Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
18Tháng Tám
2021

Sensus fidelium – Cảm thức đức tin: Một trình bày của một tín hữu từ Giáo hội tại Việt Nam

18/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

SENSUS FIDELIUM– CẢM THỨC ĐỨC TIN:
MỘT TRÌNH BÀY CỦA MỘT TÍN HỮU TỪ GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM

Lm. Giuse Nguyễn Văn Am, S.D.B

Mục lục

I. TỔNG QUÁT VĂN KIỆN

       1. Liên quan đến hình thức

       2. Liên quan đến nội dung tổng quát của văn kiện

II. NHỮNG Ý TƯỞNG CHỦ ĐẠO

       1. Sensus fidei trong Thánh kinh và trong truyền thống Giáo hội

       2. Cảm thức đức tin theo dòng suy tư của Giáo hội trong lịch sử

       3. Chiều kích cá nhân của cảm thức đức tin

       4. Sensus fidei fidelium trong đời sống giáo hội

       5. Những biểu hiện chân chính của sensus fidei

III. KẾT LUẬN

 Năm 2014, sau khóa họp 5 năm một lần, Ủy ban thần học quốc tế xuất bản hoa quả của mình liên quan đến cảm thức đức tin. Kết quả này được bộ Giáo lý đức tin ký nhận do Hồng y Gerhard L. Muller.

Tài liệu cho thấy ý nghĩa đích thực của cái gọi là “ý kiến của đa số” theo não trạng chính trị về dân chủ.[1] Chìm ngập trong bầu khí duy tục, người tín hữu dễ dàng suy nghĩ theo tiêu chuẩn “chân lý dựa theo số đông”. Các tín hữu cần phải bén nhạy trước những gì thuận với hay nghịch với chân lý Tin mừng, nhờ mối liên hệ với Thánh Thần Chân lý, như tài liệu này muốn nhắm đến.

Trong bài này tôi chỉ nhắm trình bày một số những nghĩ suy của mình khi đọc tài liệu này. Bài viết mang nhiều tính chất trình bày hơn là phê bình. Nó như một lời giới thiệu rằng tài liệu này thật đáng được tìm hiểu.[2] Vậy, tôi sẽ trình bày tổng quát văn kiện, rồi từ đó đi vào một vài khía cạnh nổi bật hơn của văn kiện.

I. TỔNG QUÁT VĂN KIỆN

1. Liên quan đến hình thức

Tài liệu này gồm 128 số, kể cả 2 số kết luận (127-128) và 6 số dẫn nhập (1-6). Nó được chia thành bốn chương. Chương I bàn đến cảm thức trong Kinh thánh (7-21) và truyền thống” (23-47), xác định nguồn gốc chân chính của cảm thức này. Chương II (số 49-65) đề cập đến “Sensus fidei fidelis trong đời sống cá nhân của người tín hữu”. Nó cho thấy người tín hữu được ban cho một “bản năng”, một “cảm thức” để bén nhạy trước đức tin chân chính. Chương III (số 67-86) trình bày “Sensus fidei fidelium trong đời sống của Giáo hội”, tức khía cạnh giáo hội, cộng đoàn của cảm thức đức tin.[3] Đối với tôi, có lẽ đây là chương quan trọng hơn cả. Nó nói đến cảm thức đức tin (sensus fidelium) và sự phát triển giáo lý và thực hành của Kitô giáo; nó tương quan với Huấn quyền, với thần học và với đại kết ra sao. Sau cùng là chương IV (số 88-126), thiên về áp dụng nhiều hơn. Chính tựa đề “Làm thế nào để phân định những biểu hiện chân chính của sensus fidei” đã cho thấy điều đó. Nó cho thấy cảm thức đức tin có tương quan ra sao với việc tham gia vào đời sống Giáo hội, với việc lắng nghe Lời Chúa, với sự rộng mở đối với lý trí, với sự gắn bó với Huấn quyền, với sự thánh thiện đầy khiêm nhường, tự do và vui tươi hòa với sự dựng xây giáo hội. Chương này cũng cho thấy mối liên hệ của cảm thức đức tin với tâm tình tôn giáo bình dân, với công luận, và cách tham khảo các tín hữu.

Ngoài ra, tài liệu luôn dành những số khởi đầu trong mỗi phần để giới thiệu nội dung chính của phần đó. Chẳng hạn, số 7 giới thiệu ý tưởng chính trong chương I về kinh thánh và lịch sử; số 22 khái quát về dòng lịch sử thần học liên quan đến sensus fidei; số 48 minh định tổng quát về bản tính cá nhân của sensus fidei đi liền với nhắc nhớ rằng không thể chia tách khía cạnh cá nhân và giáo hội của sensus fidei; còn số 66 giới thiệu sensus fidei sẽ được bàn ra sao dưới khía cạnh giáo hội, liên quan đến sự phát triển giáo lý và thực hành của Kitô giáo, đến mối tương quan với huấn quyền và thần học cũng như đại kết. Cũng vậy, số 87 tổng quát cả chương IV về chỗ đứng của cảm thức đức tin khi toàn thể Giáo hội tìm kiếm và phân định chân lý của Thiên Chúa giữa lòng lịch sử đầy xáo trộn của công luận.

2. Liên quan đến nội dung tổng quát của văn kiện

Con người, nhờ giác quan (senses), tự nhiên và tự phát phản ứng trước những kích thích để bảo vệ cũng như để tăng trưởng đời sống. Cũng thế, trong đời sống đức tin, người tín hữu cũng được ban một cảm thức (sense) đức tin, theo nghĩa cá nhân – sensus fidei fidelis, cũng như theo nghĩa Giáo hội – sensus fidei fidelium – để giữ họ đi trong chân lý đức tin cũng như để phát triển đức tin ấy (x. số 3). Tài liệu dùng nhiều hạn từ để chỉ thực tại này như bản năng đức tin… để các tín hữu không sai lầm trong đức tin và phong hóa. Thực tại này, được Thiên Chúa ban cho Giáo hội, được Chúa Giêsu đảm bảo, vì các tín hữu được xức dầu Thánh Thần; Chính Thánh Thần giữ gìn và đảm bảo cho tính bất khả ngộ của đức tin; có thể nói, Ngài làm mình trở thành như bản năng đức tin của họ. Thánh Thần-Chân Lý có thể nói là sợi chỉ xuyên suốt của tài liệu, đảm bảo cho chân lý được Giáo hội lưu truyền. Chính Thánh Thần giữ gìn và làm cho Giáo hội bất khả ngộ trong đức tin và phong hóa xuyên qua sự thống nhất hữu cơ của Giáo hội dạy dỗ (ecclesia docens) và giáo hội thụ huấn (ecclesia discens). Đức tin được Giáo hội sống và công bố cách bất khả ngộ là nhờ chính Thánh Thần- Chân Lý, luôn nhắc nhớ Giáo hội về Đức Kitô một cách sống động. Chính Thánh Thần là Ký Ức của Giáo hội soi đường cho Giáo hội vậy.[4] Rõ ràng, Thánh Thần, cảm thức đức tin và  cách thức Giáo hội và các tín hữu sống chức vụ tiên tri liên kết chặt chẽ với nhau.

Như đã nói ở trên, bản năng đức tin này mang hai khía cạnh cá nhân và giáo hội, thì cũng không chỉ liên hệ đến tri thức mà cả đến thực hành, praxis, đến phong hóa. Nhờ cảm thức này, Giáo hội có được sự đồng qui về lãnh vực giáo lý và thực hành; nó đóng “vai trò sống động, là tiêu chuẩn (criterion) vững chắc để xác định một giáo lý hay thực hành đặc thù có thuộc về đức tin tông truyền hay không” (số 3). Chính Thánh Thần bất khả ngộ đưa dẫn tín hữu và toàn Giáo hội vào sâu trong mầu nhiệm Đức Kitô khi dạy họ cùng nhau phân định điều gì là lành mạnh hay nguy hại cho sự thánh thiện trong chân lý. Được Kinh thánh minh định và các Giáo phụ cùng các thần học gia quả quyết, cảm thức đức tin thuộc về toàn Giáo hội, chứ không phải của phẩm trật mà thôi. Chính vì thế, hố chia tách Giáo hội dạy dỗ (ecclesia docens) và Giáo hội thụ huấn (ecclesia discens), vốn một cách nào đó đã có trong Giáo hội, phải được lấp đầy. Trong sự duy nhất hữu cơ này, sensus fidelium có chỗ đứng độc đáo trong việc phát triển giáo lý và thực hành Kitô hữu, rồi đến mối liên hệ của nó với huấn quyền và thần học, và cả đến tầm quan trọng trong đối thoại đại kết”(số 6), như Chân Phước Henry Newman đã minh chứng. Không những thế, cảm thức đức tin thúc đẩy người tín hữu tham gia sống động vào Giáo hội, tạo thành tiêu chuẩn phân định về đức tin chân thật. Vatican II nói: ” Toàn thể tín hữu được Đấng Thánh xức dầu (x. 1 Ga 2,20 và 27) nên không thể sai lầm trong đức tin, họ biểu lộ thuộc tính đặc biệt này qua cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể Dân Chúa, khi “từ các Giám mục đến những người bé mọn nhất trong các tín hữu”[5]8 đều đồng thuận về những điều liên quan đến đức tin và phong hoá.” (LG 12). Nhưng cảm thức đức tin, cá nhân cũng như Giáo hội, đòi hỏi những dự thế cần thiết: tham gia vào đời sống Giáo hội, lắng nghe Lời Chúa, rộng mở trước lý trí, gắn kết với Huấn quyền, sự tự do và vui tươi trong thánh thiện và khiêm nhường. Những dự thế này có thể tóm gọn vào một điều: Tính giáo hội (ecclesiality) chân chính tạo thành tiêu chuẩn để phân định về sensus fidei chân chính (x. số 6).

Thế nhưng, cảm thức đức tin phải chăng chỉ mang tính chất giữ cho giáo hội khỏi sai lầm? Chúng ta đừng quên rằng cảm thức đức tin còn góp phần của mình trong việc phát triển giáo lý. Nó có khía cạnh hướng tới tương lai. Chính vì thế, phần kết luận hướng độc giả tới một chân trời lớn hơn:

“Nhờ sensus fidei, các tín hữu không chỉ có thể nhận biết điều gì phù hợp với Tin mừng và điều gì nghịch lại nó, nhưng còn cảm nhận điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là “những con đường mới cho hành trình trong đức tin của toàn dân lữ hành” (số 127).

Cảm thức đức tin liên hệ tới cuộc lữ hành của toàn dân Thiên Chúa. Một đàng, Giáo hội- Dân Chúa không bị lạc lối khi tiến bước trong lịch sử, nhờ “bản năng” đức tin. Đàng khác, cảm thức đó giúp cho việc loan báo tin mừng khi các tín hữu, cá nhân và tập thể, “nghĩ suy với Giáo hội, chia sẻ một đức tin và một mục đích. Nó hiệp nhất mục tử và đoàn dân, và làm cho cuộc đối thoại giữa họ, nên cốt yếu và hiệu quả cho Giáo hội, dựa trên những tặng phẩm và ơn gọi tương ứng” (số 128).

II. NHỮNG Ý TƯỞNG CHỦ ĐẠO

Sau khi đã trình bày một cách khái quát, nay tôi tìm hiểu văn kiện theo một số góc cạnh chuyên biệt hơn.

1. Sensus fidei trong Thánh kinh và trong truyền thống Giáo hội

Điều phải khẳng định ngay từ đầu là thuật ngữ “cảm thức đức tin” không có trong kinh thánh và lời dạy dỗ chính thức của giáo hội cho đến Vatican II (x. 7). Tuy nhiên, chân lý mà thuật ngữ ấy muốn diễn đạt thì lại ngập tràn trong Kinh thánh. Thật vậy, Thiên Chúa phán và Lời Ngài thì chân thật. Chúa Giêsu, Lời Thiên Chúa, là sự thật và sự sống. Lời rao giảng của Người không thể qua đi. Như Abraham, con người tin vào Thiên Chúa, vào Lời hứa của Ngài. Đức tin là lời đáp trả tự do của con người, nhờ sức mạnh của chính Thiên Chúa (x. số 9). SỨ ĐIỆP-LỜI không phải chỉ là một thông tin; Đúng hơn, đó là NGÔI VỊ ĐỨC GIÊSU KITÔ, luôn chân thật, HÔM QUA, HÔM NAY VÀ CHO ĐẾN MUÔN ĐỜI.[6] Tin mừng ấy đòi hỏi đức tin, sự đáp trả “hết lòng, hết sức, hết trí khôn” của toàn thể con người; đức tin ấy “đảm bảo cho những gì ta hy vọng và sự vững chắc cho những gì chúng ta không thấy” (Hr 11:1).[7] Như thế, đức tin vừa là một hành vi (fides qua) vừa là điều được tin và tuyên xưng (fides quae), nhờ đó ta phụng sự Thiên Chúa hết lòng chứ không phải trên môi miệng mà thôi (x. số 10).

Thiên Chúa không cứu độ từng người riêng rẽ. Ngài quy tụ tất cả trong vương quốc sự thật và bình an của ngài. Ngài kết hiệp họ thành thân mình Đức Kitô cũng như ban cho họ một vai trò để xây dựng Giáo hội, vương quốc TC trong hạt mầm. Do đó, đức tin luôn mang chiều kích cá nhân và cộng đoàn. Đức tin có thể nói là một thực tại gồm (1) sự hoán cải, nhìn nhận tội lỗi để bước vào đời sống mới trong cộng đoàn của Thiên Chúa; đức tin tỏ lộ trong (2) sự thờ phượng (leiturgia), mà (3) lý trí suy phục chân lý. Đức tin gắn liền với (4) sự tuyên xưng (marturia) chân thật tới độ (5) tín thác toàn vẹn vào lời hứa của Thiên Chúa. Đức tin ấy (6) kéo theo sự phục vụ (diakonia) trong đức ái. (x. số 12) Như thế, rõ ràng đức tin đối thần vượt xa những niềm tin tôn giáo, vì nó chạm đến không chỉ một vài chân lý của Thiên Chúa, nhưng đến chính Thiên Chúa là CHÂN LÝ.

Trong đức tin, Thánh Thần giữ các tín hữu trong chân lý của Đức Kitô, ban cho các tín hữu khả năng biết và làm chứng cho chân lý. Thông phần vào Thánh Thần chân lý, các tín hữu có thể “minh chứng thế gian sai lầm về tội, về sự công chính và về phán xử” (Ga 16:8). Tài liệu xác định: Thánh Thần ban cho họ “một cảm thức được linh hứng về chân lý luôn hiện thực của Lời Thiên Chúa nhập thể trong Đức Giêsu và ý nghĩa của nó cho ngày hôm nay” (số 14).

Trong Cựu ước Thiên Chúa hứa ban cho toàn Dân của Ngài được đầy Thần khí sự thật, để công bố những kỳ công của Thiên Chúa. Lời hứa ấy được hiện thực cách sống động và cụ thể trong cộng đoàn Giáo hội Chúa Kitô. Thần khí sự thật đốt nóng cộng đoàn này để công bố tình yêu trung tín của Thiên Chúa cho muôn dân. Cộng đoàn ấy được gìn giữ gắn bó với giáo lý của các tông đồ, hiệp thông, tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện. Đồng thời, cộng đoàn ấy cũng phát triển và lớn mạnh nhờ Thánh Thần. Như một cộng đoàn đức tin lữ hành về Vương quốc trong khi phải đối diện với những thử thách mới, cộng đoàn cùng quy tụ lại để tìm ý Chúa. Trong công đồng Giêrusalem đầu tiên, đoàn tín hữu quy tụ quanh các tông đồ cùng nhau hiệp nhất tìm kiếm ý Thiên Chúa và đi tới những quyết định với sự đồng thuận của toàn  Giáo hội trong Thánh Thần: “Thánh Thần và chúng tôi quyết định…” (Cv 15:28). Thực hành này quả là quan trọng và quyết định; nó đã trở thành nguyên lý hướng dẫn Giáo hội. Nhờ đó, các tông đồ có thể mở rộng chân trời mục vụ, và các tín hữu tham gia sống động. Như vậy, cộng đoàn Giáo hội có được “tâm trí của Đức Kitô” (1 Cr 2:16). Chính vì thế, thánh Phaolô luôn “coi đức tin của cộng đoàn như điểm quy chiếu cho lời dạy dỗ của mình và là tiêu điểm cho sự phục vụ mục vụ của ngài, nêu lên sự trao đổi hữu ích lẫn nhau giữa ngài và các cộng đoàn” (số 19). Thư Gioan cho thấy việc xức dầu Thánh Thần mà người tín hữu nhận lãnh giữ họ vững chắc trong chân lý. “Những môn đệ có được một cảm thức được linh hứng đối với chân lý luôn hiện thực của Lời nhập thể của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu và ý nghĩa của nó cho ngày hôm nay” (số 14). Họ không đi trong sai lầm, nếu họ luôn lắng nghe điều Thần khí phán cho các Giáo hội. “Nhờ vâng phục đức tin, một tặng phẩm của Thần khí, mà các tín hữu có thể nhận biết lời dạy dỗ họ nhận được thật sự là lời dạy dỗ của cùng một Thần khí, và đáp lại những lời dạy dỗ họ được ban tặng” (số 21). Như vậy, ở đây, ta phải nắm vững lối nhìn toàn diện về lời đáp trả của đức tin trước chân lý mặc khải của Thiên Chúa, như Serge-Thomas Bonino, O.P, thành viên của Ủy ban Thần học thế giới, lưu ý.[8] Lối nhìn ấy làm nổi bật vai trò duy nhất của Đức Giêsu là CHÂN LÝ của Thiên Chúa.

2. Cảm thức đức tin theo dòng suy tư của Giáo hội trong lịch sử

Khi tiến vào những nền văn hóa ngoài Do thái, Giáo hội không có những giải pháp làm sẵn. Giáo hội dò dẫm những nẻo đường mới. Trong cuộc lữ hành đức tin ấy, điều đảm bảo cho Giáo hội không gì khác hơn là sự trung tín của Thiên Chúa cũng như một tình yêu chuyên nhất và trung thành dành cho Đức Lang quân. Cắm neo trong Thánh Thần, Tình yêu đó ban cho Giáo hội một thứ bản năng thiêng liêng để biết phải tiến bước như thế nào.[9] Rõ ràng, sự nhận thức siêu nhiên của đức tin vừa mang khía cạnh phản hồi (reactive), xét như một phương thế nhận biết chân lý khi được rao giảng, vừa có khía cạnh chủ động (proactive), tức làm cho các tín hữu đào sâu, hiểu rõ, áp dụng và làm chứng đức tin ấy.[10] Bằng nhiều cách các Giáo phụ xác định tính bất khả ngộ của “toàn Giáo hội, từ các giám mục tới người tín hữu nhỏ bé nhất làm chứng cho đức tin tông truyền”. Với các ngài, sự đồng thuận phổ quát của các tín hữu là luận chứng mạnh mẽ để bác bỏ những người lạc giáo. Một số Giáo phụ nhấn mạnh “khả năng chủ quan” của các tín hữu để giữ giáo lý chân thật. Tuy nhiên, đa số các ngài nhấn mạnh rằng toàn thể Giáo hội, chứ không phải chỉ các mục tử, được trang bị để phân định chân lý. Giáo hội có được vị THÀY nội tâm không phải chỉ để thu nhận chân lý mặc khải song cũng phê chuẩn và chuyển giao nó. Giáo hội sơ khai đi theo nguyên lý “đức tin được mọi người mọi chốn luôn luôn nắm giữ” [quod ubique, quod semper, quod ab omnibus creditum est] (số 23). Do đó, điều đáng nói trong thời kỳ này là ngay cả khi các giám mục không tuyên xưng đức tin, thì “các tín hữu hơn là hàng giám mục công bố và giữ gìn truyền thống thần linh được ký thác cho Giáo hội bất khả ngộ” (số 26). Tại sao? Vì đối với các giáo phụ, “chứng từ có tính tiên tri của Dân Chúa như một toàn thể, là một điều có đặc tính khách quan chắc chắn. Toàn thể dân tín hữu không thể sai lầm trong những vấn đề đức tin” bởi nhận được Dầu Thánh Thần được hứa ban từ Đức Kitô, Dầu đó trang bị họ biết phân định đức tin (x. số 25). Rõ ràng, vai trò của Thánh Thần chân lý là thiết yếu tuyệt đối cho cảm thức đức tin nơi tín hữu, cá nhân cũng như Giáo hội. Điều này làm nền cho việc Giáo hội xác định, chẳng hạn, quy điển kinh thánh, hay trong định tín quan trọng về Đức Kitô, về Đức Maria (x. số 26).

Thời Trung cổ Đức Giáo hoàng Bênêđictô XII cũng dựa trên sự đồng thuận của các tín hữu, consensus fidelium, để xác định những giáo lý về hưởng kiến, luyện ngục và trước ngày phán xét. Trong thời Trung cổ các tín hữu cùng nhau tuyên xưng Đức Maria Trinh Nữ vương, bất chấp sự chống đối của một số thần học gia. Vì thế, các tiến sĩ Kinh viện thừa nhận nguyên lý “Giáo hội, congregatio fidelium, không thể sai lầm trong những vấn đề đức tin bởi vì được Thiên Chúa dạy dỗ, được kết hiệp với Đức Kitô Đầu của mình, và được Thánh Thần cư ngụ” (số 28). Đối với thánh Toma, theo nhận xét của Sara Butler, “Như một phẩm tính của đức tin và như một thứ bản năng thiêng liêng, cảm thức đức tin xuất phát từ một đồng cảm tính (affective connaturality) hay một ái lực (affinity) giữa người Kitô hữu biết và yêu đức tin của mình và các sự thật của đức tin”.[11]

Trong thời Cải cách, anh chị em Tin lành đã dành chỗ tối thượng, nhưng có tính loại trừ, cho Lời Chúa, khi coi nhẹ TRUYỀN THỐNG ĐỨC TIN và HUẤN QUYỀN; chính Thánh Thần cho cá nhân người tín hữu khả năng giải thích Lời Chúa do chính mình và cho chính mình. Do đó, Truyền thống hay Huấn quyền trở nên thừa thãi. Trước lập trường đó, Giáo hội Công giáo xác định toàn Giáo hội, gồm giáo dân và giáo sĩ, thì bất khả ngộ in credendo (x. số 30). Các thần học gia Công giáo xác định “sự đồng thuận chung của các tín hữu là một trong bốn chuẩn mực để xác định một giáo lý hay thực hành thuộc về truyền thông tông đồ hay không” (số 31). Toàn Giáo hội, được tỏ lộ nơi các công đồng, có “consensus Ecclesiae universalis” (số 32). Tuy nhiên trong thời này, bắt đầu có sự chia tách giữa Giáo hội dạy dỗ (Eccclesia docens) và Giáo hội thụ huấn  (Ecclesia discens) mà chỉ có một sự bất khả ngộ “thụ động” thôi.[12] Đứng trước những thách đố và vấn nạn mới như thế, cảm thức đức tin lần đầu tiên, có thể nói như thế, được tìm hiểu một cách hệ thống.[13]

Sang thế kỷ 19, cảm thức đức tin được đào sâu hơn, cách riêng trong trường phái Tubingen. Johann Adam Mohler cho thấy rằng Thánh Thần sinh động, hướng dẫn, và hiệp nhất các tín hữu thành một cộng đoàn trong Đức Kitô, thực hiện nơi họ một “ý thức” đức tin về Giáo hội (x. số 35). Chân Phước Henry Newman nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các tín hữu trong việc bảo tồn và chuyển giao đức tin (x. số 39). Chính ngài đã coi sensus fidei fidelium là locus theologicus (x. số 34), để giải thích Thánh Thần đã gìn giữ Giáo hội trong chân lý như thế nào. Quả vậy, cảm thức đức tin của toàn giáo hội biểu lộ ra nhiều cách khác nhau trong những thời đại khác nhau: hàng giám mục, các vị tiến sĩ, dân chúa, phụng vụ, nghi thức, lễ nghi và phong tục….(x. số 39). Như thế, chiều kích chủ quan của sensus fidei phải nhất thiết gắn bó với yếu tố khách quan là lời dạy dỗ của Giáo hội, bởi lẽ “cảm thức” Kitô hữu của người tín hữu không bao giờ được tách khỏi nội dung của nó (x. số 35). Nhờ vào cảm thức của Giáo hội liên hợp với Kinh thánh, Truyền thống đáng kính, sự đồng thuận của các Giám mục và tín hữu, Đức Piô IX đã tuyên bố tín điều Mẹ Vô Nhiễm một cách bất khả ngộ (x. số 38). Theo ánh sáng này, xác quyết của Vatican I về tính bất khả ngộ của giáo hoàng phải giả định cảm thức này. Chính vì thế, khi Pastor aeternis xác quyết “tự chúng những định tín ex cathedra của Giáo hoàng về đức tin và phong hóa là bất khả ngộ chứ không phải từ sự đồng thuận của giáo hội” (ex sese non autem ex consensu ecclesiae), thì ta phải hiểu rằng sự đồng thuận này, trước hay sau, như là một điều kiện cho để những giáo huấn ấy có thẩm quyền (x. số 40).

Thế kỷ 20 chứng kiến một sự canh tân về cảm thức đức tin khi suy tư về mầu nhiệm Giáo hội cũng như phát triển nền thần học giáo dân. Những suy tư này trả lại “vai trò tích cực của giáo dân trong việc trao truyền đức tin” (số 41). Chúng cho thấy rõ các tín hữu không thụ động.[14] Yves Congar làm sáng tỏ mối liên hệ chặt chẽ của cảm thức đức tin của giáo hội với chức năng tiên tri của các tín hữu. Giữa Ecclesia docens và Ecclesia discens  có tính duy nhất hữu cơ (x. số 38). Hố chia tách này trong quá khứ đang dần được lấp lại, vì chính Giáo hội dạy dỗ trước tiên phải là Giáo hội thụ huấn. Phẩm trật buộc phải lắng nghe chân lý của Thiên Chúa. Và phẩm trật giáo hội dạy dỗ nhằm phục vụ sự hiệp thông. “Giáo hội yêu mến và tin tưởng, nghĩa là thân mình của các tín hữu thì bất khả ngộ khi sở hữu đức tin cách sống động, chứ không phải trong một hành vi hay phán đoán đặc thù nào” (số 43). Công đồng Vatican II tiếp nối nhãn quan này khi xác quyết “Thần khí sự thật khơi lên và nâng đỡ một nhận thức siêu nhiên của đức tin, đảm bảo Giáo hội như toàn thể không thể sai lầm trong vấn đề đức tin” (số 44). Cảm thức đức tin được nhìn như một nhận thức siêu nhiên,[15] cảm thức thâm sâu về những thực tại siêu nhiên,[16] một bản năng thiêng liêng,[17] một trực giác siêu nhiên,[18] một khả năng tích cực (capacity) hay sự bén nhạy nhờ đó họ có thể tiếp nhận và hiểu “đức tin được ban cho các thánh một lần là xong” và được áp dụng trong đời sống hằng ngày(x. số 44). Tính cách phản hồi và chủ động của cảm thức đức tin lại được thấy rõ ở nhận định trên. Tuy nhiên, ta không được hiểu cảm thức đức tin  hay sự đồng thuận (consensus) của các tín hữu theo nghĩa xã hội học hay thống kê học (x. số 47). Không phải số đông sẽ quyết định chân lý của Thiên Chúa. Trái lại, cảm thức đức tin này đi vào mọi lãnh vực hiện sinh của người tín hữu trong xã hội và gia đình (x. số 45), là tặng phẩm của Đức Kitô cho người tín hữu nhờ đó họ hiểu, sống và công bố những chân lý mặc khải, cảm thức đức tin cũng là “nền tảng cho công việc loan báo tin mừng của họ” (số 45).

3. Chiều kích cá nhân của cảm thức đức tin

Sự thích hợp của cá nhân tín hữu để phân định đúng trong vấn đề đức tin.[19]

Những tìm hiểu ở trên cho thấy rõ cảm thức đức tin mang lấy hai khía cạnh cá nhân và cộng đoàn giáo hội. Nay ta muốn nói tới cảm thức đức tin dưới góc cạnh cá nhân người tín hữu, sensus fidei  fidelis. Đức tin không phải là một thứ trang hoàng nhưng thấm sâu và tác động đến tâm hồn, lương tâm của người tín hữu khiến họ nhạy cảm phân định những điều phù hợp hay không phù hợp với đức tin ấy.

Quả thế, chính Thánh Thần giữ cho đôi chân tín hữu bước đi vững chắc trong đàng đức tin. Dưới chiều kích cá nhân, cảm thức đức tin của người tín hữu là “một thứ bản năng thiêng liêng làm cho người tín hữu phán đoán cách tự phát xem một giáo lý hay thực hành đặc thù nào đó hợp hay không hợp với Tin mừng và đức tin tông truyền” (số 49). Điểm nổi bật văn kiện nhấn mạnh khi bàn đến khía cạnh cá nhân này chính là mối tương giao của chủ thể tin với chính Đức Giêsu. Mối tương giao này mạnh mẽ đến nỗi văn kiện nói đến một thứ “đồng bản tính” (connaturality) mà người tín hữu được thông phần với Chúa Giêsu. Điều này là kết quả của đức tin (x. số 50). Nó là một hình thức của tri thức tự phát và tự nhiên, một thứ tri nhận, aisthesis (perception). Tri thức này thuộc về một trật tự khác với tri thức khách quan liên kết với khái niệm và lý luận. Nó là “tri thức do sự thấu cảm (empathy), tri thức của cõi lòng” (số 50). Vì có sự đồng bản tính (connaturality) với nhân đức tin (x. số 50), cảm thức đức tin nơi người tín hữu một cách tự nhiên “hướng chiều chủ thể tới một đối tượng và một cách tự phát làm họ xa khỏi bất kỳ điều gì nghịch với đối tượng” (số 52). Chỗ khác, tài liệu xác định “Đức tin như nhân đức đối thần làm người tín hữu tham dự vào tri thức mà Thiên Chúa có về chính mình và về mọi sự” (số 53). Tài liệu triển khai khá nhiều ý tưởng cảm thức đức tin nơi người tín hữu như một bản năng, theo nhiều kiểu diễn đạt:

“nhờ ân sủng và những nhân đức đối thần, người tín hữu trở thành “kẻ thông phần vào bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1:4) và một cách nào đó, được đồng bản tính (connaturalised) với Thiên Chúa. Và do đó họ phản ứng một cách tự phát trên nền tảng của bản tính Thiên Chúa được thông phần đó, theo cùng một cách thức mà theo bản năng những sinh vật phản ứng lại điều hợp hay không hợp với bản tính chúng”.[20]

Hay

“Như tên gọi (sensus) của nó chỉ ra, nó khá giống với một phản ứng tự phát, tức thời và tự nhiên, và có thể so sánh với một bản năng sinh tử hay một thứ “thiên bẩm” nhờ đó người tín hữu tự phát bám vào điều gì phù hợp và xa tránh điều gì không phù hợp với với chân lý đức tin”.[21]

Và

“Cảm thức đức tin của người tín hữu xuất từ nhân đức tin đối thần. Nhân đức đó là một dự thế nội tâm, được tình yêu thúc đẩy, để gắn bó tuyệt đối với toàn thể chân lý được Thiên Chúa mặc khải ngay khi nó được tri nhận là đúng như thế”.[22]

Những trích dẫn trên hẳn nhiên cho thấy cảm thức đức tin  khác xa với thần học như là kiến thức về đức tin (x. số 55). Cảm thức đức tin “tự nó là bất khả ngộ về đối tượng của mình là đức tin chân thật” (số 55). Nó liên hệ rất mật thiết với nhân đức tin. Chúng ta biết rõ “Nhân đức tin càng đâm rễ trong cõi lòng và tinh thần của người tín hữu và hình thành cuộc sống hằng ngày của họ thì sensus fidei fidelis càng phát triển và kiện cường trong họ” (số 57). Nói khác đi nó tỷ lệ thuận với sự thánh thiện của người tín hữu (x. số 57). Nhận xét này quan trọng để cho thấy rằng một tín hữu thánh thiện có thể nhạy bén trong đức tin hơn cả một thần học gia.[23]

Hơn nữa, nếu đời sống đức tin được đức ái sinh động, thì cảm thức đức tin không thể không liên hệ với đức ái. Tài liệu khẳng định:

“Như Thần khí tình yêu, Đấng truyền tình yêu vào lòng người, Thánh Thần làm người tín hữu rộng mở ra để có thể đạt được một tri thức sâu xa hơn và mật thiết hơn với Đức Kitô là chân lý, trên nền tảng của một sự kết hiệp của đức ái” (số 57).

Rõ ràng, tài liệu muốn nói rằng cảm thức đức tin nơi người tín hữu dẫn lối họ sống đức tin trong những bối cảnh khác nhau của đời sống cá nhân. Càng nỗ lực thực thi đức tin trong thực tại hiện sinh của gia đình, nghề nghiệp, xã hội, người tín hữu sẽ làm giàu kinh nghiệm đức tin của mình (x. số 59).

Như thế, cảm thức đức tin nơi người tín hữu có chức năng phân định giáo lý và thực hành phù hợp với đức tin, phân định điều cốt yếu và điều thứ phụ trong những gì được rao giảng và quyết liệt làm chứng cho Đức Giêsu trong bối cảnh lịch sử và văn hóa đặc thù họ sống (x. số 60). Nhờ cảm thức đức tin nơi người tín hữu, người tín hữu bén nhạy trước những gì nghịch với đức tin, thậm chí có khi chúng đến từ các chủ chăn hợp pháp.[24] Họ phân định được cái gì là cốt yếu và cái gì là thứ phụ trong những gì được rao giảng. Nhờ đó, người Kitô hữu được tự do và đức tin của họ được thanh luyện (x. số 65).

Nếu vậy, rõ ràng cảm thức đức tin nơi người tín hữu dẫn họ vào một đời sống đức tin tích cực, cả trong tâm trí lẫn thực hành. Cảm thức ấy khiến họ tuân theo truyền thống tông truyền, tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội, gắn bó với huấn quyền, khiêm nhường và thánh thiện, vui tươi và tự do. Đó là những thái độ cơ bản của những tín hữu với cảm thức đức tin mạnh mẽ. Hiển nhiên sẽ không thể lấy nê cảm thức đức tin để chống báng Giáo hội.[25]

4. Sensus fidei fidelium trong đời sống giáo hội

Sensus fidei fidelium trong đời sống giáo hội hay chiều kích giáo hội của sensus fidei: Bản năng đức tin của chính Giáo hội.[26]

Sẽ không thể đầy đủ nếu không bàn đến khía cạnh cộng đoàn của sensus fidei fidelium, cảm thức đức tin của cộng đoàn tín hữu. Như một toàn thể hiệp nhất, Giáo hội-Hiền thê, Giáo hội-Thân mình Đức Kitô, Giáo hội-Dân Thiên Chúa có được bản năng của đức tin, nếu có thể nói như thế, để bước đi không sai lầm trong thế giới. Tính bất khả ngộ của cảm thức đức tin của giáo hội không đến từ chính Giáo hội, nhưng đến từ Thiên Chùa mà thôi. Ta cũng cần nhấn mạnh đến tính duy nhất hữu cơ của cảm thức đức tin, dù phân biệt hai khía cạnh cá nhân và giáo hội để tìm hiểu.[27] Ghi nhớ điều đó, ta hiểu ra khía cạnh hồi tố và khía cạnh tương lai nơi cảm thức đức tin của Giáo hội. Thực thế, nhờ cảm thức đức tin, Giáo hội luôn được Thánh Thần làm mới lại những cảm nghiệm về Đức Giêsu chết và phục sinh mà Giáo hội công bố nhờ vào Kinh thánh và những chứng nhân. Thánh Thần luôn nhắc cho Giáo hội những gì Đức Giêsu đã  nói và đã hiện thực (x. số 68). Giáo hội gắn kết trung thành với Tin mừng của Đức Giêsu Nadarét (x. Gl 1:6-9; 1 Cr 15:1-4). Nhưng cảm thức đức tin của Giáo hội cũng làm Giáo hội tiền dự vào tương lai của Đức Kitô, Đấng đang đến; nhờ cảm thức đức tin, Giáo hội thưởng nếm trước một cách không sai lầm Vương quốc đang trên đường hoàn tất. Dựa trên nền tảng này, cảm thức đức tin của Giáo hội dám tiến vào những hoàn cảnh mới với những thách đố của thời đại một cách bạo dạn, can đảm và sáng tạo trong mục vụ. Ta cần xác tín sự tương tác không thể phân chia giữa khía cạnh hồi tố và khía cạnh tương lai này trong cảm thức đức tin của Giáo hội.

Dựa trên cùng một Dầu Thánh Thần, cùng một đức tin và một phép Rửa, cảm thức đức tin của Giáo hội được sống theo từng vai trò biệt loại trong Giáo hội-Thân mình Đức Kitô, luôn muốn đạt tới consensus fidelium, conspiratio pastorum et fidelium (x. số 71). Theo ánh sáng này, không thể loại bỏ sự đóng góp của giáo dân, vì ơn gọi đặt họ vào giữa lòng thế giới và rất sống động.[28] Quả thế, giáo dân đóng góp nhiều trong những vấn đề luân lý mới đây của Giáo hội mà ta có thể thấy dấu vết trong Rerum Novarum (Lêô XIII, 1896), Dignitatis humanae (Vatican II, 1965), Humanae vitae (1968), Evangelium vitae (1995), Caritas in veritate (2009). Sự chia tách ecclesia docens và ecclesia discens làm lu mờ vai trò tích cực của giáo dân, thì trái lại, mối tương tác giữa khía cạnh cá nhân và cộng đoàn của cảm thức đức tin luôn sinh lợi cho Giáo hội lữ hành. Tuy nhiên, tài liệu cũng khẳng định rõ ràng, phụng vụ, cách riêng phụng vụ Thánh Thể, là nơi chốn đặc trưng và ưu tuyển biểu lộ sự tương tác này. Nơi đây, chủ chăn và tín hữu chỉ làm thành một thân mình hiệp nhất, dấu chỉ và phương thế hữu hiệu của ơn cứu độ cho thế giới. (x. LG 24) Sự tương tác mật thiết giữa tín hữu và chủ chăn trong phụng vụ làm thành một sự vững chắc đức tin được diễn đạt trong châm ngôn lex orandi, lex credendi.

Tài liệu bàn đến mối tương quan sống động của cảm thức đức tin trong Giáo hội với huấn quyền. Không có đối kháng gì ở đây. Đức tin của Dân Chúa không thụ động. Dân Chúa nhận được dầu Thánh Thần và được ban những đặc sủng vì lợi ích của toàn Giáo hội. Hơn nữa, Huấn quyền cũng phải sống cùng một đức tin của Dân Chúa. “Huấn quyền phải quy chiếu tới cảm thức đức tin của toàn Giáo hội”,[29] vì không phải một mình Huấn quyền chịu trách nhiệm về đức tin.[30] Thế nhưng, cảm thức đức tin cũng phải được huấn quyền nuôi dưỡng, phân định và phán đoán. Huấn quyền phải phán đoán về sự chân chính của cảm thức đức tin giữa nhiều ý kiến hay suy nghĩ của các tín hữu (số 77). Vì thế, các tín hữu hãy tiếp nhận lời dạy dỗ của huấn quyền vì  “như một vấn đề nguyên lý, sự chống cưỡng lại lời dạy dỗ của huấn quyền không tương hợp với cảm thức đức tin chân chính” (số 80). Tài liệu xác quyết mạnh mẽ: “phán đoán về tính chân thực của sensus fidelium một cách tối hậu không thuộc về các tín hữu, cũng không thuộc về thần học, nhưng thuộc về huấn quyền” (số 77). Phân định mà thôi không đủ. Nhất thiết, toàn Giáo hội đi tới tiến trình tiếp nhận như là thiết yếu cho dân tộc lữ hành để bước đi mạnh mẽ trong lịch sử hướng về vương quốc (x. số 78), bởi lẽ điều ấy được tặng phẩm Thánh Thần xác định.

Trong ánh sáng đối thoại, tài liệu cũng cho thấy mối tương giao giữa cảm thức đức tin của Giáo hội và thần học. Như một tín hữu, thần học gia “lệ thuộc vào cảm thức đức tin ấy” (số 81), bởi vì họ phải học hỏi và làm thần học dựa trên đức tin của Dân Thiên Chúa. Thần học gia phải sống trong đức tin Giáo hội trước khi làm thần học. Và họ chỉ là thần học gia chân chính bao lâu họ ở trong đức tin không sai lầm của Giáo hội. Thực vậy, thần học được nuôi dưỡng trong đức tin chân chính của dân Thiên Chúa cũng như phục vụ cho đức tin ấy.

“Thần học gia cần phải tham gia cách hiện thực vào đời sống và phụng vụ của Giáo hội địa phương, để có thể nắm bắt một cách sâu xa, không chỉ bằng đầu óc nhưng còn bằng tấm lòng, bối cảnh thực sự, lịch sử và văn hóa trong đó giáo hội và các tín hữu đang nỗ lực sống đức tin và làm chứng cho Đức Kitô trong thế giới hôm nay” (số 82).

Đoạn văn xác định rõ ràng sự tham gia của thần học gia vào đời sống đức tin của toàn Giáo hội mới làm cho ông bén nhạy trước những chiều sâu thẳm của đức tin mà ông phục vụ.

Đàng khác, thần học, nhờ phương pháp phê bình cũng giúp để cho thấy và minh định nội dung của sensus fidelium. Thần học giúp tinh luyện đạo đức bình dân trước những trào lưu tư tưởng và phong trào mới, vì “sự trung thành với truyền thống tông đồ” (số 83). Nhờ thần học, cảm thức đức tin của Giáo hội tránh được những sai lệch hay lộn xộn (x. số 81), khi cho thấy ý nghĩa chân chính của Kinh thánh, của các định tín, của những nội dung Truyền thống với sự chính xác và rõ ràng hơn (x. số 84).

Trong ánh sáng này, cảm thức đức tin cũng có chỗ đứng trong cuộc đối thoại đại kết. Trước hết, khi các khái niệm sensus fidei, sensus fidelium và consensus fidelium được tìm hiểu kỹ càng, nhiều cộng đoàn giáo hội thấy rõ hơn rằng “một số phần tử của Giáo hội có một trách nhiệm đặc biệt để dạy dỗ và giám sát, với sự cộng tác của các tín hữu” (số 85). Tài liệu nêu ra hai câu hỏi vẫn đang tìm tòi: (1) “Có phải chỉ những giáo lý có được sự đồng thuận chung của tất cả Kitô hữu mới được coi như diễn đạt sensus fidelium và vì thế là chân thật và trói buộc không?” và (2) “Những Kitô hữu ly khai có nên được hiểu là tham gia và đóng góp vào sensus fidelium một cách nào đó không?”

5. Những biểu hiện chân chính của sensus fidei

Khi đã nắm vững những khía cạnh cá nhân và Giáo hội của cảm thức đức tin, chúng ta thấy rõ từng cá nhân tín hữu được thông phần vào sự chắc chắn của đức tin. Việc này đòi hỏi người tín hữu phải trau dồi nơi mình một toàn bộ những dự thế nội tâm gồm những yếu tố Giáo hội, thiêng liêng và đạo đức (số 58). Ta đã rõ đức tin đòi phải được sống. Đức tin được lớn lên bằng việc thực hành đức tin. Đức tin phải được sinh động bằng đức ái. Như thế, sự bén nhạy của đức tin tùy thuộc nhiều vào sự tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội. Chỉ mang danh Kitô hữu thì không đủ. Càng nỗ lực trong đời sống cầu nguyện liên lỷ, hiệp thông vào Thánh Thể, tham dự sống động và tích cực trong phụng vụ, sẵn lòng đón nhận và thực thi những giáo huấn của Chúa; tất cả điều đó bộc lộ sự đồng cảm với Giáo hội, sentire cum ecclesia, tạo thành dự thế trước hết và nền tảng. Thái độ sống này khiến người tín hữu lắng nghe Lời Chúa cách chăm chú và sâu xa, không phải trước tiên như một người học thuật, cho bằng với một tâm hồn thuần thục dẫn tới tạ ơn. Chính vì thế, “tham dự phụng vụ là chìa khóa cho sự tham gia vào Truyền thống sống động của giáo hội cũng như tình liên đới với những người nghèo và thiếu thốn mở rộng tâm hồn để nhận biết sự hiện diện và tiếng nói của Đức Kitô” (số 93). Thái độ này không thể đưa tới một lý trí thụ động. Trái lại, nó luôn dành một chỗ đứng cho lý trí trong tương quan với đức tin. Thật vậy, “đức tin thanh lọc lý trí và mở rộng tầm nhìn của nó, song lý trí thanh lọc đức tin và minh định tính nhất quán của nó” (số 93). Phụng vụ không bao giờ là một sự thờ phượng vô lý, song luôn cho thấy lý trí được biến đổi và được canh tân (x. số 93). Thái độ thứ ba là sự gắn bó với huấn quyền. Thái độ chống đối hay coi thường Huấn quyền nghịch hẳn với cảm thức đức tin, vốn từng biết rõ Đức Giêsu đã cho tiếng nói của các Tông đồ một địa vị dứt khoát trong đời sống đức tin (Lc 10:16). Huấn quyền liên kết với Kinh thánh và Truyền thống tận bên trong: ba thực tại này cùng sống hay cùng chết mà thôi (x. số 97). Hai thái độ nội tâm khác chính là niềm vui thánh thiện của tâm hồn khiêm cung tìm kiếm Thiên Chúa trong xây dựng Giáo hội. Quả thế, sự bén nhạy của sensus fidei liên kết chặt chẽ với sự thánh thiện. Tài liệu mạnh mẽ khẳng định:

“Các thánh là những người mang ánh sáng của sensus fidei…Đối với Giáo hội, Đức Maria và tất cả những người thánh thiện, với cầu nguyện và đam mê của họ, là những chứng nhân nổi bật về sensus fidei trong thời đại của họ và cho mọi thời, trong nơi chốn của họ và cho mọi nơi chốn” (số 100).

Như vậy, các thánh không phải chỉ có giá trị cho một thời đại đặc thù nào đó. Các ngài có chỗ đứng dứt khoát cho mọi thời đại. Bởi lẽ, nơi các thánh, “Thánh Thần làm chuyển động tâm hồn và quy nó về Thiên Chúa, mở con mắt tâm trí và ban niềm an vui cho mọi người trong việc thuận theo và tin theo chân lý” (số 102). Được Thánh Thần chuyển động, người tín hữu với cảm thức đức tin mạnh mẽ, sẽ góp phần xây dựng Giáo hội trong sự hiệp nhất (x. số 104).

Với toàn bộ dự thế nội tâm như thế, cảm thức đức tin  liên hệ với “lòng đạo bình dân” (popular religiosity). Hẳn nhiên, lòng đạo hay tính tôn giáo (religiosity) là điều tự nhiên đối với con người. Ai ai cũng có những tâm tình tôn giáo. Tuy nhiên, ở đây “lòng đạo bình dân” được hiểu theo một ý nghĩa biệt loại khác; nó “qui chiếu đến sự khôn ngoan của Dân Công giáo” (số 108). Lòng đạo đức bình dân này diễn đạt ra trong nhiều cách thức (x. số 108).

“Sự khôn ngoan đó một cách sáng tạo nối kết điều thần linh và nhân loại, Đức Kitô và Đức Maria, tinh thần và thể xác, hiệp thông và thể chế, con người và cộng đoàn, đức tin và quê mẹ, lý trí và tình cảm và nó cũng là một nguyên lý phân định và một bản năng tin mừng qua đó họ tự phát cảm nhận khi Tin mừng được phục vụ trong Giáo hội và khi nội dung đó bị làm rỗng đi và bị ngột ngạt vì những lợi lộc khác” (số 108).

Lòng đạo bình dân theo văn kiện là “sự tỏ lộ một đời sống đối thần được nuôi dưỡng bằng chính hoạt động của Thánh Thần được đổ vào lòng chúng ta” (số 109). Lòng đạo bình dân, xét như nguyên lý hay bản năng và như một sự phong nhiêu của thực hành Kitô hữu, nảy sinh từ cảm thức đức tin và làm cho cảm thức ấy thêm sáng tỏ. Nó bộc lộ trong nhiều hình thức phượng tự như hành hương, rước kiệu, sùng kính… Hơn nữa, tài liệu còn cho thấy lòng đạo đức bình dân này chính là “một sự hội nhập đức tin vào văn hóa” vậy (số 110). Điểm nổi bật mà tài liệu nêu lên ở đây là mối liên kết giữa cảm thức đức tin  và tư cách linh mục cộng đồng thánh thiện của dân Thiên Chúa, một thiên chức có rất nhiều hình thức biểu lộ (x. số 110). Chắc chắn, lòng đạo bình dân vẫn luôn cần được tin mừng hóa một ngày một hơn, thì nó vẫn “biểu lộ nỗi khát khao Thiên Chúa mà chỉ những người đơn sơ và nghèo khó mới có thể biết được” (số 111), như chính Đức Phaolô VI và Đức Phanxicô xác quyết.[31] Như vậy, nguyên tắc này được sáng tỏ lên: tính chất giáo hội của lòng đạo bình dân. Tài liệu viết:

“Mang tính giáo hội có nghĩa là được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, không bị chính trị hóa hay rơi vào bẫy của những ý thức hệ, hiệp thông mạnh mẽ với cả giáo hội địa phương và phổ quát, với các vị mục tử của Giáo hội và với huấn quyền, và mang tính chất truyền giáo mãnh liệt” (số 112).

Như thế, cảm thức đức tin không phải là thứ công luận dân chủ theo nghĩa xã hội và chính trị (x. số 113). Giáo hội không phải là một thực thể chính trị, không phải là một thứ NGO, vì Giáo hội nhận được cấu trúc bên trong và những nguyên lý cai quản của mình từ Đức Kitô (x. số 114). Giáo hội vẫn kính trọng công luận; nhưng cũng rõ, công luận không phải đều là chân lý, và hơn nữa, là chân lý mà Giáo hội phải theo (x. số 115). Giáo hội biết rõ “có những áp lực để làm giảm thiểu vai trò của đức tin trong tranh cãi công cộng hay làm cho giáo lý truyền thống Kitô giáo thỏa hiệp với những quan tâm và ý kiến tân tiến” (số 117). Tài liệu cho thấy nét khác biệt cơ bản giữa ý kiến hay công luận và chân lý đức tin như sau.

“Ý kiến chỉ là một diễn đạt, thường thay đổi và mau qua của dạng thái hay những ước muốn của một nhóm hay văn hóa nào đó, đang khi đó đức tin là âm vang của một Tin mừng có giá trị cho mọi nơi chốn và thời đại” (số 118).

Phân biệt ngắn gọn nhưng rõ ràng. Hơn nữa, trong lịch sử giáo hội, rất nhiều khi sự canh tân đến từ một nhóm thiểu số sống và làm chứng đức tin cách mãnh liệt. Ta phải nhớ rất kỹ:

“Toàn thể Dân Thiên Chúa trong sự hiệp nhất bên trong tuyên xưng và sống đức tin chân thật. Huấn quyền và thần học phải liên lỷ làm việc để canh tân sự trình bày đức tin trong những hoàn cảnh khác nhau, đối diện nếu cần với những ý niệm chủ trị của chân lý Kitô giáo với chân lý thực sự của Tin mừng” (số 119).

Ta ghi nhớ rằng kinh nghiệm của Giáo hội cho thấy rằng đôi khi chân lý đức tin được bảo tồn không phải do những nỗ lực của các thần học gia hay lời dạy của đa số các giám mục, nhưng trong tâm hồn của các tín hữu (x. số 119).

Như vậy, cần thiết biết bao để tham khảo được những trực giác đức tin của các tín hữu. Trong lịch sử, chẳng hạn như trong việc chuẩn bị công đồng Vatican II, Giáo hội đề ra nhiều hình thức tham khảo vì “các tín hữu có quyền lợi, và đôi khi có bổn phận, theo hiểu biết, uy tín và địa vị của mình, để tỏ cho các vị mục tử quan điểm của mình về những gì liên quan đến thiện ích của Giáo hội” (số 120). Quy luật “điều tác động đến mọi người, nên được mọi người thảo luận và phê chuẩn” (số 112) cần tìm được nhiều phương thức thực hành và sẽ đem lại nhiều thiện ích cho mọi người. Tuy nhiên, điều Giáo hội đang phải đối diện lại ở một chỗ khác. Do bởi đức tin yếu kém có khi đa số tín hữu lại tỏ ra dửng dưng hay ít chấp nhận những quyết định của huấn quyền về giáo lý và luân lý. Dĩ nhiên, ta không chối bỏ có một số trường hợp tỏ ra thiếu tham khảo đầy đủ toàn giáo hội (x. 123). Chắc chắn còn có thể có nhiều hình thức tham khảo được phát sinh. Nhưng điều quan trọng hơn chính là các mục tử và tín hữu cần kính trọng những đặc sủng của nhau và lắng nghe những kinh nghiệm và quan tâm của nhau. “Khiêm tốn lắng nghe ở mọi bình diện và tham khảo thích đáng những người liên hệ là những khía cạnh toàn vẹn của một giáo hội sống động và linh hoạt” (số 126).

III. KẾT LUẬN

Tài liệu mang tính học thuật này mời gọi các Kitô hữu tìm hiểu để đức tin cả dưới khía cạnh cá nhân lẫn giáo hội được lớn lên. Nó sẽ giúp chúng ta không bị tròng trành theo những trào lưu thế tục. Nó sẽ giúp chúng ta trân quý hơn đức tin mà  Thiên Chúa ban cho chúng ta. Tài liệu mời gọi chúng ta đừng tạo ra một thứ nhị nguyên sai lạc khi coi rằng trong Giáo hội có hai thứ bất khả ngộ, một của huấn quyền, một của dân Chúa. Chỉ có một sự bất khả ngộ của đức tin được Thánh Thần đảm bảo, và huấn quyền có sứ mệnh phục vụ đức tin không thể sai lầm đó. Không chút hồ nghi, đức tin không bao giờ sai lầm; người tín hữu được xức dầu Thánh Thần thông phần vào sự không sai lầm đó bằng một cảm thức đức tin. Cả cộng đoàn dân Chúa cũng như từng cá nhân tín hữu, với sự chân thành sống và thực hành đức tin, đều có khả năng phân định những gì hợp hay trái nghịch với Tin mừng. Hồng ân này khiến cho Giáo hội bước đi vững vàng trong sứ vụ tân phúc âm hóa ngày nay. Cảm thức đức tin giữ người tín hữu luôn trung thành với đức tin tông truyền, song cũng thúc đẩy họ phát triển đức tin ấy để mang lại những giải đáp mới của Tin mừng cho những vấn đề của Dân Chúa đang lữ hành.[32] Thật vậy, cảm thức đức tin của tín hữu sẽ nên tinh ròng hơn khi họ tích cực tham gia vào đời sống Giáo hội. Rõ ràng, cảm thức đức tin là một tặng ân song cũng là một trách vụ để Giáo hội phát triển kho tàng đức tin vì phần ích của nhân loại đang hướng về Nước Thiên Chúa. Đức tin không thể sai lầm của các tín hữu làm chứng về điều thế giới cần thiết nhất để có thể tiến bước vững vàng vào phía trước của lịch sử: ĐỨC GIÊSU KITÔ (x. Cv 3:6-9).

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 84 (Tháng 9 & 10 năm 2014)

[1] X. Serge-Thomas Bonino, O.P. “The Sense of Faith”, Observatore Romano, english edition, ngày 4 tháng Bảy, 2014, p.1.

[2] X. Michael Sean Winters, The Sensus Fidei, ngày 30 tháng Sáu, 2014.

[3] Chúng ta thường đánh đồng thành một cảm thức đức tin. Nhưng, tài liệu này phân định rõ hơn khi nói tới chiều kích cá nhân, với hạn từ “sensus fidei fidelis” và chiều kích cộng đoàn, giáo hội với hạn từ sensus fidei fidelium”, dĩ nhiên tài liệu vẫn luôn cho thấy mối liên hệ hữu cơ giữa chúng.

[4] x. Gioan Phaolô II, Dominum et vivificantem:  On the Holy Spirit in the Life of the Church

and the World; Redemptoris Missio.

[5] x. T. Augustinô, De Pr„d Sanct. 14, 27: PL 44, 980.

[6] Đức Phanxicô, Lumen fidei.

[7] x. số 9.

[8] x. Serge-Thomas Bonino, O.P, Như trên.

[9] x. Số 50, 51, 52, 54, 62; x. Sara Butler, MSBT, “The Instinct that guides the Church”, Obser. Rom. 4 July 2014, p.15.

[10] X. Paul McPartlan, thành viên của ITC, “The Sensus fidei: a vital resource for the Church”.

[11] Sara Butler, MSBT, Như trên.

[12] X. Số 33, 40.

[13] X. Sara Butler, Như trên.

[14] X. Paul McParlant, như trên.

[15] x. Số 44, 46.

[16] x. Số 46.

[17] x. Số 49.

[18] x. Số 46.

[19] X. Số 3.

[20] Số 53.

[21] Số 54.

[22] Số 56.

[23] x. Số 2; Serge-Thomas Bonino, O.P, Như trên.

[24] x. Số 63. Cũng x. Michael Sean Winters, trong “The Sensus Fidei” viết: [The sensus fidei fidelis enables individual believers: 1) to discern whether or not a particular teaching or practice that they actually encounter in the Church is coherent with the true faith by which they live in the communion of the Church (see below, §§61-63); 2) to distinguish in what is preached between the essential and the secondary (§64); and 3) to determine and put into practice the witness to Jesus Christ that they should give in the particular historical and cultural context in which they live (§65)] Ngày 30 tháng Sáu, 2014.

[25] Serge-Thomas Bonino, O.P, Như trên.

[26] Số 3.

[27] x. Số 43, 66.

[28] x. Số 74; cũng x. LG chương IV.

[29] Số 74.

[30] x. Số 74.

[31] x. Số 111.

[32] x. Số 127-128.

Read More
17Tháng Tám
2021

Tương thân tương ái

17/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

TƯƠNG THÂN TƯƠNG ÁI

  1. Nguyễn Ngọc Thế SJ

Câu hỏi:

Tôi thấy nhiều người giàu sẵn sàng chi tiêu thoải mái, tiếc là tại sao họ không bớt chút tiền dư bạc thừa để giúp đỡ những người nghèo?

Trả lời:

Giàu có là điều đa số con người khao khát và theo đuổi. Đơn giản vì khi giàu có thì được tôn trọng, được sống sung sướng, muốn gì được đó. Thói đời vẫn nói: “Có tiền mua tiên cũng được”. Nhìn vào trong xã hội, chúng ta nhận ra khuynh hướng sống chạy theo đồng tiền và giàu sang rất mạnh mẽ, sôi nổi và nóng bỏng, đến nỗi không có bất cứ nơi nào không “dành chỗ” trân trọng, hay nói khác đi “chỗ VIP” cho đồng tiền và giàu sang. Thực tế, có tiền bạc và là người giàu sang đâu phải là tội lỗi gì.

Nhưng điều làm cho mọi người phải suy đi gẫm lại là: Tôi trở nên giàu có bằng cách thức nào? Khi là người giàu có tôi sống thế nào, để sự giàu có và đồng tiền không là ông chủ và tôi là nô lệ, nhưng đồng tiền và sự giàu sang là phương tiện tốt để đưa lại ý nghĩa và giá trị làm người cao quý cho tôi? Phải chăng của cải và tiền bạc tôi kiếm được dù bất nhân hay với nỗ lực của bản thân là của tôi 100%, quyền tư hữu của tôi chẳng dính dáng gì đến người khác, chẳng liên hệ gì với xã hội bên ngoài?

  1. Hỡi thế gian, tiền là gì?

Trở nên giàu có bằng cách thức nào là một câu hỏi liên hệ đến giá trị của người giàu có. Kẻ cướp nhà băng để trở nên giàu có, người ăn hối lộ để trở nên giàu sụ, kẻ giàu có qua dối trá và giành giật tất cả mọi phần thừa kế cho bản thân mà chẳng màng đến tình máu mủ và còn sẵn sàng giở trò “lưu manh và bạo lực”… Thử hỏi trở nên giàu sang, trở nên đại gia theo những kiểu như vậy có làm cho đời người có giá trị và ý nghĩa đích thật không? Lương tâm dù “có răng hay mất răng” rồi cũng sẽ lên tiếng và trả lời cho những phận người giàu sang theo kiểu bất nhân như thế.

Ngược lại, có những cách trở nên giàu có tích cực, đó là qua cố gắng nỗ lực và hy sinh của bản thân trong công việc hằng ngày, qua tài năng và học vấn được trau dồi bao nhiêu năm với hương vị của “đổ mồ hôi sôi nước mắt”, hay qua sự thừa kế hợp lý và hợp tình với cơ hội may mắn của phận người. Đó là những cách thức giàu sang theo kiểu “đồng tiền liền khúc ruột”, nghĩa là làm ra tiền là một quá trình, do vậy khi xài tiền thì người ta biết trân trọng, và luôn ý thức phải sử dụng sao cho hợp lý, không hoang phí và đưa lại ý nghĩa và giá trị của cuộc sống.

Có tiền rồi, giàu sang rồi, là đại gia rồi, giờ đây đứng trước một thử thách không hề dễ dàng: Làm sao để tôi luôn ý thức không trở nên “kẻ nô lệ” cho đồng tiền và giàu sang. Ngược lại, đồng tiền và giàu có phải luôn đóng đúng vai trò của nó; nghĩa là, nó phải là phương tiện để tôi có thể tìm thấy được ý nghĩa và giá trị đích thực cho cuộc sống. Là con người ai cũng biết tiền bạc luôn là con dao hai lưỡi. Một đàng, tiền bạc giúp con người sống dồi dào và phong phú; đàng khác tiền bạc có thể điều khiển con người và gây ra biết bao nhiêu đổ vỡ và khổ đau.

“Tiền bạc là tên đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu”. Thật vậy, tiền bạc có sự hấp dẫn mạnh mẽ, thế lực tiềm ẩn nhưng rất nguy hiểm, nếu người ta trở nên nô lệ cho đồng tiền, nếu người ta không biết dùng đồng tiền cách tốt đẹp nhất. Chúa Giê-su đã khuyến cáo và kêu gọi thật mạnh mẽ: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16,13). Chúa không cấm chúng ta làm ra tiền. Chúa cũng không cấm chúng ta để dành tiền của trong ngân hàng, mà Chúa nhắc nhớ Ki-tô hữu cần ý thức không được trở nên nô lệ của tiền bạc. Lời của Chúa nói như là một chân lý bất di bất dịch. Chúa cũng mời gọi Ki-tô hữu với sự tự do của mình có một quyết định đúng đắn và luôn ý thức trong phân định, để khôn ngoan chọn lựa và làm tôi của Thiên Chúa, nghĩa là thuộc trọn vẹn về Thiên Chúa.

Khi đã chọn Chúa là chủ của mình, người Ki-tô hữu luôn ý thức và cẩn trọng trong tâm hồn của mình, để tiền bạc không chiếm chỗ thượng phong, chỗ ưu tiên trong trái tim của mình. Khi người Ki-tô hữu đã có Chúa trong trái tim mình, thì luôn ý thức tỉnh táo trước cám dỗ của tiền bạc và sự ảo tưởng hão huyền của tiền bạc hứa hẹn sẽ đưa lại:

“Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” (Lc 12,15).

  1. Ông nhà giàu và anh chàng nghèo

Lòng tham thì vô đáy. Chúa Giê-su biết rõ tâm trạng và lòng người mềm yếu dễ đi theo khuynh hướng “tham lam”, “gom góp” và “tích trữ”. Tham lam là một trong bảy mối tội đầu. Có nhiều kiểu tham và trong đó nổi bật là kiểu tham lam tiền bạc vật chất. Đi đôi với tham lam là keo kiệt, hà tiện và bủn xỉn. Đó là cách sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân và không bao giờ muốn chia sẻ với người khác. Đó là cách sống của người phú hộ. Người giàu sang sẵn sàng chi tiêu thoải mái cho bản thân, nhưng không bao giờ bớt chút tiền dư bạc thừa để giúp đỡ những người nghèo.

Người giàu có tham lam với kho tàng kếch sù, luôn muốn sống trong nhung lụa giàu sang dư giả, lại còn ích kỷ sống trong vỏ bọc an toàn của “kho lẫm” đã được tích trữ. Đó là hình ảnh của một người phú hộ giàu có (đại gia) mà Luca diễn tả:

“Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12,18-19).

Theo lẽ thường tình, thì đại gia này làm rất ok và mọi người thấy chắc là sẽ khen ông ta khôn ngoan, biết hưởng thụ ở hiện tại và biết lo xa cho tương lai. Nhưng truyện đâu có kết thúc ở “cái đầu khôn ngoan” của con người giàu có. Dụ ngôn kể tiếp với lời của chính Chúa nói với “đại gia” tự cho mình là khôn ngoan:

“Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế” (Lc 12,20-21).

Trong dụ ngôn, chúng ta thấy tên của đại gia, của người phú hộ không được nhắc đến. Hay ông ta không có tên? Cha Pierre Cardon de Lichtbuer nói rằng: Người giàu không có tên! Thực chất dụ ngôn nói về một người đã mất linh hồn và tên của mình. Trong Tân Ước những người giàu có xấu xa không có tên. Đó hầu như chỉ là biểu tượng; người giàu có gắn bó với của cải vật chất của mình đến nỗi chính mình trở thành một đồ vật; người ấy đã mất nhân cách của mình. Ôi buồn thay, đại gia không tên! Dù đại gia không có tên, nhưng Thiên Chúa vẫn tìm đến được nơi ông ta sống và “đòi lại mạng” của ông ta, ngay trong đêm “đại gia” tưởng rằng an toàn thư thái hưởng thụ cuộc đời.

Rồi khi đại gia tham lam, ích kỷ và bất nhân chết đi, phận người giàu sang sẽ ra sao? Đọc lại dụ ngôn ông nhà giàu (x. Lc 16,19-31) mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình, nhưng lại ích kỷ không màng tới người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông ta, và mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta, chúng ta nhận ra kết quả của người giàu nhận được sau cái chết. Âm phủ với bao cực hình là chỗ ở của người nhà giàu keo kiệt ích kỷ chỉ sống cho mình, trong khi đó anh La-da-rô nghèo khó đang được nằm trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham. Hai bên lại có một vực thẳm thật sâu. Vực thẳm “ngăn chặn” mọi tương quan giữa người bên này với người bên kia. Sự thông tri, thông thương và liên lạc bị ngăn trở hoàn toàn.

Giữa hai bờ vực không có chiếc cầu được xây và bắc qua. Vực thẳm quá lớn, đến nỗi không ai có thể tự mình từ bên này để qua bên kia được. Vực thẳm lớn này được quy định rõ rệt và không ai có thể thay đổi. Như thế, không còn sự thông thương giữa hai bên và anh La-da-rô không thể giúp đỡ người giàu có kia được. Điều này là một sự nghiệt ngã đối với anh nhà giàu. Không biết, đến ngày cánh chung, anh nhà giàu sẽ như thế nào?

  1. Dùng tiền mua lấy Nước Trời

Thánh Phaolô chia sẻ: “Cái gì chúng ta đem vào thế giới này? Chẳng có gì. Cái gì chúng ta đem ra khỏi thế giới này? Cũng chẳng có gì!” (1Tm 6,7). Như thế, khoảnh khắc được vào đời và khoảnh khắc phải lìa đời “thắm thiết ôm nhau” trong vòng tay của chữ KHÔNG. Chẳng có kho tàng nào của tiền bạc và vật chất có thể “đưa tang” và “đồng hành” với người có của, với đại gia của cuộc đời bước vào cõi chết cả. Vì thế, thật quan trọng và khẩn thiết, để cập nhật hoá, để update lại giá trị cuộc sống và kho tàng đời người, để không mắc sai lầm của người phú hộ và người giàu sang cứ yến tiệc linh đình đến nỗi vô cảm chẳng màng tới người nghèo.

“Không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”. Đây chính là lời cảnh báo rõ rệt của Chúa Giê-su. Sự bảo đảm cho cuộc sống ai cũng muốn. Nhưng đâu là chỗ để chúng ta có thể dựa vào, để chúng ta có thể tìm sự bảo đảm và an toàn? Hơn nữa, giá trị của con người không nằm ở giá trị của những gì người ấy sở hữu, nhưng ở chỗ người ấy là ai và sống như thế nào. Con người không được đánh giá bằng những gì người ấy có trong tài khoản ngân hàng, nhưng bằng giá trị của trái tim, cuộc sống, các hành vi, các quan hệ với các người thân và với những người đồng loại của mình. Với người Ki-tô hữu, giá trị thật của con người, chính là biết mình được tạo dựng, biết mình là con cái của Thiên Chúa và ý thức tập sống đúng theo tinh thần Chúa dạy.

Tinh thần Chúa dạy dành cho người giàu thì rõ lắm. Dụ ngôn về người giàu có được nhắc ở trên đã đưa ra tinh thần Chúa dạy rồi. Câu truyện người thanh niên giàu có ao ước có sự sống đời đời làm gia nghiệp đến gặp Chúa Giê-su đưa lại một sứ điệp thật rõ ràng. Anh vừa giàu, vừa đạo đức, đến nỗi Chúa thấy và đem lòng yêu mến anh. Nhưng giàu và đạo đức theo chuẩn mực luân lý của người Ít-ra-en thời đó chưa đủ trong đôi mắt của Chúa. Điều quan trọng cuối cùng người thanh niên giàu có kia cần làm là:

“Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” (Mc 10,21).

Chúa đã đặt người thanh niên giàu có trước một thử thách lớn: “Hãy đi bán” của cải vật chất sở hữu. “Hãy cho người nghèo” khổ những gì mình có. Rồi “hãy theo Chúa”. Ba chữ “hãy” giải thoát của Chúa Giê-su dành cho người giàu sang phú quý, dành cho những đại gia của cuộc đời. Nhưng người thanh niên giàu có đã quyết định ra sao?

Ai trong chúng ta cũng biết cái kết của câu truyện là chàng thanh niên giàu có kia đã từ chối ba chữ “hãy” của Chúa, anh ta đã bỏ Chúa Giê-su và về lại với khối tài sản giàu sụ của mình. Không mở lòng thực sự thì hầu bao cũng đóng chặt. Dù đạo đức và dù đã lọt vào đôi mắt tình yêu của Chúa, nhưng người thanh niên kia vẫn không thể vượt qua được thân phận nô lệ của mình: một phận nô lệ cho tiền bạc và vật chất. Điểm tựa an toàn của anh chính là kho tàng kếch xù của anh.

Người thanh niên ra về và anh sa sầm nét mặt. Niềm vui đã tan biến. Khát vọng chân thật mà người thanh niên bộc lộ lúc ban đầu gặp Chúa, bây giờ tàn lụi, tắt ngấm. Nó không còn có thể làm nảy sinh niềm vui đến từ lòng khát vọng sống động. Trình thuật này được viết ra không phải để chúng ta buồn lòng về trường hợp người thanh niên ấy, nhưng để Lời Chúa đánh động tâm hồn ta. Lời Chúa cũng muốn vươn tới khát vọng chân thật của ta, cũng muốn khơi dậy đức tin chân thật nơi ta, cũng muốn đưa ta vào con đường khôn ngoan chân thật, đó là Khôn Ngoan của Thiên Chúa.

Khôn ngoan của Thiên Chúa dành cho người giàu có là biết dùng của cải vật chất để cho đi. Ai càng giàu mà càng cố gắng “xuất hành” ra khỏi cái tôi ích kỷ, ra khỏi đống tiền bạc lớn lao, để rảo bước đến với người nghèo, để chia sẻ lòng thương xót với họ, thì người đó đang trên đường trở thành người khôn ngoan.

Hơn nữa, tất cả những gì người giàu có làm cho người nghèo khó là làm cho chính Chúa nữa, vì người nghèo là hiện thân của Chúa đó mà (x.Mt 25,40). Khi sống được như thế, thì tới ngày Cánh Chung, sự sống đời đời chắc chắn dành cho “con chiên giàu có đạo đức”, đã ý thức sống chia sẻ với những anh chị em nghèo và bất hạnh. Nói khác đi, nếu chàng thanh niên này sống đúng như lời Chúa dạy, thì anh đã đạt được sự sống đời đời. Vâng, vật đặt cược chính là sự sống đời đời. Và cái khó ở đây là phải ưu tiên cho cái vô hình trước cái hữu hình ta đang có. Hơn nữa, sự khôn ngoan của Thiên Chúa dành cho người giàu còn nằm ở tại cửa Thiên Đàng, nơi Chúa sẽ hỏi phận người giàu có về chính tài sản mà Chúa đã trao cho họ để quản lý.

Charles Peguy từng nói rằng khi tiến đến cổng thiên đàng, chúng ta đều sẽ bị hỏi: “Nhưng những người khác đâu? – Mais où sont les autres?” Với Rolheiser, câu hỏi này dành cho cả tính nhân văn và đức tin của chúng ta. Nhưng những người khác đâu? Thật là ảo tưởng và sai lầm khi nghĩ rằng mọi thứ người giàu sang sở hữu do lao công thì phải là của mình. Nghĩ như thế là phải xem lại đời mình. Thân sinh của ông Bill Gates, cách đây hơn 15 năm, đã viết trên tờ Sojourners thách thức không chỉ người con nổi tiếng của mình, mà cả chúng ta nữa, với những lời này:

“Xã hội có quyền rất lớn trên tài sản của người giàu. Điều này không chỉ bắt rễ trong các truyền thống tôn giáo, mà còn trong việc thành thật tính đến sự đầu tư trọng yếu của xã hội để tạo nền tảng màu mỡ cho sự sinh sản của cải. Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đều xác nhận quyền sở hữu riêng và tài sản riêng, nhưng đặt ra các giới hạn luân lý về quyền sở hữu tuyệt đối. Mỗi truyền thống đều khẳng định chúng ta không phải là cá thể đơn độc mà là những thành phần trong cộng đồng, một cộng đồng có quyền trên chúng ta. Khái niệm ‘cái này hoàn toàn là của tôi’ là một sự vi phạm những lời dạy và truyền thống này.” (Sojourners, tháng 1 đến tháng 2, 2003).

Như thế, phải công nhận rằng điều mỗi người tích lũy được là kết quả không chỉ nhờ lao công của bản thân, mà còn nhờ cơ sở hạ tầng của toàn xã hội mà người đó sống. Do đó, những gì người ta tích lũy được không hoàn toàn là của họ!

Trong kinh Lạy Cha, chúng ta đọc: “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Chúng ta nhận ra đây là một lời kinh ở số nhiều. Điều này có nghĩa gì vậy? Theo Hamman, điều đó muốn dạy ta phải cầu nguyện chung với những người thiếu thốn lương thực hằng ngày, cũng như phải cầu nguyện cho những người ấy. Đừng quên rằng phân nửa thế giới ở trong tình trạng kém dinh dưỡng.

Lời cầu xin này vừa là lời cầu cứu Thiên Chúa, vừa là tiếng gọi những ai đang nắm giữ độc quyền của cải trần gian, vì Thiên Chúa ban cho của cải ấy là ban cho hết mọi người. Đó là lời nhắc nhở những người có của, những nước giàu rằng họ chỉ là người quản lý của Thiên Chúa, họ phải chịu trách nhiệm phân phối của cải sao cho công bình…Khi cầu xin lương thực như thế, người Ki-tô hữu càng đi sâu vào giữa lòng nhân loại hôm nay. Vì thế, với người Ki-tô hữu cần giới thiệu cho mọi người thấy khuôn mặt của Đức Ki-tô, Người là Đấng có đủ mọi sự giàu sang mà lại chấp nhận trở nên nghèo nàn.

Đến đây, có thể người tín hữu giàu sang thấy được chút tinh thần cần sống thế nào, để đời mình có được ý nghĩa. Tuy vậy, có thể họ sẽ lên tiếng:

“Là một doanh nhân có niềm tin vào Chúa, tôi cũng đến với Chúa thường xuyên trong Thánh Lễ Chúa Nhật, vẫn đi hành hương Đức Mẹ Tà Pao mỗi tháng, hành hương Đức Mẹ Bình Triệu mỗi tuần và mỗi năm ít nhất hai lần đến cầu nguyện với cha Trương Bửu Diệp nữa. Rồi cha xứ, Đức Giám Mục hay nhà dòng nào kêu gọi, tôi đều sẵn sàng đóng góp. Nhìn kìa bạn, khi công phúc treo gần đầy một bức tường trong phòng khách. Như vậy chưa đủ sao?”

Ôi đẹp biết bao nhiêu và tốt lành biết chừng nào! Mong sao các tín hữu là đại gia tiếp tục như vậy nhé! Nhưng không chỉ vậy. Chúa còn đòi hỏi hơn nhiều: “Ta muốn lòng nhân từ, chứ không muốn hy lễ” (Mt 12,8).

Lời của Chúa làm chúng ta nhớ lại tinh thần của Đức Khổng Tử: “Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử? Người quân tử dù trong một bữa ăn cũng không làm trái điều nhân, dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân” (Luận Ngữ, IV, 5). Như thế, trong năm đức tính (ngũ thường) người quân tử cần có, theo Khổng Tử, thì lòng nhân đứng hàng đầu.

Trong dòng chảy của cuộc đời, trong hàng hàng lối lối của những chiếc xe sang đưa của lễ đến dâng cho Thiên Chúa, cho Mẹ Maria, con chiên giàu sang của Chúa cần thành tâm và ý thức tự chất vấn mình dưới ánh sáng của Lời Chúa: “Tôi đi hành hương để làm gì? Có phải để tôi xin được bình an, mạnh khoẻ, làm ăn được khấm khá và xuôi chảy, để hầu bao của tôi mỗi ngày thêm ‘phồng to’? Trong chuyến hành hương này tôi sẽ kể cho Chúa nghe về những công phúc tôi đã làm cho các nhà thờ, cho các nhà dòng và chắc là Chúa sẽ phải trả công cho tôi? Tinh thần thờ lạy Chúa có trong cuộc hành hương của tôi không?

Giới răn đầu tiên trong 10 giới răn: ‘Thứ nhất thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự’ tôi thuộc nằm lòng, nhưng giới răn đó có đang cùng hoà nhịp cách sống động với trái tim và đôi tay của tôi không? Nhìn đến của lễ tôi chuẩn bị đang ở trong xe sang của tôi, tôi có thấy lòng nhân của tôi ở trong của lễ không? Thiên Chúa cần đến của lễ giàu sang này hay Người cần gì ở nơi tôi, một người giàu sang có nhiều của cải? Khi tôi dâng của lễ, Thiên Chúa sẽ hỏi tôi điều gì? Khi tôi đóng góp ‘tiền tỉ’ cho nhà thờ và nhà dòng, tôi đang đi tìm gì? Tìm một bản công phúc treo tường cho oai? Tìm một danh tiếng thơm làm cho ‘giá trị’ đại gia được thêm ‘lộng lẫy’? Trước những công phúc tôi làm và trước của lễ sang trọng tôi dâng Chúa, Ngài sẽ cám ơn tôi hay Ngài sẽ đặt lại với tôi những câu hỏi về chính đời sống của tôi có hương vị của tình yêu, của lòng thương xót hay không?”

Thánh Gioan Thánh Giá nói rằng: “Vào xế chiều cuộc sống này, bạn được phán xét về tình yêu”. Vì thế, thật đẹp khi của lễ dâng Chúa và Mẹ Maria của người giàu sang, lúc còn sống ở đời này, mang hương vị của Lòng Thương Xót, của chữ nhân từ là nét đẹp của chính Thiên Chúa và của con cái Người: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36).

Kết

Cám ơn bạn đã đặt câu hỏi thú vị trên. Đó là cơ hội, là động lực thúc đẩy người Ki-tô hữu giàu có của cải vật chất cần ý thức hơn để sống trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Đó là sống thanh thoát với tiền bạc vật chất, sống không làm “nô lệ” cho của cải và giàu sang. Sống ý thức trong việc quản lý của cải vật chất mình sở hữu, bằng cách biết dùng của cải và giàu sang không chỉ cho sự sung túc của bản thân, mà còn ý thức hướng về người nghèo khó. Đó là con đường chắc chắn dẫn tới Nước Trời. Ở cửa Nước Trời, mỗi người Ki-tô hữu giàu sang sẽ được Chúa hỏi: “Nhưng những người khác đâu?”

Đọc thêm:

Bài 15: Áo giáp chống nạn

Bài 14: Đức tin kiến tạo hòa bình và công bằng xã hội

Bài 13: Vấn đề truyền giáo

Bài 12: Thờ kính ông bà tổ tiên

Bài 11: Truyền giáo cho người trẻ ngoại đạo

Bài 10: Bền đỗ trong ơn gọi gia đình

Bài 09: Vấn đề “theo đạo rồi mới cho cưới”

Bài 08: Gieo suy nghĩ tốt

Bài 07: Nhanh từ từ thôi

Bài 06: Hiện tượng bóng ma

Bài 05: Vượt qua khủng hoảng!

Bài 04: Vấn đề rước Mình Máu Thánh Chúa

Bài 03: Đừng cám dỗ nhau nhé!

Bài 02: Sao lại kỳ thị người tu xuất?

Bài 01: Nhận định ơn gọi cho cuộc đời

Read More
17Tháng Tám
2021

Con người là chủ thể, nền tảng và mục tiêu

17/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Sr. M.Jos. Trần Thị Thanh Lương O.P.

Mục lục

I. NGUYÊN TẮC NHÂN VỊ

II. NỀN TẢNG THẦN HỌC -THÁNH KINH

       1. Con người là hình ảnh Thiên Chúa

       2. Con người: người trông giữ tạo vật và cộng tác trong công việc sáng tạo

       3. Tội lỗi và ơn cứu độ phổ quát

       4. Hình ảnh Đức Kitô (Imago Christi)

III. NỀN TẢNG NHÂN HỌC

       1. Tính thống nhất

       2. Hướng mở đến siêu việt

       3. Độc nhất

       4. Tự do của con người

       5. Bình Đẳng

       6. Xã hội tính

       7. Nhân Quyền

KẾT LUẬN

WHĐ (16.8.2021) – Nền tảng của Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo (GHXHCG) không phải là xã hội, không phải là cộng đồng nhân loại, nhưng là nhân vị. Nó là nền tảng, không phải một trong những nền tảng, không phải một trong những lãnh vực trọng yếu, nhưng nhân vị là nền tảng duy nhất, riêng biệt của GHXHCG. Con người luôn là chủ thể, nền tảng và mục tiêu của xã hội loài người. Trong lịch sử hình thành GHXHCG, Giáo hội cho thấy các nguyên lý và nội dung của giáo huấn về xã hội của Giáo hội đều dựa trên nguyên lý nền tảng là nhân vị.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, trong thông điệp đầu tiên của triều đại Giáo Hoàng: Đấng Cứu Chuộc Con Người (Redemptor Hominis) đã xác định con đường đầu tiên và nền tảng của Giáo hội, cả trong những vấn đề xã hội, là chính nhân vị cụ thể (xem số 14). Những huấn dụ mang tính hiện thực chủ nghĩa nhân học (anthropological realism) của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI trong tông thư mới nhất về vấn đề xã hội của ngài: Bác Ái trong Chân Lý (Caritas in Veritate) cũng đưa con người, là hữu thể duy nhất, toàn bộ và không thể phân chia, như là yếu tố nền tảng của việc phát triển toàn bộ con người cũng như xã hội. Phẩm giá của nhân vị không chỉ bao gồm trong hữu thể của mình (nền tảng nhân học), nhưng trước hết, như là một tạo vật, nó mang ý nghĩa trong chính Đấng Tạo Thành (nền tảng thần học). Trong quan điểm Kitô giáo, cũng cần phải nhấn mạnh đến nền tảng Kitô học trong mạc khải về con người được thể hiện trong chính Đức Kitô, con người hoàn hảo[1], qua mầu nhiệm nhập thể.

Vì vậy, GHXHCG, như đã phát họa trong cuốn Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Công Giáo (TLHTXHCG) (cách đặc biệt ở Chương Ba), trình bày cho chúng ta một phân tích rõ ràng về nhân vị, không từ chối nói về những khiếm khuyết cũng như nhân đức, không đưa ra một quan niệm trừu tượng, một kiểu mẫu làm cho chúng ta không nhận ra con người cụ thể, không làm cho chúng ta đón nhận con người trong tính cách cá nhân và duy nhất của nó, nhưng nhân vị được xác định trong con người cụ thể.

I. NGUYÊN TẮC NHÂN VỊ

Cuốn TLHTXHCG trước tiên muốn trình bày nguyên tắc nền tảng thường bị quên lãng hay giải thích sai lệch: “Toàn bộ đời sống xã hội đều là sự biểu hiện của người giữ vai trò chính không thể nhầm lẫn được , đó chính là con người”[2]. Tất cả mọi cộng đồng của con người, dù là gia đình, tổ chức tôn giáo, trường học, chính phủ, xí nghiệp lớn hay nhỏ, những công ty đa quốc gia hay chính toàn bộ hệ thống kinh tế, không phải để tự duy trì sự tồn tại cho chính mình, nhưng là để phục vụ nhu cầu và sự phát triển đích thực của con người. Nói cách khác, nguyên tắc nhân vị của một cộng đồng chính trị hay văn hoá có nghĩa là chấp nhận rằng nhân vị (nam hay nữ) với phẩm giá siêu việt của họ là “tác giả, trung tâm và mục đích của đời sống kinh tế-xã hội”[3].

Đức Giáo Hoàng Gioan 23, trong tông thư Hoà bình trên Trái đất, xác định: “Trong bất cứ hiệp hội nào của con người theo quy chế và sinh hiệu quả đều phải chấp nhận nguyên tắc nền tảng là mỗi con người là một nhân vị, tức là theo bản tính họ được phú bẩm sự hiểu biết và ý chí tự do. Vì thế họ là chủ thể của những quyền lợi và nghĩa vụ xuất phát ngay từ chính bản tính của mình; những quyền lợi và nghĩa vụ phổ quát, bất khả xâm phạm, và không thể hủy bỏ”[4]. Nhưng điều này không có nghĩa là một thứ cá nhân chủ nghĩa cứng nhắc, vì tự bản tính mỗi con người mang tính xã hội, cũng không chối từ công ích. Nhưng nó nhấn mạnh rằng những quyền lợi của cá nhân không thể bị hi sinh cho quyền lợi tập thể. Trong lãnh vực kinh tế chẳng hạn, những quyết định về kinh tế không thể có thái độ tùy tiện đối với nhu cầu của những con người đã tạo nên chúng.

Cũng thế, xác quyết rằng “con người trước quốc gia” có nghĩa là chấp nhận rằng trọng tâm của thể chế là nhân vị với những quyền lợi cũng như bổn phận của nó, bắt đầu bằng quyền được sống, là nền tảng của tất cả các quyền tự do căn bản: tự do tư duy và tự do lương tâm, tự do giáo dục và lập hội, bao gồm quyền được có công ăn việc làm cũng như tất cả các quyền lợi dân sự khác.

Từ nguyên tắc đầu tiên này phát xuất ra tiêu chuẩn có giá trị phổ quát để phán xử. Trước hết, nhà nước cũng như xã hội phải theo đuổi công ích, luôn bị phụ thuộc vào sự thể hiện trọn vẹn của những cá vị. Vì thế, xã hội cũng như nhà nước có thể quy định những hoạt động của cá vị nhằm đạt đến những mục tiêu chung, nhưng không bao giờ có thể đặt định về chính bản vị con người, cũng như về cuộc sống con người, đây là nền tảng của tất các quyền lợi khác. Những giới hạn về luân lý hay pháp lý do việc tôn trọng đó mà ra không gây cản trở hay làm chậm tiến độ của quyền lực công, của phát triển, hay tiến bộ của những nghiên cứu khoa học, nhưng đơn giản là bảo đảm cho văn minh. Nhân vị có được trong chính mình giá trị của mục tiêu và không bao giờ, và trong bất cứ trường hợp nào, có thể bị xem như vật thí nghiệm.

Tuy nhiên, ưu tiên tuyệt đối của nhân vị không những không đặt cá thể đối lập với xã hội, nhưng nhìn thấy trong cá thể nền tảng của chính xã hội. Xã hội đến sau nhân vi và dựa trên nền tảng nhân vị.

II. NỀN TẢNG THẦN HỌC -THÁNH KINH

Bắt nguồn từ Thánh Kinh, Giáo hội chân nhận ra con người có được một phẩm giá trổi vượt , không thể so sánh và không gì có thể thay thế được, là một tạo vật theo hình ảnh của Thiên Chúa. Việc chân nhận quan trọng được diễn tả trong xác quyết rằng con người “từ lâu bị xem là đối tượng và một yếu tố thụ động của đời sống xã hội, thay vì là, phải là, và luôn là chủ thể, nền tảng và mục tiêu”[5].

1. Con người là hình ảnh Thiên Chúa[6]

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”[7] . Thiên Chúa không những tạo thành con người, nhưng còn đặt con người là trung tâm và là tột đỉnh của việc tạo thành, ‘thổi hơi vào mũi’ để ban cho con người sự sống của chính Thiên Chúa[8] . “ Vì con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá là một nhân vị. Không phải là một sự vật mà là một con người. Con người có khả năng tự biết mình, tự làm chủ chính mình và tự do tự hiến và thông hiệp với những người khác. Do ân sủng, mỗi người được mời để giao ước với Ðấng Sáng Tạo, dâng lên Ngài một lời đáp trả tin yêu mà không ai có thể thay thế được”[9].

Qua đó chúng ta thấy con người là tạo vật được Thiên Chúa tạo dựng như là một bản vị để tiếp thông với Ngài. Mối tiếp thông đó còn được thể hiện nơi chiều kích xã hội trong bản tính con người. “ Nhưng Thiên Chúa đã không dựng nên con người cô độc: bởi vì từ khởi thủy “Ngài đã tạo dựng có nam và có nữ” (Stk 1,2-7). Sự liên kết giữa họ đã tạo nên một thứ cộng đoàn đầu tiên giữa người với người. Thực vậy, tự bản tính thâm sâu của mình, con người là một hữu thể có xã hội tính và nếu không liên lạc với những người khác, con người sẽ không sống và phát triển tài năng mình.”[10] Vì thế mỗi con người là hình ảnh của Thiên Chúa có được một phẩm giá trổi vượt trên những tạo vật khác và cần phải sống trong mối tiếp thông với người khác.

2. Con người: người trông giữ tạo vật và cộng tác trong công việc sáng tạo

“Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”[11]. trước những tạo vật khác, con người , nam và nữ, được một ơn gọi đặc biệt, để tận hưởng và quản trị. Từ ‘làm bá chủ’ trên thế giới không có nghĩa là tự do lợi dụng cách ích kỷ nhưng là lãnh trách nhiệm gìn giữ tạo vật. Ở đây từ rdh, theo nguyên ngữ Do Thái, thường được dịch là ‘thống trị’, ‘làm bá chủ’, nên được dịch theo nghĩa ‘hướng dẫn, thuần hoá’. Con người được Thiên Chúa mời gọi cộng tác với Ngài trong tiến trình tạo dựng qua việc thực thi trách vụ ‘làm chủ’, không tuyệt đối nhưng mang tính cách cộng tác và thừa tác, tôn trọng sự tốt lành nguyên khởi của tất cả mọi điều Chúa tạo thành[12].

Thiên Chúa ủy thác cho con người gìn giữ có trách nhiệm các tạo vật, không chỉ những các tạo vật không phải là con người, nhưng còn chính con người nữa. “Bảo vệ và thăng tiến sự sống, tôn trọng và yêu mến sự sống, đó là nhiệm vụ Thiên Chúa trao cho mọi người, khi kêu gọi họ, vốn là hình ảnh sống động của Chúa, tham dự vào quyền làm chủ mà Ngài đang thực hiện trên thế giới…Việc con người tham dự phần nào đó vào quyền Chủ Tể của Thiên Chúa cũng được biểu lộ rõ ràng, do sự kiện họ được trao phó trách nhiệm đặc thù đối với sự sống con người nói riêng”[13].

Dựa trên nền tảng đó, GHXHCG nhấn mạnh rằng mỗi người được kêu gọi để chăm sóc cho cuộc sống mọi người, nhất là những người yếu đuối, khốn khó; nhưng cũng cần phải được giúp đỡ để thực hiện với trách nhiệm quyền lợi mà Thiên Chúa trao ban, mà không ai có thể cướp mất, đề cùng cộng tác với Ngài trong tiến trình sáng tạo. Đây cũng là một ơn gọi lớn lao, được là người chung phần với Thiên Chúa trong việc phát triển trật tự đã được tạo thành.

3. Tội lỗi và ơn cứu độ phổ quát

Dù là người cộng tác viên và chung phần với Thiên Chúa, nhưng chính con người không là thần thánh. Dù hình ảnh là người chung phần vào công việc tạo dựng thật là lý tưởng, nhưng đó không phải là tất cả câu chuyện. Hình ảnh Thiên Chúa trong con người và lịch sử nhân loại đã bị hoen ố và nhơ nhuốc bởi tội nguyên tổ. Do tội đó “con người đã phá vỡ giới hạn thụ tạo của mình, thách thức Chúa, là Thiên Chúa duy nhất và là nguồn sự sống của mình. Chính tội bất tùng phục ấy (x. Rm 5,19) đã tách con người ra khỏi Chúa”[14]. “Đó là một tội được truyền lại bằng cách làm lan ra tới hết mọi người, nghĩa là được truyền lại một bản tính đã mất đi sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ”[15]. “Hậu quả của tội, bao lâu nó còn là hành vi xa rời Chúa, chính là sự tha hoá, tức là sự xa rời của con người không những với Chúa mà còn với chính mình, với người khác và với thế giới chung quanh”[16]. Chính vì ý muốn ‘được trở nên như Chúa’, con người từ chối tình trạng tạo vật. Và như thế, trong khi cố gắng tự trở nên người có toàn quyền trên vũ trụ, con người đi vào sự xung khắc với chính vũ trụ và với nhau. Nói cách khác, tội lỗi làm chúng ta mù loà với bản tính nền tảng của chính mình là tương quan và xã hội, và đưa chúng ta đến việc chỉ quan tâm đến những lợi ích của mình, không lưu tâm đến người khác, cũng như tạo cho ảo tưởng rằng dù sao chúng ta cũng hoàn toàn tự túc.

Mầu nhiệm của tội là một “vết thương hai mặt”, như GHXHCG nói đến. Nó luôn mang hệ quả nơi cá nhân nơi mối quan hệ với tha nhân và xã hội. Cả hai sóng đôi và không thể tách rời cũng như không thể tách rời bản tính con người trong chiều kích cá nhân và xã hội, trong mối tương quan với chính mình và tha nhân. Tội lỗi len lỏi và phá hoại chính bản tính con người nên cũng phá hoại chính mối tương quan liên đới và hỗ tương nền tảng này.

Vì thế, tội mang tính cách xã hội đặc biệt, với hậu quả là mang lại cái nhìn nghèo nàn và bị thương tổn về bản tính con người, dẫn tới việc lợi dụng và lèo lái người khác, và xâm hại trực tiếp đến người khác, khi quá nhấn mạnh vào một yếu tố riêng biệt nào đó. Chủ nghĩa cá nhân cực đoan đưa đến cái nhìn con người tự tạo chính mình và có thể tái tạo nó theo ý muốn. Tự do con người tách biệt khỏi mọi hệ thống luân lý nền tảng, và ‘chọn lựa’ cá nhân là giá trị tối thượng. Một cực đoan khác là những hình thức của chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa định mệnh, trong đó bản tính con người bị cho là rất dễ bị uốn nắn, thuần hoá, có thể và cần phải được kiểm soát bởi Nhà Nước, hay những ‘chuyên gia’ hỗn hợp. Trong cả hai quan niệm, con người không được coi là cùng đích trong chính nó, nhưng chỉ là phương tiện được dùng cho những mục tiêu khác. Con người chỉ còn là một đối tượng cần được kiểm soát và điều khiển hay là một trở ngại cần được khuất phục. Vì vậy, tội được gọi là ‘xã hội’ vì chống lại nhân quyền, bắt đầu từ quyền sống, và tất cả mọi quyền lợi khác của con người để sống trọn vẹn nhân phẩm. Nó chống lại những mối liên hệ theo như chương trình và kế hoạch của Thiên Chúa.

Các tội cá nhân và xã hội tiếp diễn trong lịch sử, cấu thành một kinh nghiệm đau thương và bi quan về thân phận con người. Và tội lỗi đã mang con người đến tình trạng phổ biến là đặt lợi nhuận và lợi ích cũng như quyền lực của cá nhân hay của nhóm là giá trị cao nhất phải theo đuổi bất chấp bất cứ thủ đoạn nào.

Nhưng niềm tin căn bản của Kitô giáo vào Mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Kitô là công trình kỳ diệu đã chuyển đổi tất cả con người trong bản tính cũng như trong mối tiếp thông với người khác, cá nhân và phổ quát. Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu Kitô, đã hoàn toàn lãnh nhận sự hiện hữu vật chất, làm cho sự hiện hữu trong thân xác của chúng ta thành phương tiện để chúng ta có thể tiếp thông với sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã cảm nghiệm vũ trụ chất thể, cho dù những giới hạn của nó, nhưng tốt lành và được chúc phúc, cho dù nếu chúng ta không thể nhận ra. Và chúng ta cũng được ban cho ơn sủng thông phần vào việc tiếp tục công trình tạo dựng và cứu chuộc[17]

Qua niềm hi vọng vào sự phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Kitô, Adam mới chiếu toả và thành toàn hình ảnh của Thiên Chúa, con người không còn bi quan về chính sự thất bại, bạc nhược, hay sai lầm do tội mang lại. Tất cả tạo vật được giải thoát khỏi diệt vong nhờ lời hứa được tham phần vào cuộc sống vĩnh cửu của Đấng Tạo Thành.

4. Hình ảnh Đức Kitô (Imago Christi)

Để hiểu được đầy đủ ý nghĩa con người là “hình ảnh Thiên Chúa”, cần nên nhớ là trong Tân Ước, quan niệm này nói về Chúa Giêsu Kitô[18]. “Bởi vì chính Chúa Kitô mạc khải cho con người trọn vẹn hữu thể của nó, trong bản tính nguyên khởi, trong thành toàn chung kết, và trong thực tại hiện thời”[19]. “Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Bởi vì Adam con người đầu tiên đã là hình bóng của Adam sẽ đến, là Chúa Kitô. Chúa Kitô, Adam mới, trong khi mạc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ. Bởi vậy không lạ gì khi những chân lý đã nói ở trên đều tìm thấy nguồn gốc của chúng và đạt tới tột điểm nơi Người”[20].

Nguồn gốc của con người được tìm thấy nơi Đức Kitô, ‘nhờ Người và trong Người’ mà con người được tạo dựng[21]. Tình trạng hiện sinh của con người trong hiện tại cũng đạt được ý nghĩa trọn vẹn trong Đức Kitô. Đức Kitô, qua mầu nhiệm Nhập Thể, cái chết và sự Phục Sinh của người mang lại cho con người ‘hình ảnh Thiên Chúa’ nguyên tuyền. “Bởi vì nơi Người bản tính nhân loại đã được mặc lấy chứ không bị tiêu diệt, do đó chính nơi chúng ta nữa bản tính ấy cũng được nâng lên tới một phẩm giá siêu việt. Bởi vì, chính Con Thiên Chúa khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi trinh nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi”[22]. Qua việc chia sẻ mọi khía cạnh của đời sống con người, cả những lao nhọc thể xác, đau khổ và cái chết, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta chính căn tính con người, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được ban cho một phẩm giá cao vời.Con người hướng về Nước Thiên Chúa như một tương lai tối hậu, sự thành toàn của chính sự hiện hữu của con người. “ Và như thế sự sống hằng ngày của con người được định nghĩa như là một nỗ lực để tương hợp trọn vẹn hơn với hình ảnh Chúa Kitô và cống hiến cuộc đời tăng trưởng để chiến đấu mang lại chiến thắng chung cuộc của Chúa Kitô trên trần gian”[23]

III. NỀN TẢNG NHÂN HỌC

Trong các ý thức hệ xã hội, chúng ta thường thấy họ có những quan điểm giảm thiểu về con người, chỉ chú trọng đến một khía cạnh và coi thường hay bỏ qua những khía cạnh khác. Giáo huấn xã hội của Giáo hội xác định sự ưu tiên của nhân vị không giống như những cái nhìn giảm thiểu của chủ nghĩa cá nhân hay tập thể hoá, nhưng nhấn mạnh là “những cá thể không xuất hiện như những hạt cát tách biệt nhau, nhưng được liên kết trong một cơ phân, liên hệ hài hoà và hỗ tương”[24] và con người không chỉ đơn giản là một tế bào của xã hội, chỉ được công nhận qua vai trò chức năng. GHXHCG giới thiệu một cái nhìn về con người với tất cả những chiều kích trong toàn bộ của nó, không giảm thiểu hay thiển cận.

1. Tính thống nhất

Quan điểm nhân học của Giáo hội xác định rõ con người “được tạo dựng thành một thể thống nhất xác và hồn”[25], Sự thống nhất đó được bảo đảm do linh hồn thiêng liêng và bất tử nhờ đó con người hiện hữu như một tổng thể. Điều đó xác định sự liên kết giữa các chức năng thiêng liêng, tri thức và ước muốn, cũng như xác thể và cảm xúc. “Ngôi vị con người bao gồm thân xác và được giao phó toàn bộ cho chính con người, chính trong sự thống nhất hồn xác mà ngôi vị con người là chủ thể của những hành vi luân lý”[26] . Con người là một hữu thể vật chất hoà nhập vào thế giới qua thân xác mình, cùng lúc cũng là một hữu thể thiêng liêng, nhờ khả năng hiểu biết, có thể hướng về siêu việt và để khám phá ra chân lý vượt quá vật chất. Tinh thần và vật chất trong con người không là hai bản tính nối kết nhau, nhưng là sự hiệp nhất tạo thành một bản tính duy nhất. Bởi vậy trong giáo huấn của Giáo Hội không có chủ trương duy linh, là chủ thuyết hạ giá thực tại của thân xác, cũng không chủ trương duy vật, xem thường tinh thần, xem nó đơn giản chỉ là một lối biểu lộ của vật chất. Con người luôn là một thể thống nhất xác và hồn.

2. Hướng mở đến siêu việt

Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo xác định rằng con người tự bản tính và do ơn gọi là một hữu thể tôn giáo, vì vậy ‘có khả năng’ hướng về Thiên Chúa. “Vì con người phát xuất từ Thiên Chúa và đi về cùng Thiên Chúa nên không sống một cuộc sống thuần nhân loại, nhưng sống trong mối tiếp thông với Thiên Chúa cách tự do”[27] Con người hướng mở về Thiên Chúa, nhưng cũng hướng mở về tất cả những tạo vật khác: về người khác, về thế giới. Vượt ra khỏi chính mình, khỏi cái tôi ích kỷ chỉ lo cho bản thân mình, con người bước vào mối liên hệ đối thoại và hiệp thông với người khác[28].

3. Độc nhất

Con người là một hữu thể độc nhất không thể sao chép, có khả năng tự hiểu về mình, tự làm chủ chính mình và tự quyết. “Con người hiện hữu trước hết như một thực thể làm chủ thể, như một trung tâm của ý thức và tự do mà những kinh nghiệm sống của mỗi một người không thể so sánh với kinh nghiệm của bất cứ ai. Điều này cũng nhấn mạnh đến việc không thể chấp nhận bất cứ toan tính nào muốn giản lược thân phận con người bằng cách ép con người đi vào trong các phạm trù đã được dự tính trước hay vào các hệ thống quyền lực đã có sẵn, dù có thuộc ý thức hệ hay không”[29]. Vì vậy công quyền không bao giờ dùng con người như một phương tiện để thực hiện những kế hoạch kinh tế, xã hội hay chính trị. Nhưng phải cảnh giác để mỗi can thiệp của các định chế khác nhau luôn nhằm tôn trọng phẩm giá con người. Bởi vì sự ưu việt của con người vượt lên trên xã hội: “trật tự xã hội và tiến bộ của nó phải luôn luôn nhằm ích lợi của các nhân vị, bởi vì trật tự của muôn vật phải lệ thuộc vào trật tự của các nhân vị chứ không ngược lại”[30].

4. Tự do của con người

Sự tự do là dấu hiệu đặc biệt để nhận ra con người là tạo vật được Thiên Chúa tạo nên giống hình ảnh và sự tự do của Ngài. “Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để con người tự định liệu, hầu con người tự mình đi tìm Ðấng Tạo Dựng và nhờ kết hợp với Ngài con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc. Vậy phẩm giá của con người đòi họ phải hành động theo sự chọn lựa ý thức và tự do, nghĩa là chính con người được thúc đẩy và hướng dẫn tự bên trong, chứ không do bản năng mù quáng hay cưỡng chế hoàn toàn bên ngoài”[31]. Con người được ơn gọi dùng sự tự do của chính mình để tìm kiếm sự thiện cho riêng mình và công ích. Qua sự tự do hướng về sự thiện chân thực, trật tự nội tâm triển nở để có khả năng phát sinh trong chính con người cũng như xây dựng trật tự xã hội. Tuy nhiên, khi con người sử dụng sự tự do để mưu tìm sự thiện, riêng cũng như chung, cần phải tương hợp và đi theo những trật tự của luật luân lý tự nhiên, phổ quát và phù hợp với bản tính con người, được ghi khắc trong tâm khảm mỗi người. Trật tự luân lý đó hướng dẫn con người phục tùng sự thiện tối hậu là chính Thiên Chúa và tôn trọng sự bình đẳng trong quyền lợi và phẩm giá của những đồng loại khác. Để được như thế, cần phải loại trừ mọi bất công cản trở việc cổ võ cho tự do và nhân phẩm, qua những thay đổi trong trật tự kinh tế, xã hội, luật pháp, chính trị và văn hoá. Các định chế phải thực hành với cách thức liên đới với những người bị cản trở cách bất công trong việc thể hiện sự tự do của họ, để đặt họ vào vai trò chính yếu trong những quyết định thuộc về lãnh vực riêng của họ.

Cho dù sự tự do của con người mang giá trị cao vượt, nhưng không phải là vô hạn. Vì yêu mến sư thiện tối cao và tha nhân, con người chấp nhận giới hạn tự do của mình theo luật luân lý tự nhiên của Thiên Chúa, qua đó họ được giải thoát khỏi sự giam hãm của sự dữ. Và trong sự tự do tìm kiếm sự thiện cho cá nhân và xã hội, luật luân lý tự nhiên mà họ tuân thủ cũng đòi buộc sự hoán cải cá nhân trước khi thực hiện những thay đổi xã hội. Đức Kitô trong khi đặt mình tuân thủ ý muốn của Thiên Chúa Cha đã giải phóng nhân loại khỏi xu hướng ích kỷ, chỉ hướng về mình và loại trừ hay hạ thấp mối liên hệ với Thiên Chúa và tha nhân, mang lại cho con người sự tự do đích thực theo ý muốn và chương trình của Đấng Tạo Thành.

5. Bình Đẳng

Một chiều kích nền tảng quan trọng khác mà GHXHCG nhấn mạnh đó là sự bình đẳng về phẩm giá của con người. Trước mặt Thiên Chúa mọi người đều bình đẳng về phẩm giá, vì cùng được tạo dựng như nhau và giống hình ảnh Người. Không có sự phân biệt chủng tộc, văn hoá, phái tính, giai cấp xã hội trong nhân phẩm. Đây là một xác quyết do việc Tạo Dựng, nhưng xác quyết này còn mạnh mẽ hơn trong mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa, trong đó: “ Không còn là Hy Lạp hay Do Thái; tự do hay nô lệ; không còn là nam hay nữ, vì tất cả anh em đều là một trong Chúa Giêsu Kitô”[32]. Dĩ nhiên trong con người có sự khác biệt về giới tính, khả năng thể lý, trí thức hay tinh thần, “tuy nhiên, phải vượt lên trên và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc trong phạm vi xã hội hoặc trong phạm vi văn hóa, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa”[33]. Phẩm giá của con người trước mặt Thiên Chúa là nền tảng của phẩm giá con người trước mặt người khác, đây là yếu tố nền tảng của sự bình đẳng tự căn bản, và của tình huynh đệ con người, không bị giới hạn bởi bất cứ sự khác biệt nào. GHXHCG cũng nhấn mạnh sự bình đẳng giữa nam và nữ, tuy khác biệt nhưng vốn bổ sung cho nhau, điều đó kêu gọi sự yêu thương và liên đới. Các người thiểu năng cũng cần được đối xử bình đẳng. Các định chế không thể nhân danh các lý do kinh tế hay xã hội mà tìm cách áp chế hay loại bỏ họ, nhưng tôn trọng và nâng đỡ họ với sự kính trọng tối đa nhân phẩm của họ nhưng việc bảo vệ và công nhận việc mọi người có nhân phẩm ngang nhau không thể là một nỗ lực cá nhân, nhưng cần sự hỗ trợ của cộng đồng xã hội và định chế. Chỉ hành động hổ tương giữa các cá nhân, giữa các quốc gia mới mong mang lại tình huynh đệ đại đồng và nhân phẩm con người được tôn trọng, bằng không tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng khiến cho ngôi nhà thế giới, gia đình nhân loại càng nghèo đi.

6. Xã hội tính

“Tự bản tính thâm sâu của mình, con người là một hữu thể có xã hội tính”[34] Con người được kêu gọi tự bản tính để sống trong xã hội, “là tập thể những người sống liên kết với nhau cách hữu cơ theo một nguyên lý hợp nhất, vượt lên trên từng cá nhân. Là một cộng đồng vừa hữu hình, vừa thiêng liêng, xã hội tồn tại mãi: kế thừa quá khứ và chuẩn bị tương lai”[35], và do đó con người khác biệt với những tạo vật khác. Nhưng tội lỗi đã nhập vào thế gian. Xã hội tính của con người, vì tính ích kỷ và kiêu căng do tội, không tự động đưa đến sự hiệp thông giữa con người với nhau, nhưng tiếp tục với nguy cơ tách biệt nhau do mầm mống của chủ nghĩa cá nhân và lạm quyền. Điều này nói lên sự cần thiết của liên đới để xã hội họ đang sống là một môi trường thực sự phục vụ cho con người và công ích. Con người được liên kết với nhau không những trong một bản tính chung mà còn một định mệnh chung để xây dựng. Do vậy, trong tất cả các mối tương giao trong tất cả mọi cộng đồng xã hội, con người cần đồng tâm nhất trí theo đuổi một mục tiêu luân lý chung nhằm thăng tiến và phát huy nhân phẩm của mỗi người, trong sự liên đới và đồng trách nhiệm với nhau. Nhưng xã hội tính của con người không thể đơn điệu đồng dạng. Thực vậy, công ích, được xem như mục tiêu của đời sống xã hội, “có được là tuỳ ở chỗ sự đa nguyên về xã hội có lành mạnh hay không. Mọi thành phần khác nhau của xã hội đều được mời gọi xây dựng một tập thể thống nhất và hoà hợp, trong đó mỗi thành phần đều có thể duy trì và phát triển những đặc tính riêng và sự tự trị của mình. Một số thành phần – như gia đình, cộng đồng dân sự và cộng đồng tôn giáo – đáp ứng trực tiếp hơn bản tính sâu xa của con người, nhưng cũng có những thành phần khác xuất hiện dựa trên căn bản tự nguyện nhiều hơn”[36].

7. Nhân Quyền

Nền tảng của nhân quyền phát xuất từ phẩm giá của mỗi con người. Phẩm giá đó có khi có cuộc sống và bình đẳng cho mọi người; chúng ta có thể hiểu và nhận thức được nó bằng lý trí. Qua cái nhìn của Mặc Khải, phẩm giá con người sau khi được Thiên Chúa trao ban, đã bị thương tổn nặng nề do tội lỗi, nhưng được cứu độ và phục hồi do Chúa Kitô, nhờ việc nhập thể, chết và sống lại của Ngài.

Theo GHXHCG, những quyền lợi khác nhau của con người phản ánh một sự duy nhất về cơ cấu của con người. Trong đó , ”những quyền lợi khách quan về tinh thần” đóng vai trò quan trọng. Qua những giá trị thiêng liêng và mối tương giao với Thiên Chúa, ý nghĩa của sự hiện hữu cá nhân hay xã hội, cũng như những được định nghĩa. Đó là lý do quyền tự do tôn giáo được xem như nguồn và tổng hợp của những quyền lợi khác. Quyền đó được xem như là nguồn, vì con người trong hướng mở về Thiên Chúa và hiệp thông với ngài , đã thể hiện và tăng trưởng sự tự do, trách nhiệm, cũng như phẩm giá của mình, là chính nền tảng của các quyền con người. Mặc khác, nó tổng hợp các quyền khác của con người, vì con người coi đó là ý nghĩa trọn vẹn và cuối cùng của tất cả cuộc sống, và luôn hướng về nó.

GHXHCG cũng đưa ra những quyền khác được phân biệt dựa theo tầm quan trọng của nó cho sự sống và tăng trưởng của mỗi con người. Trước hết là quyền sống, từ khi được thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, đây là quyền đầu tiên cần được tôn trọng . Liên quan đến quyền này là quyền được toàn vẹn về thể lý, quyền được có những phương tiện tối cần và đủ để có được cuộc sống tương xứng, quyền được bảo đảm an toàn, tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo…

Trong quan điểm của GHXHCG, việc giải thích đúng đắn và bảo vệ hữu hiệu các quyền lợi con người tùy thuộc vào một nhân học bao trùm toàn bộ các chiều kích kiến tạo nên nhân vị. Trong cái nhìn đó, việc xem các quyền con người chỉ là phương tiện để bảo vệ phạm vi tự trị của các cá nhân trước Nhà nước, là một khuynh hướng sai lạc. Tuy nhiên, tập hợp các quyền con người phải tương hợp với chính bản chất của nhân phẩm. Nó phải đưa đến việc thoả mãn những nhu cầu thiết yếu, việc thực thi sự tự do, và mối tương quan với người khác và với Thiên Chúa của con người.

KẾT LUẬN

Hiển nhiên là quan điểm về con người và xã hội được mạc khải Thánh Kinh đưa ra đã linh hứng cho giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Chúng ta có thể nói nhiều hơn nữa. Trong giáo huấn của Thánh Kinh, đức tin không đối nghịch hay xa lạ với lý trí. Chúng ta không cùng quan điểm với ý thức hệ duy lý không chấp nhận đức tin như là một nguồn của hiểu biết, kiến thức. Đức tin đưa ra những chất liệu để lý trí hoạt động trên đó. Nguyên tắc nền tảng của phẩm giá của nhân vị và sự liên đới tự nhiên của nhân loại là một thách thức cho lý trí, nhưng không có gì là vô lý. Chúng ta nói rằng trật tự tự nhiên của thế giới trở nên hoàn toàn có thể hiểu được chỉ qua sự linh hứng nhận được từ mạc khải của Thiên Chúa và trật tự của ân sủng. Chúng ta phải công nhận rằng Giáo Hội đã đưa ra một học thuyết xã hội theo luật tự nhiên. Chúng ta giải thích những nguyên tắc của chúng trong những phạm trù phải nhờ đến quan điểm của Thánh Kinh về con người và xã hội. Lối giải thích của chúng ta xung đột hay mâu thuẫn với những lối giải thích khác từ những nến triết học hay nhân học khác. Lối hiểu đạo đức xã hội của người công giáo không được lối hiểu hậu-tân-thời thừa nhận như được biểu lộ qua các khuynh hướng triết học, công luận và hệ thống luật pháp quốc gia hay quốc tế. Thoạt nhìn đó là vấn đề chú giải. Cả hai phía đều dùng những từ ngữ như nhau nhưng giải thích ý nghĩa khác nhau. Chúng ta cũng dễ dàng nhận tra những nguyên tắc nhân học tạo ra sự khác biệt. Khi chúng ta nói nhân vị, họ thường quy về cá nhân. Chúng ta nói con người tự bản tính mang tính xã hội; họ cho là các cá nhân hoàn toàn tự lập và tự quyết. Chúng ta nói có luật tự nhiên, là quy luật luân lý đâm rễ sâu trong bản tính nhân loại của con người. Họ nói luật lệ là những gì được thảo luận và được xác lập do bỏ phiếu. Họ nói không có phạm vi siêu việt cho những luật lệ ứng xử. Chúng ta coi đạo đức xã hội đặt nền trên những giá trị đòi buộc mọi người. Họ cho là mọi sự đều có thể thương thảo. Vì thế vấn đề giải thích là vấn đề trọng tâm của đạo đức xã hội. Giáo huấn xã hội của Giáo hội cố gắng làm cho rõ rằng việc giải thích không thể tùy tiện, theo ý muốn của những người có quyền hơn, nhưng phải đưa chính nhân tính của con người làm đối tượng nghiên cứu[37].

Như chúng ta đã đề cập đến, nền tảng của mọi hoàn cảnh xã hội là chính nhân vị . Xã hội được tạo lập cho con người chứ không phải ngược lại. Nguyên tắc này là chìa khoá cho cả cấu trúc. Có con người là trung tâm điểm, xã hội có một phạm vi để phục vụ: là những gì chúng ta gọi là công ích. Các cấu trúc quyện vào nhau của xã hội ở mức độ gia đình, thành phố, cộng đồng lao động, nhà nước, cộng đồng các quốc gia là nhằm mang lại công ích. Để đạt tới công ích cần phải thực hiện một số điều kiện căn bản: tự do, sự thật, công lý, và liên đới. Ở đâu những giá trị này được tôn trọng, ở đó xã hội phục vụ cho việc nhân bản hoá, đó là mục tiêu cao nhất.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 75 (Tháng 3 & 4 năm 2013)

[1] Xem Công Đồng Vatican 2,  Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), số 22.

[2] Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hoà Bình, Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Công Giáo (TLHTXHCG), 2004, số 106.

[3] Gaudium et Spes, số 63.

[4] Gioan XXIII, Tông thư “Hoà Bình trên Trái Đất” (Pacem in terris), số  9.

[5] Pio XII, Thông điệp Giáng Sinh trên đài truyền thanh  24 .12. 1944, 5, trong  AAS 37 (1945) 12.

[6] Xin xem Sách Giáo Lý của  Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG), số  355-379; Gaudium et Spes, 12-18;  tài liệu “Hiệp Thông và Phục Vụ, Con người được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa” (Communion and Stewardship: Human Persons Created in the Image of God), của Ủy Ban (Giáo Hoàng) Thần Học Quốc tế (2004).

[7] Sáng thế 1,27.

[8] Xem Sáng thế 2,7.

[9] Sách GLHTCG, số 357.

[10] Gaudium et Spes, số 12.

[11] Sáng thế 1,28.

[12] Xem Sáng thế 1,4.10.12.18.21.25

[13] Gioan Phaolô II, Thông điệp “Tin Mừng của Sự Sống” (Evangelium Vitae), 1995, số 43-44.

[14] GLGHCG, số 1850.

[15] GLGHCG, số 404

[16] TLHTXHCG, số 116.

[17] TLHTXHCG, số 263.

[18] Xem 2Cor 4,4; Col 1,15-16.

[19] Ủy Ban (Giáo Hoàng) Thần Học Quốc tế,  “Hiệp Thông và Phục Vụ, Con người được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa” (Communion and Stewardship: Human Persons Created in the Image of God), 2004, số 52

[20] Gaudium et Spes, số 22.

[21] Col 1, 16; Ga 1,3-4,9.

[22] Gaudium et Spes, số 22.

[23] Ủy ban Thần Học Quốc Tế, Hiệp Thông và Phục Vụ, số 55.

[24] Pio XII, Summi Pontificatus, 463.

[25] Công đồng Lateranô IV, C.1, De fide catholica, DS 800, p. 259.

[26] Gioan Phaolô II, Tông thư Veritatis Splendor ( Chân lý Rạng ngời), số 48.

[27] GLGHCG, số 44.

[28] Xem TLHTXHCG, số 130.

[29] TLHTXHCG, số 131

[30] Gaudium et Spes, số 26

[31] Nt.,  số 17

[32] Gal 3,28.

[33] Gaudium et Spes, số 29.

[34] Nt., số 12

[35] GLGHCG, số 1880

[36] TLHTXHCG, số 151.

[37] Theo Roland Minnerath, Fundamental Principles of Social doctrine, the Issue of their interpretation, bài tham luận tại  Hàn lâm viện Toà Thánh về Khoa Học Xã Hội, 2008, tại https://www.ordosocialis.de/pdf/minnerath/FundPrincofSocDoc08.pdf

Read More
12Tháng Tám
2021

Khủng hoảng mở ra những con đường

12/08/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Các cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên đã gặp phải nhiều cơn khủng hoảng. Có khủng hoảng gắn liền với tình trạng nội bộ. Có khủng hoảng do các yếu tố ngoại tại, chẳng hạn như mối liên hệ với Do Thái giáo – đưa đến sự tách rời – và những xung đột với quyền lực chính trị. Trong bài này, cha Daniel Cadrin, O.P., tập trung vào những khủng hoảng nội bộ để thấy được điều gì đã giúp tháo gỡ được những nút thắt – hay ít ra cho phép hạ nhiệt vấn đề trong một thời gian – để soi sáng cho chúng ta về lối đi ra của cơn khủng hoảng đại dịch. (Người dịch)

***

Chia sẻ

Khủng hoảng đầu tiên (Cv 6, 1-6) gắn liền với cơ cấu cộng đoàn Giêrusalem, tập hợp những người Do Thái ở Giuđê, miền Galilê và những người khác của cộng đoàn tha hương (diaspora). Khi phân chia lợi ích, các bà góa đến từ thế giới Hy Lạp đã bị bỏ rơi, nghĩa là có sự phân biệt về văn hóa. Phải làm gì đây? Trước hết phải triệu tập hội đồng để thảo luận vấn đề. Rồi người ta tìm thấy một giải pháp thực tiễn: việc chăm sóc các bà góa được giao cho các môn đệ có cùng nguồn gốc văn hóa. Trước một nhu cầu mới, người ta sáng tạo ra một cơ cấu sứ vụ mới: nhóm Bảy người.

Nhóm này, cũng như nhóm Mười Hai, không tồn tại lâu dài. Những hình thức thừa tác vụ khác xuất hiện, biến đổi tùy theo các cộng đoàn và môi trường: các trưởng lão, tông đồ, ngôn sứ, thầy dạy, chủ chăn, phó tế, giám quản, (Rm 12, 6-8; 1 Cr 12, 28-30; Ep 4, 11-12; Phl 1, 1). Sự đa dạng này dần hợp nhất lại quanh ba thừa tác vụ, nhưng trước hết phải trải nghiệm qua nhiều hình thức. Trở về với nhóm Bảy người, vài người trong số họ sau đó đã là những nhà truyền giáo đầu tiên trong thế giới ngoại giáo, một điều không hề được lường trước! Khi ta xoay trở cách sáng tạo trước sự khó khăn thì Chúa Thánh Thần sẽ mở ra những con đường.

Tiếp nhận dân ngoại giáo

Khủng hoảng lớn vào thời Giáo Hội sơ khai là tiếp nhận những Kitô hữu mới đến từ thế giới ngoại giáo, nghĩa là những người không phải là Do Thái. Ở đây cũng vậy, một tiến trình đã được sắp xếp để đối phó với vấn đề (Cv 15, 1-35): công nghị, với những người giữ những vị trí khác nhau, những cuộc tranh luận, những lựa chọn đã được chọn lựa, và rồi thông báo vấn đề. Cách xử lý này như là cách tiếp cận đầy cảm hứng và đã cho phép một bước ngoặt trọng đại: mở rộng đức tin Kitô giáo cho tất cả mọi nền văn hóa. Nhưng trong thực tế thì có vài yếu tố đã làm cho việc hòa nhập của dân ngoại được trở nên dễ dàng.

Sự chuyển giao Tin Mừng không được thực hiện trực tiếp từ thế giới Do Thái sang thế giới dân ngoại. Để việc chuyển giao này được thực hiện, phải có những tiếp nối, những trung gian đặt bước chân vào trong hơn một nền văn hóa. Một vai trò quan trọng như thế được những người kính sợ Chúa hay các tân tòng nắm giữ, họ là những người ngoại giáo đã cải đạo sang Do Thái giáo hay những người thân cận với họ (Cv 10, 1-2). Họ biết Sách Thánh, Thiên Chúa độc nhất, luật luân lý, cầu nguyện bằng Thánh Vịnh, etc. Họ có khả năng đón nhận Tin Mừng và rồi đến lượt mình họ có thể loan truyền cho những người hoàn toàn ngoại giáo.

Đào tạo và đồng hành

Quá tốt khi tiếp nhận những lương dân, song phải bảo đảm sự liên tục để họ ở lại. Một yếu tố khác rất gần với yếu tố trước, đó là chọn lựa các thừa tác viên để đào tạo. Khi một cộng đoàn có nguồn gốc lương dân được thành lập tại Antiokia (Cv 11, 19-26), các môn đệ ở Giêrusalem đã tỏ ra bối rối. Phải làm gì với những người này, những người không như họ nhưng tin vào Đức Kitô? Barnaba được chọn lựa để đồng hành với nhóm này: ông không phải là người Do Thái địa phương nhưng từ đảo Chypre, có nghĩa là ông quen tiếp xúc với các lương dân và biết về thế giới của họ. Nhưng Barnaba cũng đã có một phán đoán tốt: ông đi tìm Phaolô thành Tarsê, một người Do Thái được đào tạo về Sách Thánh, một Kitô hữu đầy thuyết phục, người quen thuộc với văn hóa Hy Lạp và quen sống trong một thành phố lớn. Ông nhờ Phaolô phụ giúp để dạy giáo lý.

Để đào tạo và đồng hành ai đó, phải biết ngôn ngữ, hệ thống giá trị và cách sống của người ấy. Tin Mừng Matthêô cũng vậy, được viết cho các Kitô hữu gốc Do Thái, chứng minh mối liên hệ giữa giao ước thứ nhất và thứ hai, sự hoàn tất Sách Thánh nơi Đức Kitô là Môsê mới. Tin Mừng Luca, được viết cho các Kitô hữu thuộc nền văn hóa Hy Lạp, nhấn mạnh về thanh danh, chú trọng đến những phạm trù về vinh nhục, những điển hình của luân lý đang thịnh hành. Trong các thư của mình, Thánh Phaolô sử dụng ngôn ngữ thể thao (1 Cr 9, 24-27; 2 Tm 4, 7-8): bởi vì người Hy Lạp đã sáng tạo ra thế vận hội và rất say mê thể thao. Ngài cũng sử dụng từ vựng của các trào lưu triết học đương thời, với sự chính xác (Plm 4, 8).

Chia rẽ và xung đột

Sau khi được thành lập, một cộng đoàn gồm các tín hữu xuất thân từ ngoại giáo, đã đón nhận Tin Mừng và tìm cách sống Tin Mừng theo từng ngày, những khủng hoảng khác bắt đầu xuất hiện, gắn liền với cơ cấu của các giáo hội trẻ. Các thành viên nam nữ từ những chân trời khác nhau đã làm việc ở đấy. Cũng như ngày nay vậy, những trung tâm đô thị tụ họp những con người có nguồn gốc văn hóa khác nhau; các cộng đoàn của Thánh Phaolô đã phản ánh điều đó, ngoại trừ cộng đoàn Galát. Họ là những người có địa vị xã hội khác nhau: người tự do, người được giải phóng, người nô lệ. Họ chia sẻ cùng một nền văn hóa đô thị, nhưng vẫn có những xung đột và khoảng cách. Những nhóm nhỏ này rất mong manh. Cơn khủng hoảng ở đây không theo nghĩa một biến cố nhưng là một tình trạng có nguy cơ phá vỡ cộng đoàn, phân rẽ cộng đoàn theo năm tháng.

Đối mặt với cơn khủng hoảng này, Thánh Phaolô đã triển khai một cách tiếp cận không theo hướng tìm kiếm sự đồng nhất hay những quy định dành cho mọi người, nhưng là trên điều đã quy tụ họ lại, thuộc trật tự đối thần: đức tin vào Đức Kitô, đức cậy vào Nước Trời của Ngài và đức ái giữa các thành viên. Không có những điều ấy, cộng đoàn sẽ dần tan rã. Do đó mà có tầm quan trọng của rửa tội, bí tích làm sáp nhập vào Đức Kitô (1 Cr 12, 13; Cl 3, 9-11), và sự đa dạng thống nhất (unitédiversité) của thân thể và các chi thể (1 Cr 12, 12-27; Rm 12, 4-5). Đối với Thánh Phaolô, không có thân thể mà không có sự khác biệt của các chi thể. Sự đa dạng này không phải là một thực tại phải chịu đựng mà là cấu thành của một thân thể. Nhưng thân thể này chỉ hoạt động và làm nhiệm vụ nếu có sự hợp nhất, được phép rửa ban cho và được bữa ăn của Chúa nuôi dưỡng (1 Cr 11, 17-34), và có những thực hành huynh đệ như chia sẻ của cải (2 Cr 8-9), cái hôn bình an (1 Cr 6, 20) bẻ gãy mọi rào cản.

Không phải là dễ dàng, những cơn khủng hoảng này dần phát sinh một điều mới mẻ trong Đế quốc Rôma: ý nghĩa của tình huynh đệ đại đồng được sống gần sát nhau, một hình thức xã hội tính mới mẻ của sự hỗ tương. Những mối tương quan tùy thuộc và ưu thế (văn hóa, địa vị xã hội, giới tính: Gl 3, 26-29) đều là thứ cấp so với phẩm giá của mỗi người và những mối tương quan huynh đệ. Tiếp cận của Thánh Phaolô vẫn có tính thời sự rõ ràng. Đức Phanxicô đã nhắc lại điều đó trong Thông điệp FratelliTutti.

Đối với các con, thầy là ai?

Những khủng hoảng khác gắn liền với những vấn đề thần học nền tảng, nhất là vấn đề căn tính của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Hiểu thế nào các tước hiệu này? Mối tương quan giữa Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, và Thiên Chúa, đấng tạo dựng, là như thế nào? Tầm quan trọng nào dành cho nhân tính, sự nhập thể của Ngài? Các bản văn của Thánh Gioan, Tin Mừng và các thư, qua lại giữa nhân tính và thần tính Đức Giêsu. Thánh Marcô đối mặt với mầu nhiệm thập giá, Thánh Phaolô cũng vậy: làm thế nào mà kẻ bị đóng đinh lại có thể là sứ giả của Thiên Chúa, người mặc khải của Ngài?

Những vấn đề này gây căng thẳng trong các cộng đoàn và làm rạn nứt sự hiệp thông, có những nhóm tách ra khỏi Giáo Hội. Có nhiều giải pháp cho các khủng hoảng này. Một trong số những giải pháp đó là đưa ra những bản văn dùng làm cột mốc chung, điều này làm nảy sinh ra Tân Ước. Những bản văn này không phải là cách duy nhất để hiểu Đức Giêsu Kitô là ai nhưng còn nhiều con đường khác. Chúng ta có bốn Tin Mừng, sách Tông đồ công vụ, 21 thư và sách Khải Huyền, mỗi bản văn đưa ra một cái nhìn độc đáo về Đức Kitô, tuy không tương đương với những bản văn khác nhưng đi trong cùng một không gian ý nghĩa và giá trị. Điều này cho phép bảo đảm cả sự thống nhất lẫn đa dạng. Một cách đối mặt khác sẽ xảy ra sau này: các công đồng (Nicê, Constantinople, etc.)

Dù khủng hoảng thế nào đi chăng nữa, vai trò của những cuộc hội họp để nhìn ra vấn đề, tranh luận, biện phân, thật là quan trọng. Có như thế, giải pháp đưa ra không phải chỉ do các người chức trách mà do toàn bộ cộng đồng và nó có tính toán đến những hiện trạng ngay tại chỗ. Nói ngắn gọn, sự hiệp hành (synodalité) là chiếc chìa khóa, đây chính là chủ đề của Thượng hội đồng giám mục sắp tới mà Đức Phanxicô triệu tập. Tác giả: Daniel Cadrin, O.P.
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Từ: 
Parabole, 6/2021, Vol. XXXVII, No 2, tr. 15-17

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 81
  • Page 82
  • Page 83
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.