công giáo. Giáo hoàng là người có quyền tối thượng, toàn diện và trực tiếp đối với Giáo hội, từ giáo triều Vatican đến giáo hội địa phương và giáo hội cơ sở. Sau cộng đồng Vatican II (1890), Giáo hoàng có thêm một ân sủng đặc biệt làm tăng thêm quyền lực của mình đó là ” Không bao giờ sai lầm về đức tin”, tức là không bao giờ sai lầm khi ban bố một tín điều hay một mệnh lệnh nào của Giáo hội trên cương vị Giáo hoàng.

Giáo hoàng do Hội đồng Hồng y bầu ra khi tòa thánh trống ngôi (tức là khi vị Giáo hoàng trước qua đời) và giữ nguyên chức vị đó cho đến chết. Phẩm phục của Giáo hoàng là màu trắng[1]. Giáo hoàng thực hiện quyền lực của mình thông qua Giám mục đoàn, Hội đồng Hồng y và bộ máy giáo triều Vatican.

 

(Giáo hoàng Phanxicô – vị Giáo hoàng thứ 266 và hiện

là đương kim Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma)

 

          Đối với Giám mục đoàn và Thượng Hội đồng Giám mục:

Giám mục đoàn bao gồm tất cả các Giám mục trên thế giới hợp với Giáo hoàng để duy trì sự hiệp thông và cai quản toàn Giáo hội. Do vậy, Giám mục đoàn là thiết chế quan trọng nhất để hỗ trợ cho quyền lực của Giáo hoàng.

Trước những vấn đề quan trọng của Giáo hội liên quan đến đức tin, đường hướng hoạt động, chấn chỉnh tổ chức… thì Giám mục đoàn được nhóm họp để bàn định dưới sự triệu tập, điều hành của Giáo hoàng và các cuộc họp này Giáo hội gọi là công đồng chung. Tất cả những quyết định của Công đồng chung chỉ có hiệu lực thực hiện khi Giáo hoàng cùng các thành viên của Công đồng chung chấp thuận và do chính Giáo hoàng phê chuẩn, công bố.

Đối với những việc xét thấy không đến mức triệu tập Công đồng chung thì Giáo hoàng triệu tập Thượng hội đồng Giám mục để giải quyết. Định chế của Thượng hội đồng Giám mục được thiết lập ngày 15/9/1965 vào đời Giáo hoàng Phao – Lô VI và duy trì cho đến ngày nay. Thượng  hội đồng Giám mục là hội nghị các Giám mục được lựa chọn từ các khu vực trên thế giới. Thượng hội đồng Giám mục được họp theo định kỳ thông thường hoặc bất thường để bàn định những việc liên quan đến lợi ích Giáo hội hoặc là hội nghị đặc biệt để bàn về một vấn đề quan trọng hay công việc liên quan đến từng khu vực. Chỉ có Giáo hoàng là người được triệu tập, phê chuẩn thành viên Thượng hội đồng Giám mục và ấn định nội dung cuộc họp. Giữa hai kỳ họp của Thượng  hội đồng Giám mục có một văn phòng làm việc và văn phòng này hoạt động dưới sự điều hành của Tổng thư ký do Giáo hoàng chỉ định.

Như vậy, với tính chất, cách thức hoạt động như trên thì Thượng hội đồng Giám mục được xem là cơ quan thường trực của Giám mục đoàn.

          Đối với Hồng y và Hồng y đoàn

Hồng y là một chức sắc cao cấp trong Giáo hội Công giáo, được xếp ngay dưới Giáo hoàng[2]. Theo quy định của Giáo luật thì các vị Hồng y của Giáo hội thành lập một cộng đoàn riêng, gọi là Hồng y đoàn. Nhiệm vụ của Hồng y đoàn là bầu Giáo hoàng và giúp Giáo hoàng điều hành Giáo hội, nhất là trong điều khiển công việc hàng ngày. Cơ chế các Hồng y bầu Giáo hoàng được hình thành từ thế kỷ XII, dưới thời Giáo hoàng A Lếch xăng III (1159-1181) và duy trì cho đến ngày nay.

Hồng y có ba bậc: Bậc Giám mục, bậc Linh mục và bậc Phó tế. Hồng y bậc Giám mục được Giáo hoàng ban tước hiệu cho một nhà thờ xung quanh Rôma; Hồng y bậc linh mục và Phó tế được Giáo hoàng ban trước hiệu cho một nhà thờ ở nội ô Rô Ma.  Người được tiến cử Hồng y phải nổi trội về tác phong, đạo đức và khôn ngoan trong cách xử sự. Các Hồng y được tấn phong bằng một quyết định của Giáo hoàng và được công bố trước Hồng Y đoàn. Trước đây các Hồng y chủ yếu là người Italia và làm việc trong Giáo triểu Vatican. Tuy nhiên, từ thời Giáo hoàng Pi-ô V (giữa thế kỳ XVI), tước vị Hồng y có ở nhiều nước trên thế giới. Theo quy định, các Hồng y là quan chức trong Giáo triều nghỉ hưu ở tuổi 75 và các Hồng y trên 80 tuổi sẽ không được tham gia bầu cử Giáo hoàng.

          Đối với Giáo triều Vatican

Giáo triều Vatican là cơ quan đầu não của Giáo hội Công giáo (cấp hình chính đạo lớn nhất), được tổ chức như một bộ máy nhà nước thế quyền. Lúc đầu, Giáo triều Vatican chỉ là Văn phòng Chưởng ấn Tòa thánh, có nhiệm vụ soạn thảo và ban hành các sắc chỉ, văn thư của Giáo hoàng; sau đó giáo triều Vatican được tổ chức quy củ mô phỏng theo nhà nước phong kiến La Mã.

Sau Công đồng Vatican II (khai mạc ngày 11/10/1962 và bế mạc ngày 08/12/1965)[3], bộ máy của Giáo triều Vatican được cải tổ gọn nhẹ và năng động hơn để phù hợp với yêu cầu mới về cả hai mặt tôn giáo và xã hội. Từ năm 1989, Giáo triều Vatican xây dựng tổ chức gồm có: Phủ Quốc khanh, 09 bộ, 11 Hội đồng, 03 tòa án và 03 văn phòng. Các bộ là cơ quan điều hành, Hội đồng là cơ quan cổ vũ, Tòa án là cơ quan tư pháp, Văn phòng là cơ quan phục vụ chuyên môn. Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ bộ về Phủ Quốc khanh, các bộ, Hội đồng,  tòa án và văn phòng để hiểu rõ hơn vai trò, chức năng của các tổ chức này trong Giáo triều Vatcan.

Thứ nhất: Phủ vụ quốc khanh gồm có 02 bộ là Bộ Thường vụ và Bộ Ngoại giao. Trong khi Bộ thường vụ là đơn vị xét duyệt các công việc hàng ngày của Tòa thánh, cố vấn cho các cơ quan truyền thông và văn phòng thống kê thì Bộ Ngoại giao lại giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ với chính quyền dân sự.

Thứ hai: về 09  bộ của Tòa thánh: (1) Bộ Giáo lý đức tin có trách nhiệm bảo vệ và xem xét giáo lý đức tin; bộ này có quan hệ chặt chẽ với Ủy ban về kinh thánh và ủy ban thần học của Giáo hoàng. (2) Bộ Giáo hội địa phương có trách nhiệm liên quan đến Giáo hội Phương đông tại các nước trên thế giới. (3) Bộ phụng tự kỷ luật và bí tích có trách nhiệm giám sát những việc liên quan đến hoạt động phụng vụ, nhất là các bí tích; bộ này có quan hệ chặt chẽ với Ủy ban chuyên xử lý các vấn đề về hôn phối. (4) Bộ truyền thánh chuyên giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tuyên phong chân phước, thánh nhân và lưu giữ các bí tích. (5) Bộ Giám mục chuyên lo các việc liên quan đến các Giám mục và quyền tài phán của các Giám mục kể cả việc các Giám mục đi chầu Giáo hoàng và viếng đền thánh Phêrô, Phaolô theo quy định. (6) Bộ truyền giảng phúc âm cho các dân tộc có trách nhiệm hướng dẫn và phối hợp các công việc truyền giáo trên thế giới; có thẩm quyền bao trùm lên các vùng truyền giáo mới được hình thành, kể cả việc thiết lập hàng giáo phẩm. (7) Bộ Giáo sĩ chuyên lo các công việc liên quan đến đời sống, quyền lợi, bổn phận và kỷ luật của giáo sĩ. (8)  Bộ tu sĩ chuyên lo công việc của dòng tu và việc duy trì các tu sĩ, từ việc thành lập, bãi bỏ, chuyển đổi đến xây dựng nội quy, quy chế, việc hiệp thông giữa các dòng. (9) Bộ Giáo dục công giáo chuyên lo việc tổ chức và hoạt động giáo dục công giáo, phụ trách các vấ đề liên quan đến chủng viện…

Thứ ba: về 11 hội đồng Giáo hoàng: (1) Hội đồng Giáo hoàng về giáo dân; (2) Hội đồng Giáo hoàng cổ vũ sự hợp nhất kitô hữu; (3) Hội đồng Giáo hoàng về gia đình; (4) Hội đồng Giáo hoàng về công lý và hòa bình; (5)  Hội đồng Giáo hoàng đồng tâm; (6) Hội đồng Giáo hoàng về mục vụ cho người di dân và du mục; (7) Hội đồng Giáo hoàng về mục vụ cho nhân viên y tế; (8) Hội đồng Giáo hoàng về giải thích các văn bản giáo luật; (9) Hội đồng Giáo hoàng về đối thoại liên tôn; (10) Hội đồng Giáo hoàng về văn hóa; (11) Hội đồng Giáo hoàng về truyền thông xã hội.

Thứ tư: về các Tòa giảng của Giáo hoàng: (1) Tòa ân giải tối cao có quyền phán quyết những vấn đề về lương tâm; miễn trừ nghĩa vụ, tháo gỡ những lời khấn và ban các ân xá; (2) Tòa tối cao pháp viện là tòa án tối cao của Giáo hội để giải quyết những vụ việc liên quan đến thủ tục tố tụng, việc tuân thủ luật lệ, lễ nghi và quyền lợi. Tòa tối cao pháp viện cũng là tòa tối cao của quốc gia Vatican; (3) Tòa thượng thẩm là tòa án phúc thẩm đối với mọi vụ việc kháng án lên tòa thánh Vatican

Thứ năm: về 03 văn phòng: (1) Văn phòng quản lý tông tòa; (2) văn phòng quản trị tài sản tông tòa;  (3) văn phòng kinh tế tông tòa.  Ngoài ra, còn có một số văn phòng khác như: Văn phòng quản gia Giáo hoàng, văn phòng báo chí Tòa thánh; văn phòng thông tin Vatican, văn phòng thống kê… và các ủy ban của Giáo hoàng như: ủy ban Giáo hoàng về khảo cổ học, ủy ban Giáo hoàng về lịch sử, ủy ban Giáo hoàng về di sản văn hóa của Giáo hội…

Theo quy định, các Bộ, ủy ban của Giáo triều Vatican phải thường xuyên có những cuộc họp để bàn định công việc. Có hai loại hội nghị, trong đó hội nghị thông thường chỉ triệu tập những ủy viên có mặt tại Roma để giải quyết những việc thông thường và hội nghị toàn thể là mời các ủy viên trên toàn thế giới về dự họp. Theo quy định, mỗi năm các Bộ, các ủy ban họp ít nhất một lần phiên họp toàn thể, tuy nhiên thực tế không phải năm nào cũng họp được mà thường ba năm họp phiên toàn thể một lần.

Đối với địa phận và các nhóm Giáo hội địa phương.

Địa phận còn gọi là Giáo hội riêng hay Giáo phận; đây là một cộng đoàn tín hữu giới hạn trong một phạm vi địa lý nhất định. Địa phận là cấp hành chính đạo chính thức của Giáo hội trực thuộc tòa thánh Vatican trên mọi phương diện. Có những nơi, có một cộng đoàn tín hữu nhất định nhưng vì lý do riêng nên chưa được Tòa thánh quyết định thành lập hàng địa phận thì được gọi là các Phủ doãn tông tòa và Giám quản tông tòa – đây cũng là đơn vị hành chính tương đương cấp địa phận. Việc thành lập, bãi bỏ, thay đổi địa phận và các nhóm giáo hội địa phương đều do Tòa thánh quyết định.

Cai quản địa phận là một Giám muc. Ngoài địa phận của mình, Giám mục cũng có thể kiêm những địa phận khác kể cả khi với danh hiệu Giám quản. Theo Giáo luật, Giám mục có tất cả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi quản lý của mình. Giám mục có quyền thành lập những quy định trong địa phận theo Giáo luật; có quyền thành lập, bãi bỏ, thay đổi các giáo hội cơ sở (giáo xứ); có quyền phong chức, bổ nhiệm, điều chuyển, kỷ luật linh mục trong địa phận; có quyền triệu tập Công đồng địa phận (gồm những linh mục đã được bầu ra và đại diện một số giáo dân). Cũng theo giáo luật, Giám mục phải tiến hành kinh lý tất cả các giáo xứ trong địa phận; định kỳ 05 năm một lần Giám mục phải đến Vatican viếng mộ hai thánh tông đồ Phaolô và Phêrô và yết kiến Giáo hoàng.

Tiêu chuẩn của một Giám mục theo quy định của Giáo hội phải là người có đức tin vững chắc, hạnh kiểm tốt, nhiệt thành, khôn ngoan, có danh tiếng tốt; phải là người có ít nhất 35 tuổi đời trở lên và chịu chức Linh mục ít nhất 05 năm. Việc phong Giám mục thuộc thẩm quyền của Tòa thánh Vatican.

Trợ giúp việc mục vụ và cai quản địa phận cho Giám mục là một Giám mục phó, Giám mục phụ tá, Hội đồng tư vấn, Hội đồng Linh mục…Giám mục phó là người có quyền kế vị Giám mục; Giám mục phụ tá có thể là một hay nhiều người nhưng Giám mục phụ tá không có quyền kế vị Giám mục. Khi Tòa Giám mục trống ngôi, Giám mục phó đương nhiên trở thành Giám mục địa phận. Nếu không có Giám mục phó thì việc cai quản địa phận thuộc quyền của Giám mục phụ tá cho đến khi có Giám mục mới. Nếu có nhiều Giám mục phụ tá thì chọn người có nhiều thâm niên chức vụ lâu năm nhất làm người cai quản; trường hợp không có Giám mục phụ tá thì chọn cử trong các linh mục ra một giám quản. Bên cạnh đó, Tòa Giám mục còn có một số chức danh khác như: Đại diện, tổng đại diện, văn phòng, thư ký, văn thư lưu trữ, hội đồng hành chính quản trị…để giúp công việc cho Giám mục.

(Tòa Giám mục Kon Tum)

Đối với Giáo tỉnh và giáo miền

Giáo tỉnh, Giáo miền là các nhóm giáo hội riêng được Tòa thánh Vatican lập ra nhưng lại không được xem là cấp hành chính đạo chính thức của Giáo hội.

Về Giáo tỉnh, theo quy định tại Điều 413 của Bộ giáo luật Công giáo 1983 thì “Để cổ vũ hoạt động mục vụ chung giữa nhiều giáo phận gần nhau, tùy theo hoàn cảnh con người và địa phương, cũng như để thắt chặt mối quan hệ tương trợ giữa các Giám mục Giáo phận hơn nữa, các Giáo hội địa phương gần nhau phải được kết hợp thành các giáo tỉnh được giới hạn trong một địa hạt nhất định“. Giáo tỉnh tuy không phải là một cấp hành chính đạo chính thức nhưng Giáo tỉnh có tư cách  pháp nhân theo Luật trong tổ chức giáo hội. Người đứng đầu Giáo tỉnh là một Tổng Giám mục và Tổng Giám mục sẽ có các quyền hạn chất định như: Liệu sao để đức tin và kỷ luật Giáo hội được tuân giữ cách chu đáo, nếu có những lạm dụng xảy ra thì thông báo cho Đức Giáo hoàng Roma biết; Thực hiện việc kinh lý theo Giáo luật; đề cử Giám mục địa phận sau tám ngày trống ngôi mà chưa có Giám quản; Tổng Giám mục có quyền cử hành mọi nghi lễ tại các nhà thờ trong Giáo tỉnh sau khi báo cho Giám mục địa phận biết. Nếu là tại nhà thờ Chính tòa của địa phận thì Tổng Giám mục có thể cử hành nghi lễ như một Giám mục trong chính địa phận của mình.

Về Giáo miền, theo quy định tại Điều 439 của Bộ giáo luật Công giáo thì “Công đồng Giáo miền là công đồng tập hợp tất cả các Giáo hội địa phương thuộc cùng một Hội đồng Giám mục, phải được tổ chức mỗi khi Hội đồng Giám mục ấy xét thấy cần thiết hay hữu ích với sự phê chuẩn của Tông tòa”. Giáo miền không phải là cấp hành chính đạo của Giáo hội nên không nhất thiết có tư cách  pháp nhân trong hệ thống tổ chức của Giáo hội. Thực chất của Giáo miền chính là một hình thức liên hiệp các Giáo hội địa phương để tăng cường sự hợp nhất giữa các Giám mục nhằm hỗ trợ cho việc truyền giáo, quản lý hoạt động mục vụ và thiết lập mối quan hệ giữa tổ chức giáo hội với chính quyền nhà nước. Thông thường các Giám mục trong Giáo miền sẽ lập ra Hội đồng Giám mục; Hội đồng Giám mục này sẽ có nhiệm vụ triệu tập công đồng toàn miền để bàn thảo và định ra những nghị quyết, đường hướng hoạt động trong khuôn khổ giáo hội cho phép.

Đối với Giáo xứ và Giáo hạt

Giáo xứ còn được gọi là giáo hội cơ sở; là cộng đồng tín hữu có tổ chức được thiết lập một cách bền vững trong địa phận. Giáo xứ là đơn vị cuối cùng có tư cách pháp nhân trong giáo hội. Theo Điều 518 của Bộ giáo luật Công giáo năm 1983 thì “… Giáo xứ phải có tính chất tòng thổ, nghĩa là bao gồm tất cả các Kitô hữu thuộc một địa hạt nhất định. Tuy nhiên, ở đâu thấy thuận lợi, thì phải thiết lập các giáo xứ tòng nhân, xét theo lễ điển, ngôn ngữ, quốc tịch của các Kitô hữu trong một địa hạt và còn xét theo bất cứ một lý do nào khác”.

Mỗi Giáo xứ có một Linh mục Chính xứ đứng đầu. Tuy nhiên, trong điều kiện thiếu linh mục thì một linh mục có thể cai quản nhiều giáo xứ; linh mục Chính xứ được Giám mục địa phận bổ nhiệm và là người duy nhất có quyền trong việc cai quản giáo xứ. Quyền hạn của linh mục Chính xứ là: Thực hiện các phép bí tích cho giáo dân trong giáo xứ (trừ bí tích thêm sức và bí tích truyền chức thánh); lập và lưu giữ cẩn thận sổ rửa tội, sổ hôn phối, sổ tử và các sổ sách khác để báo cáo thường kỳ cho Giám mục những vẫn đề đó; cử hành các nghi lễ tôn giáo ngày chủ nhật và những ngày lễ buộc; cử hành nghi lễ an táng cho các giáo dân qua đời trong giáo xứ.

Trợ giúp cho linh mục Chính xứ có linh mục Phó xứ và các Phó tế. Mỗi giáo xứ lập ra một hội đồng giáo xứ gồm đại diện các giáo dân để hỗ trợ việc cai quản giáo xứ của linh mục Chính xứ. Theo truyền thống, mỗi xứ lập ra Ban hàng phủ nay gọi là Ban Chấp hành Giáo xứ, đứng đầu là chức Chánh trương, ở những xứ có họ lẻ thì lập chức trùm họ. Giáo xứ được Giáo hội Công giáo quan tâm củng cố vì đó là cơ sở làm nền tảng cho giáo hội; nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của giáo dân, là nơi thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo quyền và giáo dân.

Giáo hạt thực chất là một đơn vị liên hiệp giữa các giáo xứ trong phạm vi địa phận do Giám mục thiết lập. Giáo hạt không có pháp nhân trong cơ cấu tổ chức giáo hội. Mỗi Giáo hạt có một Linh mục đứng đầu gọi là hạt trưởng. Hạt trưởng có thể do các linh mục bầu ra, hoặc do Giám mục chỉ định. Quyền hạn của Hạt trưởng là cổ vũ sự liên hiệp các hoạt động mục vụ trong hạt; tổ chức, đôn đốc việc trao đổi kiến thức thần học cho các linh mục; theo dõi, lo liệu tình hình đời sống giáo sĩ về vật chất và tinh thần lúc bình thường cũng như ốm đau; linh mục hạt trưởng không có thẩm quyền cai quản trên các giáo xứ trong hạt.

Như vậy qua tìm hiểu cho thấy hệ thống tổ chức và phẩm trật trong giáo hội Công giáo là vô cùng chặt chẽ; đến nay người Công giáo vẫn tin rằng Giáo hội chính là một cộng đồng hữu hình, có tổ chức mà Chúa Giê Su tạo lập ra trước khi về trời để lưu tồn sự hiện diện của Thiên chúa ở nơi trần thế.


[1] Hiện nay, Giáo hội Công giáo trải qua thời kỳ trị vì của 265 vị giáo hoàng, trong đó có 206 vị là người Italya; 13 vị người Pháp; 03 vị người Tây Ban Nha; 01 vị người Bồ Đào Nha; 10 vị người Hy lạp; 03 vị người Châu phi

[2] Theo Điều 351 của Bộ giáo luật năm 1983, để tuyển  cử Hồng Y, đức Giáo hoàng Roma tự do chọn lựa những người thuộc nam giứoi, ít là phải có chức Linh mục, trổi vượt về học thuyết, tác phong, đạo đức và khôn ngoan xử lý công việc. Tuy nhiên, những vị chưa là Giám mục phải được thu phong Giám mục.

[3] Công đồng là hội nghị gồm các Giám mục và các chức vị trong Giáo hội Công giáo chính thứ nhóm họp để bàn thảo và quyết định các vấn đề thuộc Giáo luật, lễ nghi, đường hướng hoạt động của Giáo hội.

 

NGỌC ANH
Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • Page 2
  • Page 3
  • …
  • Page 66
  • Next page
Bài viết mới nhất
Thư mời và Chương trình Hội Thảo về Thần học và văn học của HVCGVN vào ngày 11/4 tại Trung tâm Mục Vụ
28/03/2026
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.